Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh ở Thị xã Quảng Trị dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước và khu vực, được coi là một nền kinh tế hợp nhất và đóng góp cho sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp khác nhau và tạo ra nhiều việc làm, tăng cường trao đổi văn hóa và xã hội cấp khu vực và quốc gia giúp thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường sự thống nhất đoàn kết liên minh, tình hữu nghị và hòa bình. Đối với nước ta, các hoạt động du lịch đang tăng lên. Doanh thu du lịch năm 2024 vượt quá 40 nghìn tỷ VND, chiếm 6,6% GDP, và tạo ra 603.000 cơ hội việc làm cho người lao động.
Để hiểu được xu hướng này, như định nghĩa trong xu hướng phát triển du lịch tổng hợp toàn cầu hiện nay, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm tạo ra một “ngành công nghiệp không khói” và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đảng và nhà nước đã xây dựng chính sách và các ưu tiên chính sách phù hợp cho phát triển du lịch. Nghị quyết Đại hội lần thứ 11 của Đảng đã xác định quan điểm phát triển bền vững du lịch như một nền kinh tế có giá trị góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Việt Nam đã trở thành một trung tâm du lịch trong khu vực. Theo đuổi chính sách của Đảng, vào ngày 30 tháng 12 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2473/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược phát triển du lịch cho Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu đến năm 2030. Mục tiêu của Chiến lược là phấn đấu đến năm 2020 định hướng năm 2030, Việt Nam đã trở thành một nước đang phát triển du lịch và là một trong những nước có nền công nghiệp du lịch phát triển trên thế giới. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Quảng Trị là một trong những tỉnh có nhiều di tích lịch sử phong phú, dân số lớn và nhiều tuyến đường (Quốc lộ 1A, Quốc lộ 9 và đường Hồ Chí Minh). Đường sắt Bắc Nam, nằm giữa hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Bình nên có nhiều điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch.
Theo thống kê, Tỉnh Quảng Trị có rất nhiều di tích lịch sử, nhiều di tích được xếp hạng Quốc gia. Tổng cộng có 518 di tích, trong đó có 469 di tích cách mạng, 436 di tích lịch sử, 12 di tích lịch sử quốc gia và 4 di tích cấp quốc gia đặc biệt. Quảng Trị là nơi đầu tiên và duy nhất để mở chiến dịch du lịch về tâm linh(Đường 9 và đường Trường Sơn), Thành cổ Quảng Trị, Địa đạo Vĩnh Mốc , có những lễ hội thu hút người dân địa phương và du khách … Vì vậy có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho việc liên kết phát triển du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch văn hoá tâm linh.
Thị xã Quảng Trị là trung tâm kinh tế và văn hoá của vùng phía nam của tỉnh. Quảng Trị không chỉ có vị trí địa lý tốt mà còn có nhiều lợi thế tiềm năng của du lịch. Nhiều di tích lịch sử và văn hóa trong khu vực đã được phân loại, đầu tư và nâng cấp, đặc biệt là Thành cổ Quảng Trị – Di tích quốc gia. Thành cổ Quảng Trị là một biểu tượng của sự kiện 81 ngày chiến đấu của quân đội cả ngày lẫn đêm. Những kí ức này sống mãi trong trái tim của người dân, đặc biệt là quân đội và thường dân ở Thị xã Quảng Trị. Bên cạnh đó, thị xã Quảng Trị có rất nhiều hoạt động du lịch để thu hút một số lượng lớn khách du lịch trong và ngoài nước, chẳng hạn như các khách du lịch hoài niệm chiến trường xưa và đồng đội, để kỷ niệm hoạt động anh hùng liệt sĩ. Trong những năm qua, thị xã đã tổ chức các tour du lịch tâm linh phục vụ du khách và nhân dân trong khu vực. Những hoạt động này đã có những đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế và duy trì các giá trị tâm linh hiện tại. Hiện nay, thị xã đang xây dựng một kế hoạch hành động cho sự phát triển du lịch tâm linh đồng thời và quy mô lớn. Tuy nhiên, việc thực hiện vẫn chưa đủ. Ngoài những thành tựu đã đạt được, du lịch tâm linh trong thị xã vẫn còn nhiều hạn chế trong đó bao gồm cả thiếu hụt trong khâu quản lý nhà nước về du lịch tâm linh ở các địa phương. Điều này đặt ra một loạt các câu hỏi cho việc quản lý nhà nước về du lịch tâm linh ở tỉnh Quảng Trị. Từ đó, tôi đã mạnh dạn chọn “Hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh ở thị xã Quảng Trị” để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu
Các vấn đề nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước về du lịch tâm linh nói chung từ trước đến nay đã và đang là đề tài nghiên cứu được nhiều cơ quan, ban ngành, các học giả quan tâm nghiên cứu. Có rất nhiều dự án nghiên cứu khoa học có giá trị thực tiễn và đóng góp lý thuyết, góp phần tăng cường công tác quản lý và phát triển du lịch tâm linh trên toàn quốc. Tuy nhiên, không có nhiều đề tài nghiên cứu dành cho quản lý du lịch tâm linh quốc gia trên địa bàn thị xã Quảng Trị. Có thể tham khảo các chủ đề điển hình sau: Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Nghiên cứu và đề xuất giải pháp phát triển loại hình du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn Tỉnh Quảng Trị” – Đề tài khoa học công nghệ cấp tỉnh. Cơ quan chủ trì: Viện nghiên cứu và phát triển Kinh tế – xã hội Đà Nẵng, chủ nhiệm đề tài: TS. Hồ Kỳ Minh. Chủ đề chính là xác định tầm nhìn và vị trí trung tâm của du lịch tâm linh trong ngành công nghiệp du lịch thống nhất của ngành du lịch tỉnh Quảng Trị nhằm mục đích hướng đến nhu cầu thưởng thức du khách. Sử dụng các tiềm năng và lợi thế lớn nhất của tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực (di sản, di tích lịch sử, văn học …), hợp tác với phát triển du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ, đó là một bước đột phá cụ thể, du lịch tâm tỉnh Quảng Trị là ngành kinh tế lớn và toàn bộ khu vực trong toàn vùng.
Nghiên cứu phát triển du lịch tâm linh tại khu di tích lịch sử Thành Cổ Quảng Trị” do sinh viên: Phan Thị Mỹ Lan – K3-KTDL nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu sản phẩm du lịch tâm linh tại thành cổ Quảng Trị. Trong những di tích lịch sử của tỉnh Quảng Trị, Thành Cổ là điểm đến điển hình và có thể nói rằng nó đóng một vai trò quan trọng trong nỗi nhớ, chuyến du lịch tâm linh. Chủ đề chính là đánh giá tiềm năng, hoài bão và các hoạt động tâm linh của Thị xã Quảng Trị nhằm đưa ra các giải pháp để khai thác triệt để giá trị lịch sử cách mạng của Thành cổ Quảng Trị góp phần phát triển du lịch hoài cổ và tinh thần.
Nghiên cứu phát triển du lịch thăm chiến trường xưa tại Quảng Trị” luận văn do Lê Hồ Quốc Khánh – học viên trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung nghiên cứu của báo cáo là nghiên cứu di tích cách mạng của tỉnh Quảng Trị. “Tham quan chiến trường xưa” là một loại tham quan có nhiều ý nghĩa, đặc biệt là giáo dục truyền thống yêu quê hương, gợi lên niềm tự hào về quê hương đất nước. Mục tiêu của đề tài là đưa ra một số ý kiến và đề xuất một số giải pháp để phát triển các loại hình du lịch về thăm chiến trường xưa góp phần vào sự phát triển chung của du lịch Quảng Trị. Đề tài nghiên cứu chỉ đi sâu vào nghiên cứu một khía cạnh nào đó của các hoạt động kinh doanh du lịch tâm linh và các sản phẩm du lịch khác trên địa bàn toàn Tỉnh và Thị xã Quảng Trị, chủ yếu là thực trạng và giải pháp để phát triển du lịch tâm linh, du lịch hoài niệm, du lịch thăm chiến trường xưa, quản lý di tích, quy hoạch, đầu tư phát triển hoặc không trực tiếp nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước mà nghiên cứu sự phát triển, hoạt động của ngành du lịch tâm linh.
Không giống như nghiên cứu ở trên, trong nghiên cứu này, đề cập đến việc nghiên cứu trực tiếp, toàn diện và đầy đủ nội dung quản lý nhà nước về du lịch tâm linh trên địa bàn Thị xã Quảng Trị. Đảng bộ Thị xã Quảng Trị cùng với các cơ quan chính quyền, nhân dân địa phương và các tổ chức du lịch tâm linh cùng nghiên cứu phương pháp quản lý và phát triển hoạt động du lịch tâm linh trên địa bàn. Từ đó tạo ra một mũi nhọn về phát triển kinh tế cho Thị xã Quảng Trị, đưa ra các quyết sách từ ngắn đến dài hạn, từ vi mô sang vĩ mô. Đây cũng là một điểm mới của luận văn so với các nghiên cứu khoa học trước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng cơ sở lý luận về du lịch tâm linh để đánh giá tình hình công tác quản lý du lịch tâm linh ở Thị xã Quảng Trị,đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển du lịch tâm linh ở thị xã Quảng Trị.
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tâm linh trên địa bàn Thị xã Quảng Trị;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh ở Quảng Trị trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác giả xác định chủ đề của nghiên cứu này là quản lý nhà nước về du lịch tâm linh trên địa bàn Tỉnh và Thị xã Quảng Trị được tiếp cận trên hai bình diện là thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác này.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- + Về thời gian: Giai đoạn 2020 – 2024 và giải pháp từ năm 2024 – 2030, định hướng đến năm 2030.
- + Về không gian: tại Thị xã Quảng Trị
- + Về nội dung: Trong khuôn khổ của luận văn tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch tâm linh Thị xã Quảng Trị.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận
Đề tài sử dụng các nguồn tư liệu, thông tin sau để phục vụ nghiên cứu:
Thông tin thứ cấp: là các tài liệu và kết quả nghiên cứu về du lịch văn hóa tâm linh Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng;
Thông tin sơ cấp: là những số liệu thu thập được qua các cuộc phỏng vấn nhanh. Số người được phỏng vấn là: 100 người. Bao gồm các nhà làm quản lý hoạch định chính sách, kế hoạch, các phòng ban chuyên môn thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị quản lý di tích, các cơ sở kinh doanh và khai thác dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh tại Thị xã Quảng trị.
Xây dựng hệ thống giả thuyết về từng vấn đề nghiên cứu và sử dụng các số liệu để thực hiện các phương pháp thống kê kiểm định. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
5.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
- Phương pháp điều tra, khảo sát các đối tượng tham dự vào dạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề nghiên cứu;
- Tổng hợp số liệu từ bảng câu hỏi để phân tích.
- Phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát từng mặt và toàn diện, khảo sát chi tiết các đối tượng của đề tài nghiên cứu, làm rõ các giá trị đặc trưng.
- Phương pháp sưu tầm các nguồn tư liệu, các nghiên cứu trước đây về loại hình văn hóa tâm linh và du lịch văn hóa tâm linh.
- Phương pháp cấu trúc, phân tích các nhân tố cấu thành, chi phối và ảnh hưởng đến loại hình du lịch văn hóa tâm linh ở Quảng Trị.
- Phương pháp phân tích theo mô hình SWOT.
- Phương pháp so sánh: so sánh, đánh giá những hoạt động liên quan đến việc hoạch định các chính sách quản lý Nhà nước trong công tác quản lý du lịch tâm linh ở quá khứ và hiện nay nhằm đúc kết những kinh nghiệm cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu.
6. Những đóng góp của luận văn
Tập trung nghiên cứu, khảo sát, xem xét hiện trạng của công tác quản lý nhà nước về du lịch tâm linh ở địa bàn Thị xã Quảng Trị trên tất cả các khía cạnh của công tác quản lý nhà nước cũng như đời sống kinh tế của Thị xã. Việc đánh giá bao gồm những việc đã làm được, chưa làm được và nguyên nhân thành công cũng như hạn chế.Tác giả muốn đề cập và lý giải đến vấn đề nghiên cứu một cách bao quát, trực tiếp và đầy đủ nhất cả về lý luận cũng như thực tiễn nghiên cứu.
