Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các quy định về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Ở nước ta trong những năm gần đây tội phạm nhận hối lộ đang có chiều hướng ngày càng gia tăng, vừa lan rộng về quy mô, vừa tinh vi về thủ đoạn gây nên những hậu quả nghiêm trọng. Tội phạm nhận hối lộ đã làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước và làm mất lòng tin của nhân dân đối với cơ quan công quyền. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, hối lộ. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nên cuộc đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ chưa đem lại nhiều kết quả. Do đó chúng ta cần phải nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các dấu hiệu của loại tội phạm này để từ đó có biện pháp ngăn chặn và xử lý, tránh bỏ lọt tội phạm.

Tội nhận hối lộ được quy định tại Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

  1. Gây hậu quả nghiêm trọng;
  2. Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;
  3. Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

  1. Có tổ chức;
  2. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;
  3. Phạm tội nhiều lần;
  4. Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;
  5. Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;
  6. Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;
  7. Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

  1. Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;
  2. Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

  1. Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;
  2. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [25, tr. 217-218].

2.1 CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CẤU THÀNH TỘI NHẬN HỐI LỘ

2.1.1 Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội nhận hối lộ Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Đối với tội nhận hối lộ các dấu hiệu thuộc về chủ thể là các dấu hiệu quan trọng nhất để xác định hành vi phạm tội, là dấu hiệu phân biệt sự khác nhau giữa tội nhận hối lộ và các tội phạm khác do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện.

Trước hết, người phạm tội nhận hối lộ phải là người có chức vụ, quyền hạn. Khoa học luật hình sự Việt Nam gọi đây là chủ thể đặc biệt của tội phạm. Đó là chủ thể mà ngoài hai đặc điểm là có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự còn đòi hỏi phải có thêm đặc điểm khác nữa về nhân thân thì mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội được mô tả trong cấu thành tội phạm [10, tr. 60-63]. Đặc điểm có thêm ở chủ thể của tội nhận hối lộ là dấu hiệu “có chức vụ, quyền hạn”. Theo quy định tại Điều 277 Bộ luật hình sự, người có chức vụ là “người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ” [25, tr. 216]. Ngoài khái niệm được nêu tại Điều 277 Bộ luật hình sự, những đối tượng cụ thể được coi là người có chức vụ, quyền hạn còn được xác định theo Điều 1 Khoản 3 của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, bao gồm:

  1. Cán bộ, công chức, viên chức;
  2. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
  3. Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
  4. Người được giao nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó [21].

Như vậy phạm vi người có chức vụ, quyền hạn theo luật hình sự Việt Nam được xác định bao gồm tất cả những đối tượng nêu tại Điều 1 Khoản 3 của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005. Những đối tượng này có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ tại các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan xét xử hoặc các cơ quan kiểm sát, ở tất cả các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Một điểm chung dễ nhận thấy ở những người này là dấu hiệu được giao công vụ và đang thực thi công vụ. Tuy nhiên, phạm vi khái niệm người có chức vụ, quyền hạn theo luật hình sự Việt Nam không chỉ dừng lại ở những nhân viên được giao vị trí công tác hoặc quyền hạn nhất định trong các cơ quan của bộ máy nhà nước. Khái niệm này còn được mở rộng tới đối tượng là những người có chức vụ trong các tổ chức xã hội, miễn là với chức danh của mình những người này có quyền ra những quyết định có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của người khác, ví dụ như chủ tịch công đoàn, bí thư đoàn thanh niên, tổ trưởng dân phố… Ngoài ra, những người không có một chức danh trong hệ thống cơ quan công quyền song được giao nhiệm vụ hoặc công vụ nhất định và có quyền hạn khi thực hiện công việc đó cũng có thể trở thành chủ thể của tội nhận hối lộ, ví dụ như người làm công tác dân phòng được giao nhiệm vụ giữ gìn trật tự, trị an khu dân cư có quyền hạn khi thực hiện công vụ đó. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Trong số các đặc điểm của người có chức vụ, quyền hạn thì đặc điểm chức năng, nhiệm vụ và thời điểm đang thực hiện công vụ là những dấu hiệu bắt buộc ở người có chức vụ, quyền hạn. Một tác giả cũng có nhận định tương tự như vậy: “dấu hiệu có ý nghĩa quyết định làm cơ sở để xác định một người có phải là người có chức vụ, quyền hạn hay không là tính chất của chức năng, nhiệm vụ mà người đó thực hiện và quyền hạn mà pháp luật quy định đối với người đó” [47, tr. 37].

Người có chức vụ, quyền hạn phải là người có trách nhiệm trong việc giải quyết những yêu cầu của người đưa hối lộ. Những yêu cầu đó có thể là những yêu cầu về lợi ích vật chất hoặc phi vật chất của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, người có chức vụ, quyền hạn khi giải quyết những yêu cầu của người đưa hối lộ phải là việc thực hiện công vụ. Nếu có chức vụ, quyền hạn khi giải quyết yêu cầu cho người khác để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất của họ, nhưng không phải là thực hiện công vụ thì không phải là nhận hối lộ.

Chủ thể của tội nhận hối lộ theo luật định chỉ có thể là người có chức vụ, quyền hạn. Tuy nhiên, không phải người có chức vụ, quyền hạn nào cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm này. Cấu thành tội phạm của tội nhận hối lộ theo Điều 279 Bộ luật hình sự đòi hỏi dấu hiệu “để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ”. Vì vậy, chủ thể của tội phạm này phải là người với chức vụ, quyền hạn của mình có thể thực hiện được việc làm hoặc không làm mà người đưa hối lộ yêu cầu. Nói một cách khác, đó phải là người “có trách nhiệm trong việc giải quyết những yêu cầu của người đưa hối lộ” [18, tr. 77]. Khả năng giải quyết việc mà người đưa hối lộ yêu cầu vừa gắn với tính chất của chức năng, nhiệm vụ, vừa gắn với thời điểm thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó của người có chức vụ, quyền hạn. Điều đó có nghĩa là người có chức vụ, quyền hạn chỉ có thể thực hiện được yêu cầu của người đưa hối lộ nếu việc làm hay không làm đó có liên quan trực tiếp tới việc thực thi chức trách của họ và được tiến hành vào thời điểm họ đang thực thi công vụ. Như vậy, người đã chấm dứt việc thực thi công vụ hoặc người không có khả năng thực hiện được yêu cầu của người đưa hối lộ đều không thể là chủ thể của tội nhận hối lộ.

Chủ thể của tội nhận hối lộ là chủ thể đặc biệt, tức là chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn mới nhận hối lộ được. Tuy nhiên, khẳng định này chỉ đúng với trường hợp vụ án nhận hối lộ không có đồng phạm, còn trong vụ án có đồng phạm thì có thể có những người không có chức vụ, quyền hạn nhưng họ chỉ có thể là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức, còn người thực hành trong vụ án nhận hối lộ có đồng phạm thì nhất thiết phải là người có chức vụ, quyền hạn.

Dù là người có chức vụ, quyền hạn hay người đồng phạm khác trong vụ án thì họ cũng chỉ trở thành chủ thể của tội phạm nhận hối lộ trong những trường hợp sau: Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2, Khoản 3 và Khoản 4 Điều 279 Bộ luật hình sự, vì các trường hợp nhận hối lộ quy định tại các khoản trên là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng [18, tr. 81]. Tuy nhiên, đối với những người này họ chỉ có thể là đồng phạm trong vụ án nhận hối lộ với vai trò giúp sức, vì những người này chưa thể trở thành cán bộ, công chức. Thực tiễn xét xử cũng có trường hợp người dưới 16 tuổi lại là người khởi xướng, giúp sức trong vụ án nhận hối lộ có đồng phạm như: được người có chức vụ, quyền hạn giao cho đi nhận tiền của người đưa hối lộ, được giao đưa thư, đưa tài liệu…

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 279 mà chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp này [18, 81-82]. Vì đối với tội nhận hối lộ quy định tại Khoản 1 của điều luật là tội phạm nghiêm trọng.

2.1.2. Dấu hiệu về mặt khách quan của tội nhận hối lộ

Đối với tội nhận hối lộ, các dấu hiệu khách quan cũng là những dấu hiệu rất quan trọng để xác định hành vi phạm tội, cũng như để phân biệt tội nhận hối lộ với tội phạm khác. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Mặt khách quan của tội nhận hối lộ được đặc trưng bằng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kì hình thức nào. Như vậy, đặc trưng cho mặt khách quan của tội phạm này là hành vi nhận “của hối lộ” bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là sử dụng chức vụ, quyền hạn vào việc thực hiện tội phạm. Lợi dụng chức vụ tức là lợi dụng chức danh công tác, chức trách hoặc quyền hạn được giao. Lợi dụng quyền hạn là lợi dụng quyền năng cụ thể được giao do có chức vụ hoặc do một căn cứ khác. Chính nhờ có chức vụ, quyền hạn chủ thể mới có khả năng giải quyết được việc người khác đang mong muốn và người có việc đưa hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn cũng vì chủ thể có khả năng này. Như vậy, hành vi nhận hối lộ chỉ có thể được thực hiện trong mối quan hệ với chức năng, quyền hạn của chủ thể. Mối quan hệ đó được một tác giả nhận định: “Hành vi nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ,… chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ” [18, tr. 84]. Tuy nhiên, chức vụ, quyền hạn phải được coi là điều kiện có tính quyết định, chứ không chỉ là điều kiện thuận lợi, để người phạm tội thực hiện được hành vi nhận của hối lộ. Chỉ thông qua thủ đoạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn chủ thể mới có thể nhận lợi ích vật chất để làm hoặc không làm việc mà người đưa hối lộ yêu cầu.

