Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng, đóng góp đáng kể và hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa,… của đất nước.
Với những lợi thế to lớn được thiên nhiên ban tặng, Ninh Bình là một trong những tỉnh sớm nhìn nhận thấy tiềm năng du lịch của tỉnh và cũng đã có những định hướng chiến lược, đầu tư, quy hoạch phát triển du lịch trong những năm qua. Và cho đến thời điểm hiện tại, du lịch Ninh Bình cũng đã gặt hái được những thành công nhất định đóng góp đáng kể vào sự phát triển du lịch trong cả nước.
Tuy nhiên, trong thực tế phát triển du lịch Ninh Bình những năm qua còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Nhận rõ tình hình đó, Nghị quyết Đại hội Đảng tỉnh lần thứ XX nhấn mạnh trong những năm tới phấn đấu Ninh Bình trở thành một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của cả nước. Xuất phát từ tình hình nói trên, tôi quyết định chọn đề tài “Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình” cho luận văn thạc sĩ của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tổng quan nghiên cứu
Thuật ngữ chuỗi giá trị, chuỗi giá trị toàn cầu tuy mới được biết đến ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây nhưng cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực nông sản, dệt may và du lịch có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu dưới đây: Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Đề tài luận văn cao học của trường Đại học Kinh tế Hồ Chí Minh “Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu và khả năng tham gia của ngành dệt may Việt Nam” bảo vệ năm 2023 của tác giả Lương Thị Linh, người hướng dẫn khoa học PGS.TS Hà Văn Hội. Việc phân tích thực trạng chuỗi giá trị dệt may cho thấy những đặc trưng riêng của ngành dệt may để có những giải pháp thích hợp nhằm giúp ngành dệt may Việt Nam tham gia có hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cụ thể luận văn giải thích sự cần thiết của việc tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Đánh giá hiện trạng sự tham gia chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam, rút ra những hạn chế và nguyên nhân. Đề xuất các giải pháp góp phần cho ngành dệt may Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, luận văn cũng có những hạn chế nhất định đó là chưa phân tích một cách toàn diện, đầy đủ các khía cạnh về chuỗi giá trị dệt may toàn cầu. Đồng thời, chưa có sự phân tích, làm rõ chuỗi giá trị dệt may toàn cầu của Việt Nam
Đề tài nghiên cứu “Phân tích chuỗi giá trị sản phẩm Bò, Cừu và Dê tỉnh Ninh Thuận” năm 2023 của nhóm tác giả Trường Đại học Cần Thơ do TS Nguyễn Phú Son làm trưởng nhóm nghiên cứu. Trong đề tài này tác giả đã phân tích thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm bò, cừu và dê tỉnh Ninh Thuận, lập bản đồ chuỗi giá trị và phân tích kinh tế 3 chuỗi giá trị: bò, cừu, dê, phân tích lợi thế cạnh tranh của 3 loại sản phẩm, phân tích ma trận SWOT của 3 loại sản phẩm, đề xuất các chiến lược nâng cấp các chuỗi giá trị, xây dựng kế hoạch hành động 2023 – 2026 để nâng cấp các chuỗi giá trị nêu trên. Đồng thời các tác giả đã nghiên cứu chỉ khảo sát chủ yếu các tác nhân từ nhà sản xuất đến tác nhân phân phối cuối cùng trong chuỗi (không khảo sát người tiêu dùng). Ngoài ra, còn tham khảo ý kiến thêm một số người cung cấp sản phẩm đầu vào (thức ăn, thuốc thú y, con giống). Tuy nhiên đề tài cũng gặp phải hạn chế do nhà cung cấp đầu vào chưa tạo ra sản phẩm ban đầu và các khoản chi phí đầu vào này được phản ánh trong chi phí sản xuất của người chăn nuôi, do vậy giá trị gia tăng, giá trị gia tăng thuần và phân phối lợi ích chi phí của những người cung cấp đầu vào cho việc nuôi bò, cừu, dê không phản ánh chung trong toàn chuỗi.
3. Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch Ninh Bình thông qua việc tạo ra chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình. Kiến nghị các giải pháp chiến lược để thực hiện mục tiêu trên.
3.2 Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Du lịch Ninh Bình nên chọn hình thức liên kết kinh doanh nào cho phù hợp? Tại sao phải liên kết kinh doanh? Nội dung và tiến trình đối với du lịch Ninh Bình?
Việc hình thành và tạo ra chuỗi giá trị du lịch là cần thiết trong việc phát triển du lịch, vậy ngành du lịch Ninh Bình cần phải quan tâm đầu tư và hoạch định chính sách như thế nào cho phù hợp với môi trường du lịch hiện tại và những năm tiếp theo?
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là môi trường du lịch, Các hình thức và du khách trong chiến lược phát triển du lịch theo hướng liên kết kinh doanh và chuỗi giá trị ở Ninh Bình
4.2 Phạm vi
Đánh giá tình hình phát triển du lịch Ninh Bình từ năm 2023 – 2025 và hình thành chiến lược phát triển du lịch Ninh Bình theo hướng liên kết kinh doanh để tạo ra chuỗi giá trị ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2040
4.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp.
- Phương pháp phân tích thống kê, hệ thống và so sánh.
- Phương pháp định tính và định lượng.
- Phương pháp chuyên gia.
5. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Góp phần hệ thống hóa một số vấn đề lí luận cơ bản về phát triển chuỗi giá trị du lịch.
- Đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch tỉnh Ninh Bình từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình. Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển du lịch, đặc biệt là phát triển chuỗi giá trị du lịch ở tỉnh Ninh Bình.
6. Bố cục và nội dung chủ yếu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về hoạt động du lịch và phát triển chuỗi giá trị du lịch
- Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2023 – 2025.
- Chương 3: Giải pháp phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ DU LỊCH
1.1. Khái niệm cơ bản về du lịch
1.1.1. Khái niệm du lịch
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa- xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới.
Thuật ngữ “du lịch” trở nên rất thông dụng. Trong ngôn ngữ nhiều nước, thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “tornor” với ý nghĩa đi một vòng. Thuật ngữ này đã được Latinh hóa thành “Tornus”, và sau đó xuất hiện trong tiếng Pháp ; “tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi; còn “toursime” là người đi dạo chơi; trong tiếng Nga là “typuzm”; trong tiếng Anh có các từ liên quan “tour” là chuyến du lịch; “tourism” để chỉ các tổ chức du lịch, “tourists” là khách du lịch.
Mặc dù có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ nhanh như vậy, song cho đến nay lại tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm “du lịch”. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân: do góc độ nghiên cứu khác nhau, do sự khác biệt về ngôn ngữ, do tính chất phức tạp của hoạt động du lịch, do trình độ phát triển của hoạt động du lịch có sự chênh lệch theo thời gian, không gian…Nhìn chung, cùng với quá trình phát triển của trình độ khoa học kỹ thuật, cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người, hoạt động du lịch ngày càng phát triển toàn diện và theo đó nhận thức về khái niệm du lịch của con người cũng ngày càng thống nhất. Trong lịch sử phát triển lý thuyết về khoa học du lịch, đã tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau, chúng ta sẽ xem xét một số khái niệm tiêu biểu về du lịch. Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa, Canada tháng 6/1991: Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm. Định nghĩa này xem xét hoạt động du lịch có góc độ khách du lịch, do vậy chưa phản ánh đầy đủ nội dung của hoạt động du lịch.
Trong luật du lịch được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua khóa I, kỳ họp thứ 7 tháng 6/2018, tại điều 4 thuật ngữ “du lịch” và “ hoạt động du lịch” được hiểu như sau:
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan nhà nước có liên quan đến du lịch”.
Định nghĩa này xem xét du lịch như là một hoạt động, xem xét du lịch thông qua những hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi.
Định nghĩa của Khoa Du lịch và Khách sạn, ĐHKTQD Hà Nội đã đưa định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch thế giới và tại Việt Nam.
“Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa dịch vụ của những doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, ăn uống, lưu trú, tham quan,giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị- xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”.
Định nghĩa này đã phản ánh đầy đủ nội dung và bản chất của hoạt động du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ.
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy được sự biến đổi trong nhận thức về nội dung thuật ngữ du lịch, một số quan điểm cho rằng du lịch là một hiện tượng xã hội, một số khác lại cho rằng đây phải là một hoạt động kinh tế, nhiều học giả lồng ghép cả hai nội dung trên, tức du lịch là tổng hòa các mối quan hệ kinh tế, xã hội phát sinh từ hoạt động di chuyển.
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm kinh tế, lại vừa có đặc điểm của ngành văn hóa- xã hội.
