Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự năm 2015 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực tiễn xét xử tội nhận hối lộ trong giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023

Trong thời gian gần đây, tình hình tội phạm tham nhũng, kinh tế đặc biệt là tội phạm về nhận hối lộ là một trong những tội có tính chất phức tạp. Chính vì vậy, việc phát hiện và xử lý tội phạm này bằng Pháp luật hình sự trên thực tế thường gặp nhiều khó khăn. Hiện nay, quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành đã có những sửa đổi, bổ sung để phù hợp hơn với thực tiễn xét xử tội nhận hối lộ cũng như phù hợp với bối cảnh chung của thế giới. Bên cạnh đó, Đảng tiếp tục khẳng định cần phải tăng cường tổ chức, đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, nhận hối lộ trong bộ máy nhà nước và toàn thể hệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên trên thực tế tình hình nhận hối lộ ở nước ta vẫn diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng.

Thống kê của Tòa án nhân dân tối cao về Tổng số vụ án kinh tế, tham nhũng và nhận hối lộ trong 03 năm (2021-2023) như sau:

Bảng số 2.2.1. Tổng số vụ án Tòa án xét xử về kinh tế, tham nhũng và nhận hối lộ trong giai đoạn 2021-2023

Năm

2021 2022 2023 Tổng số
Vụ án kinh tế, tham nhũng 2.263 2.626 3.730 8.619
Vụ án nhận hối lộ 32 43 81 156

Nguồn: Vụ tổng hợp Tòa án nhân dân tối cao

Qua bảng số liệu trên nhận thấy trong 03 năm (2021-2023), hệ thống tòa án trên cả nước đã xét xử tổng số là 8.619 vụ án kinh tế, tham nhũng, trong đó vụ án về nhận hối lộ là 156 vụ án (Chiếm 1,81% trong tổng số vụ án kinh tế, tham nhũng).

Năm 2021, Tòa án đã xét xử 32 vụ án về tội nhận hối lộ. Năm 2022, Tòa án đã xét xử 43 vụ, tăng 11 vụ so với năm 2021. Năm 2023, Tòa án đã xét xử 81 vụ, tăng 38 vụ so với năm 2022, có số vụ án được Tòa án đưa ra xét xử cao nhất trong 3 năm. Có thể thấy, từ năm 2021 đến năm 2023, số vụ án được tòa án xét xử có xu hướng tăng, lần lượt là 32,43,81 vụ. Theo đó lấy năm 2021 là gốc, ấn định là 100% thì xu hướng số vụ án đưa ra xét xử của các năm tiếp theo lần lượt là năm 2022 tăng 34,4%, năm 2023 tăng 153,1%.

Biểu đồ 2.2.1. Tổng số vụ án Tòa án xét xử về kinh tế, tham nhũng và nhận hối lộ trong giai đoạn 2021-2023

Bên cạnh đó, theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao về Tổng số bị cáo Tòa án xét xử về kinh tế, tham nhũng và nhận hối lộ trong giai đoạn 2021-2023 như sau: Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

Bảng số 2.2.2. Tổng số bị cáo Tòa án xét xử về kinh tế, tham nhũng và nhận hối lộ trong giai đoạn 2021-2023

Năm

2021 2022 2023 Tổng
Số bị cáo kinh tế, tham nhũng 4.125 5.586 6.417 16.128
Số bị cáo nhận hối lộ 47 63 290 400

Nguồn: Vụ tổng hợp Tòa án nhân dân tối cao

Biểu đồ 2.2.2. Tổng số bị cáo Tòa án xét xử về kinh tế, tham nhũng và nhận hối lộ trong giai đoạn 2021-2023

Qua nghiên cứu số liệu có thể thấy, Tòa án đã đưa ra xét xử 16.128 bị cáo trong các vụ án kinh tế, tham nhũng và 400 bị cáo trong vụ án nhận hối lộ (Chiếm 2,5% trong tổng số bị cáo về kinh tế, tham nhũng). Riêng đối với tội nhận hối lộ, năm 2023 là năm có số bị cáo được đưa ra xét xử cao nhất là 290 bị cáo. Năm 2021, Tòa án đưa ra xét xử 47 bị cáo về tội nhận hối lộ – năm có bị cáo được đưa ra xét xử thấp nhất; năm 2022 Tòa án đưa ra xét xử 63 bị cáo về tội nhận hối lộ. Có thể thấy, các bị cáo trong các vụ án liên quan đến tội nhận hối lộ ngày càng có xu hướng gia tăng, đặc biệt các bị cáo đều là người có chức vụ quyền hạn, có trình độ, hiểu biết cao. Vì vậy, cơ quan tiến hành xét xử phải mất nhiều thời gian để nghiên cứu, cũng như để đưa ra bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội.

Thực tiễn xét xử của các Tòa án trong giai đoạn từ năm 2021 đến năm 2023 cụ thể theo từng năm như sau:

Trong năm 2021, các Tòa án kịp thời đưa ra xét xử các vụ án kinh tế, tham nhũng. Năm qua, các Tòa án đã thụ lý sơ thẩm 2.880 vụ với 6.124 bị cáo phạm các tội kinh tế, tham nhũng; đã xét xử 2.263 vụ với 4.125 bị cáo (chiếm 3,06% số vụ và 3,03% số bị cáo trong tổng số vụ án hình sự đã thụ lý). Cũng theo báo cáo Tổng kết công tác năm 2021 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022 của các Tòa án, đã áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đồng thời chú trọng các biện pháp thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động người phạm tội tự nguyện nộp tài sản đã chiếm đoạt để nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid – 19, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các Tòa án đưa ra xét xử kịp thời và áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo trong các vụ án liên quan đến phòng chống dịch bệnh, góp phần tích cực vào công tác này. Các Tòa án đã thụ lý 144 vụ với 187 bị cáo liên quan đến phòng chống dịch bệnh Covid – 19, đã xét xử 136 vụ với 177 bị cáo. [20] Trong đó, tổng số vụ án về tội nhận hối lộ được Tòa án xét xử là 32 vụ. Một trong số đó, ví dụ điển hình như vụ án liên quan đến nguyên phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo nhận hối lộ 5 tỉ đồng, ngày 6/11/2021, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên án sơ thẩm Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ “nhôm”, nguyên chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần xây dựng Bắc Nam 79), cùng bị cáo Nguyễn Duy Linh, nguyên phó tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo – Bộ Công an, trong vụ án đưa, nhận hối lộ. Theo đó, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên phạt Nguyễn Duy Linh, 14 năm tù về tội “Nhận hối lộ”; Phan Văn Anh Vũ bị phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Đưa hối lộ”, cộng án 30 năm tù trong 4 vụ trước bằng 30 năm tù. Thầy phong thủy Hồ Hữu Hòa bị phạt 2 năm 7 tháng 25 ngày tù về tội “Môi giới hối lộ”; bị cáo Hòa đã chấp hành xong hình phạt, trả tự do tại tòa. Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

Trong năm 2022, các Tòa án đã tổ chức xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân đánh giá cao, dư luận đồng tình, ủng hộ. Trong năm qua, các Tòa án đã thụ lý sơ thẩm đối với 3.147 vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ với 7.409 bị cáo; đã xét xử 2.626 vụ với 5.586 bị cáo (so với năm 2021, thụ lý tăng 213 vụ với 1.005 bị cáo, xét xử tăng 335 vụ với 1.339 bị cáo); trong đó, đã thụ lý sơ thẩm đối với 577 vụ với 1.399 bị cáo phạm các tội tham nhũng; xét xử 410 vụ với 945 bị cáo; thụ lý phúc thẩm đối với 256 vụ với 604 bị cáo; xét xử 176 vụ với 395 bị cáo. Trong số 945 bị cáo phạm tội tham nhũng đã xét xử sơ thẩm, các Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt tù chung thân đối với 08 bị cáo; xử phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm đối với 44 bị cáo; tù từ trên 7 năm đế 15 năm đối với 11 bị cáo, tù từ 3 năm đến 7 năm đối với 232 bị cáo; tù từ 3 năm trở xuống đối với 347 bị cáo; còn lại là các hình phạt khác. [21] Đặc biệt, đối với các vụ án nhận hối lộ, Tòa án đã xét xử 43 vụ án. Theo Báo cáo 410/ BC-CP ngày 12/10/2022 của Chính Phủ về kết quả xét xử tội phạm về tham những, trong đó áp dụng hình phạt đối với tội nhận hối lộ được khóa thể hiện thông qua bảng sau:

Bảng số 2.2.3: Số liệu tổng hợp kết quả xét xử về tội nhận hối lộ trong năm 2022

Không có tội Tù từ 3 năm trở xuống Tù từ trên 3 năm đến 7 năm Tù từ trên 7 năm đến dưới 15 năm trên 15 năm đến 20 năm Tù chung thân và tử hình Các hình phạt khác Cán bộ, công chức
Bị cáo 0 27 15 16 3 0 2 14

Nguồn: Báo cáo số 410/BC-CP ngày 12/10/2022 của Chính Phủ

Từ bảng tổng hợp trên, thấy được, mức xử phạt được áp dụng nhiều nhất là phạt từ từ 3 năm trở xuống (chiếm 42.86% trên tổng số 63 bị cáo bị tuyên án). Với mức xử phạt này, tội nhận hối lộ được đánh giá là loại tội phạm ít nghiêm trọng. Và mức xử phạt được áp dụng ít nhất là các hình phạt khác theo quy định tại khoản 5 Điều 354, Bộ luật Hình sự năm 2015 (chiếm 3,17% trên tổng số bị cáo bị tuyên án). Trong đó, mức hình phạt tù chung thân và tử hình; không được áp dụng cho các bị cáo.

Bên cạnh đó, theo báo cáo này thì cũng không có bị can nào là không có tội. Điều này cho thấy các cơ quan tố tụng đã làm việc chặt chẽ và có sự phối hợp giữa các đơn vị điều tra và xét xử. Trong tổng số 63 bị cáo bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có tới 14 bị cáo là cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, chiếm 22,22%. Bảng trên đã làm rõ được, hoạt động áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự VN 2015 của các cơ quan xét xử về tội nhận hối lộ trong năm 2022. Các hình thức xử phạt được áp dụng đúng theo các điểm, khoản tại Điều 345 của Luật này về tội nhận hối lộ. Ngoài ra, cũng thấy được, các khung hình phạt trải đều theo các loại tội từ ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, mức xử phạt cao nhất là tù chung thân và từ hình trong năm 2022 chưa ghi nhận bị cáo nào. Một điều đáng chú ý hơn cả, trong tổng số các bị cáo bị tuyên án, xử phạt về về hành vi nhận hối lộ theo quy định của Bộ luật Hình sự VN 2015 có tới 14 bị cáo là cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước. Điều này làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín của các cơ quan, tổ chức nhà nước. Họ chính là “những con sâu làm rầu nổi canh”. Trong khi Đảng và Nhà nước cùng với người dân đang ngày một nỗ lực cố gắng để xây dựng, phát triển đất nước thì những hành vi của họ lại làm cho xã hội kém văn minh và phát triển. Đồng thời cũng là đang lãng phí niềm tin của nhân dân dành cho cán bộ của đất nước – những người mà họ trao trọn tình cảm và lý tưởng của mình. Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