Việc phân tích, đánh giá vai trò của phát triển du lịch tâm linh trong tổng thể nền kinh tế của Thị xã Quảng Trị gắn liền với vai trò và tác động của các chính sách, hoạt động quản lý nhà nước.
Từ quan điểm đó, chúng tôi đề xuất một giải pháp mới để nâng cao hiệu quả quản lý quốc gia về vấn đề du lịch tâm linh tại thị xã Quảng Trị. Đó là các giải pháp chưa được nêu tới trong các luận văn, đề tài trước hoặc đã đề cập nhưng trong luận văn này nó phải mang một nội hàm mới, phù hợp với tình hình, bối cảnh kinh tế – xã hội và thực tiễn nghiên cứu đã có nhiều thay đổi.
7. Kết cấu luận văn Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Ngoài phần giới thiệu và kết luận, các nội dung chính của chủ đề bao gồm như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch tâm linh và công tác Quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh. Chương này đề cập một số vấn đề lý luận chung như khái niệm, vai trò, nội dung về du lịch và Quản lý nhà nước về du lịch.
Chương 2: Thực trạng công tác Quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh trên địa bàn Thị xã Quảng Trị. Trên cơ sở vận dụng các phương pháp nghiên cứu, phần này đi sâu tìm hiểu thực trạng Quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh tại Thị xã Quảng Trị, đánh giá những thành tựu đạt được cũng như những tồn tại, khó khăn.
Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh trên địa bàn Thị xã Quảng Trị. Trên cơ sở thực trạng được phân tích, đánh giá, tác giả nêu ra một số giải pháp, kiến nghị đối với các cấp, các ngành có liên quan nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác Quản lý Du lịch tâm linh trên địa bàn Thị xã Quảng Trị.
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH TÂM LINH VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DU LỊCH TÂM LINH
1.1 KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH KINH TẾ DU LỊCH TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1.1 Khái niệm về du lịch
1.1.1.1 Định nghĩa về du lịch:
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là “Đi một vòng… Thuật ngữ này đã được giới thiệu bằng tiếng Latinh của Tanu, và sau đó nó được giới thiệu trong ý nghĩa của việc đi tour du lịch. Theo Robert Langquar (1980), lần đầu tiên được sử dụng bằng tiếng Anh khoảng năm 1800, được quốc tế hóa, nhiều quốc gia đã sử dụng trực tiếp mà không cần dịch. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch có nguồn gốc từ tiếng Hán – Việt Nam và được hiểu là một trải nghiệm đi chơi tạm thời.Ngày nay, du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở tất cả các nước.Tuy nhiên, do không gian, thời gian, hoặc bối cảnh của các quan điểm khác nhau, mỗi người có sự hiểu biết khác nhau về chuyến đi. Nói chung, “du lịch” được hiểu là một cá nhân hoặc nhóm du lịch xa nơi ở của bạn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi nghỉ ngơi, giải trí hoặc chữa bệnh.
Liên Hiệp Quốc (1963) định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Luật Du lịch Việt Nam năm 2013 định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu giải trí, nghĩ dưỡng trong một thời gian nhất định”. Tổng hợp các cách tiếp cận như vậy, định nghĩa về du lịch hiện nay bao gồm hai thành tố, đó là:
Trước hết, du lịch là một hiện tượng xã hội: bất kể họ tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá, dịch vụ nhất định hay không, sự tự do của cá nhân hoặc tổ chức bên ngoài nhà ở với mục đích phục hồi sức khoẻ, di chuyển theo thời gian và tạm thời. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Thứ hai, đó là một ngành kinh doanh có lợi nhuận: cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát sinh từ phong trào giải trí cá nhân hoặc tập thể và nhà tạm trú. Nhà ở phục hồi sức khoẻ và nâng cao nhận thức cho thế giới xung quanh cho du khách.
Hiểu được du lịch có tiềm năng để thúc đẩy một quan điểm chính xác về phát triển du lịch. Cho đến nay, nhiều người bất kể là làm trong ngành du lịch, đã có sự hiểu biết đơn phương về du lịch mặt kinh tế và xã hội.
1.1.1.2 Du lịch tâm linh
Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và hành trình tâm linh ở Việt Nam có những ý tưởng khác nhau, không có khái niệm chung. Nhưng đối với nội dung và bản chất của các hoạt động, du lịch tâm linh dựa trên các yếu tố văn hoá tinh thần, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về du lịch tâm linh của người dân trong đời sống tinh thần, văn hoá và các loại hình tham quan. Theo quan điểm này, du lịch tâm linh dựa trên các giá trị văn hoá phi vật thể hữu hình liên quan đến giá trị lịch sử, đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng, những giá trị của nhân loại trên thế giới, các yếu tố văn hoá tâm linh đặc biệt khác được sử dụng. Do đó, du lịch tâm linh mang lại cảm xúc về tinh thần và kinh nghiệm của những hoạt động đã từng xảy ra sẽ đem lại cảm xúc cho người tham quan.
Với sự hiểu biết như vậy, có thể xác định được xu hướng của những người đi du lịch tìm hiểu về tâm linh sẽ đi đến các điểm linh thiêng liên quan đến văn hoá, cảnh quan, các điểm du lịch, để đáp ứng nhu cầu của du lịch nơi nhu cầu tâm linh được coi là cần thiết. Khách du lịch tâm linh ở Việt Nam thường tập trung vào những điểm đến tâm linh như đền, tháp, nhà thờ, đền, đền thờ, đền thờ, đền thờ, tượng đài, khu bảo tồn liên quan đến cảnh quan. Văn hoá truyền thống, đặc điểm đặc biệt liên quan đến lối sống địa phương. Khách du lịch sẽ tham gia các hoạt động tham quan, lịch sử văn hoá, triết học, cầu nguyện, hy sinh, tôn thờ, đánh giá cao, từ thiện, thiền định, lễ hội…. Du lịch góp phần mang lại cảm xúc, giải phóng và giá trị trong tâm hồn con người, cân bằng, nâng cao đức tin theo hướng tốt, giá trị tốt và nâng cao chất lượng của sự kiện của cuộc sống.
Du lịch tâm linh, hoạt động kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của các tổ chức dịch vụ cho du lịch tâm linh trong du lịch và điểm đến, tạo việc làm, tăng thu nhập người dân địa phương, duy trì và phát huy các giá trị văn hóa, phát triển kinh tế-xã hội đóng góp vào xúc tiến.
Thông qua đó, hoạt động du lịch tâm linh mang lại những cảm nhận, giá trị trải nghiệm và giải thoát trong tâm hồn của con người, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh, các hoạt động kinh doanh, tổ chức dịch vụ phục vụ du lịch tâm linh trên các tuyến hành trình và tại các khu, điểm du lịch được thực hiện, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập cho cư dân địa phương, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.
1.1.1.3 Các loại hình du lịch tâm linh cơ bản
- Mô hình du lịch tôn giáo: Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Du lịch tôn giáo là du lịch tâm linh với điều kiện là khi đến các cơ sở tôn giáo đó, con người được trải nghiệm, hướng đến tâm linh. Bởi vì đặc điểm của du lịch tâm linh là phải “mang tính cá nhân sâu sắc” nhằm tìm kiếm các giá trị tinh thần tốt đẹp và tìm kiếm chính mình thông qua các khuôn phép tôn giáo một cách có ý thức để tìm kiếm các giá trị về tâm linh và các cảm nhận tốt đẹp về con người.
- Đặc điểm của mô hình:
Mô hình này khá phổ biến ở các quốc gia trên thế giới. Bởi vì trước hết, nó gắn bó chặt chẽ với với loại hình du lịch khác, nó khá tương tự như du lịch di sản ở chỗ là đến các cơ sở tôn giáo (chùa chiền, nhà thờ) để tham quan. Đó là hành trình tham quan các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa, vườn cảnh, hay cảm thụ âm nhạc….tại các điểm tín ngưỡng tôn giáo. Nó hơi thiêng về nhu cầu tìm hiểu văn hóa – lịch sử, thưởng thức nghệ thuật và cảm giác lĩnh hội tinh thần huyền bí tâm linh chỉ là một phần rất nhỏ.
Thời lượng dành cho điểm tham quan thường không kéo dài để dàn trải cho những điểm tham quan chủ yếu phụ thuộc sự hứng thú của họ với điểm đến, phụ thuộc vào niềm tin, sự quan sát, cũng như cảm nhận của từng du khách trong hành trình.
Mô hình du lịch này đặt du khách vào trong một không gian thấm đẫm tính tâm linh để mỗi cá nhân tự chiêm nghiệm, cảm nhận tính tâm linh huyền bí, tự tạo ra cho mình những cảm giác thú vị sau chuyến hành trình.
- Mô hình du lịch tham quan, tham dự sự kiện tôn giáo
Bên cạnh hành hương, đến tham quan các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng thì việc tham quan, tham dự các sự kiện tôn giáo cũng là một mô hình của du lịch tâm linh. Bao gồm các hoạt động du lịch liên quan đến phong tục tập quán dân gian, du lịch lễ hội tôn giáo, du lịch lễ hội và tín ngưỡng dân gian. Mô hình này đặc biệt chú ý đến hoạt động mang tính thế tục hóa tôn giáo. Phong tục tín ngưỡng dân gian là một khía cạnh quan trọng của thế tục tôn giáo nên các hoạt động du lịch liên quan mảng này được chú ý khai thác.
- Một số đặc điểm mô hình:
Mô hình này khá phổ biến ở các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Mô hình du lịch có mối gắn kết chặt chẽ với mô hình du lịch tôn giáo, bởi vì không ít các sự kiện này có gắn với một mô hình cơ sở tín ngưỡng nhất định. Tuy nhiên, nó không đồng nhất với mô hình đầu tiên bởi không khí và thời điểm linh thiêng của một lễ hội. Đó là lúc con người dễ nhanh chóng đạt cảm xúc tâm linh.
Không gian động, có chút xáo trộn do đông đúc người tham gia. Thời gian tùy vào chuyến đi của từng du khách.
Như vậy, du khách sẽ có cơ hội đạt độ thẩm thấu về tâm linh nếu hòa mình vào lễ hội. Tuy nhiên số lượng này không lớn.
- Mô hình thiền: Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Bao gồm các mô hình du lịch nghỉ dưỡng tâm linh, du lịch sinh thái tâm linh và du lịch thể nghiệm tâm linh. Mô hình này là sản phẩm của sự kết hợp cao độ giữa hai phương diện tín ngưỡng tôn giáo và du lịch.
- Đặc điểm của mô hình:
Du lịch tâm linh theo mô hình này thường kết hợp với du lịch sinh thái, du lịch nghĩ dưỡng.
Địa điểm để thực hiện du lịch tâm linh theo mô hình này là không gian yên ả, thanh tịnh, giúp cho con người được cảm giác thư giãn, thoải mái, có điều kiện để tìm về con người của mình. Chính vì vậy, du lịch tâm linh còn được xem là du lịch sinh thái tâm linh, là sản phẩm của quá trình kết hợp đầy đủ yếu tố du lịch tâm linh và yếu tố du lịch nghĩ dưỡng. Thông qua việc tổ chức tham quan các điểm du lịch sinh thái có liên quan đến các yếu tố tôn giáo, tâm linh nhằm hướng đến mục đích “trong cái không gian thuần khiết của thiên nhiên ấy gợi mở cho du khách hiểu hơn về tín ngưỡng, tâm linh, hiểu hơn về vẻ đẹp các không gian sinh thái thiêng liêng ấy” (Tham luận của Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Tuấn tại Hội Nghị quốc tế về du lịch tâm linh vì sự phát triển bền vững (Ninh Bình, 21-22/11/2021)
So với hai mô hình trên, mô hình thiền là mô hình du lịch tâm linh có khả năng giúp du khách đạt được mức độ thẩm thấu về tâm linh, đạt được sự cảm nhận về bản thân, sự an vui ….nhiều nhất.
- Mô hình mua sắm các sản phẩm tâm linh:
Bên cạnh những mô hình du lịch trên, trên thế giới còn có một hình thức du lịch liên quan đến tâm linh nhưng hướng đến việc mua sắm các sản phẩm lưu niệm mang tính tâm linh, tôn giáo, và các hoạt động vui chơi giải trí liên quan đến tâm linh, tôn giáo.