1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Theo luật Du lịch của Việt Nam (năm 2016) quy định: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch”. Các đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể trong đó yếu tố hữu hình là hàng hóa chỉ chiếm khoảng 10-20%, yếu tố vô hình là dịch vụ du lịch chiếm khoảng 80-90%. Dịch vụ là kết quả hoạt động không thể hiện bằng sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế. Chất lượng dịch vụ chính là sự phù hợp với nhu cầu của khách hàng, được xác định bằng việc so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ là: Sự tin cậy, tinh thần trách nhiệm, sự bảo đảm, sự đồng cảm, và tính hữu hình.
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố TNDL. TNDL bao gồm các thành phần và những kết hợp của cảnh quan thiên nhiên và thành quả lao động sáng tạo của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch. TNDL có thể trực tiếp hay gián tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch thường không dịch chuyển được, mà khách du lịch phải đến địa điểm có các sản phẩm du lịch tiêu dùng các sản phẩm đó, thỏa mãn nhu cầu của mình.
Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa khác. Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là rất khó khăn. Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch.
Hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Việc tiêu thụ sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, có thể chỉ tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một số loại hình du lịch như: du lịch biển, núi…)
Có 3 yếu tố tham gia vào quá trình cung ứng và tiêu dùng sản phẩm du lịch: khách du lịch, nhà cung ứng và phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật, cụ thể: Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Khách du lịch: Theo khoản 2 điều 4 Luật Du lịch (năm 2016) của Việt Nam: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.
Các nhà cung ứng du lịch: Bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ cho du khách. Các tổ chức chuyên trách về du lịch thường được tổ chức theo mục tiêu tài chính hay theo quá trình. Các tổ chức này có nhiệm vụ tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch(về sinh lý, an toàn, giao tiếp xã hội) để cung ứng dịch vụ thỏa mãn sự trông đợi của họ(sự tao nhã, sự sẵn sàng, kiến thức…); chăm lo đến việc đảm bảo đi lại và phục vụ trong thời gian lưu trú của khách du lịch và phạm vi hoạt động bao gồm: kinh doanh khách sạn, lữ hành, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ du lịch khác.
Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch: Là toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội bảo đảm cho điều kiện phát triển cho du lịch và phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách. Các yếu tố đặc trưng là hệ thống khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi và giải trí, phương tiện vận chuyển, các công trình kiến trúc bổ trợ.
1.1.3. Các loại hình du lịch Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Hoạt động du lịch có thể phân thành các nhóm tùy thuộc vào tiêu chí đưa ra. Hiện nay, đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dưới đây:
1.1.3.1. Phân loại theo đặc điểm tự nhiên
Du lịch văn hóa: Là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn hay hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn. Các đối tượng văn hóa- tài nguyên du lịch nhân văn là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa phong phú, tài nguyên nhân văn bao gồm các di tích, công trình đương đại, lễ hội, phong tục, tập quán,….
Du lịch thiên nhiên: Là hoạt động du lịch diễn ra nhằm thỏa mãn nhu cầu về với thiên nhiên của con người. Du lịch thiên nhiên bao gồm các loại hình : du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn. Và nếu như tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn khách bởi sự hoang sơ, độc đáo và hiếm hoi của nó,tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó.
Du lịch miền biển: Mục tiêu chủ yếu của du khách là về với thiên nhiên tham gia các hoạt động du lịch biển như : tắm biển, thể thao biển.
Du lịch núi: Đặc tính độc đáo và tính tương phản cao, miền núi rất thích hợp cho việc xây dựng các loại hình tham quan, cắm trại, mạo hiểm… Các điểm nghỉ mát Tam Đảo, Sapa, Ba vì, Đà Lạt… là những điểm nghỉ đã xuất hiện khá lâu ở nước ta.
Du lịch đô thị: Các thành phố, trung tâm có sức hấp dẫn bởi các công trình kiến trúc lớn có tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Mặt khác đô thị cũng là đầu mối thương mại lớn nhất của đất nước. Vì vậy không chỉ người dân ở vùng nông thôn bị hấp dẫn mà du khách từ các miền khác, các thành phố khác cũng có nhu cầu để chiêm ngưỡng phố xá và mua sắm.
Du lịch thôn quê: Làng quê là nơi có không khí trong lành, cảnh vật thanh bình và có không gian thoáng đãng, nên nông thôn có thể giúp người dân các đô thị phục hồi sức khỏe sau những ngày làm việc căng thẳng.
Về phương diện kinh tế, người dân đô thị nhận thấy giá cả nhiều mặt hàng nông sản, thực phẩm ở nông thôn rẻ hơn, tươi hơn. Dưới góc độ xã hội người thành thị thấy người dân ở làng quê tình cảm chân thành, mến khách và trung thực. Tất cả những lý do trên giải thích tại sao du lịch nông thôn ngày càng phát triển và cần được quan tâm thích đáng. Đây cũng là một trong những đóng góp thiết thực của du lịch vào việc nâng cao mức sống của nông dân Việt Nam.
1.1.3.2. Phân loại theo mục đích chuyến đi Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Du lịch tham quan: Tham quan là hành vi quan trọng của con người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Đối tượng tham quan có thể là một tài nguyên du lịch tự nhiên, một phong cảnh kì thú hay tài nguyên du lịch nhân văn như một di tích hay một công trình đương đại… Về mặt ý nghĩa hoạt động tham quan là một trong những hoạt động để một chuyến đi được coi là một chuyến du lịch.
Du lịch giải trí: Mục đích của chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bứt ra khỏi công việc thường nhật căng thẳng để phục hồi sức khỏe. Du khách thường chọn một môi trường yên bình không đi lại nhiều. Ở Việt Nam, tuy các khu vui chơi giải trí còn chưa hiện đại do hoàn cảnh chưa cho phép song cũng thu hút được khá đông du khách trong và ngoài nước. Ví dụ điển hình là khu du lịch Thiên đường Bảo Sơn cách thủ đô không xa. Muốn thúc đẩy sự phát triển du lịch Việt Nam ngay từ bây giờ cần quan tâm nhiều hơn nữa đến việc kinh doanh loại hình du lịch này (xây dựng dự án đầu tư, đào tạo cán bộ nhân viên…)
Du lịch nghỉ dưỡng: Một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch là hồi phục sức khỏe cộng đồng. Địa chỉ cho những chuyến nghỉ dưỡng là nơi có không khí trong lành, dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục như các bãi biển, các vùng ven bờ nước, vùng núi… Hiện nay ngành du lịch Việt Nam chủ yếu kinh doanh loại hình du lịch này.
Du lịch khám phá: Mục đích là nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Địa chỉ lý thú cho những người ưa mạo hiểm là những con suối chảy xiết, những ngọn núi chót vót, những hang động bí hiểm… Để kinh doanh loại hình du lịch này cần có trang bị hỗ trợ cần thiết và đặc biệt cần có chương trình và đội ngũ ứng cứu hết sức cơ động. Nước ta có diện tích là đồi núi, nhiều núi cao, vực sâu lại nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa nên có nhiều điều kiện tạo ra các vùng phù hợp cho du lịch khám phá. Tuy nhiên muốn khai thác loại hình này cần một nguồn vốn không ít để đầu tư, đào tạo nhân viên nên so với các loại hình du lịch khác trong thời gian trước mắt, du lịch mạo hiểm có ít cơ hội thuận lợi hơn.
Du lịch thể thao: Chơi thể thao nhằm mục đích nâng cao thể chất, phục hồi sức khỏe… Đây là loại hình xuất hiện để đáp ứng lòng ham mê thể thao của con người. Để đáp ứng nhu cầu du lịch thể thao, cơ quan cung ứng du lịch phải có cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, đội ngũ nhân viên phục vụ phải có hiểu biết về loại hình thể thao cung ứng. Điểm du lịch phải có các điều kiện thuận lợi và phù hợp.
Du lịch lễ hội: Tham gia vào lễ hội du khách muốn hòa mình vào không khí tưng bừng, vào các cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tình đoàn kết của cộng đồng… Việc khôi phục các lễ hội truyền thống, việc tổ chức các lễ hội mới không chỉ là mối quan tâm của các cơ quan đoàn thể, quần chúng xã hội mà còn là hướng quan trọng của ngành du lịch.
1.1.3.3. Phân loại theo lãnh thổ hoạt động Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Du lịch quốc tế: Du lịch quốc tế đến là chuyến đi của người nước ngoài đến tham quan du lịch. Du lịch ra nước ngoài là chuyến đi của người trong nước ra tham quan du lịch ở nước ngoài. Du lịch quốc tế làm biến đổi cán cân thu chi của quốc gia có tham gia du lịch quốc tế.
Du lịch nội địa: Du lịch nội địa là các hoạt động tổ chức phục vụ người trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi và tham quan các đối tượng du lịch trên lãnh thổ quốc gia.