Hành vi khách quan của tội phạm nhận hối lộ được thể hiện ở những dấu hiệu sau: Trước hết, người phạm tội nhận hối lộ phải là người có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình. Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà mình có để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ. Có thể nói, thủ đoạn của tội tham ô và tội nhận hối lộ chỉ khác nhau ở mục đích thực hiện hành vi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ là do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện và hành vi nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ, nếu không có chức vụ quyền hạn thì họ khó có thể thực hiện việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ một cách dễ dàng [18, tr. 84]. Thứ hai, người phạm tội có việc lợi dụng chức vụ để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ thì mới bị coi là nhận hối lộ. Nếu hành vi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện không liên quan gì đến chức vụ, quyền hạn của họ thì dù họ có chức vụ, quyền hạn thì cũng không bị coi là nhận hối lộ.

Lợi dụng chức vụ quyền hạn để trực tiếp hoặc qua trung gian nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ. Trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ là trường hợp người nhận hối lộ trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ không thông qua người khác [18, tr. 86], ví dụ như A đưa hối lộ cho B bằng cách trực tiếp cầm tiền giao cho B hoặc chuyển tiền vào tài khoản của B tại Ngân hàng. Việc trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ thực tiễn không có nhiều vấn đề vướng mắc. Tuy nhiên, cần phân biệt trường hợp người trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người khác nhưng người đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác lại không phải là người đưa hối lộ, cũng không phải là người môi giới hối lộ nhưng người nhận tiền vẫn là người nhận hối lộ. Ví dụ: Trong vụ án Tân Trường Sanh, cán bộ Phòng chống buôn lậu Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh mỗi lần nhận “tiền thưởng” của người có trách nhiệm phát, họ chỉ biết đó là tiền do các chủ hàng “bồi dưỡng” còn cụ thể tiền đó ai đưa, ai nhận họ không quan tâm. Mặc dù người phát tiền cho họ không phải là người đưa hối lộ cũng không phải là người môi giới hối lộ, mà người đưa tiền thực chất là người được phân công chia của hối lộ trong vụ nhận hối lộ tập thể (có tổ chức).

Qua trung gian để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ là trường hợp người nhận hối lộ không trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ. Qua trung gian không nhất thiết phải là qua người thứ ba mà có thể qua nhiều người, nhiều khâu nhưng cuối cùng thì tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ cũng đến với người nhận hối lộ. Người nhận hối lộ không nhất thiết phải biết người đưa hối lộ là ai, chỉ cần biết đó là của hối lộ là đã bị coi là nhận hối lộ; còn nếu như có căn cứ xác định người nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác nhưng không biết đó là của hối lộ thì người nhận không bị coi là nhận hối lộ. Tuy nhiên, hiện nay thủ đoạn nhận hối lộ diễn ra rất phức tạp, thường thì người nhận hối lộ không trực tiếp nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ mà để cho cho người thân của mình như: bố, mẹ, vợ, chồng, con cái… nhận. Có trường hợp người thân của người phạm tội nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác thông qua những giao dịch mua bán tài sản như: Người đưa hối lộ mua tài sản của gia đình người nhận hối lộ với giá gấp nhiều lần giá trị thật của tài sản đó. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Hành vi nhận hối lộ sẽ cấu thành tội phạm khi người nhận hối lộ đã nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác mà người đưa hối lộ trực tiếp hoặc qua trung gian giao cho, tức là người nhận hối lộ đã chiếm hữu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác như: đã cầm tiền, đã cầm tài sản, tiền đã được chuyển vào tài khoản của mình trong ngân hàng… Trường hợp người nhận hối lộ sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là trường hợp người đưa hối lộ hứa sẽ giao tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác nhưng chưa có việc giao nhận của hối lộ, hai bên mới chỉ thỏa thuận về của hối lộ cũng đã cấu thành tội phạm nhận hối lộ.

Như vậy, hình thức nhận hối lộ không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với cấu thành tội nhận hối lộ, nhưng căn cứ vào hình thức ta xác định được thủ đoạn của hành vi nhận hối lộ do người phạm tội thực hiện. Trong nhiều trường hợp chính thông qua hình thức nhận hối lộ giúp ta xác định được đó là thủ đoạn nhận hối lộ hay chỉ là quan hệ xã hội khác [18, tr. 87]. Ví dụ trong trường hợp nhận quà biếu, ở một hoàn cảnh cụ thể này thì đó là thủ đoạn của hành vi nhận hối lộ, nhưng nếu như đặt nó trong một hoàn cảnh khác thì đó lại là mối quan hệ thuộc lĩnh vực đạo đức, tình cảm. Nhà làm luật quy định “dưới bất cứ hình thức nào” là nhằm bảo đảm không lọt bất cứ một thủ đoạn nào mà người phạm tội sử dụng để nhận hối lộ là rất cần thiết. Tuy nhiên, cũng do quy định này nên trong việc xác định đâu là thủ đoạn nhận hối lộ, đâu là quan hệ xã hội khác là một vấn đề cực kỳ phức tạp đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải đánh giá một cách tổng hợp tất cả các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện để từ đó tìm ra sự thật khách quan của sự việc.

Để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ: đây là dấu hiệu rất quan trọng thuộc mặt khách quan của tội phạm này và thực tiễn xét xử khi xác định dấu hiệu này của tội nhận hối lộ trong nhiều vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng còn có nhiều quan điểm khác nhau dẫn đến việc xác định hành vi phạm tội cũng rất khác nhau. Quan niệm chung của xã hội khi đánh giá một hành vi đưa và nhận hối lộ là phải có tiền thì mới được việc dù việc đó giải quyết đúng hay sai người có yêu cầu giải quyết không quan tâm. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ là trường hợp vì đã nhận hối lộ nên người phạm tội không thực hiện một việc mà lẽ ra họ phải thực hiện và do không thực hiện nhiệm vụ đó nên đã đem lại lợi ích cho người đưa hối lộ. Ví dụ: không ra lệnh thi hành án phạt tù để người bị kết án bỏ trốn hoặc hết thời hiệu thi hành án; không thi hành lệnh bắt tạm giam, để người phạm tội bỏ trốn; không bắt người đang trốn khỏi trại giam; không thi hành lệnh cưỡng chế giải phóng mặt bằng; không lập biên bản vi phạm trong trường hợp bắt được hàng lậu, hàng cấm… Khoa học luật hình sự coi trường hợp phạm tội này là không hành động, tức là không làm một việc mà pháp luật bắt người có chức vụ, quyền hạn phải làm.

Không làm một việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ là trường hợp cũng tương tự như trường hợp không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ, chỉ khác ở chỗ: lợi ích mà người nhận hối lộ đem lại không phải cho người đưa hối lộ mà là cho người khác mà người đưa hối lộ quan tâm, có thể là những người thân của người đưa hối lộ nhưng cũng có thể chỉ là bạn bè của người đưa hối lộ. Ví dụ: Phạm Văn P bị bắt về tội cướp tài sản và mặc dù P không yêu cầu, nhưng vì muốn lo cho P nhẹ tội, nên bố đẻ của P là Phạm Văn C đã đến gặp và đưa hối lộ cho Phạm Thanh B là điều tra viên được phân công điều tra vụ án số tiền là 45.000.000 đồng và nhờ B tìm cách làm giảm nhẹ tội cho P.

Tóm lại, bị coi là hành vi nhận hối lộ nếu người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình trực tiếp hoặc quan trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào.

Cũng như hậu quả của các tội phạm khác, hậu quả của tội nhận hối lộ là những thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất cho xã hội. Hậu quả của hành vi nhận hối lộ không phải là dấu hiệu bắt buộc, tức là dù hậu quả chưa xảy ra thì hành vi của người phạm tội vẫn cấu thành tội phạm [18, tr. 89]. Đối với tội nhận hối lộ, nhà làm luật quy định giá trị của hối lộ làm ranh giới phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm, nên có quan điểm cho rằng, giá trị của hối lộ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm và nếu chưa nhận hối lộ hoặc đã nhận hối lộ nhưng giá trị của hối lộ dưới mức quy định của điều luật thì chưa cấu thành tội phạm. Đây là sự nhầm lẫn giữa hậu quả của tội phạm với giá trị của hối lộ là dấu hiệu khách quan của tội phạm. Đối với tội nhận hối lộ nhà làm luật quy định giá trị của hối lộ từ 2.000.000 đồng trở lên thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn nếu dưới 2.000.000 đồng thì phải có thêm một trong những điều kiện như: gây hậu quả nghiêm trọng; đã bị xử lý kỷ luật về hành vi mà còn vi phạm; đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Quy định này không có nghĩa là trong mọi trường hợp người phạm tội đã nhận hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ 2.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng và ngay cả với hai trường hợp này nếu người phạm tội chưa nhận của hối lộ thì hành vi của họ vẫn cấu thành tội phạm nhưng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, nếu người phạm tội mới có ý định nhận hối lộ 2.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng và đã làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ nhưng chưa nhận được của hối lộ thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra đã là nghiêm trọng chưa.

