Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật việt nam về mua bán và sáp nhập doanh nghiệp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về mua bán doanh nghiệp.
2.1.1 Khái niệm pháp luật về mua bán doanh nghiệp
Mua bán doanh nghiệp có tính phức tạp, bao trùm tất cả những vấn đề về tài sản, nguồn vốn, thị trường, thương hiệu, cấu trúc quản lý, nhân sự, văn hóa… Mua bán doanh nghiệp được nghiên cứu ở góc độ kinh tế, tài chính, pháp lý và nội dung nghiên cứu về mua bán doanh nghiệp khác nhau do tiếp cận ở các góc độ khác nhau. Pháp luật mua bán doanh nghiệp có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: Pháp luật mua bán doanh nghiệp là tổng hợp các quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các bên tiến hành hoạt động mua bán doanh nghiệp.
Mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam được quy định chủ yếu tại Bộ luật Dân sự (2015), Luật Thương mại (2005), Luật Doanh nghiệp (2020), Luật Cạnh tranh (2018), Luật Chứng khoán (2019) , Luật Đầu tư (2020) và các cam kết quốc tế liên quan đến mua bán doanh nghiệp mà Việt Nam là thành viên. Do tính chất phức tạp của mua bán doanh nghiệp mà pháp luật về mua bán doanh nghiệp không chỉ điều chỉnh các vấn đề về sở hữu hay quản trị doanh nghiệp mục tiêu mà còn đề cập đến nhiều nội dung liên quan khác như: đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp; đăng ký về thủ tục mua bán doanh nghiệp; các nghĩa vụ về thuế; các quy định về chuyển quyền sở hữu trí tuệ, xác định giá trị doanh nghiệp mục tiêu; ký kết các hợp đồng mua bán doanh nghiệp, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp; xử lý lao động của doanh nghiệp mục tiêu, pháp luật cạnh tranh được ban hành để kiểm soát mua bán doanh nghiệp (với tính chất là một hành vi tập trung kinh tế).
Theo nghĩa hẹp: Pháp luật về mua bán doanh nghiệp là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội phát sinh giữa bên mua,bên bán doanh nghiệp trong việc ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp và quanh ệ giữa cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với doanh nghiệp trong việc đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc thực hiện kiểm soát Nhà nước về tập trung kinh tế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Pháp luật về mua bán doanh nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm các quy định cụ thể điều chỉnh trực tiếp mối quan hệ giữa các bên tham gia thương vụ mua bán doanh nghiệp. Cụ thể, pháp luật về mua bán doanh nghiệp theo nghĩa hẹp với nội hàm: quy định về các hình thức mua bán doanh nghiệp; quy định về chủ thể với vai trò là bên bán, bên mua doanh nghiệp; quy định về hợp đồng mua bán doanh nghiệp; quy định về thủ tục mua bán doanh nghiệp; quy định về kiểm soát doanh nghiệp dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh. Cấu trúc pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam được thể hiện như sau:
Bộ luật Dân dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong về ký kết hợp đồng nói chung;
Luật Doanh nghiệp (2020) và các nghị định hướng dẫn thi hành quy định về chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần, mua bán doanh nghiệp tư nhân; quy định về cách thức quản trị doanh nghiệp, thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp. Pháp luật doanh nghiệp điều chỉnh doanh nghiệp theo cách thức: ghi nhận và tạo khung khổ pháp lý thuận lợi để các chủ thể thực hiện quyền tự do mua bán doanh nghiệp trên thị trường mua bán doanh nghiệp.
Luật Cạnh tranh (2018) chỉ kiểm soát mua bán doanh nghiệp khi các doanh nghiệp sau khi tham gia mua bán có tỷ lệ thị phần đạt tới ‘ngưỡng’ theo quy định của pháp luật cạnh tranh. Pháp luật cạnh tranh điều chỉnh doanh nghiệp ở khía cạnh kiểm soát hoạt động mua bán doanh nghiệp.
Pháp luật chứng khoán điều chỉnh mua bán doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán cổ phiếu ra công chúng.
Quy định về bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và các quy định cụ thể của các ngành về mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam được áp dụng điều chỉnh đối với khu vực doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và trường hợp bên mua doanh nghiệp là nhà đầu tư nước ngoài.
Mặc dù, sự phân chia để tiếp cận khái niệm pháp luật về mua bán doanh nghiệp theo các nghĩa rộng và nghĩa hẹp chỉ có tính chất tương đối nhưng sự phân chia này cũng giúp định ra giới hạn của việc tìm hiểu, xem xét và đánh giá pháp luật về mua bán doanh nghiệp trong một tổng quan pháp luật nói chung. Điều đó có ý nghĩa trong việc xây dựng luận cứ khoa học và lựa chọn những giải pháp thích hợp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam. Trong phạm vi của luận án này, pháp luật về mua bán doanh nghiệp được tiếp cận theo nghĩa hẹp và đặt trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật có liên quan.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.1.2 Quy định về mua bán doanh nghiệp.
Trên thực tế, mua bán doanh nghiệp xuất hiện với các hình thức khác nhau nhưng đều phản ánh bản chất mua bán doanh nghiệp, được định dạng bởi một số đặc điểm pháp lý về mua bán doanh nghiệp. Vì vậy, pháp luật mua bán doanh nghiệp phải quy định về các hình thức mua bán doanh nghiệp.
Các quy định này đặt ra những giới hạn và chỉ ra các biến thể của mua bán doanh nghiệp. Pháp luật về mua bán doanh nghiệp chỉ ra các căn cứ, tiêu chí phân loại mua bán doanh nghiệp thành các hình thức mua bán doanh nghiệp khác nhau và từ đó có các cách thức điều chỉnh pháp luật khác nhau. Hình thức mua bán doanh nghiệp có thể được tiếp cận từ góc độ pháp luật cạnh tranh và pháp luật doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Theo cách tiếp cận của pháp luật cạnh tranh nhằm kiểm soát các thương vụ mua lại doanh nghiệp với tính chất là một hành vi tập trung kinh tế để bảo vệ cạnh tranh trên thị trường thì mua bán/mua lại doanh nghiệp được thể hiện theo các hình thức mua lại doanh nghiệp theo chiều ngang, mua lại doanh nghiệp theo chiều dọc và mua lại doanh nghiệp hỗn hợp.
Mua lại doanh nghiệp theo chiều ngang thường diễn ra giữa hai doanh nghiệp cùng nằm trong một cấp độ trong chuỗi sản xuất. Mua lại theo chiều ngang nhằm mục tiêu: thực hiện hiệu quả theo quy mô, thực hiện mục tiêu chiến lược thị trường như khống chế thị trường hoặc tạo ra rào cản thị trường. Mua lại doanh nghiệp theo chiều ngang thường sẽ làm giảm đối thủ cạnh tranh độc lập trên thị trường và có thể làm tăng lên một cách đáng kể các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh.
Mua lại doanh nghiệp theo chiều dọc diễn ra giữa những doanh nghiệp nằm ở những cấp độ khác nhau của chuỗi sản xuất. Mục tiêu của mua bán doanh nghiệp theo chiều dọc thường nhằm chi phối giao dịch hoặc thực hiện những mục tiêu chiến lược thị trường đảm bảo nguồn cung ứng hoặc tiêu thị, ngăn cản đối thủ cạnh tranh mở rộng thị trường hoặc dựng rào cản gia nhập thị trường.
Mua lại doanh nghiệp hỗn hợp là việc mua lại những doanh nghiệp không sản xuất những sản phẩm cạnh tranh với nhau và cũng không có những mối quan hệ mua bán thực sự hoặc tiềm năng. Lợi thế quy mô của mua lại hỗn hợp thường xuất hiện ở lĩnh vực nghiên cứu và triển khai, tổ chức và quản lý. Mục tiêu của mua lại hỗn hợp thường là phân bổ rủi ro vào những thị trường khác nhau hoặc từ những lý do chiến lược thị trường của những doanh nghiệp này.