1.1.3.4. Phân loại theo phương tiện giao thông
Du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hỏa, du lịch bằng tàu thủy, du lịch bằng máy bay…
1.1.3.5. Phân loại theo loại hình lưu trú
Lưu trú là một trong những nhu cầu chính của du khách trong chuyến đi du lịch. Dưới góc độ kinh doanh du lịch, trong giai đoạn hiện nay, lưu trú, vận chuyển và ăn uống vẫn còn chiếm tỉ trọng khá lớn trong giá thành của các sản phẩm du lịch Việt Nam. Mặt khác tùy theo khả năng chi trả, sở thích của du khách, hiện trạng và khả năng cung ứng của đối tác mà trong từng chuyến đi du lịch cụ thể với họ, du khách có thể được bố trí nghỉ lại cơ sở lưu trú phù hợp.
1.1.3.6. Phân loại theo hình thức tổ chức
Theo tiêu chí này người ta phân chia thành du lịch tập thể, du lịch cá nhân và du lịch gia đình.
1.1.3.7. Phân loại theo độ dài chuyến đi
Có du lịch ngắn ngày và du lịch dài ngày
1.1.3.8. Phân loại theo phương thức hợp đồng
Có du lịch trọn gói và du lịch từng phần
1.1.4. Khái niệm về ngành du lịch Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Ngành du lịch là ngành cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch tiến hành hoạt động lữ hành, du ngoạn, tham quan nhằm mục đích thu phí. Ngành du lịch lấy du khách làm đối tượng, lấy tài nguyên thiên nhiên làm chỗ dựa, lấy cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch làm điều kiện vật chất, cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho hoạt động du lịch. Ngành du lịch đóng vai trò thiết lập mối liên hệ giữa du khách với tài nguyên du lịch, đồng thời thông qua hoạt động kinh doanh của mình thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, khu vực.
1.1.5. Vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế – xã hội
Du lịch được coi là “ngành công nghiệp không khói” hay “ngòi nổ để phát triển kinh tế” trong vấn đề thu hút ngoại tệ. Không những là ngành kinh tế mũi nhọn của các quốc gia mà còn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia và các miền trong một đất nước. Đồng thời, du lịch còn tạo ra một sự trải nghiệm cho chính du khách, giúp họ nhìn nhận lại những giá trị quý báu của dân tộc mà biết bao thế hệ, ngay cả chính họ đã phải đánh đổi bằng xương máu của mình để tạo dựng nên. Đối với thế hệ trẻ thì du lịch là dịp để họ hiểu hơn về công lao của cha ông mình, đồng thời cũng hiểu những giá trị nhân văn, giá trị truyền thống và thiên nhiên mà họ đang được thừa hưởng.
Về kinh tế, du lịch đã trở thành một ngành mũi nhọn, chiếm một tỉ trọng lớn trong thu nhập kinh tế quốc dân. Theo chiến lược phát triển du lịch Việt Nam do Thủ tướng ban hành, tổng thu từ khách du lịch năm 2026 đạt 207 nghìn tỉ đồng (6% tổng GDP); năm 2040 đạt 372 nghìn tỉ đồng (chiếm 7% tổng GDP); năm 2025 đạt 523 nghìn tỉ đồng (7,2% tổng GDP); năm 2050 đạt 708 nghìn tỉ đồng (7,5% tổng GDP).
Doanh thu, tỉ trọng doanh thu, việc làm theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2040, tầm nhìn đến 2050
| TT | Năm | Doanh thu từ du lịch (nghìn tỉ đồng) | Tỉ trọng doanh thu từ du lịch trong cơ cấu GDP (%) | Việc làm (triệu lao động) |
| 1 | 2026 | 207 | 6% | 2,1 |
| 2 | 2040 | 372 | 7% | 2,9 |
| 3 | 2025 | 523 | 7,2% | 3,5 |
| 4 | 2050 | 708 | 7,5% | 4,7 |
(Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050)
Về việc làm: Do đặc tính hoạt động, du lịch còn góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế vùng chậm phát triển, đồng thời giúp xoá đói, giảm nghèo ở những vùng sâu vùng xa. Theo chiến lược phát triển du lịch Việt Nam do Thủ tướng ban hành, năm 2026 tạo việc làm cho 2,1 triệu lao động; năm 2040 là 2,9 triệu lao động; năm 2025 là 3,5 triệu lao động; năm 2050 là 4,7 triệu lao động. Qua đó tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo an sinh và giải quyết các vấn đề xã hội.
Về văn hóa: Du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Góp phần phát triển thể chất, nâng cao dân trí và đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, tăng cường đoàn kết, hữu nghị, tinh thần tự tôn dân tộc
Về môi trường: Do đặc điểm ngành môi trường là một trong tiêu chí then chốt để thu hút khách du lịch, quyết định tính yếu tố hấp dẫn, quyết định chất lượng, giá trị thụ hưởng du lịch và thương hiệu du lịch. Do vậy, du lịch góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Về an ninh quốc phòng: Góp phần khẳng định và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, giữ vững an ninh, trật tự và an toàn xã hội
1.2. Khái niệm chuỗi giá trị du lịch Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
1.2.1. Khái niệm chuỗi giá trị
Khái niệm ‘‘Chuỗi giá trị – Value chain’’ được GS. Michael Porter nêu ra trong cuốn sách ‘‘Lợi thế cạnh tranh’’ được xuất bản vào năm 1985 là tập hợp một chuỗi các hoạt động có liên kết theo chiều dọc nhằm tạo lập và làm gia tăng giá trị.Hình 1.1: Mô hình chuỗi giá trị theo Porter
(Nguồn: Ban nghiên cứu hành động chính sách (2018), Sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo, Trung tâm thông tin ADB, Hà Nội)
Mô hình chuỗi giá trị của Porter chia hai mảng hoạt động: hoạt động bổ trợ và hoạt động chính. Các hoạt động chính: bao gồm đầu vào, sản xuất, đầu ra, marketing và bán hàng, dịch vụ khách hàng.
Đầu vào: Những hoạt động liên quan đến việc nhận, lưu trữ, dịch chuyển đầu vào sản phẩm, chẳng hạn như quản trị nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sản phẩm cho nhà cung cấp,…
Sản xuất: là hoạt động chuyển nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm hoàn thành.
Đầu ra: gồm những hoạt động kết hợp thu thập, lưu trữ và phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến người mua.
Marketing và bán hàng: là những hoạt động liên quan đến việc quảng cáo, khuyến mại, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ trong kênh và định giá.
Dịch vụ khách hàng (dịch vụ sau bán hàng): liên quan đến việc cung cấp dịch vụ nhằm gia tăng, duy trì giá trị của sản phẩm.
Các hoạt động hỗ trợ: bao gồm các hoạt động như thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng của công ty. Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Thu mua: liên quan đến chức năng mua nguyên vật liệu đầu vào bao gồm nguyên vật liệu, các nhà cung cấp, máy móc,…
Phát triển công nghệ: liên quan tới các bí quyết, quy trình, thủ tục, công nghệ được sử dụng.
Quản trị nguồn nhân lực: bao gồm các hoạt động liên quan tới chiêu mộ, tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù lao cho người lao động trong công ty.
Cơ sở hạ tầng công ty: bao gồm quản lý chung, lập kế hoạch quản lý, tuân thủ luật pháp, tài chính, kế toán, quản lý chất lượng, quản lý cơ sở vật chất,…
Theo Kaplinsky R. và Morris M. (2001), khái niệm chuỗi giá trị là nói đến tất cả những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, đến khi phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng.
Hình 1.2: Mối liên hệ trong chuỗi giá trị giản đơn
Phương pháp liên kết chuỗi giá trị (ValueLinks) (2018). Phương pháp liên kết chuỗi giá trị của GTZ (Deutsche Gesellschaft für Technische Zusammenarbeit – Đức) cho rằng chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với nhau, từ việc cung cấp các giá trị đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đến sơ chế, chuyển đổi, marketing, cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người tiêu dùng. Hay chuỗi giá trị là một loạt quá trình mà các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng chủ yếu của mình để sản xuất, chế biến và phân phối một sản phẩm cụ thể nào đó. Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một loạt các giao dịch sản xuất và kinh doanh, trong đó sản phẩm được chuyển từ tay nhà sản xuất, sơ chế ban đầu đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Hình 1.3: Phân đoạn chuỗi giá trị (các chức năng)
Hình 1.4: Sơ đồ chuỗi giá trị theo cách tiếp cận của GTZ
1.2.2. Chuỗi giá trị du lịch Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Trong tài liệu Sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị của dự án MP4, GTZ: Value links mannual: The methodology of Value chain promotion cho rằng: Trong ngành du lịch, cần phối hợp nhiều dịch vụ để cung cấp cho khách hàng. Các sản phẩm du lịch thường là một chuỗi các dịch vụ được trình bày trong hình dưới. Chuỗi giá trị trên thực tế là một cuộc hành trình trong đó người đi du lịch chuyển động trong một loạt các dịch vụ được kết nối với nhau. Hệ thống này chỉ vận hành khi tất cả các dịch vụ nếu đã sẵn sàng, vào những thời điểm và với chất lượng phù hợp. Ở đây, các dịch vụ được cung cấp bởi nhiều nhà cung cấp đơn lẻ nên đòi hỏi phải có một nhà cung cấp dịch vụ có chức năng điều phối – hãng du lịch hay nhà vận hành tour du lịch.