2.1.3. Dấu hiệu về mặt khách thể của tội nhận hối lộ Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Có thể xác định được ngay khách thể của tội nhận hối lộ là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, cao hơn là chính thể bị sụp đổ.

Hầu hết hành vi nhận hối lộ của người có chức vụ, quyền hạn là làm trái công vụ được giao, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức mà mình là thành viên, cá biệt có trường hợp người có chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ nhưng vẫn làm đúng chức năng nhiệm vụ, nhưng cho dù có làm đúng đi nữa thì hành vi nhận hối lộ của họ cũng đã xâm phạm đến uy tín của cơ quan, tổ chức mà họ là thành viên. Ví dụ: do sơ suất Ông Đinh Văn D làm mất và đang làm thủ tục xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định của pháp luật thì Nguyễn Văn A là cán bộ địa chính có trách nhiệm hoàn thiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D, nhưng A vẫn sách nhiễu gây khó khăn cho ông D. Do vậy để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh ông D đã đưa cho A số tiền là 10.000.000 đồng. Cho dù việc làm của A là đúng pháp luật, nhưng uy tín của cơ quan mà A là nhân viên bị mang tiếng là cái gì cũng phải có tiền mới xong. Tình trạng này hiện nay ở nước ta đang diễn ra rất phổ biến, nhất là đối với các cơ quan hành chính nhà nước. Vì vậy, dù người có chức vụ, quyền hạn giải quyết đúng pháp luật nhưng việc nhận tiền để giải quyết theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì hành vi này vẫn xâm phạm đến hoạt động và ảnh hưởng tới uy tín của cơ quan, tổ chức. Yếu tố uy tín của cơ quan, tổ chức cần được duy trì vì sự vững mạnh và phát triển lâu bền của các thiết chế đó cũng như của bộ máy nhà nước. Hành vi nhận hối lộ đã làm mất đi những đức tính phải có ở những người làm việc nhân danh quyền lực công (và cũng là quy tắc nghề nghiệp đặt ra đối với người có chức vụ, quyền hạn) như trung thực, vô tư, công bằng; do đó làm giảm sút sự tín nhiệm và tôn trọng của công dân đối với người có chức vụ, quyền hạn nói riêng và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Hành vi phạm tội nhận hối lộ đã tác động đến hoạt động thực thi công vụ của người có chức vụ, quyền hạn để người này làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Luật hình sự Việt Nam không đòi hỏi việc làm hoặc không làm này phải là hành vi trái pháp luật. Tuy điều luật không quy định trực tiếp song quan điểm được thừa nhận chung cũng như thực tiễn xét xử cho thấy hành vi của người có chức vụ, quyền hạn nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để làm hoặc không làm một việc hợp pháp hoặc một việc đúng với chức năng, quyền hạn của người đó vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ vẫn bị coi là tội phạm [18, tr. 82]. Ví dụ như hành vi của cán bộ công an làm việc tại cửa khẩu sân bay nhận tiền để đóng dấu vào giấy tờ nhập cảnh đã có đủ thủ tục theo yêu cầu, hành vi nhận tiền để cấp cứu bệnh nhân của bác sĩ trực cấp cứu… Hành vi làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ nêu trên mặc dù không trái pháp luật song vẫn làm giảm uy tín các cơ quan công quyền và do đó vẫn gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức. Nếu nhận hối lộ để làm hoặc không làm một việc mà hành vi đó có đủ dấu hiệu cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ và tội phạm độc lập kia. Ví dụ: vì nhận tiền của người nhà bị can nên kiểm sát viên không truy tố bị can mặc dù sau khi nghiên cứu hồ sơ thấy có đủ căn cứ để truy tố. Trường hợp này hành vi của kiểm sát viên đã cấu thành tội nhận hối lộ và tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội (Điều 294 Bộ luật hình sự). Việc làm hay không làm vì lợi ích của người đưa hối lộ là những việc khi được thực hiện đem lại lợi ích cho bản thân người đưa hối lộ hoặc cho người nào đó mà người đưa hối lộ cần, ví dụ như lợi ích đem lại cho người thân của người này hoặc cho cơ quan, tổ chức nào đó. Việc làm hay không làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ là việc mà người đưa yêu cầu người nhận hối lộ thực hiện tuy không đem lại lợi ích cụ thể cho người đó, ví dụ như việc đưa hối lộ cho cán bộ công an xã để yêu cầu người nhận đưa một người nghiện ma túy trong xã vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mặc dù người nghiện đó không có mối quan hệ nào với người đưa hối lộ.

Đối tượng tác động của tội nhận hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác. Về tiền hoặc tài sản thì không có vấn đề gì cần phải trao đổi nhưng đối với lợi ích vật chất khác thì có nhiều ý kiến khác nhau: Có ý kiến cho rằng điều luật quy định lợi ích vật chất khác là không cần thiết. Bởi lẽ, ngoài tiền hoặc tài sản ra thì khó có thể xác định được lợi ích vật chất khác là gì, vì đã là lợi ích vật chất thì chỉ tồn tại dưới hai dạng tiền hoặc tài sản, ngoài tài sản và tiền bạc ra không thể xác định lợi ích vật chất nào khác [18, tr. 83]. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp người nhận hối lộ không nhận tiền hoặc tài sản, nhưng cái mà họ được từ người đưa hối lộ lại là một lợi ích vật chất, nhưng lợi ích này không tính ra tiền được hoặc tính ra được bằng tiền. Ví dụ: hứa cho thăng chức, hứa cho đi học nâng cao nghiệp vụ, chỗ học cho con của người công chức trong trường nổi tiếng v.v… [30, tr. 37] các lợi ích này tuy là lợi ích vật chất nhưng lại không tính ra được bằng một số tiền cụ thể, nó cũng không tồn tại dưới dạng tài sản cụ thể. Chính vì vậy, nhà làm luật quy định lợi ích vật chất khác cũng là để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay. Ngoài ra, hiện nay còn một hình thức hối lộ đặc biệt khác mà “của hối lộ” không phải là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác đó là “hối lộ tình dục”. Nó liên quan đến yếu tố giới tính, tình dục, đến bản năng sinh lý con người. Nhưng vì nó có thể kéo theo sự bất an, bất ổn của đời sống gia đình con người, nên rất khó “đụng chạm”, dù loại hình hối lộ này chẳng hề mới mẻ gì trong xã hội ta. Có điều, tính chất của tội này nhạy cảm, phức tạp, tế nhị nên có khi trong cộng đồng, tất cả mọi người đều hiểu nhưng rất khó phát hiện, rất khó để đưa ra chế tài xử lý. Vì thế về danh chính ngôn thuận, đây vẫn là hình thức hối lộ lần đầu tiên được đề cập. Một kiểu hối lộ dù có được trả giá bằng các hợp đồng kinh doanh hay tiền bạc thì nó vẫn rất rẻ mạt. Khái niệm hối lộ tình dục chỉ mới mẻ bởi lần đầu tiên được phơi bầy ra ánh sáng ở nước ta chứ nó không hề xa lạ trên thế giới. Thậm chí nhiều vụ hối lộ tình dục khi đưa ra trước pháp đường còn gây chấn động cả các quốc gia. Tại nhiều nước tiên tiến, luật pháp đều quy định hối lộ tình dục bị xếp vào hàng tội phạm tham nhũng. Và những án phạt tù nghiêm khắc với những nhân vật nhận hối lộ tình dục như ở các quốc gia nói trên đều đã được tuyên. Công ước quốc tế đã quy định hối lộ tình dục thuộc phạm trù hối lộ “phi vật chất”. Nhiều chuyên gia quốc tế và các tổ chức quốc tế đều cho rằng, những quy định về hối lộ tình dục trong hệ thống luật pháp quốc tế nên được nghiên cứu theo hướng nội hóa vào luật pháp Việt Nam để đảm bảo chống tệ nạn tham nhũng nói chung và nhận hối lộ nói riêng một cách triệt để. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

2.1.4. Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội nhận hối lộ

Các điều luật quy định tội phạm nhận hối lộ không nêu cụ thể hình thức lỗi của tội phạm này và đây có thể xem là một điểm bất cập của luật hình sự. Tuy nhiên, lỗi của người phạm tội về hối lộ được thừa nhận cả về lý luận cũng như trong thực tiễn xét xử là lỗi cố ý trực tiếp. Bản thân dấu hiệu hành vi về mặt khách quan của tội nhận hối lộ cũng giúp phản ảnh lỗi cố ý trực tiếp của người phạm tội. Như vậy có thể khẳng định rằng lỗi cố ý trực tiếp là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội nhận hối lộ. Vì đây là tội phạm có cấu thành hình thức nên việc xác định lỗi chỉ cần dựa trên nhận thức và thái độ của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội. “Ở các tội có cấu thành tội phạm hình thức, hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu bắt buộc nên việc xác định ý chí đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội không được đặt ra” [37, tr. 141]. Dấu hiệu ý chí chỉ thể hiện người phạm tội nhận hối lộ nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà vẫn thực hiện hành vi, không đòi hỏi người đó mong muốn hậu quả của tội phạm xảy ra.

