Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Cùng với Hiến pháp năm 2013 đi vào cuộc sống, bảo đảm tính thượng tôn Hiến pháp, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả cải cách tư pháp, một nhiệm vụ lớn và trọng tâm lúc này là căn chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tư pháp cho phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 và các định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Mục tiêu cải cách tư pháp thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó cải cách Tòa án và hoạt động xét xử là trung tâm của cải cách tư pháp với khâu đột phá là mở rộng tranh tụng dân chủ trong xét xử.

Để đạt mục tiêu đó, Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra 5 phương hướng và 7 nhóm giải pháp, tập trung vào cải cách pháp luật nội dung (hình sự, dân sự, hành chính…) và pháp luật tố tụng; cải cách tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp; phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, của công luận, của nhân dân và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động tư pháp và cơ quan tư pháp. Nghị quyết xác định Tòa án giữ vai trò trung tâm trong hệ thống tư pháp, hoạt động của Tòa án là trọng tâm của hoạt động tư pháp. Đây là bước phát triển mới về nhận thức lý luận trong lĩnh vực tư pháp nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI tiếp tục khẳng định nhiệm vụ: “Cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trung tâm” [18, tr.127].

Trước yêu cầu hội nhập sâu rộng nhằm nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam với cộng đồng Quốc tế trên tất cả các lĩnh vực với mục tiêu Việt Nam muốn làm bạn, làm đối tác tin cậy, là nước có trách nhiệm trong việc giải quyết các vấn đề Quốc tế có liên quan và một trong những lĩnh vực trọng tâm là Việt Nam đang quan tâm thực hiện cải cách hành chính, cải cách pháp luật một cách đồng bộ phù hợp với luật pháp Quốc tế. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Hiến pháp 2013 quy định “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [33, Khoản 3], trên tinh thần đó, vấn đề đặt ra cho các cơ quan Tư pháp Việt Nam nói chung và ngành Tòa án nói riêng nhiều thách thức thực sự là cơ quan bảo vệ công lý và công bằng xã hội. Việt Nam đã và sẽ tham gia thực hiện các công ước, điều ước quốc tế khi gia nhập và trở thành thành viên, đòi hỏi hệ thống pháp luật bao gồm cả luật nội dung và luật tố tụng cần được sớm hoàn thiện. Thực tiễn trên đây đã đặt ra cho các Thẩm phán Việt Nam không những cần phải có kiến thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực luật nội dung mà còn phải hiểu biết và áp dụng thành thạo luật tố tụng liên quan để giải quyết các loại vụ án tranh chấp.

Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Tòa án đã tiến hành xét xử theo hướng nâng cao vai trò tranh tụng, đảm bảo quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ cải cách tư pháp đến năm 2020 là phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp. Trọng tâm là xây dựng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp. Thực hiện các Nghị quyết của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp, cùng với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 được Quốc hội khóa XIII (kỳ họp thứ tám) thông qua ngày 24/11/2014 có hiệu lực ngày 01/6/2015; Bộ Luật Hình sự sửa đổi 2015, Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi 2015 được Quốc hội khóa XIII (kỳ họp thứ mười) thông qua ngày 27/11/2015 có hiệu lực ngày 01/7/2015, thì Ngành Tòa án Việt Nam đang thực sự đổi mới về tổ chức và hoạt động; tăng cường quản lý, nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Gắn liền với hoạt động của Tòa án là Thẩm phán, Thẩm phán là một trong số những người tham gia tố tụng giữ vai trò then chốt trong quá trình cải cách tư pháp nói chung, đặc biệt là việc thực hiện các mục tiêu mà Nghị quyết Đảng đã đề ra. Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự là một nội dung rất quan trọng, một mắt xích không thể thiếu trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự là một việc làm cần thiết góp phần thực hiện thành công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Một trong những nội dung của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp là: “Bảo đảm tranh tụng dân chủ với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa” [6]. Một phiên tòa nói chung và phiên tòa sơ thẩm hình sự nói riêng có bảo đảm tính chất tranh tụng hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Vai trò của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên, của Luật sư, của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác, nhưng vai trò của chủ tọa phiên tòa là quan trọng nhất. Kết quả phiên tòa phụ thuộc chủ yếu vào vai trò của chủ tọa phiên tòa. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ. Thông qua đề tài này, tác giả muốn làm rõ thêm vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam, từ đó đề xuất một số vấn đề hoàn thiện các quy định của pháp luật về vai trò của Thẩm phán trước yêu cầu cải cách tư pháp, nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án trong giai đoạn hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

2.1. Các sách (sách chuyên khảo, sách tham khảo, sách hướng dẫn và giáo trình)

  • TSKH Lê Cảm (2003) “Nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự”, Tạp chí luật học.
  • TSKH Lê Cảm (chủ biên) “Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền” Sách chuyên khảo, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội 2009.
  • TS. Phạm Hồng Hải (2003), “Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam”. Nxb Công an nhân dân, Hà Nội
  • TS Nguyễn Đăng Dung (2004), “Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền”. Nxb Tư pháp, Hà Nội
  • TS Đinh Văn Quế (2005), “Pháp luật hình sự thực tiễn xét xử và án lệ”. Nxb Lao động – Xã hội.
  • TS Võ Khánh Vinh (2007) “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự”. Nxb Công an nhân dân.