Các vụ án kinh tế, các tội về “Tham   tài sản”, “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, “Nhận hối lộ” … Trong đó đối với tội nhận hối lộ, nổi bật với vụ án “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” “Nhận hối lộ” xảy ra tại các đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng. Ngoài ra còn có Vụ án “buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng giả, đưa hối lộ, nhận hối lộ xảy ra tại Đồng Nai và một số địa phương”. Cơ quan điều tra tỉnh Đồng Nai cho biết, trong vụ án này, có nhiều cán bộ, lực lượng biên phòng, cảnh sát biển đã nhận hối lộ, tiếp tay, bảo kê cho các đối tượng thực hiện đường dây buôn lậu xăng dầu liên tỉnh này. Cục điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng đã khởi tố 14 bị can về tội danh nhân hối lộ. Tóm lại, trong năm 2022, Tòa án đã xét xử 43 vụ/63 bị cáo về tội nhận hối lộ.

Trong năm 2023, các Tòa án tiếp tục tổ chức thụ lý, xét xử các vụ án kinh tế, tham nhũng và đã có nhiều vụ án có thể gọi là đại án, những phiên tòa đi vào lịch sử tố tụng bởi quy mô lớn, tính chất đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến quyền lực, lợi ích nhóm, sân sau, thậm chí một số vụ án chủ thể tội phạm là người có chức vụ cao trong Đảng, bộ máy nhà nước, tướng lĩnh lực lượng vũ trang. Nhiều phiên toà đưa ra xét xử từ vài chục đến gần 100 bị cáo phiên toà phải triệu tập tới gần 700 người tham gia tố tụng. Cụ thể, các Tòa án đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm đối với 3.730 vụ với 8.670 bị cáo; đã xét xử 3.197 vụ với 6.417 bị cáo (so với năm 2022, thụ lý tăng 583 vụ với 1.261 bị cáo, xét xử tăng 571 vụ với 831 bị cáo); thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 975 vụ với 1.913 bị cáo; đã xét xử 695 vụ với 1.359 bị cáo; thụ lý theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 18 vụ với 25 bị cáo; đã xét xử 13 vụ với 19 bị cáo. [31] Trong đó, Tòa án đã xét xử 81 vụ/ 290 bị cáo về tội nhận hối lộ.

Trong số các vụ án nổi bật liên quan đế tội nhận hối lộ, vụ án “Chuyến bay giải cứu” là một vụ đại án mà dư luận rất mong HĐXX ra bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội và nhân văn nhất trong năm 2023. Sau 12 ngày thẩm vấn và tranh luận, 6 ngày nghị án, chiều ngày 28/7/2023, HĐXX Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vừa tuyên án 54 bị cáo trong vụ án “Chuyến bay giải cứu”. [24] Trong đó có 21 bị cáo đều là các cựu cán bộ cao cấp của Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công an, UBND TP Hà Nội và UBND tỉnh Quảng Nam buộc lợi dụng chức vụ quyền hạn để 515 lần nhận hối lộ 165 tỷ đồng khi giải quyết thủ tục cho doanh nghiệp tham gia tổ chức các “chuyến bay giải cứu”. Nhóm bị cáo phạm tội “Nhận hối lộ”, HĐXX tuyên phạt các bị cáo như sau: Xử phạt tù cao nhất là Chung thân đối với 3 bị cáo: Bị cáo Phạm Trung Kiên (cựu Thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế) nhận hối lộ nhiều nhất với 253 lần nhận, tổng cộng 42,6 tỷ đồng trong 11 tháng; Bị cáo Vũ Anh Tuấn, nguyên Phó Trưởng phòng Tham mưu, Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an, nhận hối lộ 49 lần, tổng số hơn 27,3 tỷ đồng đồng, nhiều thứ hai trong số các bị cáo nhận hối lộ; Bị cáo Nguyễn Thị Hương Lan (cựu Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao) bị cáo buộc 32 lần nhận hối lộ của 8 đại diện các doanh nghiệp, tổng số tiền 25 tỷ đồng, nhiều thứ ba trong số các bị cáo nhận hối lộ. Hội đồng xét xử xác định các bị cáo này là những người có chức vụ, không thực hiện đầy đủ kỷ luật công vụ, phạm tội bằng cách nhũng nhiễu, tạo cơ chế xin cho để gây khó khăn cho các doanh nghiệp khi cấp phép các chuyến bay. Trong số các bị cáo nhận hối lộ có những người có chức vụ cao, có những bị cáo là cấp dưới trực tiếp thực hiện các thủ tục, hồ sơ cấp phép. Thủ đoạn phạm tội của nhóm bị cáo này được thể hiện dưới hai hình thức chính: Đưa ra giá cả mặc cả cho từng chuyến bay; gây khó khăn, thực hiện không đúng, không đầy đủ chức trách, buộc các doanh nghiệp phải đưa hối lộ. Hành vi của nhóm bị cáo nhận hối lộ đã gây ảnh hưởng xấu tới uy tín của cơ quan nhà nước, tạo dư luận xấu trong nhân dân… nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội.

Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử tội nhận trong thời gian qua có thể thấy, nhìn chung việc xử lý tội phạm đã được thực hiện đúng pháp luật. Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng các cơ quan tố tụng đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định trong việc phát hiện điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về nhận hối lộ, đã bảo đảm việc xác định đúng người, đúng tội. Tòa án nhân dân cùng với sự hỗ trợ của các cơ quan bảo vệ pháp luật khác đã nỗ lực trong việc xét xử công minh và áp dụng hình phạt tương xứng đối với những người phạm tội nhận hối lộ. Trong nhiều vụ án Tòa án đã trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung hoặc Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bản án cấp sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát điều tra lại để bảo đảm việc chứng minh tội phạm cũng như xác định đúng người, đúng tội. Với những vụ án phức tạp, Tòa án phải tiến hành xét xử nhiều lần. Thực tế phản ánh tính phức tạp của hoạt động áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về hối lộ, đồng thời cho thấy tinh thần trách nhiệm và ý thức tuân thủ pháp luật của các cơ quan tố tụng trong hoạt động này. Hoạt động chứng minh tội phạm đã có tính thuyết phục, bảo đảm sự phù hợp giữa các tình tiết của vụ án với những dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm. Điều đó cho thấy công tác áp dụng luật hình sự đề điều tra, truy tố và xét xử loại tội phạm nguy hiểm và phức tạp này đã có những tiến bộ rõ rệt. Việc áp dụng luật hình sự đối với tội nhận hối lộ đã được thực hiện khá thận trọng, tỉ mỉ, vì đây là loại tội phạm khó chứng minh, lại thường liên quan đến các đối tượng phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn. Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

Đối với những vụ án, chủ thể của tội phạm là người có chức vụ cao hoặc của hối lộ có giá trị lớn hoặc có một số tình tiết tăng nặng đã được xử lý nghiêm khắc với mức hình phạt cao được áp dụng. Như trong vụ án “Chuyến bay giải cứu” đối với nhóm các bị cáo nhận hối lộ, trong đó, Tòa án tuyên phạt mức án cao nhất là tù chung thân về tội “Nhận hối lộ” đối với 3 bị cáo: Nguyễn Thị Hương Lan (cựu Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao), Phạm Trung Kiên (cựu Thư ký Thứ trưởng Bộ Y tế) và Vũ Anh Tuấn (cựu cán bộ Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an). Bên cạnh đó, về hình phạt bổ sung: phạt tiền mỗi bị cáo 100 triệu đồng; tịch thu, sung quỹ 30 tỷ đồng của bị cáo Phạm Trung Kiên [35]; Vụ án bảo kê cho trùm buôn lậu xăng Phan Thanh Hữu Tòa án quân sự Trung ương đã tuyên bản án phúc thẩm giữ nguyên mức án 12 năm và 15 năm tù đối với hai cựu thiếu tướng, cựu Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 và 4 là Lê Xuân Thanh, Lê Văn Minh. Tiếp đến, “Vụ Việt Á” đây là lần đầu tiên cả ba cựu ủy viên trung ương cùng bị đưa ra xét xử, lãnh án trong cùng một vụ gồm: cựu bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh và cựu bí thư Tỉnh ủy Hải Dương Phạm Xuân Thăng. Tòa tuyên mức phạt tù đối với nhóm bị cáo nhận hối như sau: ông Nguyễn Thanh Long (cựu bộ trưởng Bộ Y tế) 18 năm tù về tội nhận hối lộ, Trịnh Thanh Hùng (cựu vụ phó thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) 14 năm tù. Bị cáo Phạm Duy Tuyến (cựu giám độc CDC Hải Dương) 13 năm tù. Cùng bị cáo buộc nhận hối lộ, ông Nguyễn Huỳnh (cựu phó phòng giá Cục Quản lý dược, cựu thư ký của ông Long) lãnh 9 năm tù. Hai cựu vụ trưởng của Bộ Y tế gồm Nguyễn Minh Tuấn 8 năm tù và Nguyễn Nam Liên bị tuyên phạt 7 năm tù. Như vậy, việc xử phạt nghiêm minh vụ án đã góp phần không nhỏ vào công tác xử lý và phòng ngừa tội phạm về tội nhận hối lộ.

Có thể khẳng định rằng, xét xử là khâu cuối cùng, trung tâm và quan trọng nhất của quá trình tố tụng, khẳng định kết quả của toàn bộ quá trình chứng minh tội phạm. Xác định rõ vai trò của mình, thời gian qua, hệ thống Toà án đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt, nâng cao chất lượng xét xử, đóng góp quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Bên cạnh đó, với những nỗ lực bền bỉ, thực hiện các giải pháp quyết liệt của hệ thống Toà án đã làm nên những kết quả quan trọng đóng góp vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói chung và tội phạm nhận hối lộ nói riêng, góp phần nâng cao uy tín, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tạo động lực, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân.

2.2. Đánh giá quy định và thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

2.2.1. Một số ưu điểm về quy định và thực tiễn xét xử tội nhận hối lộ

Trong thời gian qua, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng nói chung, nhận hối lộ nói riêng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đã lan tỏa rất mạnh mẽ và có “sức bật mới”, ngày càng đi vào chiều sâu, với phương châm “ hàng có vùng cấm, không có ngoại lệ”, bất kể người đó là ai, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, trở thành một xu thế không thể đảo ngược, nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước, đặc biệt nhiều vụ án được khởi tố mới, mở rộng điều tra, kiên quyết xử lý nghiêm các sai phạm kể cả trong khu vực Nhà nước và ngoài Nhà nước, cả trong lĩnh vực được coi là bí mật, khép kín, cả các vụ việc tồn đọng, kéo dài.