Lỗi cố ý trực tiếp ở tội nhận hối lộ trước hết đòi hỏi chủ thể phải nhận thức được tính chất thực tế của hành vi của mình là hành vi nhận “của hối lộ” để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Đòi hỏi này giúp phân biệt trường hợp có lỗi với trường hợp người có chức vụ, quyền hạn nhầm tưởng rằng mình được nhận quà biếu đơn thuần hoặc quà cảm ơn. Bên cạnh đó, lỗi cố ý trực tiếp cũng đòi hỏi chủ thể khi thực hiện hành vi nhận hối lộ nhận thức rõ hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ là hành vi xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của bộ máy nhà nước. Chủ thể hiểu rõ tính trái quy tắc hoạt động công chức, công vụ cũng như tính trái pháp luật hình sự của hành vi của mình. Tuy nhiên, chủ thể vẫn mong muốn thực hiện hành vi nhận của hối lộ và tự quyết định thực hiện hành vi đó. Không thể cho rằng trong những trường hợp người có chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ theo đề nghị của người đưa hối lộ họ không có lỗi cố ý trực tiếp hoặc mức độ lỗi của họ thấp vì họ bị động làm theo yêu cầu của người đưa. Người có chức vụ, quyền hạn với tính chất của vị trí công tác hoặc của công việc được giao hoàn toàn nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhận hối lộ. Họ có toàn quyền quyết định việc nhận hay từ chối “của hối lộ”. Nói một cách khác, họ được tự do hoàn toàn trong việc lựa chọn có thực hiện hành vi nhận “của hối lộ” để làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ hay không. Với vị trí công tác hoặc quyền hành của mình người có chức vụ, quyền hạn có thể được coi là người có thế mạnh trong mối tương quan với hoàn cảnh của người đưa hối lộ và vì vậy không thể nói họ là người bị động hay bị ép buộc. Do đó, lỗi của người phạm tội nhận hối lộ luôn được xác định là lỗi cố ý trực tiếp, kể cả đối với trường hợp họ là người được đề nghị nhận hối lộ.

Tuy điều luật quy định đã nhận hoặc sẽ nhận, nhưng không vì thế mà cho rằng ý định nhận hối lộ của người phạm tội có sau khi thực hiện hành vi phạm tội, cho dù người phạm tội sẽ nhận của hối lộ sau khi làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì người nhận hối lộ vẫn có ý định nhận của hối lộ trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Mục đích của người phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Nếu người phạm tội không có ý định nhận của hối lộ thì dù họ có làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì cũng không phải nhận hối lộ. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Trên đây là các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội nhận hối lộ. Nhìn vào các quy định về tội này có thể thấy hành vi chỉ cấu thành tội phạm khi thỏa mãn thêm một trong những dấu hiệu khác do luật định. Cụ thể, hành vi với những đặc điểm đã phân tích ở trên chỉ cấu thành tội nhận hối lộ nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 279 Bộ luật hình sự. Đó là trường hợp nhận của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc tuy của hối lộ có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi nhận hối lộ mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội phạm về tham nhũng, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” trong trường hợp nhận của hối lộ dưới hai triệu đồng hiện nay vẫn chưa được giải thích chính thức bằng một văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, thiếu sót này thực tế đã gây khó khăn cho công tác áp dụng pháp luật. Có quan điểm cho rằng “Hậu quả nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và những thiệt hại phi vật chất cho xã hội” [18, tr. 97]. Tác giả quan điểm này đã đưa ra một số dạng hậu quả để minh họa như hậu quả làm chết một người, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên… Đây cũng chính là những loại hậu quả đã được nêu ra trong một vài văn bản hướng dẫn của cơ quan áp dụng luật đối với một số nhóm tội phạm khác được xem là có tính nguy hiểm cho xã hội tương đương với tội nhận hối lộ. Tuy nhiên, khi xác định dấu hiệu “hậu quả nghiêm trọng” cần thấy rằng đó phải là những hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi nhận hối lộ, chứ không nên là những hậu quả mang tính suy diễn chủ quan. Một số tác giả khác cho rằng, khi nói đến hậu quả của một vụ hối lộ là nói đến tác hại tổng hợp của hành vi hối lộ về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, dựa trên những tình tiết như tác hại của hành vi mà người nhận hối lộ làm theo yêu cầu của người đưa hối lộ, vị trí chức vụ của người nhận hối lộ… tuy nhiên tình tiết quan trọng nhất nói lên mức độ tác hại của một vụ hối lộ là tính chất sai trái của hành vi mà người nhận hối lộ sử dụng chức vụ, quyền hạn để làm theo ý muốn của người đưa hối lộ. Quan điểm nêu trên là khá hợp lý, việc xác định hậu quả của hành vi nhận hối lộ cần dựa vào tác hại tổng hợp của hành vi mà chủ yếu nhất là tác hại gây ra cho hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và sự suy giảm uy tín của người có chức vụ, quyền hạn cũng như của các thiết chế này đối với người dân. Những tình tiết có giá trị nhất đối với việc đánh giá dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” ở đây là tính chất sai trái của việc làm hay không làm mà người nhận hối lộ chấp nhận thực hiện theo yêu cầu của người đưa hối lộ; vị trí công tác và tầm ảnh hưởng của người nhận hối lộ trong cơ quan, tổ chức hoặc trong bộ máy nhà nước và ảnh hưởng xấu của hành vi nhận hối lộ đối với việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước.

2.2 CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

2.2.1. Phạm tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự

Phạm tội ở Khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự là cấu thành cơ bản của tội nhận hối lộ, có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. So với tội nhận hối lộ quy định tại Khoản 1 Điều 226 trong Bộ luật hình sự năm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1997), thì Khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 không nặng hơn và cũng không nhẹ hơn, có mức cao nhất và mức thấp nhất của khung hình phạt là giống nhau [18, tr. 54]. Tuy nhiên căn cứ vào các dấu hiệu quy định tại khoản 1 của Điều 279 thì khoản 1 Điều 279 có lợi cho người phạm tội hơn khoản 1 Điều 226. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự năm 1985 không quy định tình tiết “đã bị kết án về một trong các tội quy định tại mục A Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” là yếu tố định tội. Khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định lại là “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” cũng là quy định có lợi hơn cho người phạm tội. Do đó, hành vi nhận hối lộ xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01/7/2000 mới bị phát hiện xử lý thì căn cứ vào các quy định tại khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 để xác định hành vi phạm tội, nhưng khi quyết định hình phạt thì vẫn phải áp dụng khoản 1 Điều 226 Bộ luật hình sự năm 1985 đối với người phạm tội [18, tr. 100].

Phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 là tội phạm nghiêm trọng vì có mức cao nhất của khung hình phạt là bảy năm tù, nên đối với người phạm tội dưới 16 tuổi mà thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 279 thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, như được phân tích ở phần các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm thì người dưới 16 tuổi khó có thể trở thành chủ thể của tội nhận hối lộ theo khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự. Nhưng về lý thuyết thì cũng có thể xảy ra bởi vì người dưới 16 tuổi vẫn có thể nhận hối lộ trong trường hợp người này giữ một chức vụ trong trường học như: lớp trưởng, bí thư chi đoàn…[18, tr. 100].

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhận hối lộ theo quy định khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999, Tòa án cần căn cứ vào các quy định hình phạt tại Chương VII Bộ luật hình sự. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc nếu có nhưng mức tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới 2 năm tù), nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì được hưởng án treo. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù. Nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau thì: Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

  • Người phạm tội thuộc nhiều trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự bị phạt nặng hơn người phạm tội chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 1 của điều luật;
  • Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự sẽ được áp dụng hình phạt thấp hơn người phạm tội không có hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ;
  • Người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự sẽ bị áp dụng hình phạt nặng hơn người phạm tội không có hoặc có ít tình tiết tăng nặng;
  • Người phạm tội đã nhận được của hối lộ phải bị phạt nặng hơn người phạm tội chưa nhận được của hối lộ; giá trị của hối lộ càng lớn, hình phạt càng nặng và ngược lại;
  • Người phạm tội đã tự nguyện nộp lại của hối lộ thì được giảm nhẹ hình phạt hơn người không nộp lại của hối lộ [18, tr. 100].