Nói chung, các loại hình du lịch được điều chỉnh chặt chẽ với nhau. Để tận dụng được tiềm năng của hình thức du lịch, Cơ quan Du lịch cần nghiên cứu cách tổ chức các loại hình du lịch khác nhau để đáp ứng nhu cầu tối đa của khách du lịch.
1.1.2 Vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân
Cùng với sự phát triển liên tục của nền kinh tế, đời sống, xã hội và tinh thần của con người, du lịch là một hình thức hoạt động kinh tế xã hội có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung. Ở đây, tôi chỉ đề cập về vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân: Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Thứ nhất, du lịch tăng cường giao lưu quốc tế, hiểu biết giữa các dân tộc:
Ngày nay, với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trao đổi giữa các nước thông qua việc phát triển du lịch thúc đẩy trao đổi sản phẩm khu vực và trao đổi văn hoá.
Cụ thể, quan hệ ngoại giao đã được củng cố và mở rộng. Du lịch cũng là một cầu nối giữa nhân dân thế giới sẽ giúp đỡ lẫn nhau trong bối cảnh thiên tai, đau khổ và tình cảm, và sự hiểu biết giữa các quốc gia sẽ được gần gũi hơn.
Thứ hai, hoạt động du lịch thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển
Hoạt động du lịch hiệu quả đòi hỏi có sự hổ trợ liên ngành của nhiều ngành khác nhau để cùng nhau phát triển. Du lịch nằm trong tổng hòa các ngành kinh tế khác gồm: kinh tế, văn hóa, xã hội. Nó góp phần cùng các ngành khác làm tăng trưởng kinh tế, ổn định vi mô, vĩ mô, phân phối lại thu nhập quốc dân.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), khách du lịch quốc tế năm 2024 đạt 1.184 triệu người, tăng 4,4%.Theo Tổng thư ký UNWTO Taleb Rifai, du lịch quốc tế vào năm 2023 đã lên đến một tầm cao mới, cho thấy vai trò của ngành công nghiệp du lịch đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm cho nhiều người trên khắp thế giới.
Xét theo vùng, tăng trưởng 5% ở Châu Âu và Châu Á Thái Bình Dương vào năm 2023. Khu vực Trung Đông tăng 3%, Châu Phi tăng 3% vào năm 2023. Theo khu vực Châu Á Thái Bình Dương dự kiến sẽ tăng 4-5%, tiếp theo là châu Âu từ 3,5 đến 4,5%. Trong khi đó, giá trị tương ứng giữa châu Phi và Trung Đông ước tính từ 2 đến 5%.
Thứ ba, đời sống nhân dân được nâng cao và có thêm nhiều việc làm nhờ vào ngành công nghiệp dịch vụ
Du lịch là một ngành kinh tế đóng góp tích cực vào việc sử dụng lao động. Do đặc điểm của ngành du lịch, nhiều hoạt động không thể được cơ giới hoá và đòi hỏi nhiều lao động có kỹ năng hơn. Như vậy, phát triển du lịch sẽ tạo ra nhiều công việc làm cho người lao động và tăng thu nhập của người dân địa phương. Theo thống kê năm 2023, tổng số nhân viên trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm 12% lực lượng lao động trên thế giới, và số lượng nhân viên trong ngành du lịch chỉ bằng một phần tám. Vì tài nguyên du lịch thường nằm ở vùng sâu vùng xa nên phát triển du lịch có thể thay đổi cấu trúc kinh tế xã hội.Người dân trong khu vực có nhiều việc làm hơn và giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và tinh thần của người dân.
Thứ tư, du lịch tạo nguồn thu ngân sách và ngoại tệ
Du lịch có thể thay đổi sự cân bằng giữa doanh thu và chi tiêu của từng quốc gia và khu vực. Khách du lịch quốc tế mang ngoại tệ của nước họ đi lại và đi du lịch để hưởng dịch vụ. Điều này sẽ làm tăng thu nhập ngoại hối của đất nước khách muốn ghé thăm. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Theo UNWTO, vào năm 2024, lượng khách du lịch quốc tế đạt 1.2 tỷ người, tăng 4% so với năm trước đó. Trung Quốc là nơi có thị trường du lịch lớn nhất thế giới, chi tiêu cho du lịch nước ngoài đạt 261 tỷ đô la Mỹ, tăng 11 tỷ so với năm trước. Cùng với Trung Quốc, 4 thị trường lớn khác trong tốp 5 có mức tăng trưởng cao như thị trường Mỹ, mức tăng trưởng đạt 8%, chi tiêu ở nước ngoài đạt 122 tỷ đô la Mỹ, du khách Đức chi 81 tỷ đô la, tăng 5%, người Anh chi 64 tỷ đô, Pháp chi 41 tỷ đô. UNWTO cho rằng, chi tiêu ra nước ngoài của các thị trường du lịch thế giới đều tăng trưởng trong năm qua. Ngày nay, nguồn thu ngoại tệ xuất khẩu từ dịch vụ du lịch trên thế giới chỉ đứng sau nhiên liệu, hóa chất và ô tô.
Du lịch điều tiết doanh thu từ phát triển kinh tế đến các khu vực kém phát triển, khuyến khích sự phát triển của các nước nghèo và giúp thúc đẩy sự phát triển của các nước này. Đối với các nước đang phát triển, du lịch đóng một vai trò quan trọng. Đây là phương tiện lớn nhất để chuyển sự giàu có tự nguyện từ người giàu sang người nghèo, lớn hơn viện trợ chính thức của Chính phủ ở khu vực nghèo trên thế giới.
Du lịch là cơ sở để tạo thu nhập từ ngân sách địa phương từ các khoản khấu trừ vào ngân sách của các văn phòng du lịch do chính quyền địa phương quản lý có thu nhập từ du lịch. Thuế doanh nghiệp du lịch trả cho khu vực. Nhiều quốc gia trên thế giới bao gồm Việt Nam thu được hàng nghìn tỷ đô la hàng năm thông qua phát triển du lịch.
1.1.3 Thách thức của phát triển du lịch trong nền kinh tế
Qua những số liệu trên cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển du lịch trong thời đại ngày nay. Sự phát triển tích cực của du lịch giúp các quốc gia có điều kiện phát triển, nhưng việc phát triển không đúng cũng kéo theo những tác động tiêu cực không mong muốn, thậm chí mang lại những hậu quả khôn lường đối với nền kinh tế – xã hội.
Phát triển du lịch không đúng cách và không bền vững sẽ gây tác hại rất lớn đến môi trường tự nhiên và môi trường xã hội: Việc các doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh du lịch chủ yếu chạy theo lợi nhuận, chỉ tập trung khai thác mà không chú ý công tác bảo tồn, duy tu, tái tạo các công trình cũng như cảnh quan thiên nhiên thì sẽ dẫn đến nguy cơ suy kiệt nguồn tài nguyên du lịch. Ngay cả việc các cơ quan chuyên môn ý thức được điều này nhưng việc nhận thức, cách thức chỉ đạo điều hành không đúng cũng dẫn đến việc xâm hại di tích cũng như danh lam thắng cảnh tự nhiên.
Du lịch phát triển không đúng cách cũng tạo ra sự lai căng về văn hóa, bản sắc dân tộc, mất đi giá trị lối sống cũng như làm lu mờ đi giá trị của đất nước đó: Việc phát triển du lịch tạo ra nhiều cơ hội giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau. Nhưng việc này cũng làm phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến xung đột về giá trị, bản sắc văn hóa cũng như truyền thống dân tộc. Khi du khách nước ngoài đến du lịch ở nước sở tại, ngoài vấn đề chi tiêu ngoại tệ và hưởng lợi ích dịch vụ ở đất nước đó thì họ cũng đem theo những quan niệm ứng xử, văn hóa, lối sống của bản thân họ đến đất nước đó, điều đó có thể phù hợp có thể không phù hợp với văn hóa, lối sống của nước sở tại cũng như không phù hợp với tiến bộ xã hội, gây phản cảm thậm chí là phản văn hóa. Theo quan sát hiện nay có những bộ phận thanh niên có điều kiện thường xuyên đi du lịch cũng như tiếp xúc nhiều với khách du lịch đã có nhiều biểu hiện lai căng, thực dụng, xa rời bản sắc văn hóa dân tộc như trang phục, trang điểm cho đến các hành vi ứng xử. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Phát triển du lịch không phù hợp và cân đối có thể làm gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội: Việc phát triển ồ ạt của nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng ở các vùng biển đã làm cho người dân ở các vùng biển đó mất đi sự tự do khi vui chơi tắm biển vì các bãi biển đã được các công ty quản lý, sử dụng và khai thác. Dịch vụ ngày càng cao đi liền với nó là các khoản thu để tham gia dịch vụ không hề nhỏ. Không phải ai cũng có tiền để vào hưởng thụ ở những nơi đó, nhất là người dân có mức thu nhập trung bình.
Các dự án đầu tư xây dựng các công trình du lịch lớn như sân golf, khu nghỉ dưỡng cao cấp….cần rất nhiều diện tích, để phát triển du lịch buộc chính quyền phải tiến hành thu hồi đất của người dân địa phương đó để giao cho các chủ đầu tư dự án. Các vùng đất này chủ yếu là đất canh tác nông lâm nghiệp. Việc này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân, việc mất đất, có tiền đền bù nhưng không có nghề nghiệp mới dẫn đến người dân không có việc làm, bị bần cùng hóa đời sống. Nhiều người dân phải tha hương đến những nơi mới để lập nghiệp, thanh niên thì đi làm ở các khu công nghiệp việc này đã làm xáo trộn không nhỏ đến đời sống của từng hộ dân.Thực tế việc đền bù cưỡng chế cũng nảy sinh rất nhiều vấn đề, nhiều vụ kiện tụng đông người phức tạp, khiếu kiện vượt cấp xảy ra.
Phát triển du lịch một cách tự phát, không theo quy hoạch: Việc phát triển du lịch nóng, thiếu thận trọng sẽ dẫn đến tình trạng đầu tư du lịch dàn trải, tràn lan, không có trọng tâm, trọng điểm.Nhiều kế hoạch du lịch dựa trên giấy, nhưng không thực tế. Hầu hết các kế hoạch vẽ nên bức tranh khá lạc quan về các chỉ số phát triển, nhưng có rất ít kế hoạch có thể để đạt được các mục tiêu. Rõ ràng là các hoạt động tham quan tự nhiên xảy ra ở nhiều nơi. Thị trường mục tiêu không rõ ràng. Nó không tạo ra giá trị để du khách nhìn nhận, cảm nhận được.Vấn đề ở đây là chất lượng của kế hoạch và kế hoạch quản lý. Mặt khác, chất lượng của kế hoạch vẫn còn hạn chế, chủ yếu dựa vào “những tài nguyên có sẵn” về tài nguyên du lịch tiềm năng không dính dáng đến nhu cầu và xu hướng chủ yếu. Kế hoạch không rõ ràng tạo ra khoảng cách cung và cầu. Mặc dù một số kế hoạch tổng thể được chuẩn bị sử dụng các tư vấn quốc tế, chất lượng được coi là khả thi nhưng việc thực hiện kế hoạch tổng thể không đạt được kết quả mong muốn.Trong khi đó, kế hoạch quản lý ở các cấp vẫn chưa đạt được. Do đặc thù của ngành du lịch, kế hoạch du lịch dựa chủ yếu vào kế hoạch của các ngành khác. Thật vậy, nhiều điểm tham quan đã được đưa vào kế hoạch, đồng thời đang phát triển các dự án phát triển công nghệ, khai thác mỏ, thủy điện và vật liệu xây dựng. Chẳng bao lâu để không gian du lịch và phá hủy các nguồn tài nguyên môi trường khi bị ảnh hưởng bởi các dự án khác như thuỷ điện, xây dựng, khai thác mỏ…
Phát triển du lịch không lành mạnh có thể làm phát sinh các tệ nạn xã hội: Việc di chuyển khách du lịch từ vùng này sang vùng khác, từ đất nước này sang đất nước khác đã làm nảy sinh nhiều vấn đề như: Ma túy, mại dâm, cá độ, rửa tiền và nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Những vấn đề này ăn theo sự phát triển của du lịch, nếu chúng ta buông lỏng sự quản lý Nhà nước trên lĩnh vực này. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế văn hóa toàn cầu hiện nay thì các loại tội phạm quốc tế lợi dụng con đường du lịch để du nhập những tệ nạn là điều không thể tránh khỏi.