Có thể thấy, Ban Chấp hành Trung ương, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cùng với cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã thể hiện sự nhất trí, đồng lòng, với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, qua đó tạo ra chuyển biến về chất trong nhận thức và hành động, bảo đảm công tác đấu tranh phòng, chống ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả. Các quy định pháp luật liên quan đến tội nhận hối lộ đã được cập nhật, đồng bộ, kịp thời, góp phần khắc phục “kẽ hở” trong quy định. Bộ luật Hình sự năm 2015, đã có sửa đổi, bổ sung nhất định, phù hợp với Công ước về chống tham nhũng và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội nhận hối lộ; tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm; khắc phục tình trạng lách luật để trốn tội.

Đồng thời, thông qua thực tiễn xét xử, trong 03 năm (2021 -2023) Tòa án đã xét xử 156 vụ, 400 bị cáo về tội nhận hối lộ. Nhìn chung, các vụ án đều được khẩn trương nghiên cứu hồ sơ, đưa ra xét xử kịp thời, đáp ứng yêu cầu chính trị; công tác chuẩn bị các phiên tòa được tổ chức chu đáo, an ninh trật tự được đảm bảo, thông tin tuyên truyền được chú trọng, mọi diễn biến về phiên tòa đều được kịp thời cập nhật đến nhân dân trên cả nước; các phiên tòa đều được tổ chức theo tinh thần cải cách tư pháp, việc tranh tụng được đảm bảo, không hạn chế thời gian tranh tụng, giúp đảm bảo quyền con người; phán quyết của Hội đồng xét xử đều dựa trên kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, thể hiện sự dân chủ, công khai, khách quan; bản án của Tòa án được lập luận chặt chẽ, sắc bén, hình phạt áp dụng nghiêm khắc đối với đối tượng chủ mưu, cầm đầu nhưng cũng giảm nhẹ và khoan hồng đối với những bị cáo có vai trò thứ yếu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường toàn bộ thiệt hại, tài sản chiếm hưởng, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, được dư luận trong nước và quốc tế đồng tình, ủng hộ và đánh giá cao; đáp ứng được yêu cầu và sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng nói chung, nhận hối lộ nói riêng hiện nay.

Bên cạnh đó, trong suốt quá trình diễn ra các phiên tòa, Tòa án nhân dân đều chủ động tạo điều kiện tối đa để các cơ quan thông tin báo chí kịp thời theo dõi được mọi diễn biến và kết quả phiên tòa để truyền tải nhanh chóng những kết quả đạt được của phiên tòa đến nhân dân, qua đó góp phần giúp nhân dân thấy rõ sự minh bạch trong các quy định pháp luật, sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, làm tăng thêm sự tin tưởng của nhân dân vào đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta. Sau khi kết thúc các phiên tòa, lãnh đạo cùng HĐXX đều tổ chức họp rút kinh nghiệm, đánh giá những điểm đạt được, cũng như rút ra những điểm cần khắc phục để có thể tổ chức các phiên tòa ngày càng tốt hơn.

2.2.2. Một số bất cập, hạn chế về quy định và thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

2.2.2.1. Bất cập, hạn chế về quy định

Tội nhận hối lộ đã gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng tới sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, làm mất uy tín của Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và còn lợi ích của công dân. Đặc biệt làm mất niềm tin của nhân dân đối với những người có chức vụ, quyền hạn.

Mặc dù, quy định của Bộ luật Hình sự VN hiện hành cũng đã có những sự thay đổi về tội nhận hối lộ để phù hợp với thực tiễn cũng như công ước quốc tế. Tuy nhiên, qua quá trình thực thi Pháp luật hình sự VN nhận thấy các quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế cần được hoàn thiện.

  • Về dấu hiệu “lợi ích phi vật chất”

Một là, theo Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ thì “Lợi ích phi vật chất” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự 2015 đã nêu: “Lợi ích phi vật chất” quy định tại điểm b khoản 1 các Điều 354, 358, 364, 365 và 366 của Bộ luật Hình sự là những lợi ích không phải lợi ích vật chất. Ví dụ như Hối lộ bằng tình dục, bằng cách cách đề xuất, trao thưởng các danh hiệu, giải thưởng, hứa hẹn vị trí việc làm, nâng điểm thi, cho đi du lịch hay đi dự những bữa tiệc xa xi, đắt đỏ… Mặc dù, quy định về lợi ích phi vật chất tại Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP đã chỉ ra những ví dụ về lợi ích phi vật chất nhưng vẫn còn chung chung, chưa cụ thể. Trên thực tế, những lợi ích phí vật chất còn đa dạng và phong phú hơn rất nhiều. Hơn hết, những lợi ích phi vật chất gắn liền với xu thế phát triển của xã hội. Xã hội mà chúng ta đang sinh sống ngày một cải tiến, đi lên, nhu cầu của con người cũng sẽ ngày càng tăng và theo đó những lợi ích phi vật chất dễ dàng được hình thành, sinh ra. Đồng thời, không phải lợi ích phi vật chất nào cũng mang lại giá trị ngang nhau. Hay nói cách khác, tùy vào từng vụ án, tình huống, quy mô mà những lợi ích phi vật chất được tạo ra sẽ mang lại giá trị khác nhau. Điều này cũng cho thấy được, những quy định về “lợi ích phi vật chất” tại Nghị quyết 03/2020 NQ-HĐTP là chưa rõ ràng, đầy đủ và đôi khi gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc xác định tính chất, mức độ của các hành vi phạm tội trong vụ án.