Trường hợp người phạm tội chỉ nhận hối lộ dưới 2.000.000 đồng thì phải là người trước đó đã bị xử lý kỷ luật về hành vi nhận hối lộ bằng một trong những hình thức kỷ luật theo quy định của Nhà nước hoặc theo quy định của Điều lệ của tổ chức và chưa hết thời hạn được xóa kỷ luật, nay lại có hành vi nhận hối lộ. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý kỷ luật, nhưng vì hành vi khác không phải là hành vi nhận hối lộ thì cũng chưa cấu thành tội phạm này. Ví dụ: Nguyễn Thế H là cán bộ tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã bị xử lý kỷ luật cảnh cáo về hành vi thiếu trách nhiệm trong việc thẩm định tài sản thế chấp nên Ngân hàng đã cho vay không đúng với quy định. Trong thời gian chưa quá một năm kể từ ngày có quyết định kỷ luật, H lại nhận hối lộ 1.500.000 đồng của Phùng Tuấn A để xác định không đúng giá trị tài sản thế chấp để A được vay 500.000.000 đồng của Ngân hàng. Mặc dù H đã bị xử lý kỷ luật nhưng không phải là do hành vi nhận hối lộ mà là do hành vi thiếu trách nhiệm nên hành vi nhận 1.500.000 đồng chưa cấu thành tội nhận hối lộ.

Nếu người phạm tội nhận hối lộ giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị kết án về trong các tội quy định tại mục A (Các tội về tham nhũng) trong chương này (Các tội phạm về chức vụ), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì hành vi nhận hối lộ đã cấu thành tội phạm và người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ. Đã bị kết án về tội quy định tại mục A chương này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm là trường hợp, trước khi thực hiện hành vi nhận hối lộ dưới hai triệu đồng, người phạm tội đã bị Tòa án kết án về một trong các tội: Tội tham ô tài sản (Điều 278); tội nhận hối lộ (Điều 279); tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 280); tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 281); tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 282); tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 283) và tội giả mạo trong công tác (Điều 284), nhưng chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 77 Bộ luật hình sự. Nếu người phạm tội bị kết án về tội phạm khác (không phải là một trong 7 tội phạm trên) hoặc tuy đã bị kết án về một trong 7 tội phạm trên nhưng đã được xóa án tích thì cũng chưa cấu thành tội nhận hối lộ.

Nếu người phạm tội nhận hối lộ dưới 2.000.000 đồng mà gây hậu quả nghiêm trọng thì cũng cấu thành tội phạm. Trong trường hợp này thì hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội nhận hối lộ. Hậu quả nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và những thiệt hại phi vật chất cho xã hội.

Tuy chưa có hướng dẫn thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra nhưng đối chiếu với hướng dẫn về các tội phạm phác trong Bộ luật hình sự, thì có thể coi các thiệt hại sau là hậu quả nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra:

  • Làm chết một người; Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, trong đó không có người nào có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng;
  • Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng [18, tr. 100].

2.2.2. Phạm tội nhận hối lộ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự

  • Có tổ chức

Cũng tương tự như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, nhận hối lộ có tổ chức là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên, không phải vụ án nhận hối lộ có tổ chức nào cũng có đủ những người giữ vai trò như trên, mà tùy từng trường hợp có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi giục hoặc người giúp sức, nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành [18, tr. 101]. Các yếu tố xác định phạm tội có tổ chức được quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên phạm tội nhận hối lộ có tổ chức có những đặc điểm riêng như: người thực hành trong vụ án nhận hối lộ có tổ chức phải là người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trực tiếp hoặc qua trung gian nhận của hối lộ. Nhận hối lộ có tổ chức thường khó bị phát hiện, vì có sự cấu kết, phân công vai trò, trách nhiệm của từng người đồng phạm.

Trong những năm gần đây, nhận hối lộ có tổ chức với quy mô lớn thường được tổ chức rất chặt chẽ và kèm theo hành vi nhận hối lộ là hành vi tham ô, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, thiếu trách nhiệm và những hành vi khác gây thiệt hại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đến lợi ích của cơ quan, tổ chức [18, tr. 102].

  • Lạm dụng chức vụ, quyền hạn Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Người phạm tội nhận hối lộ nhất thiết phải là người lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì mới nhận được hối lộ. Nếu chỉ có lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà mình có thì đó chỉ là tình tiết là yếu tố định tội, nhưng nếu người nhận hối lộ lại lạm dụng chức vụ, quyền hạn mà mình có để nhận hối lộ thì lại là yếu tố định khung hình phạt. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn là làm một việc vượt quá chức vụ, quyền hạn mà mình có (vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình) như: Cán bộ quản lý thị trường ra lệnh khám nhà, khám người; Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường ra lệnh bắt người tạm giữ hoặc tạm giam v.v… Để lạm dụng chức vụ, quyền hạn, trước hết người phạm tội phải có chức vụ, quyền hạn nhưng đã sử dụng vượt quá chức vụ, quyền hạn đã có. Nếu một người không có chức vụ, quyền hạn gì nhưng lại mạo danh là mình có chức vụ quyền hạn đó để lấy của hối lộ thì hành vi đó không phải là lạm dụng chức vụ, quyền hạn để nhận hối lộ mà là lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự [18, tr. 103]. Thông thường, người phạm tội trong trường hợp này chỉ lạm dụng quyền hạn, chứ ít khi lạm dụng chức vụ. Tuy nhiên, quyền hạn bao giờ cũng gắn liền với chức vụ, nên khi nói đến lạm quyền cũng là lạm dụng chức vụ. Trước đây, thuật ngữ “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” và “lạm dụng chức vụ, quyền hạn” được hiểu như nhau. Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản của công dân đã dùng thuật ngữ “lạm dụng chức quyền” để chỉ hành vi phạm tội lạm dụng chức quyền để chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 8) và được giải thích là: “Lạm dụng chức quyền có thể là làm trong phạm vi quyền hạn của mình hoặc vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình” [18, tr. 104]. Quá trình phát triển của pháp luật hình sự và qua thực tiễn xét xử các nhà làm luật thấy cần thiết phải phân biệt hai thuật ngữ “lạm dụng chức vụ, quyền hạn” và “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”. Lạm dụng là có ít mà dùng nhiều, dùng quá mức, vượt ra khỏi phạm vi được phép. Trong cuộc sống chúng ta cũng thường gặp khái niệm lạm dụng như: Lạm dụng việc sử dụng thuốc tân dược, lạm dụng việc sử dụng thuốc trừ sâu, lạm dụng các chất bảo quản thực phẩm. v.v… và thuật ngữ lạm dụng đã được sử dụng đúng với nghĩa của nó.

  • Phạm tội nhiều lần Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Phạm tội nhận hối lộ nhiều lần là có từ hai lần nhận hối lộ trở lên và mỗi lần nhận hối lộ đều đã cấu thành tội phạm, không phụ thuộc vào khoảng cách thời gian từ lần phạm tội trước với lần phạm tội sau. Tuy nhiên, chỉ coi là phạm tội nhiều lần nếu tất cả những lần phạm tội đó chưa bị xử lý bằng các hình thức: kỷ luật, phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự… Nếu trong các lần phạm tội đó đã có lần bị xử lý kỷ luật, bị phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì không được tính để xác định là phạm tội nhiều lần [18, tr. 104].

  • Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước

Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước là trường hợp người nhận hối lộ biết rõ tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là tài sản Nhà nước mà vẫn nhận. Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định tài sản của Nhà nước mà chỉ quy định tài sản xã hội chủ nghĩa. Việc nhà làm luật thay đổi khái niệm tài sản xã hội chủ nghĩa bằng khái niệm tài sản của Nhà nước không chỉ đơn thuần thay đổi về tên gọi tính chất tài sản mà nó làm thay đổi tính chất, phạm vi áp dụng đối với hành vi phạm tội nói chung và tội nhận hối lộ nói riêng. Tài sản xã hội chủ nghĩa có nội hàm rộng hơn tài sản của Nhà nước. Tài sản xã hội chủ nghĩa bao gồm cả tài sản của các tổ chức kinh tế tập thể, nhưng tài sản của Nhà nước thì chỉ bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước [18, tr. 105]. Về khái niệm tài sản của Nhà nước cho đến nay vẫn còn các ý kiến khác nhau, nếu tài sản thuộc quyền sở hữu hoàn toàn của Nhà nước thì không cần phải bàn cãi, nhưng nếu tài sản chỉ thuộc quyền sở hữu một phần của Nhà nước thì vấn đề lại không đơn giản như: Các công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, các đơn vị liên doanh, liên kết giữa Nhà nước với các đơn vị kinh tập thể hoặc tư nhân… Nếu người nhận hối lộ biết của hối lộ là tài sản của các đơn vị kinh tế này thì có coi là tài sản của Nhà nước không? Đây là vấn đề chưa được hướng dẫn giải thích nên trong thực tiễn xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng thường có những quan điểm khác nhau khi phải xác định tài sản của Nhà nước là yếu tố định khung hình phạt hoặc là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong một số tội phạm [18, tr. 105].