Đặc biệt trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 đã có hàng loạt các bài viết khoa học đã được đăng trên các tạp chí như: Tạp chí Tòa án nhân dân (thuộc Tòa án nhân dân Tối cao), Tạp chí Kiểm sát (thuộc Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao) mà ở các mức độ đánh giá, phân tích khác nhau có liên quan đến đề tài này, cụ thể:

  • “Tăng cường tính độc lập của các Thẩm phán trong hoạt động xét xử ở Việt Nam” Cổng thông tin điện tử Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Trích dẫn từ:http://www.hcmcbar.org
  • Quách Thành Vinh – Tòa án Quân sự Trung ương; Đàm Kim Yến – Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân Tối cao (2010) “Mấy vấn đề áp dụng pháp luật trong xét xử”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 19, tháng 10/2010.
  • TSKH Lê Văn Cảm (2011) “Tòa án là trung tâm – Xét xử là trọng tâm trong tố tụng hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 9, tháng 5/2011.
  • TSKH Lê Văn Cảm (2011) “Những vấn đề cơ bản về tổ chức – Thực hiện quyền tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 13, tháng 5/2011.
  • TSKH Lê Văn Cảm (2011) “Hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp”. Tạp chí Kiểm sát – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao số 11, tháng 6/2011.
  • “Tổng hợp những vướng mắc về tố tụng hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao tháng 12/2011.
  • Thạc sỹ Trần Duy Bình – Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (2012) “Thực tiễn và một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 11, tháng 6/2012. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.
  • Nguyễn Quang Ngọc – Nguyên Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2013) “ Bàn về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 8, tháng 4/2013.
  • Thạc sỹ Nguyễn Văn Trượng (2013) “Hoàn thiện thủ tục xét xử vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 19,tháng 10/2013.
  • Thạc sỹ Nguyễn Thị Thúy Hằng, Giảng viên khoa Luật – Đại học Huế (2014) “Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 11, tháng 6/2014.
  • Thạc sỹ Nguyễn Văn Nhớ, Thẩm phán Tòa án Quân sự khu vực 1 – Quân khu 9 (2014) “Hoàn thiện quy định về quyền hạn, trách nhiệm của Chủ tọa phiên tòa trong tố tụng hình sự theo yêu cầu của cải cách tư pháp”. Tạp chí tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 14, tháng 7/2014.
  • Nguyễn Quang Lộc – Nguyên Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao “Kỹ năng viết Bản án hình sự sơ thẩm”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 17, tháng 9/2014.
  • “Đổi mới và tăng cường công tác thông tin – tuyên truyền về tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị”. Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân Tối cao số 02 – tháng 01/2015

2.2. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giải như:

  • Luận án Tiến sỹ của tác giả Đỗ Gia Thư (2006) “Cơ sở khoa học của việc xây dựng đội ngũ thẩm phán ở nước ta hiện nay”.
  • Tiến sỹ Phạm Văn Lợi (2004), “Chế định thẩm phán – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Nxb Tư pháp.

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay để làm sáng tỏ một số nội dung sau:

  • Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật về tố tụng hình sự hiện hành về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự.
  • Vai trò của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn thi hành.
  • Nhận diện được những hạn chế, bất cập và đề xuất những giải pháp hoàn thiện về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự.

3.2. Nhiệm vụ của đề tài

  • Nghiên cứu, phân tích, đánh giá những đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự để làm rõ thêm vai trò của Thẩm phán tương ứng với từng mô hình tố tụng hình sự.
  • Đánh giá những kết quả và hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta thời gian vừa qua.
  • Đề xuất một số vấn đề nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vai trò của Thẩm phán trước yêu cầu yêu cầu cải cách tư pháp đối với Ngành Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên nền tảng cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước về Nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử các vụ án hình sự đối với ngành Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

5.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay; Thẩm phán trong hoạt động thực tiễn xét xử.

Luận văn có tham khảo kinh nghiệm pháp luật tố tụng hình sự của một số quốc gia và một số công trình nghiên cứu của các tác giả, nhà khoa học pháp lý chuyên ngành.

5.2. Phạm vi nghiên cứu

Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự được thể hiện ở tất cả các giai đoạn xét xử như: giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Phạm vi nghiên cứu về Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng ở tất cả các giai đoạn trên có tính chất đa dạng, phức tạp và rộng lớn và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.

Tuy nhiên bản thân tác giả hiện đang công tác trong ngành thi hành án dân sự cấp huyện, vì vậy trong quá trình nghiên cứu viết Luận văn do nhận thức trong công tác nghiên cứu còn có mặt hạn chế, nên tác giả chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam ở giai đoạn xét xử sơ thẩm về các vụ án hình sự.

6. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận vì đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn là:

  • Kiến nghị những giải pháp để nâng cao tính độc lập trong mối quan hệ với các cơ quan, cá nhân bên ngoài hệ thống Toà án
  • Đổi mới về cơ chế hoạt động của Toà án trên cơ sở đó hoàn thiện vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự
  • Những kiến nghị nhằm hoàn thiện các tiêu chuẩn bổ nhiệm, nâng ngạch, chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán

7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Ngoài các phần Mở đầu, phần Kết luận và phần Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự
  • Chương 2: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của Thẩm phán và thực tiễn thi hành.
  • Chương 3: Một số vấn đề hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vai trò của Thẩm phán trước yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự

1.1.1. Khái niệm vai trò của Thẩm phán

Theo “Đại từ điển tiếng việt” của tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên) và một số đồng tác giả khác thì vai trò được hiểu như sau “Vai trò, chức năng, tác dụng của cái gì, hoặc của ai đó trong sự vận động, phát triển của nhóm, tập thể nói chung” [54, tr.1736].

Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp giao nhiệm vụ xét xử cho cơ quan Tòa án nhân dân và Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tòa án nhân dân thực hiện chức năng xét xử của mình thông qua các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc Thẩm quyền của Tòa án” [49, Điều 1].

Thẩm phán là người thay mặt cho Tòa án thực hiện chức năng xét xử, vì vậy thông qua hoạt động xét xử của mình thì Thẩm phán cũng góp phần về việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của nhân dân. Hoạt động của Thẩm phán là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.

Trong quá trình tố tụng, vai trò của Thẩm phán là rất quan trọng, thậm chí có thể cho rằng họ có vai trò gần như quyết định đến chất lượng trong quá trình tranh tụng. Mặc dù Thẩm phán không trực tiếp tham gia với tư cách là một chủ thể, nhưng với tư cách là người đại diện cho Nhà nước trong việc thực thi công lý, Thẩm phán còn có vai trò là trọng tài, là người hướng dẫn cho các bên đương sự thực hiện quyền tranh tụng theo đúng quy định của pháp luật. Thông qua kết quả tranh tụng, Thẩm phán đánh giá nội dung thực chất của vụ án, các chứng cứ, trên cơ sở đó căn cứ các quy định của pháp luật để ra một Bản án đúng đắn.