Hai là, chúng ta có thể thấy “lợi ích phi vật chất” chỉ xuất hiện duy nhất ở điểm b khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 với một khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Điều này cũng một phần thể hiện sự chủ quan duy ý chí ở tất cả các trường hợp nhận hối lộ sẽ đều là lợi ích phi vật chất mà không có sự phân hóa theo đúng nguyên tắc chung của Pháp luật hình sự. Như đã nói ở trên, lợi ích phi vật chất gắn liền với sự phát triển của xã hội và nhu cầu của con người. Quy mô và tính chất của những “lợi ích phi vật chất” trong các vụ án nhận hối lộ cũng là khác nhau. Chính vì thế, nếu chỉ có một khung hình phạt duy nhất xuất hiện “lợi ích phi vật chất” trong Điều 354, Bộ luật Hình sự VN 2015 thì sẽ rất khó để có thể xác định được mức án phạt thích đáng cho các bị cáo. Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

  • Về tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự

Một là, với Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 tội nhận hối lộ có quy định 11 tình tiết định khung tăng nặng, được quy định cụ thể tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 354. Trong đó, cả ba khoản 2, 3, 4 Điều 354 đều có quy định rõ tình tiết “Gây thiệt hại về tài sản”, đây là một trong những điểm mới tại Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành so với Điều 279 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, đây cũng là điểm còn hạn chế do ở tình tiết này đang có mức khởi điểm cho giá trị tài sản gây thiệt hại thấp nhất từ 1.000.000.000 đồng (tại điểm d khoản 2). Đây được đánh giá là những con số không hề nhỏ, hơn nữa tình tiết này cũng không nằm trong cấu thành cơ bản của tội nhận hối lộ.

Hai là, điểm hạn chế, bất cập trong tình tiết “đi hối lộ, sách nhiễu” tại điểm g khoản 2 Điều 354, Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành. Hành vi “Đi hối lộ” được hiểu là việc người có chức vụ, quyền hạn đã chủ động đưa ra yêu cầu về một việc nào đó như đưa ra những gợi ý, mong muốn, yêu cầu hoặc đe dọa nhằm gây áp lực một cách trực tiếp hoặc gián tiếp để người khác phải đưa, đem lại những lợi ích trước khi làm hoặc sẽ làm một việc vì lợi ích hoặc yêu cầu của họ. Còn “Sách nhiễu” được hiểu là hành vi “Sinh chuyện lại thi để đi của đút lót: Bịa ra những việc  hàng có nghĩa lí gi để sách nhiễu dân” của người có chức vụ, quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đã cố tình sinh chuyện đề gây ra những khó khăn, phiền phức hoặc cản trở một người nào đó khi họ tham gia quan hệ pháp luật nhằm mục đích vụ lợi. Khi một người có dấu hiệu “đi hối lộ” hay “sách nhiễu” thì chắc chắn người đó “đã nhận hoặc sẽ nhận” một lợi ích bất kỳ, tạo yếu tố hoàn thành cho hành vi phạm tội nhận hối lộ. Do đó, “đi hối lộ”“sách nhiễu” đã bao hàm trong hành vi khách quan của tội nhận hối lộ. Chính vì thế đặt ra yêu cầu cần phải bổ sung thêm cấu thành cơ bản của tội phạm này tình tiết “đi hồi lộ” tại khoản 1 Điều 354 từ “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây…”  thành “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đi, nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây….”.

  • Về hình phạt bổ sung

Theo Khoản 5 Điều 354 quy định hai loại hình phạt bổ sung, trong đó hình phạt “Cấm đảm nhiệm chức vụ” là bắt buộc và hình phạt “Tiền” là có thể và giá trị phạt tiền là từ 30.000.000 đồng – 100.000.000 đồng. Có thể thấy, đối với mức phạt tiền tối đa 100.000.000 đồng là cơ bản thấp so với các tình tiết định khung của điều luật.

Về thực tiễn, mức độ gây ra thiệt hại, thất thoát của tội phạm này rất lớn, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự uy tín, đến sự hoạt động bình thường của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, mức phạt này chưa thực sự hợp lý.

2.2.2.2. Bất cập, hạn chế trong thực tiễn xét xử

  • Xác định tội danh Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

Hoạt động điều tra, xét xử một vụ án nhận hối lộ chưa bao giờ là đơn giản là dễ dàng, cơ quan chức năng luôn vô số những vướng khó khăn, vướng mắc trong quá trình tìm kiến, thu thập chứng cứ cũng như việc xác định tội danh. Trên thực tế, có rất nhiều vụ án bị gián đoạn, trì trệ vì không thu thập đủ chúc cứ chứng minh tội danh này. Theo đó, tác giả nhận thấy, hoạt động điều tra, xét xử về tội nhận hối lộ còn tồn tại nhiều hạn chế về xác định tội danh.

Một là, khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, xác định động cơ, các tình tiết của vụ án. Chủ thể của tội nhận hối lộ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức. Họ có sự hiểu biết, kiến thức và có nhiều mối quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị nên họ dễ dàng che dấu thậm chí là tiêu hủy những chứng cứ có liên quan đến hành vi phạm tội của mình. Điều này ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng tới quá trình tìm kiếm, thu thập chứng cứ của các cơ quan chức năng. Thông thường, các vụ án nhận hối lộ sẽ được thực hiện một cách bí mật càng khiến cho quá trình chứng minh tội danh gặp khó khăn, hạn chế. Bên cạnh đó, việc xác định động cơ của người nhận hối lộ cũng không hề đơn giản. Trên thực tế, các cơ quan điều tra cũng phải khẳng định rằng, có nhiều bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Thậm chí có nhiều trường hợp các đối tượng tình nghi không hợp tác, gây trở ngại và khó khăn trong quá trình điều tra của các cơ quan chức năng. Do đó, việc chứng minh mục đích, ý chí chủ quan của người phạm tội cũng rất khó. Không dừng lại ở đó, những tình tiết của vụ án nhận hối lộ cũng được các đối tượng che dấu cẩn thận khiến cho các cơ quan chức năng khó có thể phát hiện để chứng minh, xác định được tội danh. Nhóm nghiên cứu nhận định rằng, đây là những khó khăn, vướng mắc lớn trong quá trình đưa vụ án nhận hối lộ ra làm rõ, sáng tỏ trước công chúng của các cơ quan chức năng.