Có thể còn ý kiến khác nhau về thế nào là tài sản của Nhà nước nhưng tôi cho rằng, về nguyên tắc tài sản của Nhà nước phải thuộc sở hữu của Nhà nước. Nếu tài sản đó Nhà nước chỉ có quyền sở hữu một phần dù đó là phần lớn thì cũng chưa thể coi đó là tài sản của Nhà nước. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

  • Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.

Tình tiết này chứa đựng ba nội dung khác nhau: đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt. Người phạm tội chỉ thuộc một trong ba trường hợp phạm tội này đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự, nhưng nếu người phạm tội nhận hối lộ thuộc cả ba trường hợp phạm tội này thì cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 2 Điều 279 [18, tr. 106].

Đòi hối lộ là hành vi người có chức vụ, quyền hạn chủ động yêu cầu người khác phải đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho mình thì mới làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Trong trường hợp này, người nhận hối lộ và người đưa hối lộ cũng hình thành thỏa thuận trái pháp luật. Nội dung thỏa thuận trái pháp luật này cũng tương tự như nội dung của thỏa thuận tự nguyện của các bên. Đó là người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ quyền hạn nhận hoặc sẽ nhận lợi ích vật chất dưới hình thức nào đó để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Đổi lại người đưa hối lộ phải đưa lợi ích vật chất theo thỏa thuận cho người có chức vụ, quyền hạn. Trong thỏa thuận này người nhận hối lộ là người chủ động đưa ra yêu cầu, thậm chí đưa ra giá trị cụ thể của lợi ích vật chất cũng như thời gian, phương thức, đưa lợi ích vật chất… Ở đây họ là người chủ động áp đặt ý chí của mình trong mối quan hệ thỏa thuận giữa các bên. Người đưa hối lộ là người thụ động, là người phải miễn cưỡng chấp nhận các yêu cầu, đòi hỏi của người đòi hối lộ vì lợi ích của bản thân hoặc lợi ích của người có liên quan như: vợ chồng, con, cha mẹ, anh em… [35, tr. 68]. Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều trường hợp người nhận hối lộ không trực tiếp yêu cầu người khác phải đưa hối lộ nhưng lại có thủ đoạn gợi ý hoặc qua trung gian để gợi ý cho người khác đưa hối lộ cho mình. Trường hợp phạm tội này cũng phải coi là đòi hối lộ, thậm chí còn bị coi là dùng thủ đoạn xảo quyệt để đòi hối lộ.

Sách nhiễu được hiểu là trường hợp người nhận hối lộ trong việc giải quyết các vấn đề về thủ tục pháp lý cố tình gây khó khăn phiền phức cho các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật nhằm mục đích vụ lợi. Những người có chức vụ quyền hạn trong trường hợp này thường lợi dụng sự thiếu hiểu biết hoặc tâm lý ngại mất thời gian, ngại các thủ tục phức tạp v.v… của chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật để cố ý tạo ra hàng loạt các khó khăn phiền phức mà trên thực tế những khó khăn này là không có. Trong trường hợp sách nhiễu người có chức vụ, quyền hạn có thể không trực tiếp đặt vấn đề đòi hối lộ mà chỉ thông qua việc gây khó dễ để gợi ý hoặc mong muốn chủ thể có liên quan phải đưa hối lộ [35, tr. 68]. Sách nhiễu là một trong những thủ đoạn của việc đòi hối lộ. Thông thường người sách nhiễu để đòi hối lộ là người không làm một việc vì lợi ích của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người nhận hối lộ sách nhiễu để đòi hối lộ và làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Từ thời phong kiến, sách nhiễu vòi vĩnh để đòi của đút lót là thói tham lam của bọn quan lại mà nhân dân ta thường lên án. Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta cũng coi sách nhiễu là hành động tha hóa của một bộ phận cán bộ công chức trong bộ máy nhà nước cần phải xử lý nghiêm khắc. Nhà làm luật coi tình tiết sách nhiễu để đòi hối lộ là yếu tố định khung hình phạt cũng là phù hợp với đạo đức xã hội thể hiện được ý chí của nhân dân. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Các trường hợp đòi hối lộ và sách nhiễu có thể gọi là các trường hợp chủ động từ phía người nhận hối lộ. Trong các trường hợp này người có chức vụ, quyền hạn là người tạo ra mầm mống, nguồn gốc là phát sinh tội phạm, là người khởi nguồn cho sự xuất hiện các thỏa thuận trái pháp luật giữa các bên, thậm chí là người áp đặt ý chí của mình cho các thỏa thuận trái pháp luật này. Ở đây tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ cao hơn nhiều so với trường hợp người đưa hối lộ tự nguyện hoặc đề nghị đưa lợi ích vật chất cho người có chức vụ, quyền hạn. Bởi vì trong trường hợp này người nhận hối lộ không phải là người tạo ra mầm mống, nguồn gốc làm phát sinh tội phạm mà điều này là do người đưa hối lộ tạo ra [35, tr. 69]. Chính vì xác định các trường hợp đòi hối lộ, sách nhiễu là các trường hợp phạm tội có tính nguy hiểm cao nên các nhà lập pháp đã quy định tình tiết này là tình tiết định khung tăng nặng thuộc Điểm đ Khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự.

Dùng thủ đoạn xảo quyệt để nhận hối lộ là người phạm tội nhận hối lộ có những mánh khóe, cách thức gian dối, thâm hiểm làm cho người đưa hối lộ hoặc những người khác khó lường thấy được để đề phòng. Những mánh khóe, cách thức mà người nhận hối lộ sử dụng để nhận hối lộ rất đa dạng, nhưng chỉ coi là dùng thủ đoạn xảo quyệt đối với những mánh khóe, cách thức làm cho người khác dễ bị lừa hoặc nếu biết cũng không đối phó được như: Nhận hối lộ nhưng lại buộc người đưa phải viết giấy biên nhận nợ cho mình; nhận hối lộ thông qua hình thức buộc người đưa hối lộ mua tài sản của mình với giá gấp nhiều lần so với giá thật; nhận hối lộ bằng cách buộc người đưa hối lộ chuyển vào tài khoản của mình một khoản tiền được ngụy trang dưới một hợp đồng mua bán hay đứng tên người khác… Nói chung, những mánh khóe, cách thức nhận hối lộ mà người nhận hối lộ sử dụng rất khó phát hiện hoặc nếu có bị phát hiện thì khó tìm được chứng cứ để buộc tội họ [18, tr. 108].

  • Của hối lộ giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng

Đây là trường hợp người phạm tội nhận hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng. Nếu của hối lộ không phải là tiền mà là tài sản thì giá trị tài sản đó là giá thị trường vào thời điểm nhận của hối lộ hoặc đã hứa nhận hối lộ, vì trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của một người khi thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ: Nguyễn Văn A mua chiếc xe Dream với giá 15.000.000 đồng, nhưng khi đưa hối lộ cho Tạ D thì xe Dream bị hạ giá chỉ còn 8.000.000 đồng. Nếu tính giá trị chiếc xe khi A mua thì D phạm tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự, nhưng nếu tính giá trị chiếc xe vào thời điểm A đưa hối lộ cho D thì chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng không tự mình xác định được giá trị của hối lộ thì phải tiến hành trưng cầu giám định (định giá) [18, tr. 109]. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Điều luật quy định của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, chứ không quy định người phạm tội đã nhận được của hối lộ có giá trị như trên, nên chỉ cần xác định người phạm tội sẽ nhận của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng là thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự, còn người phạm tội đã nhận được hay chưa, không phải là dấu hiệu bắt buộc. Trường hợp người phạm tội chưa nhận được của hối lộ, thì cũng không vì thế mà cho rằng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, vì điều luật quy định: “đã nhận hoặc sẽ nhận”, nên chỉ cần có thỏa thuận là sẽ nhận là tội phạm đã hoàn thành. Đây là đặc điểm khác với một số tội phạm khác có tính chất chiếm đoạt nếu chưa chiếm đoạt được tài sản thì được coi là phạm tội chưa đạt, nhưng đối với tội nhận hối lộ thì dù chưa nhận được của hối lộ vẫn coi là tội phạm đã hoàn thành [18, tr. 109].

  • Gây hậu quả nghiêm trọng khác

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng quy định ở khoản 1 của điều luật, chỉ khác ở chỗ trường hợp phạm tội này là hậu quả nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng. Nếu dưới 2.000.000 đồng mà gây hậu quả nghiêm trọng thì chỉ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 của điều luật.

Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có những hậu quả phi vật chất khác.

Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra đã là nghiêm trọng chưa. Tương tự như đối với tội tham ô, khoản 1 của điều luật chỉ quy định gây hậu quả nghiêm trọng còn điểm g khoản 2 của điều luật lại quy định gây hậu quả nghiêm trọng khác, nên nhiều ý kiến cho rằng hậu quả nghiêm trọng khác và hậu quả nghiêm trọng không phải là một. Nếu sự phân biệt trên là có căn cứ thì khoản 1 của điều luật quy định hậu quả nghiêm trọng cũng khó xác định đâu là hậu quả trực tiếp do hành vi nhận hối lộ gây ra, còn đâu là hậu quả gián tiếp do hành vi nhận hối lộ gây ra? vì các thiệt hại khác đều là những thiệt hại gián tiếp do hành vi nhận hối lộ gây ra và nó chỉ là hậu quả khác. Do đó có ý kiến cho rằng, khoản 1 điều luật cũng nên quy định gây hậu quả nghiêm trọng khác mới chính xác. Quan điểm này cũng có cơ sở lý luận và thực tiễn. Hy vọng rằng khi có điều kiện, các nhà làm luật sẽ nghiên cứu để sửa đổi điều luật này cho phù hợp hơn [18, tr. 110]. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự thì người phạm tội sẽ bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, là tội phạm rất nghiêm trọng. So với khoản 2 Điều 226 Bộ luật hình sự năm 1985, nếu chỉ căn cứ vào khung hình phạt thì khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt tương đương khoản 2 Điều 226. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 279 có nhiều thay đổi theo hướng có lợi cho người phạm tội.

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhận hối lộ theo khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự, Tòa án cũng cần căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VII Bộ luật hình sự (từ Điều 45 đến Điều 54). Nếu người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, người phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, không phải là người tổ chức, đáng được khoan hồng, thì Tòa án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới bảy năm tù) nhưng không được dưới hai năm tù, vì theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự thì, khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật (khung hình phạt nhẹ hơn liền kề của khoản 2 là khoản 1 Điều 279 Bộ luật hình sự). Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể thì có thể bị phạt tới mười lăm năm tù [18, tr.111]. Khi cân nhắc để quyết định một mức hình phạt đối với người phạm tội nhận hối lộ, Tòa án cần căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VII Bộ luật hình sự.

2.2.3. Phạm tội nhận hối lộ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 279 Bộ luật hình sự

  • Của hối lộ giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 của điều luật chỉ khác ở giá trị của hối lộ từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng. Cũng như đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 của điều luật, nếu của hối lộ không phải là tiền mà là tài sản thì giá trị tài sản đó là giá trị thị trường vào thời điểm nhận của hối lộ hoặc đã hứa nhận hối lộ; chỉ cần xác định người phạm tội sẽ nhận của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng là thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 279 Bộ luật hình sự, còn người phạm tội đã nhận được hay chưa, không phải là dấu hiệu bắt buộc; nếu người phạm tội chưa nhận được của hối lộ, thì cũng không vì thế mà cho rằng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt [18, tr. 112]. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

  • Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp quy định tại điểm g khoản 2 của điều luật chỉ khác ở chỗ: Hậu quả do hành vi nhận hối lộ gây ra là hậu quả rất nghiêm trọng khác. Hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra là những thiệt hại rất nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và những thiệt hại phi vật chất cho xã hội [18, tr. 113]. Cũng như đối với tội tham tài sản, tuy chưa có hướng dẫn thế nào là gây hậu quả rất nghiêm trọng khác do hành vi nhận hối lộ gây ra, nhưng căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự đối chiếu với hướng dẫn về các tội phạm khác trong Bộ luật hình sự, thì có thể coi các thiệt hại sau là hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra:

  • Làm chết hai người;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của năm đến bảy người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 101% đến 200%, trong đó không có trường hợp nào có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;
  • Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng [18, tr.114].

Gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản thuộc hai đến ba trường hợp được coi là hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ: Làm chết một người và còn làm bị thương hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; Làm chết một người và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng v.v…

Ngoài các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và tài sản, thì thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất, như ảnh hưởng rất xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh hưởng về an ninh, trật tự, an toàn xã hội… Trong các trường hợp này phải tùy vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra là rất nghiêm trọng. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 279 Bộ luật hình sự thì người phạm tội sẽ bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm, là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. So với khoản 3 Điều 226 Bộ luật hình sự năm 1985, nếu chỉ căn cứ vào khung hình phạt thì khoản 3 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 cũng tương đương như khoản 3 Điều 226. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 279 có nhiều thay đổi theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội. Vì vậy, khi áp dụng khoản 3 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999, cần chú ý:

Nếu hành vi nhận hối lộ xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01/7/2000 mới bị phát hiện xử lý mà của hối lộ từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng thì vẫn áp dụng khoản 3 Điều 226 Bộ luật hình sự năm 1985;

Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 của điều luật thì cũng chỉ áp dụng khoản 2 điều luật mà không áp dụng khoản 3 của điều luật, vì tình tiết “có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này” khoản 3 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 không còn quy định nữa [18, tr. 114].

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhận hối lộ theo khoản 3 Điều 279 Bộ luật hình sự, Tòa án cũng phải căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VII Bộ luật hình sự (từ Điều 45 đến Điều 54). Nếu người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, người phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, không phải là người tổ chức, đáng được khoan hồng, thì Tòa án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới mười lăm năm tù) nhưng không được dưới bảy năm tù, vì theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự thì khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật (khung hình phạt nhẹ hơn liền kề của khoản 3 là khoản 2 Điều 279 Bộ luật hình sự). Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể thì có thể bị phạt tới hai mươi năm tù [18, tr. 114].

2.2.4. Phạm tội nhận hối lộ thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 279 Bộ luật hình sự Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

  • Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp quy định tại điểm e khoản 2, điểm a khoản 3 của điều luật chỉ khác ở giá trị của hối lộ từ ba trăm triệu đồng trở lên. Cũng như đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 2, điểm a khoản 3 của điều luật, nếu của hối lộ không phải là tiền mà là tài sản thì giá trị tài sản đó là giá thị trường vào thời điểm nhận của hối lộ hoặc đã hứa nhận hối lộ; chỉ cần xác định người phạm tội sẽ nhận của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên là thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 Điều 279 Bộ luật hình sự, còn người phạm tội đã nhận được hay chưa, không phải là dấu hiệu bắt buộc; nếu người phạm tội chưa nhận được của hối lộ, thì cũng không vì thế mà cho rằng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt [18, tr. 115].

  • Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp quy định tại điểm g khoản 2, điểm b khoản 3 của điều luật chỉ khác ở hậu quả do hành vi nhận hối lộ gây ra là hậu quả đặc biệt nghiệm trọng khác. Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác do hành vi nhận hối lộ gây ra là những thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và những thiệt hại phi vật chất cho xã hội. Cũng như đối với tội phạm tham ô tài sản, tuy chưa có hướng dẫn thế nào là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra nhưng căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự đối chiếu với hướng dẫn về các tội phạm khác trong Bộ luật hình sự, thì có thể xác định các thiệt hại là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi nhận hối lộ gây ra [18, tr. 116].

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 279 Bộ luật hình sự thì người phạm tội sẽ bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình, là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. So với khoản 4 Điều 226 Bộ luật hình sự năm 1985 (sửa đổi, bổ sung năm 1997), thì khoản 4 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 nhẹ hơn, vì khoản 4 Điều 226 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ có khung hình phạt tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra, khoản 4 Điều 279 không còn quy định tình tiết “có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này” là yếu tố định khung hình phạt và giá trị của hối lộ quy định tại khoản 4 Điều 279 cũng lớn hơn (300.000.000 đồng so với 50.000.000 đồng). Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội nhận hối lộ theo khoản 4 Điều 279 Bộ luật hình sự, Tòa án cũng phải căn cứ vào quyết định hình phạt tại Chương VII Bộ luật hình sự. Nếu người phạm tội có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc có những mức độ tăng nặng không đáng kể, người phạm tội có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, đáng được khoan hồng, thì Tòa án có thể áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới hai mươi năm tù) nhưng không được dưới mười lăm năm tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có nhưng không đáng kể, là người có nhân thân xấu, không còn khả năng cải tạo thì có thể áp dụng hình phạt tử hình [18, tr.117].

Do điều luật quy định khung hình phạt có ba mức khác nhau và để việc áp dụng thống nhất pháp luật, Hội đồng nhân dân Tòa án tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định của các Điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289 Bộ luật hình sự. Theo hướng dẫn này thì:

Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vừa có tình tiết tăng nặng vừa có tình tiết giảm nhẹ, nhưng đánh giá tính chất tình tiết tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau, thì xử phạt người phạm tội tương ứng với của hối lộ như sau:

  • Xử phạt hai mươi năm tù nếu của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới tám trăm triệu đồng;
  • Xử phạt tù chung thân nếu của hối lộ có giá trị từ tám trăm triệu đồng đến dưới hai tỉ đồng;
  • Xử phạt tử hình nếu của hối lộ có giá trị từ hai tỉ đồng trở lên.

Trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không có tình tiết tăng nặng hoặc có ít tình tiết tăng nặng hơn, đồng thời đánh giá tính chất giảm nhẹ và tính chất tăng nặng, xét thấy có thể giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nhẹ hơn mức án được hướng dẫn trên, cụ thể như sau:

  • Xử phạt tù từ mười lăm năm (đối với tội nhận hối lộ) hoặc từ mười ba năm (đối với tội đưa hối lộ) đến dưới hai mươi năm nếu của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới tám trăm triệu đồng (trường hợp này phải có ích nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự);
  • Xử phạt hai mươi năm tù nếu của hối lộ có giá trị từ tám trăm triệu đồng đến dưới hai tỉ đồng;
  • Xử phạt tù chung thân nếu của hối lộ có giá trị từ hai tỉ đồng trở lên.