Theo cách tiếp cận của pháp luật doanh nghiệp, Mua bán doanh nghiệp có thể được phân loại theo các hình thức khác nhau tùy thuộc vào tiêu chí, căn cứ phân loại mua bán doanh nghiệp. Trên cơ sở nghiên cứu các hình thức mua bán doanh nghiệp và dựa trên những phân tích luật Luật doanh nghiệp 2020 về việc hình thành tư cách chủ sở hữu doanh nghiệp và cách thức chủ sở hữu doanh nghiệp thực hiện quyền kiểm soát doanh nghiệp, có thể chia thành hai hình thức:
Thứ nhất, mua bán toàn bộ doanh nghiệp: Mua bán toàn bộ doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu toàn bộ doanh nghiệp của mình cho bên mua. Hình thức mua bán toàn bộ doanh nghiệp gồm: mua bán doanh nghiệp tư nhân, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp, cổ phần cho bên nhận chuyển nhượng. Bên mua doanh nghiệp tư nhân, bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần thực hiện đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Để nhận diện hình thức mua bán toàn bộ doanh nghiệp cần căn cứ trên những tiêu chí cơ bản sau:
Một là, bên bán doanh nghiệp phải là chủ sở hữu doanh nghiệp. Chủ sở hữu doanh nghiệp là các thành viên, cổ đông công ty, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, chủ doanh nghiệp tư nhân. Bên mua doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn của các thành viên, nhận chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ của chù sở hữu công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên, nhận chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của cổ đông công ty, mua toàn bộ vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Hai là, quan hệ chuyển nhượng vốn giữa chủ sở hữu doanh nghiệp và bên nhận chuyển nhượng được ghi nhận bằng hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần; quan hệ mua bán doanh nghiệp tư nhân, công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên được thể hiện qua hình thức hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân, hợp đồng mua bán công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Ba là, đối tượng mua bán trong các thương vụ mua bán doanh nghiệp là doanh nghiệp. Các quy định của pháp luật hiện hành ở Việt Nam xác định doanh nghiệp là chủ thể pháp lý độc lập và mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số thuế gọi là mã số doanh nghiệp. Mã số doanh nghiệp tồn tại trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động thì mã số doanh nghiệp chấm dứt hiệu lực và không được sử dụng lại.
Qua quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành ở Việt Nam có thể nhận xét: doanh nghiệp là đối tượng của thương vụ mua bán (gọi chung là doanh nghiệp mục tiêu) vẫn tồn tại liên tục trước, trong và sau quá trình mua bán. Doanh nghiệp mục tiêu vẫn được giữ nguyên tư cách pháp lý và mã số doanh nghiệp sau khi bên bán chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp cho bên mua.
Bốn là, bên nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp, toàn bộ vốn điều lệ hoặc mua doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký thay đổi thành viên, đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp, cổ phần, bán doanh nghiệp tư nhân theo quy định của pháp luật thì bên chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân không còn là chủ sở hữu của công ty, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân. Bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần, bên mua doanh nghiệp tư nhân sẽ trở thành những chủ sở hữu mới của doanh nghiệp mục tiêu và có quyền kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu.
Trong một số lĩnh vực liên quan đến an ninh kinh tế, những quy định mua bán doanh nghiệp đó có thể có những điểm khác với bản chất mua bán doanh nghiệp trong những lĩnh vực khác. Có thể Nhà nước sẽ giới hạn hình thức mua bán doanh nghiệp, kiểm soát chặt chẽ về thủ tục mua bán doanh nghiệp.
Thứ hai, mua bán một phần doanh nghiệp: Mua bán một phần doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển quyền sở hữu một phần doanh nghiệp cho bên mua để bên mua có quyền kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu. Hình thức mua bán một phần doanh nghiệp bao gồm: các thành viên, cổ đông công ty chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần chi phối (gọi chung là phần vốn góp chi phối) cho bên nhận chuyển nhượng để bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp có thể kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu. Tỉ lệ phần vốn góp chi phối do pháp luật hoặc Điều lệ doanh nghiệp quy định. Bên mua một phần doanh nghiệp trở thành các đồng chủ sở hữu và phải thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Cơ sở pháp lý để thực hiện hình thức mua bán toàn bộ doanh nghiệp là quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật chứng khoán và pháp luật đầu tư. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Các tiêu chí để nhận diện mua bán một phần doanh nghiệp tương tự như tiêu chí nhận diện mua bán toàn bộ doanh nghiệp về chủ thể mua bán doanh nghiệp, về thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, mua bán một phần doanh nghiệp có một số đặc điểm khác biệt với mua bán toàn bộ doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Một là, đối tượng mua bán một phần doanh nghiệp không phải là toàn bộ doanh nghiệp mà chỉ là một phần doanh nghiệp. Bên mua mua một phần doanh nghiệp thông qua việc nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chi phối của chủ sở hữu doanh nghiệp mục tiêu. Khác với mua bán toàn bộ doanh nghiệp, chủ sở hữu doanh nghiệp không hoàn toàn từ bỏ tư cách chủ sở hữu đối với doanh nghiệp mục tiêu mà vẫn là đồng chủ sở hữu doanh nghiệp cùng với các chủ sở hữu mới là bên nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp.
Hai là, chỉ được coi là mua một phần doanh nghiệp nếu bên nhận chuyên nhượng nhận chuyển nhượng phần vốn góp đến một tỉ lệ gọi là tỉ lệ phần vốn góp chi phối.
Ba là, bên nhận chuyển nhượng tỉ lệ phần vốn góp chi phối có quyền kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu. Kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp mục tiêu được hiểu là chủ sở hữu phần vốn chi phối tham gia vào bộ máy quản trị của doanh nghiệp và có sọ phiếu biểu quyết đủ để quyết định những vấn đề quan trọng nhất về tài chính, kinh doanh, nhân sự… của doanh nghiệp mục tiêu. Đặc điểm này phân biệt mua bán doanh nghiệp với những trường hợp bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp không tham gia quản trị và kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu, đó chỉ là hình thức đầu tư tài chính mà không phải là mua bán doanh nghiệp.
Hình thức mua bán một phần doanh nghiệp bao gồm những trường hợp sau:
- Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chuyển nhượng phần vốn chi phối cho tổ chức, cá nhân khác.
- Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên chuyển nhượng phần vốn chi phối cho các thành viên còn lại hoặc các tổ chức, cá nhân khác.
- Cổ đông công ty cổ phần chuyển nhượng cổ phần chi phối cho các cố đông còn lại hoặc các tổ chức, cá nhân khác.
- Thành viên hợp danh chuyển nhượng phần vốn góp cho các thành viên hợp danh hoặc cá nhân khác.
2.1.3 Chủ thể mua bán doanh nghiệp.
Chủ thể mua bán doanh nghiệp gồm bên bán doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp và bên mua là tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua doanh nghiệp. Quy định pháp luật về chủ thể mua doanh nghiệp là cơ sở pháp lý giúp các bên có nhu cầu mua doanh nghiệp xem xét họ có được quyền mua doanh nghiệp không để hạn chế việc đầu tư không khả thi.
2.1.3.1 Bên bán doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Theo nguyên lý chung, ai là chủ sở hữu doanh nghiệp thì người đó có quyền quyết định bán doanh nghiệp. Tùy từng loại doanh nghiệp mà chủ sở hữu có thể là một cá nhân hoặc một pháp nhân hoặc nhiều cá nhân, tổ chức có tư cách pháp nhân.