1.2 KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TÂM LINH Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
1.2.1 Khái niệm về Quản lý nhà nước
Quản lý Nhà nước về hoạt động du lịch là quản lý cơ bản của nhà nước. Quản lý nhà nước đã song hành kể từ khi nhà nước ra đời, và nó sẽ tiếp tục chừng nào nhà nước còn tồn tại. Để hoạt động thành công, cần có nhiều yếu tố, chẳng hạn như nguồn nhân lực, cơ cấu tổ chức, chính sách quản lý, sự phối hợp giữa các tổ chức. Để các chức năng quản lý nhà nước có hiệu quả, cần phân bổ và điều chỉnh các bộ phận và các bộ phận của cơ quan nhà nước. Một trong những tiêu chí để phân công quản lý nhà nước là lĩnh vực quản lý quản lý tài nguyên quốc gia và quản lý môi trường, quản lý an ninh, trật tự an toàn xã hội. Quản lý nhà nước về du lịch, chủ yếu là về cơ sở lý luận của quản lý nhà nước du lịch …
1.2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về Quản lý nhà nước
- Khái niệm quản lý Nhà nước
Có nhiều cách để hiểu về quản lý nhà nước trong khuôn khổ các tổ chức quản lý xã hội. Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý toàn xã hội và toàn bộ luật pháp. Cụ thể, nó là như sau:
Vì nhà nước tồn tại trên lãnh thổ của đất nước và quản lý công dân, bao gồm những người sống và làm việc trên đất nước. Nhà nước quản lý toàn bộ người dân sống trên lãnh thổ đất nước.
Quản lý tổng hợp quốc gia là nhà nước quản lý tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý ngành và quản lý lãnh thổ. Nhà nước quản lý tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội.Điều này có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh tất cả các hoạt động của xã hội dựa trên luật pháp.
Nhà nước phải tuân thủ pháp luật để nhà nước thực hiện pháp luật như một công cụ để xử lý vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật.
Quản lý nhà nước là một hình thức quản lý xã hội nhà nước điều chỉnh quan hệ xã hội và hành vi con người sử dụng quyền lực nhà nước để duy trì và phát triển mối quan hệ. Trật tự, trật tự xã hội hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Quản lý nhà nước là công việc của một quốc gia do tất cả các cơ quan nhà nước thực hiện. Nếu Nhà nước có quyền thực hiện chức năng của quốc gia, cũng có khi nhân dân có thể trực tiếp thực hiện dưới hình thức bỏ phiếu hoặc tổ chức xã hội và tổ chức xã hội. Quản lý nhà nước là việc quản lý thiết yếu về sở hữu nhà nước và quản lý nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước dựa trên quyền của nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ như một hệ thống cơ học. Được thành lập để thực hiện các hoạt động quản lý quốc gia. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
- Các thành tố trong quản lý Nhà nước
Quản lý nhà nước có ba hợp phần chính.
Đối tượng quản lý nhà nước: Nhà nước là đối tượng duy nhất quản lý nhà nước. Chỉ có các nhà nước mới có đầy đủ quyền và khả năng để thực hiện toàn bộ hệ thống xã hội. Nhà nước quản lý xã hội bằng giáo dục, thuyết phục, ép buộc thông qua việc sử dụng hệ thống pháp luật và các công cụ quản lý khác. Nhà nước sẽ thực hiện quản lý nhà nước thông qua trang thiết bị hoặc cơ quan có thẩm quyền của mình để đại diện cho nó, các tổ chức, tổ chức và các khu vực pháp lý cá nhân.
Đối tượng của quản lý nhà nước là nhân dân. Là quy trình tổng thể và xã hội. Tất cả các khía cạnh của các hoạt động đời sống xã hội cần được quản lý thống nhất của nhà nước để duy trì trật tự chung và đảm bảo lợi ích và lợi ích của mọi cá nhân, tổ chức và lợi ích chung. Nhà nước quản lý Xã hội một cách tổng thể.
- Bản chất và phương pháp quản lý nhà nước
Dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, bản chất của quản lý nhà nước đó chính là tính quyền lực của xã hội được thể chế hóa. Đó là sự tác động của các cơ quan có thẩm quyền, đại diện cho nhà nước đến đối tượng quản lý và các quan hệ xã hội thông qua phương pháp chủ yếu là thuyết phục và cưỡng chế. Tính quyền lực nhà nước được thể hiện rõ nhất trong trường hợp nếu các tổ chức, cá nhân không tự giác, tự nguyện tuân thủ thì hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước sẽ được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Đây là đặc trưng cơ bản cho phép phân biệt quản lý nhà nước với các hoạt động quản lý xã hội thông thường khác không phải là quản lý nhà nước.
1.2.2.2 Quản lý nhà nước về du lịch
- Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch
Bắt đầu từ lý thuyết chung về quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về du lịch nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội và các mục tiêu xã hội, chủ yếu là các phong trào thể chế công và tổ chức và dựa trên các cơ quan chính trị cụ thể cho các quy trình và hoạt động du lịch.
Theo quan điểm quản trị và kinh tế, quản lý nhà nước về du lịch được hiểu là quản lý quá trình hướng dẫn và điều phối các mối quan hệ xã hội xảy ra trong lĩnh vực du lịch. Thông qua hệ thống pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan có thẩm quyền) đã được xây dựng phù hợp với các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước quy định, ảnh hưởng đến đối tượng quản lý trong quá trình hoạt động kinh doanh du lịch để chỉ đạo hoạt động.
Như vậy, chúng ta có thể hình dung trong quản lý nhà nước về du lịch có các thành tố sau đây:
- Chủ thể quản lý: Là các cơ quan đại diện của Nhà nước hoặc được Nhà nước trao quyền, ủy quyền, đây là các chủ thể duy nhất trong quản lý Nhà nước. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
- Đối tượng quản lý: Là các hoạt động, quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực du lịch.
Bằng cách này, chúng ta có thể hình dung việc quản lý nhà nước về du lịch với các yếu tố sau:
- Quản trị viên: Đây là một tổ chức đại diện quốc gia hoặc một cơ quan quốc gia là tổ chức duy nhất của các cơ quan quản lý nhà nước.
- Đối tượng quản lý: Đây là hoạt động và quan hệ xã hội xảy ra trong lĩnh vực du lịch.
- Mục đích quản lý nhà nước về du lịch: bảo đảm phát triển ngành du lịch theo một trật tự chung, đảm bảo lợi ích của mọi cá nhân, tổ chức và lợi ích của toàn xã hội.
- Các công cụ quản lý: các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý ngành du lịch thông qua các quy định của pháp luật như chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển du lịch và các công cụ quản lý khác. …
b. Sự cần thiết của quản lý Nhà nước về du lịch
Từ khi Nhà nước ra đời với tư cách là một công cụ quyền lực chung để duy trì trật tự xã hội thì bất cứ lĩnh vực nào của đời sống xã hội đều phải được quản lý bởi Nhà nước. Du lịch là một hiện tượng, một dạng hay lĩnh vực, ngành kinh tế – xã hội tổng hợp bởi vậy nó càng ngày càng đòi hỏi có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
Sự quản lý Nhà nước đối với hoạt động du lịch là đòi hỏi khách quan, cần thiết bởi những lý do sau:
Một là: Chính sách, Pháp luật của Nhà nước tạo dựng môi trường thuận lợi và an toàn để du lịch phát triển nhanh và hiệu quả hơn. Mặt khác, ngoài chính sách, pháp luật, Nhà nước còn có nhiều công cụ để điều tiết quá trình phát triển của du lịch như thuế, phí, giá cả, tiền tệ, thông tin…..
Hai là: Bất cứ một nền kinh tế nào cũng không thể phát triển độc lập, hơn thế nữa, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bản thân nó muốn phát triển phải có sự phối hợp đồng bộ với các ngành kinh tế khác. Do đó, rất cần thiết phải có sự điều tiết của Nhà nước nhằm đảm bảo phát triển ngành du lịch phù hợp với định hướng và yêu cầu phát triển của tổng thể nền kinh tế quốc dân.
Ba là: Sự quản lý của Nhà nước nhằm hạn chế những yếu tố tiêu cực có thể phát sinh từ hoạt động du lịch: duy tu, bảo tồn các công trình văn hóa; chống suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên; xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động, kinh doanh du lịch…Đó là những vấn đề mà không một chủ thể nào của nền kinh tế muốn làm và có thể làm được như Nhà nước. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
1.2.3 Mục đích và nội dung chủ yếu của quản lý Nhà nước về du lịch
Mục đích tổng quát nhất của công tác quản lý Nhà nước về du lịch là phát triển du lịch bền vững, góp phần quan trọng vào giá trị tổng sản phẩm xã hội, tạo ra việc làm và thực hiện mục tiêu về phát triển kinh tế – xã hội của Quốc gia và địa phương.
Để đạt được mục đích trên, công tác quản lý Nhà nước về du lịch phải được triển khai đầy đủ các nội dung sau:
1.2.3.1 Quản lý Nhà nước về định hướng, chiến lược phát triển du lịch
Nội dung này bao gồm việc đề ra và ban hành các quan điểm, chủ trương, chính sách vĩ mô; các mục tiêu tổng quát, chương trình, kế hoạch phát triển du lịch dài hạn; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch, quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch….
1.2.3.2 Quản lý Nhà nước đối với các cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch
Cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch là các doanh nghiệp, tập thể, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia thị trường du lịch nhằm thu lợi. Các cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch vừa là chủ thể phát triển du lịch vừa là đối tượng quản lý của Nhà nước về du lịch bởi vậy đòi hỏi họ phải có đăng ký kinh doanh và làm các nghĩa vụ Nhà nước, xã hội. Việc quản lý các cơ sở này là tất yếu khách quan nhằm duy trì trật tự, kỷ cương pháp luật, tạo ra sân chơi bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực kinh doanh du lịch.
1.2.3.3 Quản lý Nhà nước đối với các tuyến, điểm du lịch:
Các tuyến, điểm du lịch chính là điểm đến, là nơi thu hút và thỏa mãn nhu cầu của khách. Bởi vậy quản lý tốt các tuyến, điểm du lịch có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo và duy trì các luồng khách đến với du lịch. Quản lý các tuyến, điểm du lịch là nội dung mang tính phức hợp trong quản lý Nhà nước về du lịch ở một địa danh, một công trình hay một chuổi địa danh, công trình du lịch nào đó bao gồm đầy đủ các nội dung quy hoạch và thực hiện quy hoạch, quản lý luồng khách và hoạt động của khách, quản lý các đơn vị, các cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch, quản lý an ninh – trật tự…..
1.2.3.4 Quản lý Nhà nước đối với luồng khách và hoạt động của khách du lịch
Khách du lịch cũng là đối tượng cần được quản lý chặt chẽ.Việc quản lý khách du lịch có hai góc độ. Góc độ thứ nhất nhằm thống kê, nắm bắt tình hình phát triển thị trường du lịch, phân tích dự báo thị trường để có giải pháp thu hút khách, khai thác thị trường du khách nhằm phục vụ tốt nhất cho từng nhóm đối tượng, đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng của du khách. Hơn thế nữa, quản lý tốt hoạt động của du khách cũng là để phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực du lịch.
1.2.3.5 Quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch:
Đây cũng là nội dung không thể thiếu trong quản lý Nhà nước về du lịch. Việc du lịch ngày càng phát triển kéo theo việc đòi hỏi về chất lượng, hiệu quả của nguồn nhân lực cho du lịch ngày một tăng cao. Các hoạt động dạy nghề, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng, ngoại ngữ…..cho đội ngũ tham gia vào thị trường du lịch cũng như quản lý du lịch ngày càng nở rộ và yêu cầu phải được quản lý một cách thống nhất, chuẩn hóa.
1.2.4 Nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về du lịch tâm linh: Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước thể hiện trong quan điểm chiến lược về quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh đó là phát triển du lịch theo chiều sâu, có chất lượng và hiệu quả, bền vững, có thương hiệu và có sức cạnh tranh.