Trong trường hợp có nhiều tình tiết tăng nặng mà không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ hơn, đồng thời đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ xét thấy cần tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì có thể xử phạt người phạm tội mức án nặng hơn mức án được hướng dẫn trên, cụ thể như sau:

  • Xử phạt tù chung thân nếu của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới tám trăm triệu đồng;
  • Xử phạt tử hình nếu của hối lộ có giá trị từ tám trăm triệu đồng trở lên [18, tr.119].

Trong trường hợp theo hướng dẫn thì người phạm tội nhận hối lộ phải bị xử phạt tử hình, nhưng người nhận hối lộ nộp lại một phần đáng kể giá trị của hối lộ (hoặc người thân thích, ruột thịt… của người phạm tội đã nộp thay cho người phạm tội), thì có thể không bị xử phạt tử hình người phạm tội và tùy vào giá trị của hối lộ nộp lại mà có thể xử phạt người phạm tội tù chung thân hoặc tù có thời hạn. Được coi là đã nộp lại một phần đáng kể giá trị của hối lộ nếu:

  • Giá trị của hối lộ đã nộp lại phải được ít nhất một phần hai giá trị của hối lộ đã nhận;
  • Giá trị của hối lộ đã nộp lại phải được từ một phần ba đến dưới một phần hai giá trị của hối lộ đã nhận, nếu có căn cứ chứng minh rằng người phạm tội (hoặc người thân thích, ruột thịt… của người phạm tội) đã thực hiện mọi biện pháp để nộp lại giá trị của hối lộ đã nhận (đã bán hết nhà ở, tài sản có giá trị; cố gắng vay, mượn… đến mức tối đa) [18, tr.120].

2.2.5. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội nhận hối lộ Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 279 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính, người phạm tội nhận hối lộ còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [18, tr.120].

So với quy định tại Điều 229 Bộ luật hình sự năm 1985 về hình phạt bổ sung đối với tội phạm này thì hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm được sửa đổi, bổ sung như sau:

Nếu Điều 229 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định: “có thể bị cấm đảm nhiệm những chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm”, thì khoản 5 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm”. Nếu căn cứ vào mức hình phạt thì khoản 5 Điều 279 nhẹ hơn Điều 229 Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng căn cứ vào nguyên tắc áp dụng hình phạt này thì khoản 5 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định không có lợi cho người phạm tội vì việc áp dụng hình phạt cấm đảm chức vụ đối với người phạm tội nhận hối lộ là bắt buộc “bị cấm”, còn Điều 229 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định “có thể bị cấm”. Vì vậy, nếu Tòa án áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định đối với người phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01/7/2000 mới bị phát hiện xử lý thì được áp dụng khoản 5 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với người phạm tội.

Nếu Điều 229 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định: “thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” [19], thì khoản 5 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 lại quy định: “có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” [20, tr. 218].

Như vậy, việc áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với người nhận hối lộ quy định tại khoản 5 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999 không còn là bắt buộc nữa. Tòa án có thể áp dụng và cũng có thể không áp dụng nếu thấy việc áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với người phạm tội là không cần thiết [18, tr.121].

Vì vậy, nếu Tòa án áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội nhận hối lộ trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 01/7/2000 mới bị phát hiện xử lý thì được áp dụng khoản 5 Điều 279 Bộ luật hình sự năm 1999.

2.3 SO SÁNH TỘI NHẬN HỐI LỘ VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM VỀ THAM NHŨNG KHÁC TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Một trong những điểm đặc trưng của tệ nạn tham nhũng là chỉ xảy ra ở đối tượng có chức vụ, quyền hạn, đây là một loại tội phạm đặc biệt của những người có quyền lực. Loại tội phạm này có mối liên quan mật thiết đến chức vụ và quyền hạn, chức vụ càng cao, quyền hành càng nhiều thì cơ hội phạm tội càng lớn, tính chất càng nguy hiểm. Chủ thể của tội tham nhũng là chủ thể đặc biệt. Tức là những người có chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, làm giảm uy tín của tổ chức, của Nhà nước. Tuy nhiên, ở mỗi tội phạm cụ thể thì yếu tố khách quan và hành vi phạm tội sẽ khác nhau tùy theo đặc điểm của từng loại tội phạm. Trong số các tội phạm tham nhũng thì tội nhận hối lộ cũng là một trong những tội nguy hiểm, nó trực tiếp xâm phạm đến hai khách thể quan trọng đó là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín. Khi so sánh tội nhận hối lộ với một số tội phạm về chức vụ khác trong Bộ luật hình sự, ta nhận thấy chúng có những đặc điểm khác nhau cơ bản nhất định. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

2.3.1. So sánh tội nhận hối lộ với tội tham ô tài sản

  • Điểm giống nhau:

Chủ thể của hai tội này đều là chủ thể đặc biệt: là những người có chức vụ, quyền hạn. Về khách thể: đều xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước làm cho cơ quan nhà nước bị suy yếu, mất uy tín. Về mặt chủ quan: đều thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn và để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Cả hai tội đều hướng tới lợi ích vật chất đó là tiền, tài sản để thỏa mãn lòng tham của mình.

  • Điểm khác nhau:

Đối với tội nhận hối lộ: người nhận hối lộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của người đưa hối lộ. Thời điểm hoàn thành tội nhận hối lộ được tính từ thời điểm người có chức vụ, quyền hạn đã thỏa thuận và đồng ý sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác từ người đưa hối lộ để giải quyết công việc cho họ. Ví dụ: Phùng Văn A là cán bộ phòng tổ chức cán bộ của Ủy ban nhân dân quận H, được cơ quan giao nhiệm vụ tuyển thêm một cán bộ mới vào làm việc. B là người đang có nhu cầu tìm việc và biết được tin cơ quan đó đang tuyển người và cũng biết được A là người đứng ra tuyển, do B không đủ điều kiện được tuyển nên đã đến nhờ A giúp đỡ và A hứa sẽ giúp B được tuyển dụng với điều kiện là B đưa trước cho A số tiền 50.000.000 đồng, khi nào có quyết định tuyển dụng B sẽ đưa thêm cho A 50.000.000 đồng nữa. Vậy hành vi của A đã thỏa mãn điều kiện của tội nhận hối lộ.

Đối với tội tham ô tài sản: người phạm tội có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn là để chiếm đoạt tài sản do mình có trách nhiệm quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp. Ví dụ: M là chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Y được cơ quan giao cho quản lý một chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha, trong lúc cần tiền nên B đã đem chiếc xe đó đi bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, hành vi của M thỏa mãn dấu hiệu của tội tham ô tài sản. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

2.3.2. So sánh tội nhận hối lộ với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

  • Điểm giống nhau: hai tội này có những điểm chung giống nhau về mặt khách thể, chủ thế, chủ quan như đã so sánh ở tội nhận hối lộ và tội tham ô tài sản.
  • Điểm khác nhau:

Đối với tội nhận hối lộ thì người phạm tội nhận hối lộ chỉ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền, tài sản chứ không có hành vi “chiếm đoạt” như tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Và tội nhận hối lộ có sự thỏa thuận trước.

Đối với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản không nhất thiết tài sản đó là do mình quản lý mà là của tất cả các cá nhân, tổ chức… Và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản không có sự thỏa thuận trước. Ví dụ: G là cán bộ kiểm lâm tại tỉnh L đã bắt được xe chở thú rừng trái phép của D. Sau đó G đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản là số thú rừng thu hồi được từ D.

2.3.3. So sánh tội nhận hối lộ với tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi

Điểm giống nhau: ngoài những điểm giống nhau về mặt chủ thể, chủ quan được nêu ở phần so sánh giữa tội nhận hối lộ với tội tham ô, thì hai tội còn có những điểm giống nhau cơ bản nữa là: mục đích phạm tội vì lợi ích vật chất, đều có hành vi trực tiếp hoặc qua trung gian đã hoặc sẽ nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác; thời điểm hoàn thành tội phạm là khi hai bên thỏa thuận xong về việc nhận tiền, tài sản; hai tội này có sự thông đồng trước về việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác.

  • Điểm khác nhau giữa hai tội:

Người phạm tội nhận hối lộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để làm hoặc không làm một việc có lợi cho người đưa hối lộ.

Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi lại lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để thúc đẩy người khác làm hoặc không làm một việc có lợi cho người yêu cầu. Ví dụ: Cấp trên dùng ảnh hưởng của mình đối với cấp dưới để gây ảnh hưởng hoặc thúc đẩy cấp dưới làm một công việc nhất định có lợi cho mình. Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp đấu tranh phòng chống tội nhận hối lộ ở VN

One thought on “Luận văn: Thực trạng về tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: Tội nhận hối lộ theo luật hình sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464