Hai là, những tình tiết xác định tội danh nhận hối lộ còn dễ bị nhầm lẫn với một số tội phạm tham nhũng khác. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, tội nhận hối lộ được quy định cụ thể tại Điều 354, Bộ luật Hình sự VN 2015. Trong đó đã quy định rõ ràng về đặc điểm pháp lý của tội nhận hối lộ cùng với các tình tiết định tội. Tuy nhiên, trên thực tế, các vụ án nhận hối lộ diễn biến rất phức tạp với quy mô và tính chất nghiêm trọng. Có nhiều tình tiết của vụ án sẽ gây nhầm lẫn cho các cơ quan chức năng trong việc xác định tội danh. Và cụ thể là nhầm lẫn giữa tội nhận hối lộ và Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (theo quy định tại Điều 356 Bộ luật Hình sự VN 2015). Cả hai tội danh này đều có những đặc điểm pháp lý gần giống nhau. Bộ luật Hình sự Việt Nam 2015 đã quy định mức hình phạt cao nhất đối với tội nhận hối lộ là chung thân hoặc tử hình (khoản 4 Điều 354) nhưng khung hình phạt cao nhất đối với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ lại là phạt tù từ 10 năm đến 15 năm (theo khoản 3 Điều 356). Và cũng trong Bộ luật này, khung hình phạt nhẹ nhất cho tội nhận hối lộ là phạt tù từ 2 năm đến 7 năm (khoản 1 Điều 354) còn khung hình phạt nhẹ nhất cho tội lợi dụng chức vụ, quyền han trong khi thi hành công vụ là phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm (khoản 1 Điều 356). Từ đó, ta có thể để dàng nhân thấy được, khung hình phạt giữa hai tội danh này có “sự chênh lệch lớn”. Chính vì có sự chênh lệch này, các đối tượng dễ dàng thay đổi tội danh, lách luật để có thể được hưởng một chế tài xử phạt nhẹ hơn. Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

  • Xác định chính xác hành vi khách quan của tội nhận hối lộ

Quá trình xác định tội danh vẫn còn không ít trường hợp có ý kiến khác nhau khi xác định hành vi khách quan của tội phạm, nhất là giữa tội nhận hối lộ với một số tội danh khác trong nhóm tội phạm tham nhũng. Bởi lẽ, đặc trưng của các tội phạm tham nhũng nói chung và tội nhận hối lộ nói riêng có những dấu hiệu gần giống nhau và là những chủ thể có chức vụ, quyền hạn. Vì vậy, việc xác định hành vi khách quan của người phạm tội sẽ giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng xác định được tội danh chính xác của người phạm tội đã phạm vào tội nào trong nhóm các tội phạm tham nhũng khi mà chủ thể của nhóm tội phạm này là chủ thể đặc biệt, những người có chức vụ, quyền hạn, nhất là đối với tội nhận hối lộ.

Vẫn còn vướng mắc trong việc xác định chưa đúng về bản chất của hành vi nhận hối lộ, như thế nào là “nhận hoặc sẽ nhận” của hối lộ. Từ đó, dẫn đến xác định sai thời điểm cấu thành tội phạm, dẫn đến bỏ lọt tội phạm.

  • Công tác xét xử của Tòa án nhân dân

TAND cũng gặp phải một số khó khăn trong công tác xét xử như: thời gian nghiên cứu hồ sơ ngắn; tính chất phức tạp của các vụ án, các bị cáo đều là người có chức vụ, quyền hạn nên thủ đoạn phạm tội thường rất tinh vi, hành vi phạm tội diễn ra trên nhiều địa phương, thời gian phạm tội kéo dài, nên việc thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ, xác định tội danh, diện truy tố và thu hồi tài sản tham nhũng gặp nhiều khó khăn; bên cạnh đó, về cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị phục vụ cho việc tổ chức xét xử của của Tòa án nhân dân thành phố  Hà Nội còn rất khó khăn, như: Hội trường xét xử chưa đáp ứng được yêu cầu để tổ chức những phiên tòa lớn, đông người tham gia tố tụng, các trang thiết bị phục vụ cho công tác an ninh, hệ thống máy tính cho luật sư, thiết bị theo dõi phiên tòa, truyền tin đến phòng báo chí… đều do các cơ quan khác cung cấp, hỗ trợ; kinh phí phục vụ cho việc xét xử còn hạn chế.

  • Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và chấp hành pháp luật

Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng chống tham nhũng nói chung, nhận hối lộ nói riêng có mặt còn hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa tạo được sự chuyển biến căn bản về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, công chức và người dân về; trong đó, giáo dục liêm chính, xây dựng văn hóa tiết kiệm không tham nhũng vẫn chưa được quan tâm đúng mức, còn mang nặng tính hình thức. Hơn nữa, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội các cấp và nhân dân chưa thực sự tương xứng với vai trò trong công tác phòng chống tham nhũng. Đặc biệt, quần chúng nhân dân là lực lượng quan trọng giúp tố giác tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiện người dân lại chưa nhận thức rõ về trách nhiệm, vai trò của mình trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc, đấu tranh phòng chống tội phạm này.