Ngoài ra Thẩm phán còn thể hiện vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân thông qua hoạt động xét xử. Thẩm phán đã thay mặt cho Tòa án nhân dân giáo dục công dân chấp hành nghiêm pháp luật, đồng thời phát huy tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Hoạt động tố tụng hình sự được chia ra nhiều giai đoạn khác nhau, tương ứng với mỗi giai đoạn đó có các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau. Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án và trong mỗi cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật quy định những người có thẩm quyền thực hiện các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Và những người đó được gọi là những người tiến hành tố tụng với địa vị pháp lý và vai trò hoạt động rất khác nhau. Những người tiến hành tố tụng này có chức năng nhiệm vụ và quyền hạn riêng nhưng đều có trách nhiệm là phát hiện nhanh chóng chính xác và xử lý công minh, kịp thời, khách quan mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Tại Toà án, những người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký toà án. Điều 66 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Thẩm phán có 4 ngạch gồm: Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp. Hoạt động xét xử của Thẩm phán được coi là một nghề đó là nghề xét xử. Thẩm phán đại diện cho quyền lực tư pháp, quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước là “tượng trưng cho khát vọng của mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội về chân, thiện, mỹ về một hệ thống tiêu chí đạo đức: sống làm người” [39, tr.37].

Thẩm phán là một chức danh tư pháp, theo Giáo sư, Tiến sỹ Võ Khánh Vinh: “Chức danh tư pháp bao gồm những người thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng, được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đẩy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật” [53, tr.43].

Do vậy, chức danh tư pháp theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký toà án, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên.

Trong các chức danh tư pháp thì Thẩm phán được xác định là một chức danh tư pháp quan trọng và có vai trò quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp.

Nghị Quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó xác định trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân và nâng cao kỹ năng thực hành nghề nghiệp của Thẩm phán. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm Thẩm phán như sau: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc Thẩm quyền của Tòa án”

Từ khái niệm trên thì vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Một là: Những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.

Hai là: Những quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.

  • Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán được quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013; Điều 65, 76 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 45 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015); Điều 11, 12, 13, 14, 15, 16 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán về nguyên tắc phải được xác định đầy đủ trên cơ sở vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của Thẩm phán trong tố tụng hình sự. Mặt khác, chúng phải được pháp luật quy định cụ thể rõ ràng và chặt chẽ. Có như vậy mới đảm bảo cho Thẩm phán hoàn thành hiệu quả nhiệm vụ xét xử của mình, tránh tình trạng tuỳ tiện hay lạm dụng quyền hạn trong thực tiễn xét xử.

Nhiệm vụ quyền hạn của Thẩm phán trong mỗi một giai đoạn lịch sử cụ thể cũng cần có những thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế song vẫn dựa trên những nguyên tắc chung của tố tụng hình sự và nhằm mục đích là thực hiện chức năng xét xử theo quy định của pháp luật.

  • Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tư pháp hình sự

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, thì tại phiên toà sơ thẩm hình sự, Chủ tọa phiên toà vừa là người tiến hành tố tụng vừa là người điều khiển toàn bộ hoạt động tố tụng tại phiên tòa của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác.

Với vai trò là người tiến hành tố tụng, chủ tọa phiên tòa phải thực hiện đầy đủ, chính xác các công việc mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định đối với chủ tọa phiên tòa, đồng thời chịu trách nhiệm chính về những vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự quy định đối với Hội đồng xét xử, thay mặt Hội đồng xét xử công bố những quyết định đã được thông qua trong phòng nghị án cũng như tại phòng xử án. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Với vai trò của người điều khiển phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải là người tổ chức, người chỉ huy cao nhất đối với mọi hoạt động tố tụng và hành vi tố tụng tại phòng xử án.

Thông qua hoạt động xét xử của mình mỗi một phán quyết của Thẩm phán có thể dẫn tới chỗ công dân, pháp nhân được hưởng quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu các nghĩa vụ nhất định, sai lầm trong hoạt động xét xử của Thẩm phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan, sai, nhất là trong lĩnh vực hình sự. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân mà có thể làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào pháp luật của Nhà nước ta.

Thông qua hoạt động xét xử của Thẩm phán cũng góp phần vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân.

Trong hoạt động xét xử để đưa ra được một phán quyết đúng pháp luật, Thẩm phán phải am hiểu về pháp luật, có hiểu biết về kiến thức xã hội, nắm bắt tâm lý của từng cá thể và có lương tâm của Người thẩm phán “Cơ sở của các phán quyết là pháp luật, nhưng kết quả của các phán quyết có công bằng, vô tư và khách quan hay không đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải có cái tâm trong sáng” [26, tr.38].

Thẩm phán phải có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin vào công lý. Bởi vì, trong quá trình xét xử Thẩm phán cũng sẽ không bao giờ dự liệu hết được mọi tình huống xảy ra trong thực tế. Có những quy định của pháp còn xung đột, không thống nhất, song khi xét xử Thẩm phán vẫn phải đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tòa án không chỉ là cơ quan bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của công lý, sự công bằng xã hội “Khi phải đối mặt với quan tòa, với công đường người dân chờ đợi sự công minh, sáng suốt. Tòa án là người đại diện của công lý và quan tòa là cán cân công lý” [8, tr.23].

1.1.2. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với các chức danh tư pháp khác Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Trong cơ quan Tòa án, Thẩm phán có rất nhiều mối quan hệ như quan hệ với lãnh đạo, quan hệ với Thẩm phán khác, quan hệ với Thư ký và các cán bộ làm các bộ phận khác của Tòa án. Tất cả các mối quan hệ này đều thể hiện vai trò trung tâm của Thẩm phán.

Quan hệ giữa lãnh đạo Tòa án với Thẩm phán: Chánh án, Phó Chánh án là những người lãnh đạo, quản lý toàn bộ hoạt động của cơ quan, đảm bảo hoạt động của Toà án với vai trò là một cơ quan nhà nước. Thẩm phán chỉ với tư cách là nhân viên, cán bộ trong cơ quan và đây là mối quan hệ quản lý hành chính. Chánh án, Phó Chánh án chỉ có thể quản lý về mặt con người và trong hoạt động nghiệp vụ thì không thể can thiệp vào công việc xét xử của Thẩm phán nhưng Thẩm phán phải chịu sự phân công công việc của lãnh đạo.

Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Thẩm phán: Đây là quan hệ mang tính chất tố tụng, trong hoạt động xét xử Thẩm phán hoàn toàn độc lập không bị phụ thuộc vào bất cứ ai cho dù là lãnh đạo Tòa án. Chánh án, Phó Chánh án cũng là Thẩm phán, khi tham gia hoạt động tố tụng thì các Thẩm phán đều có những quyền và nghĩa vụ giống nhau theo quy định của tố tụng.

Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân: Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của UBMTTQ cùng cấp, công tác Hội thẩm là công tác kiêm nhiệm họ không phải cán bộ Tòa án nhưng chịu sự phân công của Chánh án. Hội thẩm là những người đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử với mục đích đảm bảo tính dân chủ, Hội thẩm cũng có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử và khi xét xử vụ án, mọi vấn đề phải được Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Hội thẩm là mối quan hệ độc lập, tính độc lập ở đây thể hiện trên hai phương diện: độc lập với các cá nhân khác và độc lập với chính những thành viên trong Hội đồng xét xử. Nhưng trong hoạt động xét xử thì vai trò của Thẩm phán vẫn là trung tâm, được thể hiện trong toàn bộ quá trình xét xử từ phần thủ tục đến phần tuyên án.

Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Thư ký Tòa án: Điều 197 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 47 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) quy định Thư ký được Chánh án phân công tiến hành tố tụng, giúp Thẩm phán trong công tác chuẩn bị phiên tòa; trước khi bắt đầu phiên tòa, phổ biến nội quy phiên tòa; kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập…. Thư ký tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chánh án về những công việc của mình. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Mối quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên: Kiểm sát viên tham gia tố tụng theo sự phân công và chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng Viện Kiểm sát. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ công tác tư pháp trong thời gian tới quy định “Phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa..” [6]. Căn cứ vào kết quả điều tra, Kiểm sát viên có quyền lập bản cáo trạng, có quyền xét hỏi, tranh luận, rút toàn bộ hay một phần quyết định truy tố tại phiên toà. Kiểm sát viên không có quyền thay đổi nội dung buộc tội theo hướng tăng nặng đối với bị cáo. Ngoài chức năng trên Kiểm sát viên còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa, đây là hai chức năng gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử hỗ trợ cho chức năng thực hành quyền công tố. Nếu phát hiện bản án có vi phạm pháp luật, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu toà án khắc phục những vi phạm đó hoặc báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định cụ thể sự phối hợp này tuy nhiên đây là hai chức danh tư pháp chủ yếu trong tố tụng hình sự để tìm ra sự thật khách quan của vụ án tránh việc đưa ra phán quyết trái pháp luật, bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội.

Mối quan hệ giữa Thẩm phán và các chức danh bổ trợ tư pháp khác trong hoạt động tố tụng: Hoạt động bổ trợ tư pháp là hoạt động hỗ trợ cho cơ quan tư pháp thực hiện tốt chức năng, quyền hạn của mình. Các chức danh bổ trợ tư pháp bao gồm Giám định viên, Luật sư, Công chứng viên. Mỗi một chức danh này đều có vai trò, quyền và nghĩa vụ đặc trưng riêng nhưng có điểm chung là hoạt động của các chức danh này là cần thiết, tạo điều kiện thể hiện sự dân chủ, khách quan trong việc phán quyết của Thẩm phán. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Kiểm sát viên, Điều tra viên khác với mối quan hệ giữa Thẩm phán với các chức danh bổ trợ tư pháp khác xuất phát từ vị trí tố tụng của các chức danh này.

Quan hệ giữa Thẩm phán với các chức danh bổ trợ tư pháp như tác giả trình bày ở trên chỉ phát sinh trong những vụ án cụ thể và ngược lại. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

1.1.3. Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử và sự tác động đến vai trò hoạt động tố tụng Thẩm phán

Trong hoạt động tiến hành tố tụng, Thẩm phán thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự như: nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và trước Tòa án; nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án…

Trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự (Chương II Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003) thì các nguyên tắc về xét xử chi phối toàn bộ đến vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự, đó là: nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia; nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, đó là ba nguyên tắc có tính chất quyết định đến quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong khi thực hiện chức năng xét xử của mình.

  • Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Nguyên tắc trên được quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013, khoản 1 Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” [36]. Với những quy định trên thì ngoài cơ quan Tòa án không một cơ quan nhà nước nào khác có chức năng xét xử và cũng không có quyền can thiệp bằng cách này hay cách khác vào hoạt động xét xử của Tòa án. Nội dung của nguyên tắc này là đảm bảo tính khách quan, công bằng trong các quyết định do Tòa án đưa ra, đề cao trách nhiệm và tính tự chủ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.

Tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội thẩm phải trực tiếp xem xét những chứng cứ của vụ án chứ không phải chỉ căn cứ vào hồ sơ của vụ án hay chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra trong bản cáo trạng. Bản án của Tòa án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét toàn diện tại phiên tòa và Hội đồng xét xử dựa vào kết quả phiên tòa, căn cứ vào các quy định của pháp luật để xử lý vụ án và có quyền kết luận khác với ý kiến của quan điều tra, Viện kiểm sát.

Trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có thể tham khảo lắng nghe ý kiến của các bên, nhưng luôn phải thể hiện bản lĩnh của mình để xem xét mọi vấn đề một cách độc lập, không được để cho các ý kiến của bên ngoài làm thay đổi quyết định của mình. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Tại các Điều 185, Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (Điều 254 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) thì việc xét xử sơ thẩm hoặc trong những trường hợp đặc biệt của xét xử phúc thẩm thành phần Hội đồng xét xử gồm có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thì Hội thẩm nhân dân độc lập với Thẩm phán trong việc đưa ra ý kiến trình bày quan điểm của mình về vụ án.

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập khi xét xử còn được thể hiện trong quan hệ giữa Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới. Toà án cấp trên không thể can thiệp hoặc bằng các biện pháp hành chính buộc Tòa án cấp dưới xét xử theo ý mình vì Tòa án cấp trên chỉ có quyền quản lý về mặt con người đối với Tòa án cấp dưới chứ không có quyền can thiệp vào việc giải quyết từng vụ án cụ thể của Tòa án cấp dưới. Trong hoạt động tố tụng Tòa án cấp trên không được định hướng hoặc gợi ý cho Tòa án cấp dưới để xét xử mà chỉ là giải thích về mặt nghiệp vụ để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ khi áp dụng quy định pháp luật vào trong công tác xét xử.