Sự khác biệt dễ nhận thấy nhất so với chuỗi giá trị của sản phẩm hữu hình là: chính khách hàng – người du lịch – được “chế biến” chứ không phải là hàng hoá. Đối với mỗi dịch vụ khách du lịch tiêu thụ trong hành trình của mình thì cần có một nhà cung cấp dịch vụ thứ cấp. Ví dụ như các trường quản lý khách sạn, dịch vụ giải trí, dịch vụ bảo dưỡng,…Như vậy, việc lập bản đồ toàn bộ chuỗi (Ví dụ như du lịch sinh thái tại một vùng núi cụ thể nào đó) có thể trở nên rất phức tạp. Tuy nhiên, nếu như tất cả mọi yếu tố đều chưa sẵn sàng thì sẽ không có được sức hút trong dịch vụ này. Ít nhất là một bản đồ chuỗi giá trị du lịch cũng có thể được dùng như một bản danh sách những mục cần kiểm tra.
Trong báo cáo đề tài: “Phát triển chuỗi giá trị du lịch bền vững cho tỉnh Đắk Lắk (2018)” được soạn bởi Nguyễn Đức Hoa Cương cho rằng: Du lịch là một sản phẩm phức hợp bao gồm sự cung cấp của rất nhiều công ty du lịch cũng như các tổ chức chính phủ, lợi nhuận và phi lợi nhuận. Cùng với nhau họ tạo thành các chuỗi du lịch – một chuỗi các hoạt động tuần tự, diễn viên, phim và các vật liệu cần thiết để sản xuất một chuyến đi nghỉ.
1.2.3. Phân biệt chuỗi giá trị du lịch với chuỗi cung ứng
Về cơ bản chúng giống nhau vì cả hai bao gồm mạng lưới như nhau của các thành viên, những người có mối liên hệ với các thành viên khác để cung cấp hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng cuối cùng. Nếu chúng ta so sánh định nghĩa của mỗi chuỗi cung ứng với chuỗi giá trị chúng ta nhận thấy sự giống và khác nhau của chúng. Chuỗi cung ứng như hàm ý của nó, tập trung vào hiệu quả và chi phí cung ứng. Chuỗi cung ứng được hiểu là việc mang nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất và hoàn thiện sản phẩm tới người tiêu dùng một cách suôn sẻ và tiết kiệm. Mục tiêu đầu tiên của chuỗi cung ứng là đáp ứng nhu cầu khách hàng thông qua việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực bao gồm: việc phân bổ công suất, tài nguyên và lao động. Một chuỗi cung ứng cố gắng tìm kiếm để làm cho phù hợp nhu cầu với khả năng cung ứng của tài nguyên khoáng sản. Khía cạnh khác của việc đánh giá một cách lạc quan chuỗi cung ứng bao gồm việc giữ liên lạc với nhà cung cấp để loại trừ những yếu tố làm đình trệ khâu sản xuất; chiến lược nguồn lực để tạo nên một sự thăng bằng giữa chi phí nguyên vật liệu và vận chuyển thấp nhất; phương tiện kỹ thuật “Just in time” để đánh giá một cách lạc quan dòng chảy sản xuất; duy trì sự phối hợp đúng đắn giữa vị trí công ty và kho hàng để phục vụ thị trường tiêu dùng, và sử dụng vị trí/sự chỉ định vị trí, phân tích đường vận chuyển, chương trình động lực và dĩ nhiên, sự lạc quan vận chuyển truyền thống để tối đa hiệu quả của việc phân phối.
Ngược lại, chuỗi giá trị bố trí sự tập trung của nó vào tổng giá trị cho người tiêu dùng. Vì thế, mục tiêu của một chuỗi giá trị là tối đa giá trị tại chi phí thấp nhất có thể cho người tiêu dùng. Do đó, sự khác nhau cơ bản giữa một chuỗi cung ứng và một chuỗi giá trị là một sự thay đổi cơ bản trong sự tập trung từ việc cung cấp dựa vào người tiêu dùng.
Do đó chiến lược giảm giá và cắt giảm chi phí không đủ để đảm đảm cho lợi thế thị trường có thể chống đỡ được trong thời gian dài, nó cần thiết cho công ty để cung cấp giá trị, cái mà sẽ biện minh cho giá cả sản phẩm. Vì vậy, bản thân chuỗi cung ứng đã tiến triển để làm cho khớp nguồn cung và giá trị. Dấu hiệu có thể được chú ý trong định nghĩa một chuỗi cung ứng từ the Global Supply Chain Forum (1998): “Sự hợp lại thành một hệ thống nhất của quá trình kinh tế cơ bản từ người sử dụng cuối cùng cho đến người cung ứng đầu tiên cung ứng sản phẩm, dịch vụ và thông tin, những thứ làm tăng thêm giá trị cho người tiêu dùng và khách hàng tiềm năng khác”. Quan điểm một chuỗi cung ứng phải làm tăng thêm giá trị cho khách hàng đang làm giảm đi sự khác biệt tương phản giữa một chuỗi cung ứng và một chuỗi giá trị.
1.3. Nội dung cơ bản trong phân tích chuỗi giá trị du lịch Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
1.3.1. Lập sơ đồ chuỗi giá trị
Phân tích chuỗi giá trị bắt đầu với quá trình lập sơ đồ chuỗi giá trị. Lập sơ đồ một chuỗi có nghĩa là tạo ra một hình ảnh của các kết nối giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị cũng như các tác nhân khác. để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta muốn phân tích, chúng ta có thể dùng các mô hình, bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để nắm được và hình dung được bản chất của nó. Lập sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để làm cho những gì chúng ta nhìn thấy dễ hiểu hơn. Lập sơ đồ chuỗi giá trị có ba mục tiêu chính: – Giúp hình dung được các mạng lưới để hiểu hơn về các kết nối giữa các tác nhân và quy trình trong một chuỗi giá trị.
Thể hiện tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các tác nhân và quy trình trong chuỗi giá trị.
Cung cấp cho các bên liên quan hiểu biết ngoài phạm vi tham gia của riêng họ trong chuỗi giá trị. Tuy nhiên, điều quan trọng là không để nhầm lẫn giữa lập sơ đồ chuỗi giá trị với phân tích chuỗi giá trị. Lập sơ đồ chuỗi giá trị có nghĩa là để cung cấp một bức tranh toàn cảnh của chuỗi giá trị phải được nghiên cứu. Sơ đồ chuỗi giá trị là một cách để minh họa (hoặc có thể đơn giản hóa) sự phức tạp của chuỗi giá trị trong thế giới thực. Phân tích chuỗi giá trị là xác định những khó khăn của từng khâu trong chuỗi, từ đó có các giải pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường và phát triển bền vững. Xây dựng sơ đồ chuỗi giá trị không phải là một công việc nhanh chóng. Thay vào đó, nó được thực hành và phát triển trong suốt quá trình phân tích chuỗi giá trị “Việc thực hiện lập sơ đồ chuỗi giá trị có thể bao gồm nhiều quy trình cốt lõi của chuỗi giá trị. Vì vậy, dựa trên nguồn lực có sẵn, phạm vi và mục tiêu của phân tích chuỗi giá trị và nhiệm vụ của tổ chức để lựa chọn các quy trình cốt lõi được lập rất quan trọng. Nguyên tắc là phân biệt được quá trình chuyển đổi sản phẩm trong nhiều giai đoạn để trở thành sản phẩm cuối cùng cho khách hàng cuối cùng là gì? Điều quan trọng là hạn chế việc phân tích chuỗi giá trị cho một số lượng nhất định các quy trình cốt lõi. Nếu không, nó sẽ quá phức tạp và làm tốn quá nhiều thời gian và nguồn lực. để lập được sơ đồ chuỗi giá trị, nghiên cứu cần tập trung vào những vấn đề sau đây:
Nhận diện các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị: Bước đầu tiên là tìm ra các quy trình cốt lõi trong chuỗi giá trị. Cần xác định và phân biệt được các quy trình chính mà nguyên liệu thô luân chuyển qua trước khi đến giai đoạn tiêu dùng cuối cùng. Các quy trình cốt lõi này sẽ khác nhau và tùy thuộc vào tính chất của chuỗi mà ta lập sơ đồ.