Đối với doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ thì chính chủ sở hữu đó có quyền quyết định bán doanh nghiệp, ví dụ: Nhà nước có quyền bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (là một tổ chức hoặc một cá nhân) có quyền quyết định bán công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân có quyền quyết định bán doanh nghiệp tư nhân. Với công ty thuộc sở hữu của nhiều chủ như công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, thẩm quyền quyết định bán doanh nghiệp thuộc về các thành viên, cổ đông công ty (gọi chung là các chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty bán công ty qua hình thức chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp. Bên nhận chuyển nhượng và bên chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp sẽ ký kết hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp.
Chủ sở hữu công ty có thể chuyển nhượng toàn bộ cổ phần, phần vốn góp ngay cùng một thời điểm. Đây chính là mua bán toàn bộ doanh nghiệp.
Chủ sở hữu công ty có thể chuyển nhượng một phần cổ phần, phần vốn góp nhiều lần khác nhau. Sau nhiều lần chuyển nhượng, đến một thời điểm nào đó, bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần nắm giữ tỷ lệ phần vốn góp, cổ phần đủ để kiểm soát, chi phối được công ty mục tiêu có nghĩa là thời điểm đó thương vụ mua bán doanh nghiệp đã được hoàn thành. Như vậy, mua bán doanh nghiệp có thể là một quá trình và diễn ra ở trạng thái “động” nhưng tựu chung lại để xác định bên bán doanh nghiệp trong cả quá trình như vậy cần căn cứ trên nền tảng lý luận chung về mua bán doanh nghiệp. Theo đó, thực chất để mua bán doanh nghiệp phải tồn tại hành vi chuyển dần dần quyền sở hữu công ty từ phía chủ sở hữu công ty cho bên nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp.
Khi xem xét thẩm quyền quyết định bán công ty hợp danh, công ty cổ phần, các nhà đầu tư cần lưu ý tới quy định pháp luật hiện hành để xác định chủ thể có quyền quyết định bán một phần công ty hợp danh, một phần công ty cổ phần chính là thành viên hợp danh của công ty hợp danh, cổ đông có quyền biểu quyết của công ty cổ phần bởi vì:
Công ty hợp danh theo quy định của pháp luật Việt Nam bắt buộc phải có thành viên hợp danh, thành viên hợp danh là cá nhân, có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, thành viên góp vốn không có quyền quản lý công ty. Vì vậy, các cá nhân có dự định mua lại một phần công ty hợp danh phải mua lại phần vốn góp của thành viên hợp danh để trở thành thành viên hợp danh mới và lúc đó, họ mới có quyền quản lý công ty hợp danh.
Đối với công ty cổ phần có thể có các cổ đông ưu đãi hoàn lại và cổ đông ưu đãi cổ tức nhưng các cổ đông này không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông để biểu quyết thông qua những vấn đề quan trọng của công ty. Cổ đông ưu đãi hoàn lại và cổ đông ưu đãi cổ tức có quyền chuyển nhượng cổ phần thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác. Tuy nhiên, với tính chất của cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi cổ tức thì bên nhận chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại không thể tham gia bộ máy quản trị và kiểm soát được hoạt động kinh doanh của công ty. Vì vậy, bên nhận chuyển nhượng cổ phần của cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi biểu quyết đến một tỷ lệ chi phối đủ để kiểm soát được công ty được coi là mua lại một phần công ty cổ phần.
2.1.3.2 Bên mua doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Bên mua doanh nghiệp có thể là tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu mua doanh nghiệp và đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Quy định về chủ thể có quyền mua doanh nghiệp trong các văn bản pháp luật như sau :
Một là, trường hợp mua doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, theo quy định tại Nghị định 128/2014/NĐ-CP thì bên mua doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp là tập thể người lao động trong doanh nghiệp, pháp nhân, nhóm người hoặc cá nhân mua doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp. Khoản 1 và khoản 2, Điều 4 Nghị định 128/2014/NĐ-CP quy định về đối tượng có quyền mua doanh nghiệp, bao gồm:
- Đối tượng có quyền mua doanh nghiệp, bao gồm:
- Tập thể người lao động trong doanh nghiệp;
- Cá nhân người lao động trong doanh nghiệp;
- Các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trừ tổ chức tài chính thực hiện tư vấn định giá, đấu giá bán doanh nghiệp và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu;
- Công dân Việt Nam có đủ năng lực hành vi dân sự, trừ những người không được thành lập và quản lý doanh nghiệp quy định tại các Điểm b, c, d, đ, e, g Khoản 2 và Điểm b Khoản 4 Điều 13 Luật Doanh nghiệp, thành viên Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, các cá nhân thuộc tổ chức tài chính thực hiện tư vấn định giá, đấu giá bán doanh nghiệp;
Tổ chức kinh tế tài chính được thành lập theo pháp luật nước ngoài hoạt động kinh doanh tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam, cá nhân nước ngoài, trừ tổ chức kinh tế tài chính và cá nhân thuộc tổ chức kinh tế tài chính thực hiện tư vấn định giá, đấu giá bán doanh nghiệp.
- Nhóm các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân liên kết với nhau để cùng mua doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại Điểm c và các đối tượng quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này theo quy định pháp luật được xác định là nhà đầu tư nước ngoài được tham gia cùng với các doanh nghiệp, công dân Việt Nam khác mua một phần của doanh nghiệp theo quy định sau:
- Đối với doanh nghiệp được bán thuộc ngành nghề, lĩnh vực mà Việt Nam có cam kết quốc tế về quyền được góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài được mua doanh nghiệp theo tỷ lệ không vượt quá mức cam kết quốc tế của Việt Nam;
- Đối với các doanh nghiệp được bán thuộc các ngành nghề, lĩnh vực ngoài phạm vi cam kết quốc tế của Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được mua doanh nghiệp theo tỷ lệ quy định của pháp luật về hạn chế tỷ lệ của nhà đầu tư nước ngoài tham gia ngành nghề, lĩnh vực đó. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp được bán hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực; bao gồm một số ngành nghề, lĩnh vực có quy định khác nhau về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thì nhà đầu tư nước ngoài được tham gia mua doanh nghiệp không quá mức của ngành nghề, lĩnh vực có quy định tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài ở mức thấp nhất;
- Ngoài các trường hợp quy định tại Điểm a, b, c Khoản này, nhà đầu tư nước ngoài được mua doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ không hạn chế.
Với quy định tại Nghị định 109/2008/NĐ- CP thì đối tượng có quyền mua doanh nghiệp đã được xác định rõ ràng. Theo đó, một số đối tượng không có quyền mua doanh nghiệp hoặc chỉ được mua một phần doanh nghiệp theo các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh nhằm để đảm bảo sự bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh trên thương trường và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong từng giai đoạn cụ thể.
Hai là, đối với các doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, pháp luật không có quy định cụ thể về đối tượng nào được quyền mua doanh nghiệp. Vì vậy, một câu hỏi được đặt ra là: những đối tượng không được quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp (2020) có quyền mua doanh nghiệp không? Một số đối tượng bị cấm đồng thời là chủ sở hữu của hai doanh nghiệp như quy định: một cá nhân chỉ quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân; thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại có được mua lại công ty đối vốn không?