Đảng lãnh đạo được thể hiện bằng việc đưa ra quan điểm, nguyên tắc, định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Đảng lãnh đạo về chính trị, tư tưởng về công tác tổ chức cán bộ trong ngành Tòa án. Đảng không can thiệp vào từng vụ án cụ thể mà chỉ ra đường lối chỉ đạo hoạt động xét xử trong từng giai đoạn.

Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không có nghĩa là Thẩm phán, Hội thẩm được xét xử tuỳ tiện mà phải xem xét đối chiếu với sự việc thực tế xảy ra và trên cơ sở các quy định đó sẽ đưa ra các pháp quyết của mình về hành vi phạm tội của bị cáo một cách chính xác phù hợp với diễn biến thực tế của vụ án, nếu độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử một chiều, chủ quan duy ý chí:

Thẩm phán và Hội thẩm không một bước xa rời pháp luật, không có bất kỳ một sự lẩn tránh nào đối với pháp luật, không tha thứ cho bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào [42, tr. 48]; Độc lập là điều kiện để Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật. Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử, mối quan hệ này là mối quan hệ ràng buộc [23, tr. 49]. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

  • Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia

Nguyên tắc trên được quy định tại Khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 8 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn, còn tại Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015 quy định “Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia, theo quy định của bộ luật này. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán [35, Điều 22].

Kinh nghiệm thực tiễn của Hội thẩm nhân dân cùng kỹ năng, bản lĩnh nghề nghiệp của Thẩm phán là sự kết hợp và bổ sung cho nhau để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án đảm bảo cho công tác xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự mọi sự việc phải được Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. Sự độc lập này thể hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ giai đoạn nghiên cứu hồ sơ đến giai đoạn xét xử vụ án tại phiên toà, cùng trao đổi, thảo luận bàn bạc những vấn đề cần thiết liên quan đến việc xét xử, cũng như dự tính các tình huống có thể xảy ra tại phiên toà và Thẩm phán không thể lấy kinh nghiệm xét xử và kiến thức chuyên môn nghiệp vụ của mình để áp đặt Hội thẩm theo ý kiến của mình đối với vụ án.

Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia có mối quan hệ song hành với nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Nếu không có sự độc lập như trên thì Hội thẩm nhân dân rất dễ bị phụ thuộc và chịu sự chi phối theo ý kiến của Thẩm phán. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

  • Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số

Nguyên tắc trên được quy định tại khoản 4 điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Điều 17 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 24 Bộ Luật tố tụng hình sự sủa đổi năm 2015) “Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn và thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do Luật tố tụng quy định”” [35]. Như vậy nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số là đảm bảo tính toàn diện, đầy đủ khách quan của Hội đồng xét xử.

Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số có quan hệ mật thiết với nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm tham gia, dù ở cấp xét xử nào, sơ thẩm hay phúc thẩm thì việc xét xử đều được tiến hành theo hội đồng chứ không phải do cá nhân Thẩm phán thực hiện.

1.2. Các mô hình tố tụng hình sự và vai trò của những người tiến hành tố tụng Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Theo giáo trình luật tố tụng hình sự của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội thì “tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật” [24, tr.13].

Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm của mọi Nhà nước luôn được quan tâm hàng đầu và để thực hiện có hiệu quả công tác này, các Nhà nước đều thành lập các cơ quan với chức năng là điều tra, truy tố, xét xử nhằm phát hiện và xử lý kịp thời người phạm tội, nhằm bảo vệ các quyền và tự do cá nhân, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội. Hoạt động của các cơ quan này được tiến hành theo một trình tự nhất định gọi là trình tự tố tụng hình sự.

Mô hình tố tụng hình sự ở nước ta trong quá trình phát triển đã chịu ảnh hưởng lớn từ mô hình tố tụng hình sự của các nước như Cộng hòa Pháp và Liên Xô trước đây, hai mô hình tố tụng hình sự trên vốn bắt nguồn từ truyền thống luật Châu Âu lục địa và đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình tố tụng thẩm vấn. Hệ thống pháp luật, hệ thống tư pháp của Pháp đã hiện diện ở nước ta trong gần 100 năm, bên cạnh hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp phong kiến bản xứ mô hình tố tụng trên đã ảnh hưởng sâu sắc đến truyền thống, tư duy pháp lý ở nước ta.

Sau năm 1945, từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980, tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp và hệ thống pháp luật nước ta chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của mô hình tố tụng Liên Xô. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, sự ảnh hưởng này được thể hiện đậm nét trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta.

Xét về bản chất thì mục đích cơ bản của tố tụng hình sự là nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án, xử lý đúng người đúng tội, không làm oan, sai người vô tội và mỗi quốc gia luôn chọn cho mình một mô hình tố tụng hình sự riêng. Tuy nhiên, căn cứ vào một số đặc điểm chung nhất, có thể phân chia thủ tục tố tụng hình sự của các nước trên thế giới hiện nay thành hai hệ thống hay còn gọi là hai mô hình tố tụng chủ yếu đó là: Hệ tố tụng thẩm vấn (hệ tố tụng xét hỏi) và hệ tố tụng tranh tụng. Ngoài ra, có quan điểm cho rằng có ba hệ thống tố tụng, ngoài hai hệ thống trên còn có hệ thống tố tụng pha trộn [51, tr.30].