Để làm được điều đó, Nhà nước phải xác định du lịch tâm linh phải được tập trung đầu tư phát triển theo quy hoạch bài bản trên cơ sở khai thác những giá trị nổi trội về cảnh quan thiên nhiên và văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam.
Nhà nước phải có chính sách quản lý và thúc đẩy các hoạt động du lịch tâm linh để phục vụ du khách, đồng thời phải kết hợp với các hoạt động du lịch khác, tạo sự đa dạng và hấp dẫn cho du lịch Việt Nam và đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, xem phát triển du lịch tâm linh là giải pháp hữu hiệu để phát triển bền vững thông qua tạo việc làm, thu nhập cho cư dân địa phương, tăng cường sự hiểu biết về văn hóa, tìm hiểu thế giới và tạo động lực để bảo tồn các giá trị truyền thống, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc.
Nhà nước phải có những công cụ pháp lý hữu hiệu để định hướng phát triển du lịch tâm linh trở thành mục tiêu phát triển đời sống tinh thần cho nhân dân hướng tới những giá trị chân-thiện-mỹ và nâng cao chất lượng cuộc sống, không để du lịch tâm linh đi theo hướng lệch lạc làm mất đi thuần phong mỹ tục và hũ tục mê tín dị đoan, sai lệch tư tưởng và u muội tinh thần.
1.3.NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QUẢN LÝ, PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH TÂM LINH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hòa của các ngành kinh tế khác, nó chịu tác động rất lớn bởi nhiều yếu tố khác nhau.Nhất là trong bối cảnh Thị xã Quảng Trị đang triển khai thực hiện nghị quyết phát triển về du lịch tâm linh. Sự tác động của điều kiện tự nhiên như: khí hậu, môi trường, dịch bệnh, an ninh chính trị, kinh tế xã hội cho đến chính sách thu hút đầu tư, phát triển du lịch. Do vậy để đưa ra được những định hướng, chiến lược đúng đắn nhằm phát triển du lịch tâm linh Thị xã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, khai thác hết tiềm năng, lợi thế cũng như giá trị lịch sử thì cần phải xác định, tìm hiểu và đánh giá xác đáng các vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến sự quản lý, phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn. Có thể nhận thấy rõ nhất hai nhóm nhân tố cơ bản tác động đến sự quản lý và phát triển du lịch trên địa bàn Thị xã Quảng Trị đó là:
1.3.1 Nhóm nhân tố chủ quan bên trong quản lý Nhà nước
1.3.1.1 Các nhân tố liên quan đến chính sách, kỹ năng quản trị của Chính quyền các cấp trong Tỉnh và Thị xã
Thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý ngành du lịch trên phạm vi cả nước cũng như trên địa bàn Thị xã Quảng Trị:Văn bản pháp luật là cơ sở hợp pháp nhất từ chính quyền địa phương để chính quyền địa phương theo sát chặt chẽ việc nghiên cứu và xuất bản các văn bản pháp luật. Chính phủ và chính quyền các cấp thể hiện và thực hiện chính sách, sáng kiến pháp luật và hướng dẫn của Đảng và Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Trị. Văn bản ban hành phải phù hợp với tình hình địa phương.
Đồng thời đảm bảo tiến trình gắn kết lợi ích của dân tộc và nhân dân, đảm bảo mục tiêu phát triển của đất nước, quyền lợi, ý chí và sự sẵn sàng của nhân dân. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Thực hiện chính sách thuế, giá các dịch vụ du lịch từ các cơ quan trung ương, tỉnh, nhà nước và các tổ chức du lịch: thực hiện hệ thống thuế, giá chính là thực hiện các công cụ hữu ích nhất, có vai trò quan trọng trong việc phát triển dịch vụ du lịch. Các chính sách giảm giá dịch vụ, vào mùa du lịch chính của năm, chẳng hạn như sản phẩm dành cho khách du lịch, hoặc hình thức khuyến mại để kéo dài thời gian đi lại.
Thực hiện khai thác, quản lý, đào tạo, quản lý nguồn nhân lực và lao động trong ngành du lịch. Quảng Trị muốn có một đội ngũ nhân viên có chất lượng trong hoạt động du lịch thì công tác quản lý nhà nước của tỉnh cần phải có định hướng rõ ràng. Thứ nhất, có kiến thức về yếu tố năng lực, chất lượng của cán bộ quản lý và công chức làm việc về quản lý du lịch địa phương, tình hình và khả năng của du lịch địa phương. Ngoài yếu tố cho người lao động tham gia vào các dự án du lịch trực tiếp, phải có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp trong du lịch cũng như công khai để nâng cao nhận thức về văn hoá.
Định hướng chiến lược, kế hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thị xã Quảng Trị: các cơ quan chức năng của Thị xã phải xác định được lợi thế đáng kể về khả năng du lịch của Thị xã. Nhằm mục đích xây dựng và ban hành các văn bản về chiến lược và quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng. Bằng cách đó, đây là một chiến lược huy động các nguồn lực hiện có và tiềm năng trong tương lai, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng.
Nâng cao vai trò, năng lực và hiệu quả của chính quyền địa phương trong công tác quản lý phát triển du lịch từ Tỉnh đến Thị xã: Du lịch vùng, an toàn chính trị, trật tự xã hội, các vấn đề an ninh để thu hút có hiệu quả các khách du lịch ngoài yếu tố sản xuất cần chú ý. Có kế hoạch quản lý, khai thác, sử dụng mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội và du lịch của thành phố. Cung cấp các dịch vụ hành chính công để thu hút các nhà đầu tư và các công ty đầu tư vào du lịch đáp ứng yêu cầu của du khách. Tích cực thúc đẩy đầu tư vào phát triển thị trường du lịch.
Nhấn mạnh việc khai thác các quỹ đầu tư phát triển du lịch: Để phát triển kinh doanh du lịch, sử dụng nguồn vốn du lịch đầu tiên. Vốn là một trong những nguồn lực quan trọng chiếm vị trí quan trọng cho sự phát triển của ngành du lịch. Ở thị xã cần một cơ chế hỗ trợ và tạo động lực cho các cá nhân và tổ chức có hoạt động kinh doanh du lịch đặc biệt là du lịch tâm linh để tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Đặc biệt là quỹ tín dụng từ hệ thống ngân hàng thương mại. Trên cấp độ ngành, cần xem xét cập nhật cơ chế tài chính để tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và cá nhân, đồng thời tạo môi trường tiếp cận tín dụng bình đẳng mà không có sự phân biệt đối xử về quyền sở hữu. Với mục đích này, cần xem xét bổ sung vốn kinh doanh và thực hiện các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm đa dạng hoá nguồn vốn và cá nhân hoạt động dịch vụ du lịch. Nhận các khoản vay từ các ngân hàng thương mại nhỏ và các quỹ tín dụng để thúc đẩy việc đảm bảo độ tin cậy của khoản vay.
1.3.1.2 Các nhân tố mang tính tổ chức- kỹ thuật Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội: Việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội có vai trò hết sức to lớn trong việc phát triển các loại hình du lịch tại địa phương. Tạo đà cho sự phát triển kinh tế – xã hội chung của Thị xã, mà ảnh hưởng lớn nhất là tư duy đầu tư phát triển kinh tế của đại bộ phận người dân. Điều này có ý nghĩa hết sức đặc biệt đối với Thị xã và chung toàn Tỉnh. Các công trình giao thông công cộng, trụ sở hành chính, các văn phòng đại diện, điện, nước, hạ tầng thông tin, cơ sở vật chất, điểm lưu trú, dịch vụ điểm đến trong hoạt động du lịch….có tác động mạnh mẽ đến việc thúc đẩy du lịch phát triển, làm thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu thưởng thức của du khách.
Khả năng tổ chức các hoạt động du lịch hợp lý: Xây dựng các dịch vụ kèm theo các hoạt động du lịch tại các điểm đến như khu vui chơi giải trí và giải trí theo nhu cầu của khách tham quan. Việc tổ chức hoạt động này có thể vượt qua được ảnh hưởng của các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến mùa du lịch.
Hoạt động quảng cáo và quảng cáo: Các hoạt động này có tác động lớn đến sự phát triển của du lịch địa phương. Thực hiện một sự cám dỗ mạnh mẽ và đánh dấu nhu cầu của khách du lịch và giúp khách du lịch sắp xếp các kế hoạch du lịch một cách khoa học bằng cách tìm hiểu thông tin về điểm đến.
Cơ cấu về cơ sở vật chất – kỷ thuật du lịch và cách thức tổ chức hoạt động ở các cơ sở du lịch: khách sạn, nhà nghỉ, phòng hội thảo, khu vui chơi giải trí, khu du lịch sẽ có tác động đáng kể đến việc phân bổ nhu cầu du lịch theo thời gian. Tất cả các cấp chính quyền nên có khả năng làm việc không chỉ trong suốt kỳ nghỉ lễ mà cả năm.
1.3.2 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến Quản lý nhà nước Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
1.3.2.1 Các nhân tố tự nhiên
Điều kiện về tài nguyên du lịch:Điều kiện ảnh hưởng lớn đến nhu cầu của khách du lịch là tài nguyên thiên nhiên và giá trị lịch sử. Các quốc gia có ưu đãi cho phát triển du lịch như rừng, núi, sông, bãi biển, cảnh quan … sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch.Thị xã Quảng Trị rất thuận tiện cho khách du lịch bởi vì đây là trung tâm của tỉnh có thể dễ dàng đi đến khu vực vùng núi, biển và đảo Cồn Cỏ. Đặc biệt, Thị xã có một lễ hội tâm linh để đáp ứng nhu cầu tâm linh của khách du lịch.
Thời tiết – Khí hậu: Đây là một yếu tố quan trọng định hình tính mùa vụ của du lịch. Tác động đến cung và cầu du lịch trong khu vực. Bởi vì ngành du lịch dựa trên nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên như giải trí, bơi lội, leo núi, lễ hội tinh thần, chúng ta có thể mở rộng hoặc thu hẹp ảnh hưởng của thời tiết. Nó phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu và tiêu chuẩn của khách du lịch sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên du lịch.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa của tỉnh Quảng Trị, nhiệt độ rất cao.Khí hậu khắc nghiệt bị ảnh hưởng bởi gió Tây Nam mạnh mẽ được thổi từ tháng 3 đến tháng 9 thường gây ra hạn hán. Từ tháng 10 đến tháng 2, trời sẽ mưa và sẽ ảnh hưởng bởi gió mùa đông bắc gây ra lũ lụt. Các hiện tượng khí tượng ảnh hưởng đến nhu cầu của các loại hình du lịch.Vào mùa mưa, du khách đến thị xã ít thường xuyên hơn, không chỉ thuận lợi cho việc tham quan du lịch tâm linh, mà còn dễ dàng di chuyển đến các điểm tham quan khác nhau trong khu vực và các khu vực lân cận.
1.3.2.2 Các nhân tố kinh tế – xã hội, văn hoá- tâm lý:
Kinh tế: Thu nhập là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định nhu cầu du lịch bằng cách tính toán cho một chuyến đi, bạn cần có số tiền cần thiết cho chuyến đi, thu nhập của khách cao thì họ sẽ có những yêu cầu đặc biệt. Trong nhiều trường hợp, du khách có thể làm nhiều chuyến đi trong năm, để giảm cường độ du lịch ở các nước đang đi du lịch nhiều hơn đóng góp và giảm trong mùa chính.
Sự biến động tỷ giá cũng có một tác động lớn đến nhu cầu đi lại.Ví dụ, đồng tiền của một nước đến bị mất giá so với các loại tiền tệ có thể trao đổi cao như Mỹ, EURO, vv làm tăng nhu cầu du lịch và ngược lại.Thay đổi có thể thay đổi mức độ và mùa tham quan.
Thời gian nhàn rỗi:Nhàn rỗi là một yếu tố ảnh hưởng đến việc phân phối không đều nhu cầu đi lại và mọi người chỉ có thể đi du lịch trong thời gian chơi. Tác động của nhàn rỗi vào các yếu tố theo mùa trong du lịch phải được hướng tới hai đối tượng chính sách xã hội. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Thứ nhất là ảnh hưởng của nghỉ phép hàng năm vào mùa của chuyến đi do khoảng thời gian và thời gian sử dụng. Khi thời gian ngắn, người ta thường đi du lịch mỗi năm một lần và chọn thời gian chính để đi du lịch với mong muốn được hưởng những ngày lễ giá trị, vì vậy vốn du lịch sẽ cao hơn trong mùa chính.Ngược lại, những người có kỳ nghỉ dài năm được phép chạy nhiều lần trong năm, tỷ lệ nhu cầu tập trung trong mùa chính góp phần làm giảm sức mạnh của du lịch trong mùa chính.