Về lý thuyết, các đối tượng trên chỉ bị cấm thành lập doanh nghiệp mà không bị cấm mua bán doanh nghiệp nên họ vẫn có quyền mua doanh nghiệp với lập luận mua doanh nghiệp nhưng không tiếp tục kinh doanh. Tuy nhiên: Sự lựa chọn này rất không hiệu quả và rất lãng phí, bởi vì người mua đã phải trả chi phí để mua cả những giá trị tiềm năng của doanh nghiệp mà không sử dụng đến nó như thương hiệu, hệ thống khách hàng… Việc mua lại doanh nghiệp để cho người khác đứng tên đăng ký kinh doanh cũng không phải là giải pháp khôn ngoan vì ngoài việc rủi ro do “đầu tư chui”, việc đăng ký kinh doanh lại cũng sẽ gặp khó khăn do cơ quan đăng ký kinh doanh phải xác định cơ sở pháp lý hợp pháp của việc tiếp tục sử dụng các giá trị tài sản như tên thương mại, trụ sở, nhãn hiệu hàng hóa, vv…
Từ sự phân tích trên, bên mua doanh nghiệp nên tham khảo các quy định của pháp luật để xác định, cân nhắc về hiệu quả và tính khả thi của dự định mua doanh nghiệp của mình. Riêng với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, đối tượng bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp có thể mua được công ty. Trước hết, họ nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty và đăng ký thay đổi thành viên tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Khi trở thành chủ sở hữu mới, họ là thành viên của Hội đồng thành viên- cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty. Khi sở hữu đến một tỷ lệ vốn chi phối của công ty và có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất vể tổ chức, quản lý, tài chính, kinh doanh của công ty có nghĩa là họ đã mua được công ty. Đối với công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, đối tượng bị cấm thành lập, quản lý công ty khó có thể thực hiện dự án mua lại công ty vì họ bị hạn chế quyền tham gia vào cơ quan quản trị của công ty, từ đó không thể quyết định được những hoạt động quan trọng của công ty.
Ba là, một hoặc nhiều tổ chức hoặc nhiều cá nhân, tổ chức có quyền mua doanh nghiệp tư nhân không?
Theo quy định cùa Nghị định số 05/2013/NĐ-CP ngày 09/01/2013 về đăng ký doanh nghiệp ( sửa đổi bổ sung nghị định 43/2010 NĐ- CP) thì doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Thực chất quy định đó đã ghi nhận việc mua bán doanh nghi ệp tư nhân cho nhiều chủ sở hữu và đã có sự thay đổi về loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp (2020) không quy định về việc chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Vì vậy, để hoàn thiện pháp luật về mua bán doanh nghiệp đã đặt ra yêu cầu Luật Doanh nghiệp phải có lời giải đáp về chủ thể có quyền mua doanh nghiệp tư nhân. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Bốn là, dưới khía cạnh điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh thì chủ thể có quyền mua doanh nghiệp phải là doanh nghiệp.
Theo quy định mua lại doanh nghiệp tại khoản 4 Điều 29 Luật Cạnh tranh (2018) là “việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại”, do vậy bên mua doanh nghiệp phải là doanh nghiệp.
Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp theo quy định tại Luật Cạnh tranh (2018) được hiểu rộng hơn, không thống nhất với khái niệm doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp (2020). Doanh nghiệp được hiểu theo khoản 1 Điều 2 Luật Cạnh tranh (2020) là: các tổ chức, cá nhân kinh doanh, bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Khái niệm doanh nghiệp tại Luật Cạnh tranh (2020) sẽ dẫn đến cách hiểu doanh nghiệp bao gồm: công ty, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh, hợp tác xã, các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên nhưng không phải đăng ký kinh doanh vì đó là các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh thường xuyên, liên tục, độc lập trên thị trường vì đó là các chủ thể kinh doanh.
Trong khi đó, khoản 10 điều 4 Luật Doanh nghiệp (2020) quy định: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.. Luật Doanh nghiệp năm 2020 điều chỉnh về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp); quy định về nhóm công ty. Rõ ràng với định nghĩa doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp (2020) thì doanh nghiệp không bao gồm hộ kinh doanh, hợp tác xã, các cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên cho dù các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh thường xuyên, liên tục, độc lập trên thị trường nhưng họ không phải thực hiện đăng ký kinh doanh, không được pháp luật doanh nghiệp thừa nhận là doanh nghiệp.
Quy định tại khoản 4 Điều 29 Luật Cạnh tranh (2018) đã giới hạn phạm vi chủ thể được quyền mua lại doanh nghiệp chỉ bao gồm các doanh nghiệp (hiểu theo tinh thần của pháp luật cạnh tranh thì doanh nghiệp là các chủ thể kinh doanh). Quy định đó dẫn đến cách hiểu: các tổ chức, cá nhân không phải chủ thể kinh doanh không có quyền mua lại doanh nghiệp, đây là điểm khác biệt so với quy định chủ thể có quyền mua doanh nghiệp tại Luật Doanh nghiệp (2018), quy định về mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Sở dĩ Luật Cạnh tranh (2020) tiếp cận chủ thể mua doanh nghiệp phải là doanh nghiệp vì sứ mệnh của Luật Cạnh tranh là kiểm soát mua lại doanh nghiệp dưới góc độ kiểm soát hành vi tập trung kinh tế và các hành vi đó do doanh nghiệp thực hiện. Trường hợp chủ thể mua lại doanh nghiệp là một cá nhân thì sau thương vụ mua lại doanh nghiệp, doanh nghiệp được mua lại vẫn giữ nguyên tỷ lệ thị phần trên thị trường liên quan và chỉ thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp. Ngược lại, nếu một doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp khác thì thị phần kết hợp của doanh nghiệp sau thương vụ mua lại đó là tổng thị phần của các doanh nghiệp mua và doanh nghiệp bán; từ đó đã xuất hiện một doanh nghiệp mới trên thị trường có thể đạt tới vị trí thống lĩnh thị trường. Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có thể gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, pháp luật cạnh tranh có nhiệm vụ kiểm soát, phòng ngừa tập trung kinh tế trong đó có hành vi doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp có thể dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường.
2.1.4 Quy định về hợp hợp đồng mua bán và các phương thức thực hiện giao dịch mua bán doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
2.1.4.1 Các loại hợp đồng- phương thức thực hiện các giao dịch mua bán doanh nghiệp.
Ở Việt Nam không định nghĩa về hợp đồng mua bán doanh nghiệp, dựa trên những phân tích về mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam và khái niệm về hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự, có thể đưa ra quan niệm về hợp đồng mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam như sau:
Hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân, hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ, hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần chi phối, hợp đồng mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước (gọi chung là hợp đồng mua bán doanh nghiệp là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển nhượng toàn bộ vốn hoặc phần vốn chi phối cho bên mua doanh nghiệp. Bên mua doanh nghiệp có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp và có nghĩa vụ thanh toán cho chủ sở hữu doanh nghiệp.
Lưu ý là mua bán doanh nghiệp có thể là một quá trình theo lộ trình “thu gom dần phần vốn góp, cổ phần”, theo đó các bên chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần ký kết các hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần. Theo nội dung của mỗi một hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp (chưa đủ tỷ lệ vốn chi phối) thì bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần chưa kiểm soát được doanh nghiệp nên các hợp đồng này chưa được xếp vào hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
2.1.4.2 Nội dung hợp đồng mua bán doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Hiện nay, ở Việt Nam, nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và hợp đồng mua lại doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài mua lại đang hoạt động tại Việt Nam được quy định tại Nghị định 128/2014/NĐ-CP và điểm c khoản 4 Điều 56 Nghị định 108/2006/NĐ-CP.
Tôn trọng quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự do giao kết hợp đồng, Nhà nước không quy định về nội dung hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân, hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ, hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần chi phối (gọi chung là hợp đồng mua bán doanh nghiệp). Vì vậy, các bên được quyền tự do thỏa thuận xây dựng các điều khoản trong hợp đồng ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên dựa trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng, phù hợp với các văn bản pháp luật chuyên ngành, Điều lệ doanh nghiệp và mục tiêu mà bên bán, bên mua hướng tới trong từng thương vụ mua bán doanh nghiệp cụ thể. Vì vậy, sẽ không có một mẫu hợp đồng mua bán doanh nghiệp cụ thể áp dụng chung cho tất cả các thương vụ mua bán doanh nghiệp.