Hệ tố tụng tranh tụng chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật án lệ như: Anh, Mỹ, Canada, Ôxtrâylia và một số nước là thuộc địa của Anh trước đây. Ví dụ, theo pháp luật của Mỹ “việc quyết định có tội hay không có tội là trách nhiệm của Bồi thẩm đoàn, còn Thẩm phán chỉ trên cơ sở kết luận của Bồi thẩm đoàn mà ra phán quyết về mức hình phạt đối với người phạm tội ” [17, tr.80]. Còn hệ tố tụng thẩm vấn chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật như: Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia “được phổ biến rộng rãi nhất trong thời đại chế độ chuyên chế” [46, tr.13]. “Hệ tố tụng thẩm vấn cho rằng sự thật có thể và phải tìm ra trong quá trình thẩm vấn điều tra. Vì rằng các bên có thể có ý định che dấu sự thật nên nhà nước phải tham gia sớm và liên tục vào việc thẩm vấn điều tra” [39, tr.122]. Sự phân chia các hệ thống tố tụng hình sự thành hệ tranh tụng và hệ thẩm vấn không có nghĩa là sự tranh tụng chỉ có trong hệ tranh tụng còn trong hệ thẩm vấn thì không có tranh tụng và ngược lại. Trong xã hội hiện đại, hai hệ thống tố tụng này đang chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau, đan xen lẫn nhau và trong mỗi hệ thống đều chứa đựng một số yếu tố của hệ thống còn lại.

Theo PGS.TS Nguyễn Thái Phúc (2007) thì mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn là mô hình tố tụng hình sự mà trong đó các chức năng cơ bản như chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử tập trung vào một cơ quan nhà nước. Mô hình này có các dấu hiệu đặc trưng sau: Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

  • Thứ nhất: Không có các bên độc lập vì hoạt động tích cực của các bên bị thay thế bởi hoạt động của cơ quan nhà nước trong tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng;
  • Thứ hai: Bị cáo hoàn toàn phụ thuộc vào cơ quan tiến hành tố tụng và là đối tượng xem xét của những cơ quan này;
  • Thứ ba: Không có sự tranh chấp pháp lý của các bên, thay vào đó là ý chí của Nhà nước, của pháp luật và ý chí của Nhà nước là động lực của tố tụng hình sự [31, tr.31].

Cả hai mô hình tố tụng trên đều có những điểm tương đồng, đó là:

Một là: Mục đích chung của cả hai mô hình tố tụng trên là tìm ra sự thật với nguyên tắc người phạm tội phải bị xử lý hình sự.

Hai là: Cả hai mô hình tố tụng trên đều được xây dựng dựa trên các nguyên tắc tư pháp dân chủ, công bằng, minh bạch. Đây là những nguyên tắc nhất quán để từ đó hình thành nên địa vị pháp lý của từng cơ quan cũng như của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong cả hai mô hình trên.

Ba là: Hệ tố tụng thẩm vấn cũng như tố tụng tranh tụng đều tiến hành từng bước theo các giai đoạn điều tra, truy tố, chuyển sang Tòa án để xét xử, các giai đoạn tố tụng trước nhằm phục vụ cho giai đoạn xét xử, đây là một chuỗi giai đoạn tố tụng được tiến hành theo một trình tự luật định và có mối quan hệ gắn bó mật thiết, không thể tách rời.

Hệ thống tố tụng tranh tụng và thẩm vấn có những điểm khác biệt và sự khác nhau thể hiện ở cách thức tiến hành, về vai trò của các chủ thể tham gia hoạt động tố tụng. Đối với hệ thống tố tụng thẩm vấn thì hoạt động tố tụng tập trung vào giai đoạn điều tra, còn trong mô hình tố tụng tranh tụng thì giai đoạn xét xử mọi phán quyết đều được căn cứ vào quá trình tranh tụng công khai tại phiên toà. Một điểm khác biệt nữa là vai trò của Thẩm phán thì trong hệ tố tụng thẩm vấn, Thẩm phán trực tiếp xét hỏi; còn trong hệ tố tụng tranh tụng thì Thẩm phán rất ít khi hoặc không tham gia xét hỏi mà chỉ là người điều khiển phần thẩm vấn cũng như phần tranh luận tại phiên toà. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Ngoài hệ tố tụng thẩm vấn và hệ tố tụng tranh tụng nêu trên, còn tồn tại một hệ tố tụng pha trộn có đặc trưng của cả hệ tố tụng thẩm vấn và hệ tố tụng tranh tụng đó là trước khi xét xử vụ án, toàn bộ quá trình điều tra vụ án không có tính công khai, việc bào chữa của bị can trong giai đoạn này bị hạn chế, Thẩm phán có quyền nghiên cứu hồ sơ trước khi vụ án được đưa ra xét xử và tại phiên toà Thẩm phán đóng vai trò trung tâm, tiến hành xét hỏi bị cáo, nhân chứng và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án để tìm ra sự thật khách quan. Bên cạnh việc Thẩm phán giữ vai trò trung tâm trong việc chứng minh tội phạm còn quy định vai trò của những người tham gia tố tụng khác như Luật sư, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự…

  • Theo bà Elisabeth Pelsez, thẩm phán Tòa án phúc thẩm Rouen (Mỹ):

Nhược điểm của tố tụng tranh tụng là làm nảy sinh sự bất bình đẳng giữa các bên trong vụ án hình sự, vì bên nào có nhiều tiền thuê luật sư thì sẽ có nhiều khả năng giành thắng lợi hơn, trong khi đó thủ tục xét hỏi khắc phục được nhược điểm này vì công tác điều tra do thẩm phán độc lập và khách quan đảm nhiệm. Nhược điểm thứ hai của tố tụng tranh tụng là nó rất phức tạp vì khi phiên tòa diễn ra chưa có gì khẳng định là chắc chắn cả nên đôi khi dẫn đến hệ quả nguy hiểm. Còn tố tụng xét hỏi bị chỉ trích là không tôn trọng đầy đủ quyền của các bên đương sự, vì chứng cứ do thẩm phán điều tra nên tố tụng xét hỏi bị coi là đi ngược lại nguyên tắc vô tư, khách quan, đôi khi Thẩm phán có sẵn trong đầu quyết định xét xử trước khi diễn ra giai đoạn xét xử, dưới gốc độ đó việc tranh luận trở nên vô nghĩa [27, tr.13].

  • Như vậy giữa 2 mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tố tụng tranh tụng đều có những ưu thế và những hạn chế của nó.

Qua việc phân tích, nghiên cứu đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự tác động và chi phối của nó đối với vai trò của các cơ quan tố tụng cũng như của người tiến hành tố tụng, đặc biệt là vai trò của Thẩm phán qua đó giúp cho việc từng quốc gia đưa ra lựa chọn áp dụng mô hình tố tụng thích hợp với điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và truyền thống pháp lý của mình và làm cơ sở cho việc xây dựng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tiến hành tố tụng và vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự.