Xác định những tác nhân trực tiếp tham gia vào quy trình: cần xác định xem các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị là những đối tượng nào và chúng làm những công việc cụ thể gì. để phân biệt giữa các tác nhân tham gia là tùy vào mức độ phức tạp mà việc lập sơ đồ muốn đạt được. Sự khác biệt đơn giản nhất là để phân loại các tác nhân theo nghề nghiệp chính của họ. Ví dụ, người thu gom là những người thực hiện thu gom, trong khi sản xuất là những người tham gia trong sản xuất. Đây là phân loại đơn giản nhưng không cung cấp nhiều thông tin. Các tiêu chí phân loại khác có thể là: hình thức sở hữu (nhà nước, doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh, hợp tác xã, hộ gia đình,…), quy mô (lớn, vừa hoặc nhỏ, quy mô quốc gia hoặc quốc tế,…), phân loại theo địa điểm (xã, huyện, tỉnh, quốc gia,…). Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Lập sơ đồ dòng sản phẩm: Sau khi các quy trình cốt lõi, các tác nhân và các hoạt động cụ thể trong chuỗi giá trị đã được vạch ra, dòng sản phẩm sẽ được xác định. Các dòng sản phẩm sẽ cho biết quá trình trở thành sản phẩm cuối cùng: sự chuyển đổi của các sản phẩm từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng sẵn sàng để bán cho khách hàng cuối cùng.
Lập sơ đồ khối lượng sản phẩm: Khối lượng của sản phẩm khi xác định sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về quy mô của các kênh khác nhau trong chuỗi giá trị.
Theo mô hình phân tích chuỗi giá trị, ngoài các tác nhân nội bộ trực tiếp tham gia vào các quá trình cốt lõi, vẫn có tồn tại những tác nhân bên ngoài cung cấp dịch vụ. Mặc dù các tác nhân bên ngoài cung cấp dịch vụ gián tiếp tham gia nhưng có ảnh hưởng đến hiệu suất của chuỗi trong một cách này hay cách khác. Do đó, cần được phân tích đầy đủ. Một rủi ro tiềm ẩn của việc phân tích chuỗi giá trị là các môi trường xung quanh không được xem xét đến. Khi lập sơ đồ dịch vụ kinh doanh kèm theo vào các chuỗi giá trị, chúng ta cần chú ý dịch vụ có thể được phân loại thành các dịch vụ kinh doanh và các dịch vụ hỗ trợ. Dịch vụ kinh doanh được cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ chuyên ngành trên cơ sở lệ phí cho dịch vụ từ môi trường xung quanh. Dịch vụ hỗ trợ được cung cấp như một phần của giao dịch giữa người mua và nhà cung cấp trong chuỗi.
1.3.2. Phân tích kinh tế của chuỗi giá trị
Phân tích kinh tế của chuỗi giá trị là đánh giá năng lực hiệu suất kinh tế của chuỗi. Các chỉ tiêu kinh tế của chuỗi giá trị như doanh thu, chi phí, lợi nhuận, giá trị gia tăng, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu,…Cần phân tích kỹ để tìm hiểu sự phân phối lợi ích trong chuỗi như thế nào. Một số chỉ tiêu thường sử dụng để phân tích chuỗi giá trị như: Doanh thu: Doanh thu tính bằng cách nhân số lượng hàng bán (Q) với giá bán (P) cộng thêm các nguồn thu nhập thêm như doanh thu từ việc bán phế phẩm, tư vấn, doanh thu từ các dịch vụ có liên quan,… Ta có công thức sau Doanh thu = (Q x P) + những nguồn thu nhập khác
Giá cả khác nhau tùy theo kênh phân phối, đoạn thị trường và tùy theo loại và chất lượng hàng bán. Giá cả cũng có thể thay đổi theo mùa hoặc có thể khác nhau theo từng ngày. Chi phí và lợi nhuận: Việc phân tích chi phí và lợi nhuận có vai trò rất quan trọng đối với người phân tích chuỗi giá trị vì các thông số về chi phí và lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra các quyết định có liên quan đến chuỗi. Cụ thể như sau:
Xác định các chi phí hoạt động và đầu tư đang được phân chia giữa những người tham gia chuỗi giá trị để đưa ra quyết định có thể tham gia chuỗi hay không. Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Xác định doanh thu và lợi nhuận đang được phân chia giữa những người tham gia chuỗi giá trị và đưa ra kết luận những người tham gia có thể tăng lợi nhuận trong chuỗi giá trị được không.
Xem chi phí và lợi nhuận trong một chuỗi giá trị thay đổi theo thời gian như thế nào để làm cơ sở dự đoán tăng trưởng hoặc suy giảm trong chuỗi giá trị trong tương lai.
So sánh lợi nhuận của một chuỗi giá trị với lợi nhuận của một chuỗi giá trị khác để đưa ra quyết định nên chuyển từ chuỗi giá trị này sang chuỗi giá trị khác hay không. – So sánh chuỗi giá trị của mình với thực tiễn tốt nhất để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của chuỗi giá trị của mình. Sự so sánh này nhằm giúp xác định các nhu cầu và tiềm năng nâng cấp, đồng thời định dạng các cơ hội thị trường mới. Giá trị gia tăng: là thước đo về giá trị được tạo ra trong nền kinh tế. Theo McCormick/ Schmictz, giá trị gia tăng là giá trị mà được cộng thêm vào hàng hóa và dịch vụ tại mỗi khâu của quá trình sản xuất hay tiêu thụ mặt hàng đó. Với cách hiểu đó, ta có thể tính giá trị gia tăng theo công thức sau:
Giá trị gia tăng = Tổng giá trị bản sản phẩm – Giá trị các hàng hóa trung gian
Tổng giá trị bán = Giá x Số lượng sản phẩm cuối cùng đã bán sản phẩm
Giá trị gia tăng:
- Bao gồm tiền lương
- lãi suất và cho vay
- phá giá
- thuế thực thu
- lợi nhuận
Hàng hóa trung gian
- Nguyên liệu thô
- Đầu vào
- Sản phẩm cuối cùng
- Các dịch vụ vận hành
Chuỗi giá trị chỉ mang lại lợi nhuận cho các tác nhân nếu người tiêu dùng sẵn sàng chi trả giá sản phẩm cuối cùng. Người tiêu dùng không tạo ra giá trị gia tăng.
1.3.3. Quản trị chuỗi giá trị Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Quản trị chuỗi giá trị được định nghĩa là các mối quan hệ giữa các bên tham gia và các cơ chế thể chế, thông qua đó các hoạt động điều phối phi thị trường được thực hiện. Quản trị chuỗi giá trị dễ dàng được nhận ra trong mối quan hệ giữa các công ty hàng đầu trong chuỗi giá trị toàn cầu. Một ví dụ rõ ràng là các siêu thị hàng đầu của Anh thực hiện kiểm soát trên toàn chuỗi cung cấp rau quả tươi, không chỉ xác định các loại sản phẩm mà họ muốn mua (bao gồm giống, chế biến và đóng gói), mà còn các quá trình như hệ thống chất lượng cần phải được đặt đúng chỗ. Những yêu cầu này được thực thi thông qua một hệ thống kiểm tra, kiểm soát kỹ lưỡng và thông qua quyết định cuối cùng giữ hay loại bỏ một nhà cung cấp. Rõ ràng, quản trị trong chuỗi giá trị là việc thực hiện kiểm soát dọc theo chuỗi. Trong ba yếu tố của môi trường xung quanh của một chuỗi giá trị là quy tắc và các quy định. Quy tắc và quy định là một phần không thể tách rời trong việc quản lý chuỗi giá trị. Quản trị đảm bảo rằng các tương tác giữa các tác nhân cùng một chuỗi giá trị được phản ánh một cách có tổ chức chứ không phải là ngẫu nhiên. Trong thực tế, quản trị đề cập đến các quy tắc và quy định được thiết lập bởi các tác nhân trong chuỗi hoặc bởi những tổ chức nằm ngoài chuỗi như các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, và tổ chức kiểm soát chất lượng. Trong trường hợp này đơn giản có thể là yêu cầu đối với sản phẩm bán buôn nông nghiệp được thu hoạch một cách chính xác để ngăn chặn thiệt hại và suy thoái. Ngược lại, chúng có thể phức tạp như là sự thực thi đạt tiêu chuẩn quốc tế về mức độ cho phép của dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên các sản phẩm nhập khẩu của một chính phủ nước ngoài. Một ví dụ khác là thủ tục đối với một công ty đa quốc gia như là một điều kiện tham gia cho một nhà thầu phụ trong chuỗi giá trị toàn cầu của nó. Theo Kaplinsky và Morris (2001), có ba hình thức quản trị chuỗi giá trị, cụ thể là thiết lập luật quản trị, quản trị điều hành và quản trị tư pháp. Thiết lập luật quản trị đề cập đến các vấn đề về thiết lập quy tắc và quy định điều chỉnh hoạt động của chuỗi giá trị. Một khi các quy tắc và các quy định được sinh ra, việc giám sát thực hiện để đảm bảo việc tuân thủ các quy tắc là cần thiết. Đây là chức năng quản trị tư pháp. Xử phạt cả hai tiêu cực và tích cực là chìa khoá quản trị tư pháp. Tuy nhiên, để đáp ứng những quy tắc và các quy định, các tác nhân trong chuỗi giá trị có thể cần sự trợ giúp điều hành quản trị về việc hỗ trợ người tham gia trong chuỗi giá trị để thực hiện các quy tắc và các quy định yêu cầu. Ba hình thức của quản trị có thể được thực hiện bởi cả những tác nhân bên ngoài và bên trong chuỗi giá trị. Phần lớn các cuộc thảo luận hiện tại của quản trị không nhận ra sự khác biệt này của ba loại quản trị này, bởi vì trong một số trường hợp, các bên cùng được cho là bao gồm tất cả ba loại tác động của ba loại quản trị.