Sự phân bố thời gian của người lao động cũng ảnh hưởng đến mùa vụ du lịch.
Tập trung vào nhu cầu của mùa hè là do việc một số ngành như giáo viên nghỉ hè, học sinh nghỉ nên các gia đình thường chọn mùa này để đi du lịch. Một số nhà máy ngừng hoạt động vào một thời điểm trong một năm.
Đối với người về hưu, số lượng các đối tượng đang tăng lên do sự gia tăng tuổi thọ, thời gian của họ có thể đi bất cứ lúc nào, sẽ có một tình hình kinh tế đầy đủ, đây là những gì du lịch để làm lực lượng giảm sức mạnh của mùa du lịch.
- Sự quần chúng hoá trong du lịch
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch. Những người tham gia bình quân tiền lương trung bình (thường ít có kinh nghiệm đi du lịch) thường thích nghỉ hè trong mùa du lịch chính vì những lý do sau:
Đa số khách hàng có khả năng nghỉ phép hạn chế đều tập trung vào các mùa chính, chủ yếu là do lệ phí quy hoạch tour nhỏ.Đối với mùa chính, phí du lịch cao, nhưng giảm giá cho đa số.
Bởi vì họ thường không hiểu được thời tiết của các tháng còn lại trong năm nên họ chọn mùa hè để đi du lịch, tránh được khoảng thời gian mưa bão.
Do ảnh hưởng của xu thế và bắt chước lẫn nhau của khách du lịch. Trong lưu lượng du khách, những người mới đi du lịch không có kiến thức nhiều về tình hình thời tiết cũng như những chỗ giải trí, vui chơi ở nơi họ đến.Họ chọn thời gian để nghỉ ngơi dưới ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và phụ thuộc vào kinh nghiệm của người khác. Họ thường đi nghỉ mát khi một người nổi tiếng bỏ đi để nghỉ hè.Vì vậy, sự quần chúng hóa trong du lịch làm tăng tính thời vụ vốn có trong du lịch. Để khắc phục ảnh hưởng này người ta thường dùng chính sách giảm giá vào trước và sau mùa chính, đồng thời tăng cường quảng cáo các điều kiện nghỉ ngơi ngoài mùa chính để thu hút khách.
- Phong tục tập quán: Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Thông thường, phong tục là dài hạn và được hình thành dưới ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội. Khi những điều kiện này thay đổi, các phong tục mới được sinh ra, nhưng các phong tục cũ không thể bị bãi bỏ.
Nhân tố mang tính tổ chức – kỹ thuật: Động lực của du khách ảnh hưởng đến độ dài của mùa du lịch thông qua du lịch.Cấu trúc của cơ sở kỹ thuật và cách tổ chức hoạt động tại các cơ sở du lịch sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố nhu cầu theo thời gian. Ví dụ, trong xây dựng khách sạn, có các sảnh, hồ bơi, các trung tâm điều trị và như vậy.
Việc phân phối hợp lý các hoạt động giải trí, giải trí và tổ chức cho du khách có tác động nhất định đến việc vượt qua các yếu tố ảnh hưởng đến mùa du lịch.Chính sách giá cả của các cơ quan du lịch của từng quốc gia, vùng và cơ quan du lịch Khách sạn thường giảm giá trước và sau chuyến đi.Các hoạt động quảng cáo và quảng cáo ảnh hưởng đến việc phân phối khách du lịch. Chúng tôi dự định tăng doanh thu sau kỳ nghỉ hoặc mùa chính bằng cách tìm thông tin về điểm đến.
- Dịch bệnh
Một đại dịch thường xuyên cũng là một yếu tố trực tiếp làm giảm số lượng khách du lịch có nguy cơ cao như H1N1, H1N1, SARS …
Những yếu tố này thường ảnh hưởng đến các hiệu ứng cá nhân. Trên thực tế, mùa du lịch bị ảnh hưởng cùng một lúc bởi nhiều yếu tố.Nó chi phối sự phát triển đối ngành du lịch Thị xã Quảng Trị. Tùy từng thời điểm, có yếu tố nổi lên, có yếu tố lắng xuống với mức tác động khác nhau. Sự tác động đó không riêng lẻ mà có sự liên kết, có thể vừa thúc đẩy có thể vừa chế ngự lẫn nhau. Như yếu tố điều kiện tự nhiên có phát huy được hay không phụ thuộc vào phần lớn các chính sách pháp lý, khai thác và sử dụng tài nguyên đó là ý thức tôn trọng, bảo tồn nguồn tài nguyên của người làm du lịch cũng như du khách. Tác động của yếu tố thời tiết – khí hậu có thể giảm nếu chúng ta đầu tư đồng bộ cơ cấu vật chất – kỷ thuật thích hợp.
Trong thời đại ngày nay, việc phát triển của ngành du lịch hay bất cứ ngành nào khác không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khách quan mà còn đòi hỏi rất nhiều vào nhân tố chủ quan, nhân tố con người bằng cách nâng cao hàm lượng chất xám, nâng cao hiệu quả giá trị của các sản phẩm du lịch, gia tăng giá trị của sản phẩm cũng như dịch vụ của ngành kinh tế. Ở nước ta, đặc biệt ở Tỉnh Quảng Trị xét một cách khách quan, vấn đề chính sách, chiến lược quy hoạch, xây dựng là yếu tố cấp thiết trong quản lý, phát triển ngành du lịch nói riêng và các ngành khác nói chung. Theo nhận định, đánh giá của các tổ chức, hiệp hội nếu Việt Nam muốn thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài, muốn kinh tế phát triển bền vững chỉ có thể là môi trường kinh doanh thuận lợi, các sân chơi trở nên bình đẳng hơn, các yếu kém được giải quyết, thủ tục hành chính và sự giám sát của chính quyền các cấp ở mức độ hợp lý. Nguyên nhân là do xuất phát điểm thấp nên việc tồn tại nhiều vấn đề về chính sách, chiến lược trong môi trường đầu tư còn diễn ra. Các quy trình hoạch định cũng như khâu tổ chức hoạch định chính sách, quy hoạch, chiến lược vùng phát triển còn chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, nhiều cơ quan, ban ngành có nội dung nhiệm vụ còn tương đồng nhau, thiếu sự phân công, phân nhiệm rõ ràng nhất là cơ quan trung ương và địa phương. Thiếu sự đóng góp của các chủ đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Tuy nhiên mỗi yếu tố có sự tác động ở các mức độ khác nhau, ở từng thời điểm khác nhau đối với ngành du lịch nhưng chúng có sự tương tác qua lại lẫn nhau, liên tục. Do đó các nhà quản lý phải hiểu rõ vai trò của từng yếu tố đó trong từng thời điểm, phải thấy được mối liên hệ giữa chúng để có định hướng cũng như tác động đến
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TÂM LINH TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC, MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ DU LỊCH TÂM LINH CỦA THỊ XÃ QUẢNG TRỊ
1.4.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch tâm linh ở một số Quốc gia và Thành phố trên thế giới
Du lịch được coi là một ngành công nghiệp không khói.Du lịch đã và đang góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia. Ngành du lịch góp phần tăng tỷ giá hối đoái, tạo việc làm và thúc đẩy nhiều thành phần kinh tế. Các quốc gia thường tạo ra nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng trong đó có du lịch tâm linh, là loại hình du lịch có thế mạnh ở các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Camphuchia, Ấn Độ….Loại hình du lịch tâm linh thể hiện nét văn hóa đặc trưng của đất nước đó, giúp du khách có thêm kiến thức về lịch sử, văn hóa, cốt cách của con người ở đất nước họ đặt chân đến. Để hiểu rõ nên kinh nghiệm làm du lịch đặc biệt là du lịch tâm linh, một số kinh nghiệm quản lý, kinh doanh du lịch ở một số nước có thể tổng hợp như sau:
- Coi trọng chiến lược, kế hoạch và chính sách thúc đẩy phát triển các sản phẩm du lịch:
Kinh nghiệm của khách đi du lịch ở những nước phát triển, khu vực kinh tế muốn phát triển du lịch cho một trong những nhà lãnh đạo – xã hội của đất nước đó.Việc phát triển du lịch ưu tiên này phải được thực hiện thông qua cơ chế đồng bộ hoá và hệ thống chính sách nhằm huy động mọi nguồn lực để thực hiện và phát triển du lịch với mức phí cao và ổn định. Hệ thống chính sách và cơ chế phải bắt nguồn từ các đặc điểm của du lịch chung, liên ngành, liên vùng, xã hội hóa cao và toàn cầu hóa. Khi tiến bộ tham quan, cao hơn các nhân vật xã hội, phạm vi rộng hơn các hoạt động liên ngành sẽ được. Ngoài ra, các cơ chế và chính sách phát triển du lịch phải phù hợp với điều kiện lịch sử bằng cách sử dụng các cơ hội và cơ hội.
Trong hệ thống chính sách, chính sách ổn định chính trị trong nước là quyết định chính cho chính sách cơ bản, phát triển du lịch. Ví dụ, ở Ấn Độ, sự thất bại của năm du lịch Ấn Độ năm 1991 chủ yếu là do ám sát Thủ tướng Raijv Gandi, tình hình chính trị và kinh tế trong nước không ổn định, xung đột tiếp theo và cơ sở hạ tầng yếu, Số lượng khách hàng giảm 30% so với năm trước.
Du lịch tâm linh muốn phát triển thì phải dựa trên các nguồn lực du lịch.Một quốc gia có lịch sử lâu dài về văn hoá, phát triển du lịch tâm linh.Trong nguồn vốn và các nguồn lực văn hoá, ban đầu chỉ có một khả năng tuyệt vời. Khả năng chuyển đổi sang sản phẩm và dịch vụ du lịch cần được đầu tư, bao gồm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho du lịch, cơ sở vật chất, đầu tư về nguồn nhân lực du lịch và ưu tiên chuyên môn và hiện đại hóa ngành công nghiệp du lịch. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Du lịch, tham quan tại Indonesia, có khoảng 300 nhóm dân tộc phát triển qua nhiều thế kỷ, với các nền văn hoá khác nhau của Indonesia, chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc, Malaysia và Châu Âu. Văn hoá Indonesia được phản ánh trong truyền thống của người Java và Balinese. Truyền thống chứa đựng các yếu tố văn hoá và huyền thoại của văn hoá Indo. Có rất nhiều nhà thờ Hồi giáo hùng vĩ ở Indonesia. Đây là một điều kiện thuận lợi cho du lịch tâm linh ở Indonesia để phát triển. Chính sách thúc đẩy tiếp thị và quảng bá sản phẩm du lịch ở nước ngoài, tập trung vào các phương thức vận tải thuận tiện cho các điểm đến du lịch, phát triển du lịch phù hợp với khách hàng, tăng cường quan hệ giữa Sở Du lịch với ngành giao thông, an ninh quốc gia, Giáo dục và đào tạo, quản lý du lịch; khuyến khích đầu tư tư nhân vào phát triển du lịch. Phát triển du lịch toàn diện; Vui lòng cho mọi người biết tầm quan trọng của du lịch.Nhờ có kế hoạch phát triển du lịch trong chiến lược quốc gia nên cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành du lịch với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất cho du lịch ở Indonesia trong những năm gần đây và đã có những kết quả đáng ghi nhận. Bộ Du lịch Indonesia đã đạt 13 tỷ đô la, nhận được trung bình 12 triệu du khách, mang lại một nguồn lớn của ngoại tệ.Du lịch tâm linh Ấn Độ đã xây dựng được thương hiệu du lịch tâm linh đó chính là yếu tố hành hương, tâm linh với nhiều điểm đến là các thánh tích tôn giáo. Du khách được được tham quan mang tính trải nghiệm tâm linh cao như Tiểu Tây Tạng trên đất Ấn, theo dấu chân Phật đến Tứ Động Tâm, đây là sản phẩm du lịch đặc sắc nhất của Ấn Độ giúp du khách hành hương bị xúc động, chấn động mạnh mẽ khi tới đây chiêm bái và từ đó tăng trưởng niềm tin, tinh tấn mạnh hơn vào sự nghiệp tu tập.