1.3. Những yếu tố tác động đến vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

1.3.1. Yếu tố truyền thống pháp lý

Nguồn gốc thuộc địa có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự hình thành hệ thống pháp luật và để lại dấu ấn sâu sắc trong hệ thống pháp luật của các nước đã từng là thuộc địa, như hệ thống pháp luật Mỹ, Australia chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật Anh. Việc nghiên cứu lịch sử pháp luật cho phép tìm hiểu nguồn gốc của hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật ở đây được hiểu theo hai nghĩa:

Một là: Đó là hệ thống pháp luật của quốc gia như hệ thống pháp luật Việt Nam, hệ thống pháp luật Mỹ.

Hai là: Hệ thống pháp luật được hiểu là tập hợp một số hệ thống pháp luật quốc gia có nhiều điểm tương đồng, theo những tiêu chí nhất định như hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật Anh – Mỹ… Theo nghĩa còn được hiểu là truyền thống pháp luật. Hiện nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về cách phân chia các truyền thống pháp luật. Theo tác giả có bốn hệ thống pháp luật cơ bản là:

  • Hệ thống pháp luật tôn giáo, điển hình là hệ thống pháp luật các nước hồi giáo.
  • Hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đại diện là hệ thống pháp luật các nước như Pháp, Đức.
  • Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, đại diện là hệ thống pháp luật nước Anh, nước Mỹ.
  • Hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, đại diện là hệ thống pháp luật Liên Xô cũ và hệ thống pháp luật của các nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc.

Tương ứng với mỗi một truyền thống pháp luật thì vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự lại có những điểm khác nhau. Trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, do đặc điểm nguồn luật là luật bất thành văn nên các nước theo hệ thống này chấp nhận án lệ là nguồn luật chủ yếu và các Thẩm phán được giao quyền sáng tạo luật thông qua hoạt động xét xử; hệ thống luật Châu Âu lục địa Thẩm phán chỉ xác định sự thật của vụ án và tìm ra căn cứ pháp luật để áp dụng; hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa trao quyền cho Toà án tối cao được theo dõi, tổng kết thực tiễn xét xử của các Toà án cấp dưới. Trên cơ sở đó ban hành các Thông tư, Nghị quyết hướng dẫn xét xử, như vậy Thẩm phán ngoài nhiệm vụ xét xử ở một mức độ nào đó còn thực hiện nhiệm vụ lập pháp; còn hệ thống luật Hồi giáo, Thẩm phán được quyền độc lập giải thích kinh Koran và Sunna dựa trên sự hiểu biết của mình để áp dụng vào vụ án cụ thể. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Như phân tích ở phần trên, trong quá trình hình thành và phát triển yếu tố truyền thống pháp lý được các nhà khoa học pháp lý đã phân ra hai mô hình tố tụng gồm: hệ tố tụng xét hỏi thường được áp dụng trong truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa còn hệ tố tụng tranh tụng thường áp dụng trong truyền thống pháp luật Anh – Mỹ, ngoài ra còn có mô hình tố tụng hỗn hợp (pha trộn) thường được áp dụng trong hệ thống pháp luật tôn giáo và hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Còn về thực hiện vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự thì phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn mô hình tố tụng đối với các quốc gia. Đối với các nước lựa chọn mô hình tố tụng tranh tụng thì quyền, nghĩa vụ và vai trò của Thẩm phán được tập trung tại giai đoạn xét xử, vai trò chính của Thẩm phán trong khi xét xử là đảm bảo sự tuân thủ các thủ tục tố tụng. Ở nước Anh có câu thành ngữ “Thẩm phán nào mở miệng nói thì không còn suy nghĩ được” [47, tr. 96], còn ở Pháp, Thẩm phán đóng vai trò quyết định trong quá trình xét xử.

1.3.2. Yếu tố văn hóa pháp lý

Nói tới văn hoá pháp lý là nói tới con người, nói tới việc phát huy năng lực bản chất của con người trong các hoạt động pháp lý. Cơ sở của mọi hoạt động văn hoá pháp lý là khát vọng của con người hướng tới các giá trị pháp lý được định chuẩn bởi pháp luật. Các hoạt động đó về bản chất là hướng tới các giá trị tích cực và mang tính sáng tạo, phổ biến nên văn hoá pháp lý về nội dung cần được hiểu với nghĩa là luôn luôn hàm chứa các giá trị hữu ích, tích cực. Mọi hoạt động nếu xuất phát từ nhu cầu không chính đáng của con người đương nhiên sẽ không hàm chứa các giá trị văn hoá và văn hoá pháp lý “ở các nước phương Tây, tôn trọng pháp luật là một truyền thống. Đối với họ không có khái niệm tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật” [17, tr.190] việc tìm hiểu pháp luật ở phương Tây là quyền của mỗi công dân để nhằm mục đích bảo vệ chính lợi ích của mình tại Tòa án, còn ở Việt Nam thì chúng ta chịu nhiều ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo về đạo đức. Do vậy, tâm lý của người Việt là sợ pháp luật “Vạn bất đắc dĩ mới phải ra chốn công đường” [17, tr.183].

Văn hóa có một ảnh hưởng không thể phủ nhận đối với pháp luật. Văn hóa chính là cuộc sống, do đó, việc xây dựng pháp luật, theo lẽ tự nhiên, phải dựa trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là pháp luật phải có khả năng biến thành văn hóa để điều chỉnh cuộc sống. Chính điều này ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành vai trò của Thẩm phán trong pháp luật tố tụng hình sự, bởi vì ban hành một đạo luật không khó bằng việc đưa đạo luật đó vào cuộc sống. Chúng ta có thể căn cứ vào yếu tố chính trị, vào truyền thống pháp luật để quy định về vai trò, về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán, nếu không tính đến yếu tố văn hoá thì những quy định đó chỉ là lý thuyết, xa rời thực tiễn.