1.3.4. Nâng cấp chuỗi giá trị
Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của thị trường và phát triển chuỗi một cách bền vững. Có 4 loại nâng cấp chuỗi sau:
Nâng cấp theo quy trình: tức là cải tiến công nghệ sản xuất, tiêu thụ và hậu cần. Hay nói cách khác đó là việc tăng hiệu quả của quy trình bên trong hơn so với các đối thủ, kể cả trong một khâu và giữa các khâu trong chuỗi.
Nâng cấp sản phẩm: tức là việc đổi mới, đa dạng hóa hay cải tiến sản phẩm cuối cùng. Hay là đưa ra các sản phẩm mới hoặc cải thiện các sản phẩm hiện có nhanh hơn các đối thủ, kể cả trong một khâu và giữa các khâu trong chuỗi.
Nâng cấp chức năng: có nghĩa là việc chuyển các chức năng của chuỗi giá trị từ một người vận hành này sang một người vận hành khác. Hay là thêm giá trị gia tăng thông qua thay đổi một số hoạt động trong công ty hoặc chuyển trọng tâm các hoạt động tới các khâu khác trong chuỗi giá trị. Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Nâng cấp chuỗi: chuyển đến một chuỗi giá trị mới.
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu để nâng cấp chuỗi
| Loại nâng cấp | Thực hiện | Kết quả |
| Nâng cấp quy trình | ||
| – Trong từng khâu | Nghiên cứu và phát triển, thay đổi hệ thống hậu cần và quản lý chất lượng, đầu tư máy móc mới | Giảm chi phí, tăng chất lượng và khả năng giao hàng, giảm thời gian đưa hàng tới thị trường, cải thiện lợi nhuận, thúc đẩy thương hiệu. |
| – Giữa các khâu | Nghiên cứu và phát triển, cải tiến quản lý chuỗi cung ứng, khả năng kinh doanh điện tử, hỗ trợ trao đổi trong chuỗi cung ứng | Giảm giá thành sản phẩm cuối cùng, tăng chất lượng của sản phẩm cuối cùng, giảm thời gian đưa hàng đến thị trường, cải thiện lợi nhuận cho cả chuỗi, thúc đẩy thương hiệu. |
| Nâng cấp sản phẩm | ||
| – Trong từng khâu | Mở rộng phòng thiết kế và marketing; thiết lập và thúc đẩy các bộ phận chức năng phát triển sản phẩm mới. | Tỷ lệ phần trăm sản phẩm mới trong tổng doanh thu. Tỷ lệ phần trăm sản phẩm có thương hiệu trong tổng doanh thu. |
| – Giữa các khâu | Hợp tác với nhà cung ứng và khách hàng để phát triển sản phẩm mới – ứng dụng kỹ thuật đồng bộ | Số nhãn hiệu có bản quyền. Tăng giá sản phẩm ở mức tương đối mà không bị mất thị phần |
| Nâng cấp chức năng Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình. | ||
| – Trong từng khâu | Đạt được các chức năng tạo ra giá trị gia tăng mới cao hơn từ các liên kết khác trong chuỗi hoặc thuê ngoài các chức năng có giá trị gia tăng thấp. | Phân công lao động trong chuỗi. Các chức năng cốt lõi được thực hiện trong từng khâu cụ thể của chuỗi |
| – Giữa các khâu | Chuyển đến khâu mới trong chuỗi hoặc rời bỏ các khâu hiện tại | Tăng lợi nhuận, tăng kỹ năng, tăng tiền lương. |
| Nâng cấp chuỗi | Ngừng sản xuất trong chuỗi và chuyển sang chuỗi mới; thêm các hoạt động mới trong chuỗi mới | Lợi nhuận cao hơn, tỉ lệ doanh thu từ khu vực sản xuất mới |
(Nguồn: Phạm Thị Hoàn Nguyên (2022), Phân tích chuỗi giá trị cá ngừ đại dương tại Tỉnh Khánh Hòa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại Học Nha Trang)
Để nâng cấp chuỗi thành công, các tác nhân trong chuỗi đóng vai trò chủ đạo thực hiện nhiệm vụ nâng cấp và các nhà hỗ trợ đóng vai trò hỗ trợ các tác nhân trong quá trình nâng cấp. Đồng thời, liên kết ngang và liên kết dọc phải được củng cố và phát triển
1.3.5. Liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị
1.3.5.1 Khái niệm liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất. Được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của các nước.
1.3.5.2 Các hình thức liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
- Liên kết ngang: là liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu (Ví dụ: liên kết những người nghèo sản xuất/kinh doanh riêng lẻ thành lập nhóm cộng đồng/ tổ hợp tác) để giảm chi phí, tăng giá bán sản phẩm.
- Liên kết dọc: là liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi (Ví dụ: nhóm cộng đồng liên kết với doanh nghiệp thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm).
1.3.5.3 Lợi ích của liên kết kinh tế trong chuỗi giá trị
- Đối với liên kết ngang: (1) Giảm chi phí sản xuất, kinh doanh cho từng thành viên của tổ/nhóm qua đó tăng lợi ích kinh tế cho từng thành viên của tổ; (2) Tổ/nhóm có thể đảm bảo được chất lượng và số lượng cho khách hàng; (3) Tổ/nhóm có thể ký hợp đồng đầu ra, sản xuất quy mô lớn; (4) Tổ/nhóm phát triển sản xuất, kinh doanh một cách bền vững.
- Đối với liên kết dọc: (1) Giảm chi phí chuỗi; (2) Có cùng tiếng nói của những người trong chuỗi; (3) Hợp đồng bao tiêu sản phẩm được bảo vệ bởi luật pháp nhà nước; (4) Tất cả thông tin thị trường đều được các tác nhân biết được để sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường. (5) Niềm tin phát triển chuỗi rất cao.
1.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu chuỗi giá trị trong ngành du lịch
Phân tích chuỗi giá trị được xem như là công cụ đắc lực giúp cho những nhà quản trị du lịch, người giữ vai trò quản lý trong tổ chức, doanh nghiệp xác định đâu là những hoạt động chính của một công ty, một sản phẩm, một ngành hàng và xác định xem mỗi hoạt động đã góp phần vào chiến lược cạnh tranh cũng như sự phát triển của công ty, của ngành hàng đó như thế nào.
Phương pháp phân tích chuỗi giá trị là một công cụ mô tả nhằm giúp cho nhà quản trị du lịch kiểm soát được sự tương tác giữa những tác nhân tham gia khác nhau trong chuỗi. Là một công cụ có tính mô tả nên nó có lợi thế ở chỗ buộc người phân tích phải xem xét cả các khía cạnh vi mô và vĩ mô trong các hoạt động sản xuất và trao đổi, nhằm chỉ ra được năng lực cạnh tranh của một công ty, một ngành hàng… có thể bị ảnh hưởng do tính không hiệu quả ở một khâu nào đó trong chuỗi giá trị.
Giúp cho nhà quản trị du lịch đo lường được hiệu quả chung của sản phẩm, của ngành hàng và xác định được mức đóng góp cụ thể của từng tác nhân tham gia chuỗi để có cơ sở đưa ra những quyết định phù hợp.
Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi, từ đó khuyến khích sự hợp tác giữa các yếu tố trong chuỗi để việc phân phối lợi ích vươn tới sự công bằng, tạo ra nhiều hơn giá trị tăng thêm và nâng cao lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Giúp cho các nhà tạo lập chính sách có nguồn thông tin cần thiết để có những giải pháp phù hợp và không ngừng hoàn thiện chính sách vĩ mô nhằm phát triển bền vững chuỗi ngành hàng
1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị du lịch Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
1.5.1. Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố mang tính rộng lớn, chúng có tác động và ảnh hưởng tới toàn bộ môi trường cạnh tranh và môi trường bên trong của tổ chức. Các tổ chức không thể kiểm soát được những biến đổi của các yếu tố trong môi trường vĩ mô, nhưng tổ chức có thể vận dụng những thuận lợi và khó khăn do nó gây ra, biến nó thành cơ hội kinh doanh của mình. Các yếu tố quan trọng trong môi trường vĩ mô có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp trong ngành du lịch bao gồm: các yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị và luật pháp, yếu tố xã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ.