Mua bán doanh nghiệp có tính phức tạp và pháp luật cần có một số định hướng lý luận về hợp đồng mua bán doanh nghiệp để hạn chế rủi ro, giảm thiểu tranh chấp cho các bên mua, bên bán và những chủ thể khác có liên quan trong quan hệ mua bán doanh nghiệp. Về tổng thể, các bên mua bán doanh nghiệp nên thỏa thuận một số nội dung cơ bản sau trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp:
Một là: Đối tượng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Ở Việt Nam, thực tại còn nhiều khoảng trống pháp lý về mua bán doanh nghiệp, trong đó có sự thiếu vắng quy định về đối tượng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên cơ sở lý thuyết chung về mua bán doanh nghiệp, các nghiên cứu khoa học đã xác định đối tượng trong thương vụ mua bán doanh nghiệp là doanh nghiệp và “doanh nghiệp được mua bán có ý nghĩa là một bộ máy đang vận hành mà người mua nó có thể tiếp tục sử dụng, khai thác để mang lại lợi nhuận nhanh nhất”. Thực chất, mua bán doanh nghiệp là việc chủ sở hữu doanh nghiệp chuyển giao những quyền và nghĩa vụ gắn liền với chủ sở hữu doanh nghiệp và chuyển giao cả tư cách pháp lý của doanh nghiệp cho bên mua. Vì vậy, đối tượng mua bán cần được xác định rõ trong hợp đồng: Tên; địa chỉ trụ sở của doanh nghiệp được mua lại; ngành nghề đăng ký kinh doanh; vốn đầu tư hoặc vốn điều lệ của doanh nghiệp; phần vốn góp, cổ phần được chuyển nhượng của chủ sở hữu doanh nghiệp; các loại tài sản hữu hình, tài sản vô hình của doanh nghiệp.
Hai là: Giá mua bán doanh nghiệp. Giá trị của doanh nghiệp bao gồm các tài sản hữu hình và những giá trị tài sản vô hình. Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất. Tài sản vô hình không có cấu tạo vật chất mà nó tạo ra những quyền, ưu thế đối với người sở hữu tài sản vô hình đó. Các tài sản vô hình có giá trị được các bên mua bán doanh nghiệp quan tâm là: tên doanh nghiệp, vị trí địa lý của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp, hệ thống khách hàng, đội ngũ người lao động của doanh nghiệp…Vì không có hình thái vật chất nên việc đưa ra phương pháp và cách thức tính toán chính xác giá trị của tài sản vô hình có thể gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, thỏa thuận chuyển giao các quyền và nghĩa vụ tài sản khác (các khoản nợ cần trả, các khoản nợ chưa được thanh toán) cũng có thể ảnh hưởng đến điều khoản về giá cả của hợp đồng. Giá mua bán doanh nghiệp do các bên thỏa thuận. Đối với trường hợp mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thì nguyên tắc xử lý các khoản nợ, xác định giá trị doanh nghiệp, xác định giá bán doanh nghiệp được thực hiện theo quy định tại Điều 11, Điều 12 Nghị định 128/2014/NĐ-CP. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, ngoại trừ quy định về cách thức xác định giá mua bán doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, các trường hợp mua bán doanh nghiệp không do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ, các bên mua bán doanh nghiệp phải tự xác định giá. Giá mua bán doanh nghiệp do các bên tự xác định hoặc thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp đánh giá và xác định giá. Ngoài ra, các bên phải lưu ý về quá trình thực hiện hợp đồng có thể có những biến động về giá mua bán, do vậy các bên phải có các thỏa thuận rõ ràng để giải quyết các hậu quả phát sinh khi trượt giá.
Ba là: Thỏa thuận về kế thừa, chuyển giao quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp được mua bán
Bên bán doanh nghiệp có thể chuyển giao cho bên mua những quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền tiếp tục sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, quyền tiếp tục kinh doanh những ngành nghề của doanh nghiệp được bán những quyền, nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp mục tiêu đối với người thứ ba. Đó có thể là quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người lao động; quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các chủ nợ; quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩm quyền… Đặc biệt, bên mua doanh nghiệp thường quan tâm đến các khoản nợ của doanh nghiệp mục tiêu và xác định trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về bên mua hay bên bán. Vì vậy, trong hợp đồng, các bên phải thỏa thuận rõ: những quyền và nghĩa vụ được chuyển giao; những quyền và nghĩa vụ không được chuyển giao sẽ do bên nào tiếp tục thực hiện; bên nào có trách nhiệm thanh toán nợ của doanh nghiệp mục tiêu.
Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ từ bên bán cho bên mua và vấn đề thanh toán nợ của doanh nghiệp mục tiêu thể hiện trong các văn bản pháp luật khác nhau tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp được mua là loại hình doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc các loại hình doanh nghiệp khác. Cụ thể:
- Quy định về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ từ bên bán cho bên mua và vấn đề thanh toán nợ của doanh nghiệp tư nhân. Theo đó thì sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác.
- Quy định về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ từ bên bán cho bên mua và vấn đề thanh toán nợ của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tại khoản 2 Điều 11 Nghị định số 128/2014/NĐ-CP về bán, giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước “Đối với các khoản nợ phải thu còn lại và nợ phải trả thì tùy theo điều kiện mua bán có kế thừa nợ hoặc không kế thừa nợ hoặc không thể kế thừa nợ để xử lý theo các nguyên tắc sau:
Đối với các khoản nợ phải thu còn lại và nợ phải trả thì tùy theo điều kiện mua bán có kế thừa nợ hoặc không kế thừa nợ hoặc không thể kế thừa nợ để xử lý theo các nguyên tắc sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
- Trường hợp người mua cam kết kế thừa nợ, người mua có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ phải trả và thu hồi các khoản nợ phải thu theo cam kết; việc cam kết kế thừa các khoản nợ phải thu, phải trả được ghi trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp và thông báo bằng văn bản cho chủ nợ, khách nợ và các bên liên quan biết;
- Trường hợp người mua không cam kết kế thừa nợ, doanh nghiệp được bán có trách nhiệm xử lý các khoản nợ này theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng…
Quy định về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ từ bên bán cho bên mua và vấn đề thanh toán nợ khi mua bán các doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Đối với trường hợp mua bán các doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, nguyên tắc chủ yếu của việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ tài sản; những quyền, nghĩa vụ khác được phép chuyển giao trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp sẽ dựa trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện của bên mua và bên bán, đồng thời phải tuân thủ các quy định tại mục 4 phần thứ ba (Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự) tại Bộ luật Dân sự (2005). Theo quy định tại Bộ luật Dân sự, bên có quyền có thể chuyển giao một số quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu. Người chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cho bên có nghĩa vụ biết bằng văn bản về việc chuyển giao quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ. Khi được chuyển giao nghĩa vụthì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ. Thực tế, có những trường hợp bên bándoanh nghi ệp phải thực hiện nghĩa vụ với rất nhiều chủ thể. Vì vậy, khi chuyển giao nghĩa vụ, bên bán doanh nghiệp có thể gửi thông báo về việc chuyển giao nghĩa vụ và yêu cầu bên có quyền xác nhận có đồng ý cho bên mua thế nghĩa vụ cho bên bán không? Thậm chí, nếu không thể hiện sự xác nhận trong một thời hạn cụ thể cũng được coi là đồng ý cho bên mua doanh nghiệp chuyển thành người thế quyền. Mua bán doanh nghiệp mới xuất hiện ở Việt Nam, thị trường mua bán doanh nghiệp sơ khai so với thị trường mua bán doanh nghiệp ở Mỹ và các nước châu Âu. Trong bối cảnh kinh nghiệm về mua bán doanh nghiệp của các nhà đầu tư Việt Nam quá khiêm tốn so với nhà đầu tư nước ngoài, pháp luật không định hướng về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ giữa các bên mua bán doanh nghiệp, với bên thứ ba thì những rủi ro và tranh chấp sẽ xảy ra và bên bị thiệt hại về lợi ích kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp Việt Nam.