1.3.3. Những ảnh hưởng của phương thức tổ chức quyền lực nhà nước Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Cho dù Nhà nước có được tổ chức theo mô hình nào đi chăng nữa, thì quyền lực nhà nước vẫn luôn là thống nhất, nhưng vẫn phải có sự phân công và phối hợp và kiểm soát giữa 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền tư pháp là nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, hành pháp và đồng nghĩa với quyền xét xử do Toà án thực hiện, do vậy vị trí, vai trò của Toà án nói chung cũng như của Thẩm phán nói riêng phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng chỉ đạo của giai cấp cầm quyền. Ví dụ như ở Mỹ, ba nhánh quyền lực này luôn đối trọng và kiềm chế lẫn nhau, sự phân quyền diễn ra mạnh mẽ. Toà án thực sự giữ vai trò kiềm chế đối với các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp. Tòa án có quyền kiểm soát tính hợp hiến của luật “Ngay kể cả Tổng thống và Quốc hội cũng không được hỏi Tòa án tối cao về cách giải thích một đạo luật hay một dự án luật nếu như việc này không nằm trong trường hợp của một vụ kiện cụ thể” [17, tr.62], người Mỹ đề cao vai trò của Tòa án trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước của mình„’Tiếng nói của Tòa án là tiếng nói cuối cùng, sự giải thích của Tòa án về Hiến pháp có giá trị hơn quan điểm của Quốc hội và Tổng thống” 19, tr.68]. Chính vì vậy người ta coi Thẩm phán là một nghề cao quý trong xã hội. “Luật gia được trọng dụng nhất ở Anh là Thẩm phán” [47, tr.96]. Các Thẩm phán thường được chỉ định trong số các luật sư nổi tiếng. Nói chung các Thẩm phán Tòa án tư sản thường được bổ nhiệm với những nhiệm kỳ khá dài, thậm chí có những nước thực hiện chế độ bổ nhiệm Thẩm phán suốt đời nếu không phạm tội, Ở Pháp:

Thẩm phán có quyền bất khả bãi miễn [26, tr.145] và được bảo vệ trước mọi sự đe doạ và tấn công khi làm nhiệm vụ. Nhà nước phải bồi thường thiệt hại trực tiếp cho Thẩm phán nếu có những trường hợp mà pháp luật về bảo vệ không quy định. Thẩm phán không bị điều động sang bất kỳ công việc nào khác trừ trường hợp làm nghĩa vụ quân sự [54, tr.145],

Ở nước Australia (Úc) thì: “Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời, không ai có thể cách chức Thẩm phán trừ khi họ vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp và đạo đức. Việc bãi nhiệm Thẩm phán phải được đưa ra Quốc hội tiểu bang hoặc Liên bang với đa số tán thành thì mới được bãi nhiệm” [26, tr.144]. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Trong hoạt động xét xử của mình, các Thẩm phán phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc xét xử được quy định trong luật tố tụng của từng quốc gia để bảo vệ công lý, công bằng xã hội, tránh sự lợi dụng quyền lực của chính các Thẩm phán và cũng như để cho Thẩm phán tránh được mọi áp lực từ phía các quan chức nhà nước.

Ở nhà nước xã hội chủ nghĩa quy định nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước nhưng cũng thừa nhận sự độc lập xét xử của Tòa án. Sự độc lập của Tòa án trong nhà nước xã hội chủ nghĩa có những điểm khác so với sự độc lập trong nhà nước tư sản như sau:

  • Thứ nhất: Đối với nhà nước tư sản, Tòa án ngang bằng với Quốc hội và có thể tài phán về hành vi của Quốc hội.
  • Thứ hai: Ở các nước xã hội chủ nghĩa Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; cơ quan Tòa án ở vị thế thấp hơn nên không có quyền tài phán về hành vi của Quốc hội.

Như đã phân tích ở trên, tương ứng với sự khác biệt với hai hệ thống Tòa án ở hai chế độ nhà nước khác nhau thì vai trò của Thẩm phán đối với từng hệ thống cũng có sự khác biệt về vai trò pháp lý như: “Việc bổ nhiệm thẩm phán Tòa án liên bang Mỹ do Tổng thống bổ nhiệm và cố sự phê chuẩn của Thượng Nghị viện” [17, tr.74]; khác với các nước tư sản, Thẩm phán ở các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây thực hiện theo chế độ bầu cử “bởi vì nó gắn liền với tổ chức bộ máy nhà nước hoạt động theo cơ chế chủ tịch tập thể ra quyết định dưới hình thức nghị quyết” [39, tr.58]. Trong tác phẩm “Tinh thần của luật pháp”, Mongtexkio của nhà xuất bản Sài Gòn viết:

Sẽ không có tự do nếu quyền xét xử không được phân biệt với quyền lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền xét xử được sáp nhập vào quyền lập pháp thì sẽ không có tự do. Nếu quyền xét xử được sáp nhập vào quyền hành pháp thì thẩm phán sẽ trở thành những kẻ áp bức [28, tr.84]. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

Còn ở Việt Nam, chế độ bầu cử Thẩm phán được thực hiện từ 1960 đến năm 1992, trong giai đoạn trên pháp luật quy định Hội đồng nhân dân cấp nào thì bầu ra Thẩm phán Toà án nhân dân ở cấp đó. Nhưng đến Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án” [33, Điều 88, Khoản 3].

Ngoài các yếu tố trên, để hình thành nên vai trò trung tâm của Thẩm phán trong tố tụng hình sự còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng tới quá trình này. Tuy nhiên theo tác giả đây là ba yếu tố cơ bản nhất.

Kết luận Chương 1

Thẩm phán là một chức danh tư pháp có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ án hình sự “Lao động của thẩm phán là lao động trí não, đầy khó khăn, phức tạp đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội, của công dân” [26, tr.16].

Thẩm phán hoạt động trên những nguyên tắc cơ bản được quy định tại Hiến pháp, pháp luật tố tụng hình sự. Thẩm phán là một trong các chủ thể tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Việc nghiên cứu đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự giúp chúng ta có cơ sở khoa học để tìm hiểu về thực hiện quyền và nghĩa vụ và vai trò của Thẩm phán. Trong mỗi một mô hình tố tụng thì vai trò, quyền hạn của Thẩm phán đều khác nhau. Tuy nhiên, qua phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy vai trò trung tâm của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự, vai trò trung tâm này còn được thể hiện thông qua mối quan hệ với những người tiến hành tố tụng khác. Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự

One thought on “Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam”

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464