1.5.1.1. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch (TNDL) là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch. TNDL có thể chia làm hai nhóm:
Tài nguyên du lịch tự nhiên: là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta. TNDL tự nhiên chính là môi trường sống của hoạt động du lịch. Các thành phần của tự nhiên có ý nghĩa nhất đối với hoạt động du lịch là địa hình, khí hậu, nguồn nước, động, thực vật.
Tài nguyên du lịch nhân văn : Là các đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo là các di tích lịch sử- văn hóa- kiến, các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa- thể thao và hoạt động nhận thức khác
Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt. Quy mô, tính chất, sức hấp dẫn và tính mùa vụ của hoạt động du lịch trên một vùng lãnh thổ được xác định trên cơ sở khối lượng, tính chất và mức độ giá trị của nguồn TNDL. TNDL có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành cấu trúc và chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch. Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
1.5.1.2. Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng và quyết định đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu nền kinh tế, tỷ giá hối đoái là những yếu tố kinh tế thường xuyên tác động đến hoạt động của mọi tổ chức nói chung và ngành du lịch nói riêng. Đối với ngành du lịch nếu các chỉ số của nền kinh tế tăng trưởng tốt sẽ làm cho thu nhập của dân cư gia tăng, đời sống được cải thiện, nhu cầu du lịch vì thế cũng sẽ tăng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành.
1.5.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng (CSHT) nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du lịch. Bản chất của du lịch là di chuyển, do vậy nó phụ thuộc vào mạng lưới đường xá và phương tiện giao thông. Thông tin liên lạc là điều kiện cần thiết để đảm bảo thông tin giữa khách du lịch, các nhà cung cấp. Trong CSHT phục vụ du lịch còn phải đề cập đến hệ thống điện, nước phục vụ trực tiếp cho nhu cầu nghỉ ngơi giải trí của khách. Ngày nay, sự hoàn thiện của CSHT còn được coi là một hướng hoàn thiện chất lượng phục vụ du lịch, là phương thức cạnh tranh giữa các điểm du lịch, giữa các quốc gia.
Cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT): đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Sự đa dạng, phong phú trong nhu cầu của du khách đòi hỏi CSVCKT du lịch bao gồm nhiều thành phần khác nhau: các cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống; thể thao, giải trí… Chúng tồn tại một cách độc lập tương đối nhưng lại có một quan hệ khăng khít: tính đồng bộ của hệ thống phục vụ du lịch góp phần nâng cao tính đồng bộ của sản phẩm du lịch, tính hấp dẫn của điểm du lịch. Do vậy, việc phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện CSVCKT du lịch.
1.5.1.4. Hội nhập kinh tế
Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, ngày càng có nhiều nước tham gia, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là một xu thế phản ánh nguyện vọng và đòi hỏi của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Trong bối cảnh đó, nhu cầu du lịch tăng cao, du lịch thế giới phát triển nhanh với xu thế chuyển dần sang khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Đây thực sự là một cơ hội tạo đà cho du lịch Việt Nam phát triển. Về nhu cầu khách du lịch vào Việt Nam ngày càng tăng từ các thị trường Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Đông Nam Á. Các thủ tục xuất, nhập cảnh được cải tiến đáng kể, thuận lợi cho khách vào Việt Nam du lịch. Đặc biệt việc miễn visa hay như cho phép khách Trung Quốc vào tất cả các tỉnh thành trong cả nước.
Tuy nhiên, cạnh tranh du lịch trong khu vực và thế giới sẽ được đẩy lên ở mức cao trong điều kiện toàn cầu hóa. Hiện tại, nguồn khách quốc tế do các công ty lữ hành quốc tế lớn chi phối, các biến động khó lường của khủng hoảng tài chính, năng lượng thiên tai, của chiến tranh cục bộ xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố. Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Du lịch Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển điểm xuất phát quá chậm so với du lịch nhiều nước trong khu vực. Cơ sở hạ tầng chưa theo kịp tốc độ phát triển, chất lượng dịch vụ thấp, giá cả cao, sản phẩm chưa phong phú… Hệ thống các chính sách, quy định pháp luật liên quan đến phát triển du lịch thiếu đồng bộ, cơ chế chưa thật thông thoáng so với yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quản lý và phát triển. Thực tế này dẫn tới năng lực cạnh tranh thấp.
Vốn đầu tư phát triển du lịch còn rất thiếu, trong khi đó đầu tư lại chưa được đồng bộ, kém hiệu quả là một thách thức không nhỏ đối với sự phát triển của ngành du lịch. Nhận thức xã hội về du lịch vẫn còn nhiều bất cập, thiếu thống nhất trong xây dựng, chỉ đạo, quản lý và thực hiện quy hoạch ngành và lãnh thổ.
1.5.1.5. Yếu tố chính trị – pháp luật
Một thể chế chính trị, luật pháp rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo cho sự thuận lợi, bình đẳng cho các tổ chức trong nền kinh tế. Đặc biệt, Ngành du lịch là ngành chịu sự tác động trực tiếp toàn diện của môi trường chính trị, luật pháp và do đó nó rất nhậy cảm với những biến động của môi trường này. Ngành chịu sự tác động của đường lối phát triển của quốc gia thể hiện ở hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của nhà nước và tổ chức bộ máy cơ chế điều hành từ trung ương đến địa phương. Chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, coi trọng các quốc gia là bạn và là đối tác tin cậy của nhau là cơ hội thuận lợi cho ngành du lịch phát triển trên các phương diện khai thác thị trường, tránh được các rủi ro trong kinh doanh do bạo loạn chính trị, đảm bảo được sự an toàn và an ninh cho khách du lịch quốc tế.
1.5.1.6. Yếu tố văn hóa – xã hội
Đây là nhóm yếu tố quan trọng tạo lập nên nhân cách và lối sống của người tiêu dung, đồng thời cũng là cơ sở để các ngành kinh doanh trong đó có ngành du lịch lựa chọn và điều chỉnh các quyết định kinh doanh. Trong ngành du lịch, trình độ văn hóa và dân trí cao hay thấp quyết định đến thái độ cư xử đối với du khách trong giao tiếp, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ du khách, tạo nên sự hấp dẫn thu hút du khách.
1.5.1.7. Yếu tố công nghệ – kỹ thuật Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin và quá trình đô thị hóa tác động sâu sắc đến toàn bộ cá hoạt động kinh tế và xã hội, trong đó có du lịch. Một mặt nó tạo điều kiện cần thiết để hình thành các nhu cầu du lịch, mặt khác các yếu tố này làm cho sự cân bằng nhịp sống bị phá vỡ, buộc con người phải nghỉ ngơi để khôi phục lại, từ đó nẩy sinh nhu cầu du lịch dưới nhiều dạng khác nhau. Ngoài ra, việc áp 26 dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật để cải tiến công nghệ trong sản xuất du lịch sẽ góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất và do vậy làm tăng khả năng cạnh tranh của ngành du lịch.
1.5.2. Môi trường vi mô
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành sản xuất kinh doanh đó. Đối với hoạt động kinh doanh của ngành du lịch thì 2 yếu tố cơ bản ảnh hưởng chủ yếu đến sự cạnh tranh trong ngành đó là: đối thủ cạnh tranh và khách hàng. Sự phân tích, đánh giá chính xác các yếu tố này giúp ngành du lịch nhận ra các mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành đối diện.
1.5.2.1. Đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với các tổ chức do nhiều lý do. Các đối thủ cạnh tranh với nhau quyết định tính chất và mức độ tranh đua, hoặc thủ thuật giành lợi thế trong ngành phụ thuộc vào các đối thủ cạnh tranh. Mưc độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hóa sản phẩm. Để cạnh tranh trên thị trường du lịch, ngành du lịch của một địa phương cần xác định được thị trường nục tiêu và phát huy được lợi thế cạnh tranh của ngành để áp dụng đúng các chiến lược cho phù hợp với lợi thế cạnh tranh và thị trường mục tiêu.
1.5.2.2. Khách hàng
Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị lớn lao của doanh nghiệp. Sự tín nhiệm đó có được khi tổ chức thỏa mãn các nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp cần lập bảng phân loại khách hàng hiện tại và tương lai. Các thông tin có được từ bảng phân loại là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định chiến lược nhất là các chiến lược liên quan trực tiếp đến marketing.
1.5.3. Môi trường nội bộ Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Các yếu tố của môi trường nội bộ cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành du lịch bao gồm các lĩnh vực chủ yếu như: nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, hoạt động marketing.