Bốn là: Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp cho bên mua doanh nghiệp và thời điểm thương vụ mua bán doanh nghiệp hoàn tất. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Trừ những quy định tương đối chi tiết về thời hạn chuyển giao doanh nghiệp và quyền sở hữu doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cho bên mua, pháp luật Việt Nam chưa có quy định định hướng về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp cho bên mua doanh nghiệp.
Đối với hợp đồng mua bán doanh nghiệp thì thời điểm ký kết hợp đồng, thời điểm chuyển giao tài sản và thời điểm chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp thường là khác nhau. Về nguyên tắc, sẽ có sự thống nhất ý chí của các bên trong việc chuyển giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản. Tuy vậy, quá trình chuyển giao các quyền trên thường có khoảng cách nhất định, nhất là đối với những hợp đồng mua bán doanh nghiệp có giá trị lớn, việc chuyển giao các tài sản, các quyền nghĩa vụ khác phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài. Vì vậy, các bên phải đàm phán để đi đến thống nhất thỏa thuận về thời điểm chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp, thời điểm chuyển rủi ro đối với doanh nghiệp đã bán. Bên cạnh đó, thời gian kể từ khi các bên ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp và thời điểm các bên đã hoàn tất các thủ tục pháp lý cho một thương vụ mua bán doanh nghiệp có thể mất một khoảng thời gian nhất định. Vậy trong khoảng thời gian đó, doanh nghiệp sẽ do bên mua hay bên bán quản lý, điều hành? Vì vậy, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng về quyền và trách nhiệm quản lý, điều hành doanh nghiệp sau khi các bên đã ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp sẽ thuộc về bên bán hay bên mua.
2.1.5 Trình tự thủ tục mua bán doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
- Thủ tục mua bán doanh nghiệp không thuộc sở hữu 100% vốn của Nhà nước
Bước thứ nhất: Chủ sở hữu doanh nghiệp phải thông qua chủ trương bán doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp của một chủ sở hữu như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên toàn quyền quyết định bán doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp của nhiều chủ sở hữu, pháp luật không quy định về cách thức thông qua chủ trương bán doanh nghiệp.
Bước thứ hai: Ký kết hợp đồng mua bán doanh nghiệp tư nhân, hợp đồng chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp. Các bên mua bán doanh nghiệp phải tuân thủ quy định của pháp luật doanh nghiệp và Điều lệ doanh nghiệp về điều kiện và thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần.
Bước thứ ba: Đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp.
Các bên mua bán doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu doanh nghiệp theo thủ tục đăng ký doanh nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp (2020), Luật Đầu tư (2020), Nghị định 78/2015/NĐ-CP và Nghị định 96/2015/NĐ- CP ngày 19/10/2015 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp .
Cổ đông công ty cổ phần có thể chuyển nhượng cổ phần của mình cho tổ chức, cá nhân khác (gọi chung là bên nhận chuyển nhượng cổ phần), hai bên sẽ ký kết hợp đồng chuyển nhượng cổ phần. Tùy thuộc vào công ty cổ phần được thành lập theo pháp luật về đầu tư hoặc pháp luật về doanh nghiệp, khi chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập, công ty phải thông báo thay đổi đến Phòng đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký doanh nghiệp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý đầu tư về việc thay đổi cổ đông sáng lập kèm theo hợp đồng chuyển nhượng cổ phần. Các cổ đông khác không phải là cổ đông sáng lập thực hiện việc chuyển nhượng cổ phần tự do, bên nhận chuyển nhượng cổ phần phải đăng ký thay đổi cổ đông vào sổ đăng ký cổ đông của công ty. Nếu chuyển nhượng cổ phần dẫn đến thay đổi hình thức pháp lý của công ty thì công ty phải thực hiện thủ tục chuyển đổi công ty thành công ty trách nhiệm hữu hạn tại cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đầu tư đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư
Tương tự như công ty cổ phần, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình. Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho các tổ chức, cá nhân. Trường hợp chủ sở hữu công ty chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho một cá nhân hoặc một tổ chức thì người nhận chuyển nhượng phải đăng ký thay đổi chủ sở hữu công ty, đây chính là mua bán doanh nghiệp. Mọi sự thay đổi thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn đều phải thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi thành viên tại cơ quan đăng ký doanh nghiệp hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về đầu tư. Việc chuyển nhượng phần vốn góp làm thay đổi hình thức của công ty thì công ty phải thực hiện thủ tục chuyển đổi hình thức pháp lý tại cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan nhà nước về đầu tư. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
- Thủ tục mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
Thủ tục mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước Thủ tục mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước quy định tại Nghị định số 23/2022/NĐ-CP. Các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục mua bán doanh nghiệp tại Nghị định số 23/2022/NĐ-CP đã hướng dẫn cụ thể, chi tiết về việc mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Trình tự bán doanh nghiệp gồm: Chuẩn bị bán doanh nghiệp; Xây dựng, phê duyệt phương án bán doanh nghiệp; Xử lý tài sản, tài chính, công nợ, lao động; Tổ chức bán doanh nghiệp; Phê duyệt kết quả bán; Đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp sau khi bán. Quy định trình tự, thủ tục mua bán doanh nghiệp 100% vốn nhà nước rõ ràng, đầy đủ hơn so với quy định về thủ tục mua bán các doanh nghiệp khác nhằm đảm bảo việc bảo toàn và phát triển vốn tài sản mà Nhà nước chỉ là người đại diện cho người chủ thực sự là nhân dân.
2.1.6 Hậu quả pháp lý của hoạt động mua bán doanh nghiệp.
Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động.
Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định pháp luật. Sau khi hợp đồng có hiệu lực, công ty bị mua lại sẽ chấm dứt hoạt động đối với phần bị mua lại, công ty mua lại được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của phần công ty bị mua lại.
Trong trường hợp việc mua bán doanh nghiệp vi phạm luật cạnh tranh, thì doanh nghiệp vi phạm có thể bị xử lý bắt buộc phải: Cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường; chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua; cải chính công khai; loại bỏ những điều vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh; thực hiện các biện pháp cần thiết khác để khắc phục tác động hạn chế cạnh tranh của hành vi vi phạm.
Cá nhân, pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2.2 Những quy định của pháp luật Việt Nam về sáp nhập doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Pháp luật về sáp nhập doanh nghiệp bao gồm hệ thống các quy định pháp luật thuộc nhiều chế định pháp luật khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu bảo đảm cho việc sáp nhập doanh nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi doanh nghiệp bị sáp nhập; đảm bảo việc định giá chính xác tài sản của doanh nghiệp bị sáp nhập; quy định về hoán đổi phần vốn góp, cổ phần của chủ sở hữu doanh nghiệp bị sáp nhập sang doanh nghiệp nhận sáp nhập; giải quyết hài hòa lợi ích với các chủ nợ, bạn hàng của doanh nghiệp bị sáp nhập khi thực hiện thanh toán các khoản nợ, thanh lý các hợp đồng… Nội dung pháp luật về sáp nhập doanh nghiệp bao gồm các chế định cơ bản sau đây:
2.2.1 Quy định pháp luật về sáp nhập doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Để sáp nhập doanh nghiệp tại Việt Nam, các nhà đầu tư phải tuân thủ nhiều quy định pháp luật trong nhiều luật như Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật chứng khoán, Luật tổ chức tín dụng….