2.3. Nguyên nhân chủ yếu của bất cập, hạn chế về quy định pháp luật và thực tiễn xét xử tội nhận hối lộ Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

Tội nhận hối lộ được quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 là một trong những tội phạm về chức vụ, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, quy định pháp luật cũng như thực tiễn xét xử về tội này vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, gây khó khăn cho cơ quan tố tụng và tòa án. Một số nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trên như:

Thứ nhất, nguyên nhân là do nhiều khái niệm pháp lý tại Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành chưa được quy định rõ ràng, thống nhất dẫn đến sự khác biệt trong việc hiểu và áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền. Điều này, gây ra nhiều khó khăn trong việc xác định và chứng minh hành vi nhận hối lộ do sự mơ hồ và thiếu rõ ràng của các khái niệm “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”, “lợi ích phi vật chất”, “làm hoặc không làm một việc”“theo yêu cầu của người đưa hối lộ”. Do chưa được giải thích cụ thể, đầy đủ trong Bộ luật Hình sự mà chỉ được dựa vào các quy định của các văn bản pháp luật khác hoặc theo quan điểm của các nhà khoa học pháp lý có thể sẽ dẫn đến sự thiếu rõ ràng, trùng lặp hoặc không thống nhất trong việc xác định các yếu tố của tội phạm và tình nghiêm trọng của tội phạm. Có thể dẫn đến tình trạng bỏ qua, bỏ sót hoặc sai sót trong việc xử lý các trường hợp nhận hối lộ. Có thể thấy, việc nhận thức được những hạn chế trong việc xác định lợi ích của người nhận hối lộ (bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất) và xác định giá trị của những lợi ích này sẽ gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của tội phạm. Ngoài ra, khái niệm “của hối lộ” tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành cũng chưa được định nghĩa rõ ràng và đầy đủ mà chỉ bao gồm tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất khác của hối lộ. Cũng như chưa quy định rõ các trường hợp nhận hối lộ bằng các hình thức khác như dịch vụ, quyền lợi, ưu đãi, phân thưởng, thông tin bị mát nên khó xác định giá trị của hối lộ và áp dụng mức hình phạt phù hợp.

Thứ hai, do quá trình áp dụng các biện pháp tư pháp và hình phạt phù hợp với người phạm tội nhận hối lộ còn gặp nhiều khó khăn để có thể đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và khắc phục hậu quả của pháp luật. Do tính chất bí mật, âm thầm và phức tạp của tội phạm này nên những khó khăn xảy ra chủ yếu trong việc thu thập, xác minh và đánh giá chứng cứ về hành vi nhận hối lộ. Trong nhiều trường hợp, người đưa và người nhận hồi lộ đồng phạm với nhau, không có người làm chứng hoặc người làm chứng không khai báo trung thực. Do đó, khó khăn trong việc thu thập, bảo vệ và sử dụng các bằng chứng liên quan đến tội nhận hối lộ, có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan chức năng trong việc xử lý tội phạm do tính chất bí mật, rắc rối và phức tạp của hành vi này.

Thứ ba, trình chuyên môn, chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức ngành Tòa án chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới như chưa thường xuyên cập nhật văn bản mới, đào sâu nghiên cứu các quy định của pháp luật…. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật mà còn ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các loại án. Bên cạnh đó, tinh thần trách nhiệm còn có những hạn chế nhất định.

Thứ tư, việc lượng hóa hậu quả thiệt hại mới chỉ ghi nhận những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản mà chưa két đến những thiệt hại khác như ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức và xã hội. Bởi trước tiên, việc lượng hóa hậu quả thiệt hại chỉ ghi nhận những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản. Điều này có nghĩa là khi xác định mức độ nghiêm trọng của tội nhận hối lộ, cơ quan tư pháp chỉ xem xét số tiền hoặc giá trị của vật mà người nhận hối lộ đã nhận hoặc yêu cầu. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp người nhận hối lộ không chỉ gây thiệt hại về tài sản mà còn ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức hoặc xã hội. Ví dụ, khi người nhận hối lộ là công an hoặc thẩm phán, điều này có thể làm giảm lòng tin của công dân đối với pháp luật và chính phủ. Do đó, việc lượng hóa hậu quả thiệt hại theo cách này là không khách quan và không phản ảnh đúng bản chất của tội phạm. Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

Thứ năm, nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế, nhất là nghĩa vụ tố giác tội phạm. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, việc giao nhận hối lộ thường chỉ có một số ít người biết, diễn ra ở những nơi kín đáo, nên tội phạm thường rất khó phát giác, xử lý theo quy định của pháp luật. Và nạn nhân có thể chính là người đưa hối lộ, do đó nạn nhân không dám trình báo hoặc trình báo muộn lên cơ quan có thẩm quyền vì tâm lý lo sợ bị liên lụy, sợ phải chịu trách nhiệm liên đới, sợ bị trả thù, không dám ra làm chứng.

Tiểu kết Chương 2

Trong chương 2, tác giả đã phân tích, làm rõ và giải quyết được một số nội dung sau:

Một là, nghiên cứu, phân tích thực tiễn xét xử tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 trong giai đoạn năm 2021 đến năm 2023.

Hai là, chỉ ra những ưu điểm và những bất cấp, hạn chế trong quy định pháp luật và thực tiễn xét xử tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015.

Ba là, nghiên cứu, phân tích nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó.

Căn cứ vào thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ cùng với những ưu điểm, bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập hạn chế này, tác giả tiếp tục tiến hành đề xuất những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử về tội nhận hối lộ. Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật về tội nhận hối lộ về luật Hình sự

One thought on “Khóa luận: Thực tiễn xét xử về tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự

  1. Pingback: Khóa luận: Tội nhận hối lộ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464