1.5.3.1. Nguồn nhân lực
Phân tích nguồn nhân lực thường xuyên là cơ sở giúp các doanh nghiệp đánh giá kịp thời các điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên trong tổ chức so với yêu cầu về tiêu chuẩn nhân sự trong từng khâu công việc và so với nguồn nhân lực của đối thủ cạnh tranh nhằm có kế hoạch bố trí, sử dụng nguồn nhân lực hiện có. Đánh giá khách quan nguồn nhân lực giúp cho tổ chức chủ động thực hiện việc đào tạo và tái đào tạo cho các thành viên của tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện chiến lược thành công lâu dài và thích nghi với những yêu cầu về nâng cao liên tục chất lượng con người trong môi trường cạnh tranh.
1.5.3.2. Nguồn lực vật chất
Phân tích và đánh giá đúng mức các nguồn lực vật chất là cơ sở quan trọng để tổ chức hiểu rõ các nguồn lực vật chất tiềm năng, những hạn chế để có quyết định quản trị thích nghi với thực tế. Tổ chức cần đánh giá và xác định các điểm mạnh và điểm yếu về từng nguồn lực vật chất so với những đối thủ cạnh tranh trong ngành và trên thị trường theo khu vực địa lý.
1.5.3.3. Hoạt động marketing
Nghiên cứu môi trường marketing giúp tổ chức nhận diện các cơ hội thị trường, phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường, đồng thời phân tích khách hàng và các yếu tố liên quan để hình thành các chiến lược marketing định hướng khách hàng và marketing cạnh tranh.
1.6. Những kinh nghiệm của nước ngoài và bài học cho du lịch Việt Nam
1.6.1. Singapore Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2026” (năm 2016), “Địa giới du lịch 2040” (năm 2023).
Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam, sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singgapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch…
Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch, chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.
Trong “Du lịch 2026” (năm 2016), Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch… Năm 2023, Singapore chi 300 triệu đô Sing để tổ chức các sự kiện du lịch, chi 340 triệu đô Sing phát triển các sản phẩm du lịch, chi 265 triệu đô Sing phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2026, Singapore sẽ đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch là 2 tỉ đô Sing, dự kiến đón khoảng 17 triệu lượt khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỉ đô Sing.
1.6.2. Thái Lan
- Liên kết du lịch chặt chẽ Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Từ “3S” đến “4S” và liên kết phát triển bền vững: Có thế nói, du lịch Thái Lan có cú hích mạnh mẽ và trở thành “thỏi nam châm” thu hút du khách khắp nơi trên thế giới nhờ chủ trương phát triển du lịch theo công thức “3S”, tức là sun (mặt trời), sea (biển) và sex (tình dục) từ hơn 10 năm trước.
- “Phần cứng thì giá mềm mà phần mềm thì giá cao”
Phần cứng thì mềm: Thái Lan có chủ trương “số đông trước” do đó họ đưa ra chính sách thu hút bằng cạnh tranh về giá. Thái Lan bắt buộc phải phối hợp với các Công ty du lịch của các nước để xây dựng tour với giá rẻ nhất. Để làm được điều đó, các khách sạn, nhà hàng, điểm vui chơi cùng thống nhất hạ giá cho khách tour. Ví dụ như hãng máy bay bán vé nhóm giá hạ 30 – 40%, khách sạn cũng giảm 40 – 50%, nhà hàng và các điểm du lịch thì bán vé đoàn, tính ra mỗi du khách chỉ mất 20% so với đi lẻ.
Phần mềm thì giá cao: Điểm khác biệt rất lớn giữa người bán hàng ở Thái Lan và những nơi khác rất khác nhau, người Thái rất hiền, buôn bán đàng hoàng, thân thiện, không hề thấy cảnh chèo kéo bán hàng. Ví dụ ngành du lịch Thái Lan kết hợp với các cơ sở sản xuất để “móc túi” khách vô cùng nghệ thuật. Điển hình như du khách sẽ được đi tham quan viện nghiên cứu nọc độc rắn ở Bangkok. Sau khi xem màn biểu diễn “hôn” rắn rùng rợn của nghệ nhân Thái, du khách sẽ được đưa vào phòng nghe thuyết trình về các dược liệu sản xuất từ rắn. Khách nước nào sẽ có người thuyết trình bằng tiếng nước đó, dược sĩ mà giới thiệu sản phẩm cực kỳ chuyên nghiệp. Tuy giá khá cao trung bình 100USD/ lọ 80 viên, nhưng không ít du khách sẵn sàng mua.
- Cơ chế lờ của chính phủ.
Thành phố Pattaya là điển hình cho cơ chế này, nó nổi tiếng với 4S: sun, sea, sand và sex (lần lượt là nắng, biển, cát và sex). Có trung tâm hành chính riêng, thành phố gần như một khu tự trị. Được chính phủ cho phép, họ tổ chức rất nhiều chương trình giải trí có yếu tố sexy để thu hút du khách. Sau một ngày dài vui chơi sẽ thật sai lầm nếu bạn vùi mình trong khách sạn bởi cuộc sống về đêm mới là khuôn mặt Pattaya đầy màu sắc. Và tại đây có 3 hoạt động nóng bỏng công khai là: show các diễn viên chuyển giới biểu diễn (Tiffany Show hay Alcazar Show), Sexy Show với các show người mẫu, show khí công, show do các diễn viên đến từ Châu Âu và còn lại là các quán bar vũ trường trên khu phố đi bộ.
1.6.3. Bài học đối với du lịch Việt Nam Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Tầm nhìn chiến lược đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch. Kinh nghiệm từ Singapore cho thấy họ đã có chiến lược phát triển ngành du lịch từ nhưng năm 1965 và đã có những bước nhảy thần kỳ. Và đó là bài học vô cùng quan trọng để Việt Nam học hỏi tích lỹ kinh nghiệm. Trong giai đoạn trước mắt, Việt Nam cần lưu ý đến những vấn đề sau:
- Liên kết với các điểm du lịch lân cận và các thành phố lớn
Muốn phát triển du lịch thì không thể đơn lẻ, cần có sự liên kết giữa các địa phương, các vùng miền để tạo thành các tour du lịch độc đáo thu hút du khách. Hơn nữa, cũng cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành nghề phục vụ cho du lịch như nông nghiệp, thương mại,… nhằm mục đích giữ chân được du khách càng lâu càng tốt, có như vậy mới tăng doanh thu cho ngành du lịch, góp phần cải thiện đời sống cho người dân địa phương.
- Liên kết phân chia lợi ích giữa chuỗi dịch vụ
Để phát triển du lịch, điều quan trọng đầu tiên là cần phải thu hút được du khách đến với Việt Nam, việc đầu tiên cần làm là tìm cách giảm giá các tour, kết hợp với thương mại để “móc túi” du khách bù đắp lại phần giảm giá tour.
- Đưa ra các chính sách quản lý phù hợp nhằm tạo ra được sự thu hút trong khuôn khổ pháp lý cho phép
Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch đủ mạnh từ trung ương đến địa phương tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ của ngành kinh tế mũi nhọn. Thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng về ưu tiên phát triển du lịch bằng việc hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật về du lịch trong điều kiện mới. Phối hợp với các cấp, các ngành xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách vào Việt Nam, phù hợp thông lệ quốc tế.
- Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch
Phát triển nguồn nhân lực và nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong du lịch, con người là yếu tố hàng đầu của sự nghiệp phát triển du lịch. Nghiên cứu phát triển công nghệ du lịch, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Nhà nước và kinh doanh du lịch, khuyến khích đầu tư công nghệ mới trong các lĩnh vực lữ hành, vận chuyển, khách sạn, tuyên truyền quảng bá nhằm nâng cao vị trí của du lịch Việt Nam trong khu vực và quốc tế.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
Chương 1 của luận văn tác giả muốn đề cập và giới thiệu những vấn đề cơ bản về hoạt động du lịch, qua đây người đọc có thể phần nào tổng quát được những khái niệm cơ bản về du lịch, các loại hình du lịch và những khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị cũng như tìm hiểu sâu hơn về mô hình chuỗi giá trị đối với du lịch là như thế nào.
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói và là một trong những ngành mũi nhọn thúc đẩy phát triển kinh tế. Và để ngành này phát triển cũng đòi hòi nhiều yếu tố và không tránh khỏi những khó khăn, thách thức.
Bên cạnh việc nắm bắt những vấn đề cơ bản về hoạt động du lịch và những kinh nghiệm quý báu từ các nước phát triển khác, từ đó chúng ta sẽ có cái nhìn nhận đúng đắn cho việc đóng góp vào sự phát triển chung của du lịch Ninh Bình nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung. Luận văn: Phát triển chuỗi giá trị du lịch tỉnh Ninh Bình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị du lịch Ninh Bình

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