Xét ở góc độ quyền của doanh nghiệp, các quy định pháp luật của Việt Nam đã công nhận quyền thực hiện sáp nhập doanh nghiệp của nhà đầu tư, như Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật chứng khoán, Luật tổ chức tín dụng… Quyền này được thể hiện thông qua một số quyền như: quyền được chào bán cổ phần
Quy định pháp luật về sáp nhập doanh nghiệp theo Luật Doanh Nghiệp 2020: Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp sáp nhập vào một doanh nghiệp khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp sang cho doanh nghiệp nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Cụ thể các quy định của sáp nhập doanh nghiệp được quy định tại Điều 201 Luật Doanh Nghiệp hiện hành 2020.
Theo Luật Cạnh Tranh nhìn nhận hoạt động sáp nhập doanh nghiệp dưới góc độ hành vi tập trung kinh tế. Đưa ra các quy định hạn chế sáp nhập dựa trên thị phần kết hợp của các bên tham gia giao dịch.
Theo Khoản 2, Điều 29 Luật Cạnh tranh 2020 : “Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”.
Theo quy định của Luật Cạnh tranh, việc sáp nhập doanh nghiệp là hành vi tập trung kinh tế. Do đó, việc sáp nhập doanh nghiệp bị cấm trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Việt Nam (Điều 30, Luật Cạnh tranh 2020).
2.2.2 Các hình thức sáp nhập doanh nghiệp.
Hiện tại pháp luật chưa có quy định cụ thể về các hình thức sáp nhập doanh nghiệp, tuy nhiên căn cứ vào đặc điểm, tính chất ta có thể chia sáp nhập doanh nghiệp thành các hình thức như sau:
Căn cứ vào chức năng của các công ty, hình thức sáp nhập doanh nghiệp có thể chia thành: sáp nhập doanh nghiệp theo chiều ngang, chiều dọc và sáp nhập doanh nghiệp kết hợp.
Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều ngang là hình thức sáp nhập giữa các doanh nghiệp cùng ngành, cùng cạnh tranh trực tiếp và có cùng các sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Hình thức sáp nhập doanh nghiệp này sẽ mang lại cơ hội mở rộng thị trường, tăng hiệu quả trong việc kinh doanh và giảm các chi phí cố định. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều dọc là hình thức sáp nhập doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp tham gia vào các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất và tiếp cận thị trường. Hình thức sáp nhập này sẽ giúp các doanh nghiệp tăng chất lượng sản phẩm và giảm các chi phí trung gian, tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Sáp nhập doanh nghiệp kết hợp là hình thức sáp nhập giữa các doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh khác nhau để hình thành một tập đoàn lớn, nhằm giảm các rủi ro nhờ đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, tăng lợi nhuận nhờ kinh doanh nhiều loại sản phẩm, dịch vụ.
Căn cứ vào các chủ thể tham gia thì hình thức sáp nhập doanh nghiệp được chia thành: sáp nhập doanh nghiệp trong nước và sáp nhập doanh nghiệp quốc tế.
Sáp nhập doanh nghiệp trong nước là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các doanh nghiệp trong cùng một quốc gia và vùng lãnh thổ.
Sáp nhập doanh nghiệp quốc tế là hình thức sáp nhập được thực hiện bởi các doanh nghiệp đa quốc gia. Đây là một trong những hình thức sáp nhập doanh nghiệp phổ biến trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay.
Căn cứ vào mục đích của hoạt động sáp nhập thì sáp nhập doanh nghiệp được chia làm 5 hình thức: sáp nhập doanh nghiệp ngang, sáp nhập doanh nghiệp dọc, sáp nhập doanh nghiệp mở rộng thị trường, sáp nhập doanh nghiệp mở rộng sản phẩm và sáp nhập tập đoàn.
Sáp nhập doanh nghiệp ngang là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các doanh nghiệp cùng cạnh tranh trực tiếp, cùng chia sẽ thị trường và phân khúc khách hàng.
Sáp nhập doanh nghiệp theo chiều dọc là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các doanh nghiệp trong cùng chuỗi cung ứng sản phẩm và dịch vụ.
Sáp nhập doanh nghiệp mở rộng thị trường là hình thức sáp nhập giữa các công ty kinh doanh cùng loại sản phẩm, dịch vụ nhưng ở thị trường khác nhau.
Sáp nhập doanh nghiệp mở rộng sản phẩm là hình thức sáp nhập công ty diễn ra đối với các doanh nghiệp bán những sản phẩm khác nhau nhưng có liên quan đến nhau trong cùng một thị trường.
Sáp nhập kiểu tập đoàn là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công ty không cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng muốn đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh thành một tập đoàn lớn.
Căn cứ vào cơ cấu tài chính thì hình thức sáp nhập doanh nghiệp được chia thành sáp nhập mua và sáp nhập hợp nhất.
Sáp nhập mua doanh nghiệp là hình thức sáp nhập xảy ra các doanh nghiệp mua lại doanh nghiệp khác bằng tiền mặt hoặc thông qua các công cụ tài chính. Hình thức này không hình thành một pháp nhân mới, doanh nghiệp bị mua lại chấm dứt hoạt động chuyển toàn bộ quyền và nghĩa vụ cho doanh nghiệp mua lại.
Sáp nhập hợp nhất doanh nghiệp là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công ty để tạo ra một pháp nhân mới, theo đó các công ty bị sáp nhập sẽ ngừng tồn tại, nhập chung tài sản và nợ vào công ty mới sáp nhập.
Căn cứ vào góc độ tài chính thì hình thức sáp nhập doanh nghiệp được chia thành hình thức thâu tóm cổ phiếu và hình thức thâu tóm tài sản. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Thâu tóm cổ phiếu là hình thức mà ở đó các công ty tiến hành mua lại phần lớn hoặc toàn bộ cổ phiếu của công ty khác để trở thành cổ đông lớn nhất của công ty. Hình thức này được thể hiện thông qua hoạt động như mua gom cổ phiếu hoặc chuyển đổi cổ phiếu.
Thâu tóm tài sản là hình thức các công ty mua lại một phần hoặc toàn bộ tài sản của công ty khác để dịch chuyển quyền sở hữu của doanh nghiệp. Hình thức thâu tóm này có thể được thể hiện thông qua các hoạt động như mua lại tài sản doanh nghiệp, mua nợ hoặc mua một dự án bất động sản.
Căn cứ vào tính chất thì hình thức sáp nhập được chia thành: sáp nhập doanh nghiệp thân thiện và sáp nhập doanh nghiệp thù nghịch.
Sáp nhập doanh nghiệp thân thiện là hình thức sáp nhập khi công ty bị sáp nhập đồng ý và ủng hộ giao dịch sáp nhập đó, xuất phát từ lợi ích chung của hai bên.
Sáp nhập doanh nghiệp thù nghịch là hình thức sáp nhập khi công ty bị sáp nhập không đồng ý và phản đối giao dịch sáp nhập đó, sử dụng các biện pháp nhằm chống lại sự thâu tóm từ phía công ty sáp nhập.
2.2.3 Trình tự thủ tục sáp nhập doanh nghiệp.
Thủ tục được hiểu là cách thức tiến hành một công việc theo trình tự nhất định theo quy định của pháp luật. Thủ tục có vai trò quan trọng trong việc điều hành tổ chức hoạt động của một tổ chức kinh doanh nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Đối với Nhà nước, yêu cầu các doanh nghiệp khi thực hiện sáp nhập doanh nghiệp phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định thể hiện sự quản lý nhà nước đối với hoạt động sáp nhập doanh nghiệp. Thủ tục sáp nhập doanh nghiêp được quy định tại Khoản 2, Điều 201, Luật Doanh nghiệp 2020:
- Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải gồm các nội dung chủ yếu sau: tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập;
- Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của Luật này. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua; Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
- Sau khi công ty nhập sáp nhập đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ, các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập. Các công ty nhận đương nhiên kế thừa toàn bộ quyên, nghĩa vụ, và lợi ích hợp pháp của các công ty bị sáp nhập theo hợp đồng sáp nhập.