Trung Quốc là một trong những nước xác định mục tiêu phát triển du lịch trong đó có du lịch văn hóa, du lịch tâm linh làm trọng điểm phát triển kinh tế mới, một trụ cột được ưu tiên đầu tư phát triển. Chính phủ Trung Quốc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách để quản lý và phát triển tốt ngành du lịch.
Trung Quốc lấy Bắc Kinh và Thượng Hải để đầu tư mạnh để phát triển du lịch. Nếu Bắc Kinh là trung tâm kinh tế – chính trị – văn hóa lâu đời có một nền văn hóa truyền thống kế thừa hàng ngàn năm thì Thượng Hải có một vai trò quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế hiện đại nhất của Trung Quốc. Đến đây du khách sẽ cảm nhận được sự kết hợp tài tình giữa nét truyền thống và hiện đại của văn hóa Trung Quốc, sự giao thoa giữa phong cách phương Đông và phong cách phương Tây. Chính phủ Trung Quốc xây dựng phương châm tăng cường phát triển du lịch Inbound (đưa khách du lịch quốc tế vào), khuyến khích du lịch nội địa, phát triển du lịch Outbound (đưa khách du lịch ra nước ngoài ) vừa phải. Điều này làm lượng du khách quốc tế đến với Trung Quốc tăng trưởng mạnh, công dân Trung Quốc đi du lịch nước ngoài phát triển ấn tượng. Phấn đấu đến năm 2020 sẽ trở thành cường quốc du lịch trên thế giới.
Trong quá trình phát triển, Trung Quốc chủ yếu dẫn đầu bằng cách phát triển một mô hình quốc gia:
Thứ nhất, chính quyền và địa phương dựa vào các thiết bị hành chính để hướng dẫn các doanh nghiệp du lịch, chính sách phát triển tổ chức và mở rộng, thúc đẩy và quản lý thị trường.
Thứ hai, thúc đẩy tự trị địa phương, đặc biệt là sự tự trị ở cấp địa phương, điều chỉnh quân đội, phát triển du lịch khu vực. Để nuôi dưỡng du khách cả ở Nhật Bản và ở nước ngoài, ngành du lịch ở Trung Quốc đã phát hành các sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng và theo chủ đề hàng năm. Du lịch đầu tiên của khách du lịch Trung Quốc như năm 1992 là cảnh quan du lịch năm nay, năm 1994, là năm di chuyển di tích cổ, văn hoá du lịch năm 2011 sang phần còn lại của văn hoá du lịch năm 1993 và năm 2012 là năm du lịch văn hoá dân gian. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
- Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch tâm linh:
Sự phát triển đầu tiên của du lịch tâm linh là bảo tồn, đầu tư để tái thiết, xây dựng cơ sở vật chất và công nghệ cho du lịch tinh thần. Khi công nghệ thông tin phát triển ngày nay, công nghệ thông tin đang lan rộng.
Để đảm bảo sự cân bằng trong việc xây dựng trang thiết bị và vật liệu du lịch, công tác quy hoạch phải được coi là ưu tiên hàng đầu cũng như gắn kết kế hoạch du lịch tâm linh với các sản phẩm du lịch khác, đồng thời là kế hoạch kinh tế – xã hội. Malaysia, Trung Quốc có kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch và tổ chức. Căn cứ vào kế hoạch kinh tế – xã hội chung, lập kế hoạch du lịch tâm linh làm điểm xuất phát của kế hoạch cơ sở công nghệ liên quan. Trong mỗi khu vực, chúng tôi thường lên kế hoạch cả không gian (mô hình) và dự án cụ thể. Đầu tư chính sách mới từ đó. Đảm bảo tính nhất quán của kế hoạch xây dựng.
Malaysia có một nguồn tài nguyên du lịch chính ở Đông Nam Á và đã có những khoản đầu tư đáng kể vào du lịch. Chính phủ đã cải tạo các tòa nhà lịch sử, xây dựng những bãi biển đẹp và đầu tư mạnh vào tiền bạc để cung cấp thức ăn phong phú. Xây dựng nhà khách sạn, đầu tư xây dựng nhiều sân bay.
Tại Trung Quốc, các tiểu bang và các thành phố và các thành phố tự trị rất quan tâm đến việc đầu tư khôi phục các di tích có giá trị lịch sử và văn hoá. Nhiều di tích được UNESCO công nhận là di sản của Thế Giới: Trường Thành, Khu lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng, Lăng tẩm Hoàng Gia Minh- Thanh, Cổ Lăng Tự…
- Chiến lược sản phẩm du lịch:
Mỗi quốc gia đều tập trung vào việc tăng cường sức hấp dẫn và tính cạnh tranh với các chiến lược sản phẩm cụ thể, chất lượng tốt, giá thành thấp. Chiến lược sản phẩm, đặc biệt là chiến lược sản phẩm du lịch, dựa vào đào tạo quản lý hệ thống doanh nghiệp, thiết bị kỹ thuật.
Hệ thống các doanh nghiệp du lịch nước ngoài bao gồm các công ty, cơ quan du lịch, doanh nghiệp du lịch, các công ty dịch vụ du lịch khác chuyên về lĩnh vực du lịch.Trong quản lý doanh nghiệp, kinh nghiệm nước ngoài đáng kinh ngạc là phân loại doanh nghiệp, phân loại khách sạn, nâng cao chất lượng và hiệu suất sản phẩm.Trong quá trình hoạt động, các hiệp hội du lịch, hiệp hội khách sạn và các doanh nghiệp trong nước hình thành các nhóm hỗn hợp các loại.
Các quốc gia và các huyện dựa vào lợi thế so sánh để tạo ra các sản phẩm độc đáo và đa dạng, thu hút các sản phẩm du lịch độc đáo cho khách du lịch. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Tại Thái Lan, Tổ chức Du lịch Quốc gia Thái Lan (TAT) là cơ quan quản lý cao nhất của ngành du lịch, có trách nhiệm thúc đẩy và phát triển du lịch ở Thái Lan. TAT phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan đến ngành du lịch và chỉ đạo việc khai thác các hoạt động du lịch của doanh nghiệp. Chính phủ khuyến nghị chính phủ phê duyệt các chính sách và chiến lược cho các chiến dịch và chương trình để thúc đẩy từng thị trường trong từng giai đoạn. TAT có một chiến lược nghiên cứu thị trường và xúc tiến, và nó rất hiệu quả cho các công ty cung cấp chỉ đạo và các giải pháp cụ thể để thực hiện.
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở Thái Lan nói chung là một ngành du lịch tinh thần, một chiến lược phát triển du lịch bền vững trong khi duy trì các giá trị văn hoá và các giá trị tự nhiên và bảo vệ. Đó là môi trường, văn hoá, nghệ thuật, không nhấn mạnh đến sự phát triển nóng trong du lịch. Để đạt được mục tiêu đó, Thái Lan đang thực hiện các biện pháp sau:
- Phục hồi giá trị văn hoá tâm linh của đất nước, điểm đến tâm linh chính.
Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, hỗ trợ phát triển của các nhà cung cấp dịch vụ thông qua ứng dụng tiến bộ khoa học.
Phát huy nguồn nhân lực, tăng cường đào tạo cho đội ngũ làm du lịch, đặc biệt là những người quen thuộc với lịch sử, văn hoá, con người Thái Lan. Thực hiện nghiêm túc sự an toàn của các nhà khai thác du lịch và môi trường kinh doanh lành mạnh của các doanh nghiệp du lịch.
Tăng cường hợp tác giữa nhà nước và khu vực tư nhân hợp tác với cộng đồng địa phương trong quá trình khai thác, phát triển và quản lý tài nguyên du lịch.
Tăng cường quan tâm đến các phương tiện tham quan như không khí, giao thông đường bộ, du lịch biển, thủ tục Visa, trang trí cảnh quan, môi trường du lịch…vv Tăng cường hợp tác với các nước láng giềng và thúc đẩy sự phát triển của hệ thống thông tin, mạng lưới vận tải và các cơ sở du lịch.
Chính sách Thái Lan thu hút du khách quốc tế. Ở Băng Cốc có một cửa hàng miễn thuế bán các sản phẩm truyền thống chất lượng cao giá rẻ. Đền Chọn một kiến trúc tuyệt vời và một ngôi đền là một điểm đến du lịch ở Thái Lan. Đặc biệt, như một ngôi đền vàng ở đất nước được đề cử này, tượng Phật như là một kiệt tác mang lại một huyền bí thiêng liêng,khách truy cập luôn có một niềm đam mê.Bangkok có ngôi chùa đẹp nhất, thiêng liêng nhất và nổi tiếng nhất trong cả nước.Chùa ở Bangkok không chỉ có giá trị tâm linh mà còn có một lịch sử lâu dài. Giá trị của loại hình du lịch tâm linh này kết hợp với các loại hình tham quan, trong năm 2020, du khách nước ngoài đến Thái Lan đã tăng lên 22 triệu người, tăng 14,4%. 96,3 tỷ bath (31,6 tỷ đô la), tăng 24,3%. Trong năm 2021, 26,7 triệu khách du lịch quốc tế đã đến thăm và ngành du lịch chiếm khoảng 9% tổng sản phẩm quốc nội.
- Tăng cường tiếp xúc tiếp thị du lịch: Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Mục đích xúc tiến là tăng quảng bá du lịch để giới thiệu sản phẩm du lịch của đất nước, quảng bá, quảng bá công chúng cho khách du lịch, công khai quảng cáo là rất cần thiết. Chi phí du lịch là rất lớn, không chỉ Tổ chức Du lịch Thế giới tập trung vào số ngoại tệ thu được trong chuyến tham quan, giao thông vận tải – thông tin liên lạc và ngân sách khuyến mãi, các thành viên khuyến khích quảng bá du lịch.
Khuyến mãi du lịch là một sự chú ý của quốc gia, quỹ nhà nước rất lớn, và nhiều biện pháp hiệu quả được thực hiện. Nhiều quốc gia có các cơ quan xúc tiến du lịch như Malaysia và Singapore (Cục Xúc tiến Du lịch), có Liên đoàn Du lịch Quốc gia (Cục Du lịch Hàn Quốc).
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới: ngân sách cho việc thúc đẩy du lịch ở tất cả các nước tăng lên. Mỗi năm cho 10 triệu khách du lịch của Thái Lan ở Indonesia, Thái Lan bán sản phẩm du lịch hàng năm với giá 60 triệu USD, thu hút 30 triệu khách du lịch quốc tế và chi tiêu 200 triệu USD mỗi năm.
Thất bại trong việc thúc đẩy du lịch, sự sơ suất dẫn đến sự suy giảm trong kinh doanh. Các nước đang phát triển coi đây là một phương tiện quan trọng trong việc thúc đẩy quốc tế, thu hút các nhà đầu tư trong nước, đại diện du lịch quốc gia và nghiên cứu thị trường. Các sự kiện du lịch quốc tế trong nước như hội chợ, hội nghị, liên hoan nghệ thuật, Thế Vận Hội, các sự kiện thể thao … là hình thức quảng cáo, là một trong những hoạt động quảng bá du lịch. Nhật Bản tổ chức các hội nghị quốc tế hai năm một lần và hàng ngàn đại diện từ khoảng 100 nước tham gia đang tham gia.Tại hầu hết các quốc gia, hầu hết các nhà lãnh đạo cao cấp của ngành du lịch đều tổ chức lễ kỷ niệm những người tham dự hội nghị và triển lãm các sản phẩm du lịch của nước họ.Các nước ASEAN có kế hoạch cùng nhau lập kế hoạch các cuộc họp, hội thảo, sự kiện thể thao và nền văn hoá thế giới. Singapore là một trong 10 sự kiện lớn nhất tại Châu Á (hội nghị, hội thảo, triển lãm quốc tế …).
- Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên xã hội, đảm bảo phát triển bền vững:
Hầu hết các quốc gia trong quá trình phát triển du lịch đều tập trung vào việc bảo tồn giá trị lịch sử của khu vực cảnh quan, bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, và sử dụng tính độc đáo của quốc gia. Vì vậy, trong quá trình phát triển du lịch, chúng ta nên quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vẻ đẹp truyền thống, cảnh quan, môi trường. Có một mối quan hệ nhân quả giữa tham quan và môi trường. Du lịch là một lĩnh vực rất nhạy cảm và giới hạn trong khả năng phát triển. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
1.4.2 Một số kinh nghiệm trong công tác Quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh ở nước ta:
Cần phát huy tốt các lễ hội văn hóa cổ truyền, tài nguyên tâm linh và nguồn nhân lực: Nguồn tài nguyên phục vụ du lịch tâm linh, các lễ hội văn hóa dân gian và nguồn nhân lực phục vụ cho ngành du lịch tâm linh của Việt Nam tương đối phong phú, có nhiều tiềm năng nhờ số lượng các công trình văn hóa, các di tích lịch sử, thắng cảnh, đền chùa, miếu mạo, di sản, các cơ sở thờ tự….Các di sản vật thể và phi vật thể trải dài khắp đất nước, vừa mang tính thiêng liêng, vừa mang tính thẩm mỹ. Đây chính là các đối tượng để khách du lịch tìm hiểu. Mục đích là để du khách tìm hiểu được những thông tin về cuội nguồn lịch sử, cội nguồn văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa, mà còn được gắn bó, giao tiếp, ứng xử cùng nhau trong môi trường đậm đặc chất thiêng. Sự kết hợp giữa du lịch và nhu cầu tâm linh làm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Đặc biệt nguồn nhân lực của Việt Nam rất dồi dào, với lực lượng dân số trẻ nên việc đào tạo các nguồn nhân lực phục vụ cho du lịch là không khó. Tuy nhiên nhìn chung các thế mạnh này chưa phát huy hiệu quả do những nguyên nhân trong việc bảo tồn phát huy những di sản hiện có. Sự yếu kém trong công tác đào tạo nguồn nhân lực là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển các hoạt động du lịch tâm linh. Theo diễn đàn kinh tế thế giới xếp loại về năng lực cạnh tranh về du lịch toàn cầu thì Việt Nam đứng thứ 67/138 Quốc gia về cạnh tranh trong ngành du lịch. Phần Lan đứng thứ 1, Nhật Bản đứng thứ 4, Hồng Kong thứ 11, Singapo thứ 15, Trung quốc thứ 15, Hàn quốc thứ 19, Thái Lan thứ 34.
Chính sách phát triển du lịch là một trong những nhân tố quyết định thành công của ngành du lịch Việt Nam: Để phát huy tối đa khả năng phát triển du lịch ở Việt Nam, cần có chiến lược đầu tư phát triển phù hợp với kế hoạch khai thác giá trị xuất sắc. Chính phủ Việt Nam sẽ tăng cường khối đoàn kết toàn dân mang lại sự tăng trưởng kinh tế, cũng như các giá trị tinh thần, lòng yêu nước, sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công mục tiêu của đất nước cho du lịch tâm linh.
Do đó, các chính sách phát triển của du lịch tâm linh trực tiếp ảnh hưởng đến việc khai thác và bảo tồn những giá trị văn hoá, tâm linh và phi vật thể. Đầu tư nâng cao sức cạnh tranh, đầu tư cho du lịch, quảng bá có hiệu quả các sản phẩm du lịch. Thúc đẩy phát triển du lịch thông qua các chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư, điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch tâm linh và cải tạo các cơ sở vật chất sẽ mang lại cơ sở vật chất. Thực hiện các thủ tục, lễ nghi tinh thần, và các chính sách thuận lợi cho du khách Việt Nam. Với sự phong phú và niềm tin trong lĩnh vực mục tiêu truyền thống, tôn giáo, tín ngưỡng, đa dạng và tôn giáo, có khả năng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam Lễ hội tư nhân được tổ chức quanh năm. Theo một số đặc điểm của du lịch tâm linh ở Việt Nam, cần lưu ý rằng hiệu quả của chính sách và mức độ phát triển tương tác, tương tác và hỗ trợ lẫn nhau. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Hiện tượng thương mại hóa các cơ sở tâm linh, các lễ hội dẫn đến tình trạng phản du lịch:Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đời sống nhân dân, nền kinh tế đang phát triển, người dân ngày càng trở nên tâm linh hơn về du lịch, đặc biệt là các lễ kỷ niệm được tổ chức dựa trên tôn giáo đang gia tăng. Do đó, khi các vấn đề này xảy ra trong nhiều năm, như các lễ hội thương mại, chẳng hạn như các điểm tham quan, kỳ nghỉ lễ, trò chơi không lành mạnh, chơi vô dụng, vv…. đã được trưng bày. Có rất nhiều lễ hội nhấn mạnh đến các yếu tố mê tín, không phải là quảng bá các giá trị văn hoá truyền thống của lịch sử. Kết quả của quảng cáo đó, vẻ đẹp thiết yếu của lễ hội đã thay đổi do các thương nhân cấp bách, những người có lợi từ lễ hội làm mục đích và văn hoá. Các cơ sở tôn giáo trở thành địa điểm kinh doanh, thậm chí làm ăn bất chính của nhiều người. Hiện tượng buôn bán xâm lấn đến tận các cơ sở tâm linh, các đền thờ, miếu mạo, chùa chiền…làm cản trở bước chân của du khách. Nhiều người còn bày bán các thực phẩm sống ngay cả cửa chùa, nơi đòi hỏi sự tôn nghiêm thì thường xuyên bày bán các dãy hàng ăn uống, quà lưu niệm hay các gian hàng trò chơi theo kiểu vui chơi có thưởng. Hiện tượng xả rác bừa bãi ở những nơi trang nghiêm, không có sọt rác cũng như nhà vệ sinh làm mất hình ảnh trong mắt du khách thập phương. Những chiếc loa thùng của các hàng quán bên đường dẫn vào các nơi thờ tự, chùa chiền đua nhau quảng cáo, chào mời khách, tạo nên âm thanh hỗn tạp. Hàng hóa bày bán nhiều màu sắc phản cảm, lòe loẹt, không phù hợp với những nơi tôn nghiêm. Thương mại được rõ nét trong các lễ hội, đền thờ và tháp. Tình hình trên cũng được đề cập rất nhiều, đó là những người trao đổi tiền bạc và mua sắm, đền thờ, những người đốt mã vàng tại chùa. Ném bệ, tượng Phật, thậm chí ao, tiền lan truyền qua các di tích đến giếng. Ngoài ra, nhiều lễ hội biến thành hội tập trung chính vào phần hội mà quên phần lễ.
Những nhược điểm trong tính cách văn hóa thể hiện trong hoạt động kinh doanh du lịch tâm linh cần phải được xác định một cách nghiêm túc dưới mắt nhìn của du khách: Hình ảnh đẹp tồn tại trong mắt du khách, đặc biệt là du khách quốc tế không phải chỉ được tạo dựng về hình ảnh đất nước qua các sản phẩm du lịch. Ấn tượng về quốc gia, xứ sở con người không chỉ qua hình ảnh của các công trình tâm linh, các lễ hội hay sự hấp dẫn của các điểm đến mà quan trọng là sự thể hiện nét văn hóa đặc trưng của con người Việt Nam, thể hiện nếp sống thường nhật, thái độ thân thiện, cởi mở, thái độ phục vụ của nhân viên phục vụ ở các điểm du lịch tâm linh, qua lề lối kinh doanh và tâm linhhiếu khách của cư dân bản địa đối với du khách. Ở Việt Nam thường xuyên xảy ra tình trạng chèo kéo du khách,có thái độ thiếu thiện cảm, chặt chém, chụp giật du khách làm ảnh hưởng đến hình ảnh đất nước, con người trong mắt du khách. Tình trạng xô bồ hỗn tạp ở các lễ hội, các nơi thờ tự tôn nghiêm đã làm cho địa phương có các điểm du lịch tâm linh bị tổn thương nghiêm trọng, đặc biệt gây phức tạp, khó chịu, phiền hà cho du khách.
1.4.3 Một số bài học cần lưu ý đối với Quản lý du lịch tâm linh ở Thị xã Quảng Trị Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
Qua những kinh nghiệm và bài học rút ra từ công tác quản lý du lịch tâm linh ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam chúng ta cần rút ra những bài học sâu sắc cho công tác quản lý du lịch tâm linh ở Thị xã Quảng Trị:
Một là: Các cấp các ngành từ trung ương cho đến địa phương phải có những chính sách, tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất thúc đẩy sự phát triển của loại hình du lịch tâm linh là thế mạnh của Thị xã Quảng Trị. Như đã nghiên cứu ở trên ở các nước Ấn Độ, Campuchia, Trung Quốc luôn coi trọng đầu tư cho phát triển du lịch tâm linh, có chính sách đầu tư một cách thỏa đáng, hợp lý về cả chính sách, cơ chế, môi trường tự nhiên – xã hội cũng như hạ tầng kỹ thuật, cơ sở vật chất.
Hai là: Tỉnh Quảng Trị cũng như địa phương phải tập trung thống nhất một ý chí, có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành và đặc biệt là sự phối hợp với các địa phương lân cận nhằm tạo ra chiến lược làm du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch tâm linh đặc sắc kết hợp với du lịch tham quan, nghỉ dưỡng. Có sản phẩm du lịch có chất lượng cao, giá cả hợp lý, các dịch vụ đi kèm phải tận dụng tối đa các cơ sở vật chất hiện có, khai thác hợp lý các điểm du lịch tâm linh cũng như tài nguyên du lịch khác, tạo được dấu ấn và thương hiệu du lịch riêng trong lòng du khách trong nước và du khách quốc tế.
Ba là: Nhìn từ sự thành công trong công tác làm du lịch tâm linh của Huyện đảo Côn Đảo, Bà Rịa – Vũng Tàu, hay Tỉnh Ninh Bình, đây là các mô hình làm du lịch mà chúng ta cần học hỏi. Các địa phương này có chính sách, cơ chế rất phù hợp để tạo nên các sản phẩm du lịch đặc trưng không xen lẫn với các địa phương khác. Các sản phẩm tạo ra đạt được hiệu quả kinh tế cao nhờ sự uyển chuyển, linh hoạt trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách tạo sự thích ứng cho các nhà đầu tư. Mà điểm chú trọng nhất là là ưu tiên xây dựng kế hoạch phát triển ưu tiên cho du lịch tâm linh có trọng điểm, lấy một điểm nhấn có giá trị nhất để đầu tư xây dựng các dịch vụ đi kèm quanh trục của nó. Các kế hoạch, chương trình hành động phù hợp cho từng thời kỳ, đồng thời các nhà quản lý rất coi trọng và đẩy mạnh hoạt động quảng bá du lịch, huy động tất cả các nguồn lực có thể để mạnh dạn đầu tư cho việc hình thành các thị trường trọng điểm du lịch tâm linh trong nước và quốc tế.
Nhìn chung, du lịch nói chung và du lịch tâm linh nói riêng xuất phát từ nhu cầu của con người, một dạng hoạt động xã hội để tạo nên một loại hình kinh tế. Để phát triển được loại hình kinh tế tổng hợp này thì cần phải có sự điều tiết, quản lý của các cơ quan Nhà nước. Trong công tác quản lý về du lịch tâm linh ở Thị xã Quảng Trị, các cơ quan chính quyền cần tham khảo và học tập các cách làm du lịch đã thành công ở các nước trên thế giới và các địa phương trong cả nước. Việc đánh giá thực trạng một cách chân thực nhất là cơ sở để đáng giá và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh trên địa bàn Thị xã Quảng Trị. Các nội dung này sẽ được đánh giá ở các chương sau và triển khai dựa trên các nội dung nêu trên trong quản lý Nhà nước về du lịch tâm linh. Chính quyền phải học tập và xây dựng các kế hoạch, chiến lược, đề ra các chính sách, đầu tư cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển du lịch; nghiên cứu các giải pháp để phát triển du lịch và tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo, đa dạng, luôi cuốn du khách; có chính sách đầu tư và khuyến khích các cơ sở làm du lịch của Thị xã phát triển; chú trọng tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch tâm linh của địa phương; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho du lịch có chất lượng. Luận văn: Công tác quản lý nhà nước du lịch tâm linh ở Quảng Trị.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước du lịch tâm linh Quảng Trị

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước du lịch tâm linh Quảng Trị