Thủ tục sáp nhập doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam bao gồm:
- Chủ sở hữu doanh nghiệp bị sáp nhập thông qua phương án sáp nhập doanh nghiệp với tính chất là một biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp;
- Chủ sở hữu doanh nghiệp nhận sáp nhập và doanh nghiệp bị sáp nhập thông qua cơ quan quản lý của doanh nghiệp quyết định việc sáp nhập doanh nghiệp và soạn hợp đồng sáp nhập doanh nghiệp để giải quyết các hệ quả pháp lý phát sinh từ việc sáp nhập doanh nghiệp;
- Đăng ký thay đổi tình trạng pháp lý của doanh nghiệp nhận sáp nhập tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đăng ký doanh nghiệp hoặc thực hiện các thủ tục thông báo tập trung kinh tế tại cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh.
2.2.4 Hậu quả pháp lý sau khi sáp nhập doanh nghiệp
Hậu quả pháp lý của sáp nhập doanh nghiệp là giải quyết các mối quan hệ tài sản gắn với trách nhiệm pháp lý về tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia sáp nhập doanh nghiệp, theo đó, pháp luật quy định:
Trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các doanh nghiệp sáp nhập, doanh nghiệp bị sáp nhập trong việc giải quyết các quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với doanh nghiệp bị sáp nhập. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ kế thừa các quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm với khách hành, người lao động và các đối tác khác phát sinh từ các nghĩa vụ dân sự giữa doanh nghiệp bị sáp nhập với họ. Một nội dung quan trọng của sáp nhập doanh nghiệp đó là việc định giá tài sản, phần vốn góp của chủ sở hữu doanh nghiệp bị sáp nhập và doanh nghiệp bị sáp nhập trong tương quan so sánh khi quy đổi tỷ lệ phần vốn góp với chủ sở hữu doanh nghiệp nhận sáp nhập. Các nội dung nói trên sẽ được ghi nhận cụ thể trong hợp đồng sáp nhập doanh nghiệp căn cứ trên sự thỏa thuận của các bên tham gia sáp nhập và quy định của pháp luật về sáp nhập doanh nghiệp như nguyên tắc định giá, cơ sở định giá tài sản, phương pháp định giá tài sản, tổ chức định giá tài sản…
Việc chấm dứt tư cách pháp lý của một chủ thể kinh doanh độc lập, chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý của doanh nghiệp bị sáp nhập bằng việc xóa tên doanh nghiệp bị sáp nhập trong sổ đăng ký doanh nghiệp của cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp.
2.2.5 Quy định pháp luật điều chỉnh sáp nhập doanh nghiệp dưới góc độ là pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Sáp nhập doanh nghiệp sẽ dẫn đến sự hình thành các doanh nghiệp có sức mạnh và lợi thế cạnh tranh hơn so với các doanh nghiệp trước khi sáp nhập doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được hình thành sau khi sáp nhập doanh nghiệp có thể lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của mình để triệt tiêu cạnh tranh. Vì vậy, cần thiết phải kiểm soát trước khi các doanh nghiệp thực hiện sáp nhập với nhau. Pháp luật cạnh tranh kiểm soát sáp nhập doanh nghiệp với tính chất là một trong những hành vi tập trung kinh tế với các nhóm quy định cơ bản sau:
- Quy định về cách thức kiểm soát sáp nhập doanh nghiệp;
- Quy định về trình tự, thủ tục kiểm soát sáp nhập doanh nghiệp tại cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh;
- Quy định xử lý vi phạm về tập trung kinh tế.
Có thể thấy, quy định kiểm soát hành vi sáp nhập theo Luật Cạnh tranh và Luật Doanh nghiệp khác nhau. Việc kiểm soát sáp nhập của Luật Cạnh tranh dựa trên mức thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia sáp nhập trên thị trường liên quan hoặc quy mô của doanh nghiệp sau sáp nhập giống như trong trường hợp hợp nhất. Còn tại Luật Doanh nghiệp quy định trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại điện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Cấm các trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Quy định này có sự khác biệt so với Luật Cạnh tranh bởi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia sáp nhập trên thị trường liên quan hoàn toàn khác với mức thị phần trên thị trường liên quan của công ty nhận sáp nhập.
Kết Luận Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
Để thực hiện giao dịch M&A, nhà đầu tư phải tuân thủ nhiều quy định pháp luật điều chỉnh cụ thể từng khía cạnh của hoạt động này, như Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Bộ luật Lao động…
Xét ở góc độ quyền của doanh nghiệp, các quy định pháp luật của Việt Nam đã công nhận quyền thực hiện giao dịch M&A của nhà đầu tư, như Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng… Quyền này được thể hiện thông qua một số quyền như: quyền được chào bán cổ phần, hoặc giá trị phần góp vốn của người chủ sở hữu vốn, hoặc giá trị phần vốn được quyền chào bán của doanh nghiệp, quyền bán doanh nghiệp (bao gồm bán tài sản của doanh nghiệp, chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp đang sở hữu, hoặc bán toàn bộ doanh nghiệp nhà nước), quyền mua lại doanh nghiệp của các tổ chức kinh tế Việt Nam.
Đánh giá chung thì có thể thấy rằng, Việt Nam không có một khung pháp lý thống nhất cho M&A. Thay vào đó, các quy định pháp luật về M&A nẳm rải rác ở nhiều luật khác nhau. Một số luật quan trọng mà một người giao dịch M&A ở Việt Nam cần lưu ý khi xem xét một thương vụ M&A bao gồm: Bộ luật Dân sự, Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh và Luật Chứng khoán.
Đối với việc mua lại một công ty mục tiêu hoạt động trong các lĩnh vực có điều kiện nhất đinh, luật quản lý các lĩnh vực cụ thể được áp dụng. Ví dụ, việc mua lại một ngân hàng đồng thời được điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng và các quy định hướng dẫn có liên quan (các nghị định và thông tư). Các quy định này, cùng với các nghị định và thông tư hướng dẫn điều chỉnh và ảnh hưởng đến cấu trúc giao dịch và thủ tục của mỗi vụ M&A.
Nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào một công ty bằng cách góp thêm vốn hoặc mua lại cổ phần hiện hữu trong công ty mục tiêu. Nếu công ty mục tiêu có một hoặc nhiều ngành nghề kinh doanh có quy định về điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện đó để tiến hành việc mua lại.
Có hai nguồn để tìm các điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài đó là các hiệp định thương mại/đầu tư mà Việt Nam đã tham gia và pháp luật Việt Nam. Các hiệp định thương mại/đầu tư, tùy thuộc vào quốc tịch của nhà đầu tư, điều ước chung để tìm kiếm là các cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại khác nhau (Biểu cam kết dịch vụ số WT/ACC/VNM/48/Add.2 của Việt Nam khi gia nhập WTO, Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN – ACIA, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ – AFAS, Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và các nước khác gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia/New Zealand, Nhật Bản và Ấn Độ và Hiệp định đầu tư/đối tác/thương mại song phương giữa Việt Nam và các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc…) Về pháp luật của Việt Nam, một số điều kiện đầu tư được quy định tại pháp luật luật của Việt Nam. Ví dụ đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bất động sản phải đáp ứng điều kiện quy định trong Luật Kinh doanh Bất động sản của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đang hoàn thiện Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài FIA để cung cấp cho chúng các thông tin về điều kiện đầu tư và cũng là nơi tiện lợi cho việc tra cứu các văn bản pháp lý, thủ tục liên quan
Và dưới đây là tổng hợp một số các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A): Khóa luận: Thực trạng pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật mua bán sáp nhập doanh nghiệp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
