Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Khuôn khổ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM
2.1.1. Khái quát các văn bản pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
2.1.1.1. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945
Hiến chương Liên hợp quốc được ban hành ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945. Đây là văn kiện quốc tế rất quan trọng, không chỉ là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng thành lập Liên hợp quốc mà còn là văn kiện ghi nhận sự bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu.
- Điều 1 của Hiến chương xác định mục đích của Liên hợp quốc là:
Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền con người và tự do cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo [14].
Hiến chương kêu gọi tất cả các nước cùng phối hợp hành động với Liên hợp quốc để đạt được việc tôn trọng và thực hiện quyền con người trên phạm vi toàn cầu, trong đó có quyền trẻ em.
2.1.1.2. Bộ luật quốc tế về nhân quyền
Khái niệm “Bộ luật quốc tế về nhân quyền” là thuật ngữ chỉ tập hợp ba văn kiện quốc tế cơ bản trên lĩnh vực này, đó là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (hai công ước này cùng được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1966). Ngoài ra, theo một số tài liệu, các nghị định thư bổ sung của hai công ước cơ bản về quyền con người năm 1966 cũng là những bộ phận cấu thành của bộ luật này. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948
Ngày 10-12-1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (gọi chung là Tuyên ngôn). Đây là văn kiện đầu tiên của bộ luật quốc tế về quyền con người, áp dụng cho tất cả mọi người, không phân biệt vì bất cứ yếu tố gì.
Mục tiêu cuối cùng của Tuyên ngôn là làm cho tất cả các cá nhân, các tổ chức xã hội, các quốc gia, dân tộc nỗ lực tôn trọng và thúc đẩy việc thực hiện các quyền con người.
Tuyên ngôn gồm 30 điều quy định về các quyền và một điều quy định về bảo vệ Tuyên ngôn. Trong đó, điều 25 quy định “Phụ nữ và trẻ em cần được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” [15].
Điều 29 của Tuyên ngôn đề cập tới nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng, theo đó khi thực hiện các quyền và tự do của bản thân mình, mỗi cá nhân phải bảo đảm là việc đó không ảnh hưởng đến việc hưởng thụ các quyền, tự do của người khác hoặc làm tổn hại đến những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội hay lợi ích chung của cộng đồng. Việc quy định nghĩa vụ này cũng có ý nghĩa đối với việc ngăn ngừa lạm dụng, bóc lột trẻ em, vì đây là hành động ảnh hưởng nghiêm trọng tới các quyền cơ bản của trẻ.
- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966
- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23-3-1976, gồm 53 điều. Việt Nam đã gia nhập Công ước này vào ngày 24-9-1982.
Toàn bộ các điều từ điều 6 đến điều 27 của Công ước quy định về các quyền cụ thể của con người trong lĩnh vực dân sự và chính trị. Trong đó có các quyền được bảo vệ không bị bắt giữ làm nô lệ hay nô dịch; bị lao động bắt buộc hay cưỡng bức; quyền được tôn trọng và bảo đảm tính mạng, danh dự, nhân phẩm… của tất cả mọi người, bao gồm cả trẻ em. Điều 24 Công ước này đề cập đến quyền của trẻ em được gia đình, xã hội và Nhà nước bảo hộ. Đây là những tiền đề rất quan trọng để bảo vệ trẻ em khỏi những hình thức xâm hại, bóc lột và lạm dụng. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa có hiệu lực từ ngày 03-01-1976. Việt Nam đã gia nhập Công ước này vào ngày 24-9-1982.
Một trong các nguyên tắc của Công ước là chú trọng đến việc đảm bảo các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội đối với các nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương, bao gồm cả trẻ em.
- Điều 10 Công ước khẳng định:
Cần áp dụng những biện pháp bảo vệ và trợ giúp đặc biệt đối với mọi trẻ em và thanh thiếu niên mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì các lý do xuất thân hoặc các điều kiện khác. Trẻ em và thanh thiếu niên cần được bảo vệ để không bị bóc lột về kinh tế và xã hội. Việc thuê trẻ em và thanh thiếu niên làm các công việc có hại cho tinh thần, sức khoẻ hoặc nguy hiểm tới tính mạng, hay có hại tới sự phát triển bình thường của các em phải bị trừng trị theo pháp luật. Các quốc gia cần định ra những giới hạn về độ tuổi mà việc thuê lao động trẻ em dưới hạn tuổi đó phải bị pháp luật nghiêm cấm và trừng phạt [16].
2.1.1.3. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989
Trong số các công ước của Liên hợp quốc có liên quan đến lao động trẻ em, Công ước về quyền trẻ em có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Công ước được Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11-1989, có hiệu lực từ ngày 02-9-1990 và là điều ước quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc có số lượng quốc gia thành viên cao nhất từ trước đến nay. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn công ước này. Công ước về quyền trẻ em là công ước đầu tiên đề cập khá toàn diện và đầy đủ đến các quyền trẻ em theo xu hướng tiến bộ. Nó xác định một tập hợp các quyền và tự do của trẻ em trên tất cả các lĩnh vực, nhằm mục đích bảo đảm sự sống còn, phát triển toàn diện và bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ bị xâm hại. Công ước này vừa là cơ sở lý luận, vừa là công cụ bổ trợ hữu hiệu cho các văn kiện cơ bản của ILO về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Các nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho Công ước là:
- Trẻ em cũng là những con người, có vị thế bình đẳng với người lớn về phương diện chủ thể của quyền;
- Tất cả trẻ em trên thế giới đều được hưởng các quyền quy định trong Công ước, bất kể dân tộc, chủng tộc, giới tính, tôn giáo, xuất thân gia đình…;
- Trong mọi hoạt động có liên quan đến trẻ em, Nhà nước, cha mẹ và các chủ thể khác luôn phải dành lợi ích tốt nhất cho trẻ;
- Các chủ thể khác phải tôn trọng ý kiến, quan điểm của trẻ em, nguyên tắc này nhằm bảo đảm trẻ em thực sự là chủ thể của quyền.
Công ước đã đưa ra một định nghĩa chung về trẻ em làm cơ sở cho việc thực hiện các quyền của trẻ em trên toàn thế giới mà không có sự phân biệt về bất cứ yếu tố nào như chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa…
Quan trọng hơn, Công ước đã xác lập một tập hợp các quyền trẻ em mà có nhiều quyền trước đó chưa từng được pháp điển hóa trong luật quốc tế, tạo ra một khuôn khổ các thỏa thuận quốc tế về những tiêu chuẩn tối thiểu cần thiết bảo đảm cho trẻ em được bảo vệ, chăm sóc một cách có hiệu quả và được phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, tình cảm và đạo đức xã hội. Trong đó, các quyền quan trọng nhất là quyền được học tập; quyền được nghỉ ngơi và giải trí; quyền được bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế và phải làm các công việc có hại tới sức khỏe, sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hoặc ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ; quyền được bảo vệ khỏi bị lôi kéo vào sử dụng, sản xuất, buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy; quyền được bảo vệ trước các hình thức bóc lột và xâm hại tình dục.
Công ước cũng đề cập đến việc giải quyết những thách thức cấp bách mà trẻ em đang gặp phải như lạm dụng tình dục trẻ em, bóc lột lao động, buôn bán trẻ em, trẻ em bị buộc cầm súng, tác động của ma túy với trẻ em… và xác định những biện pháp nhằm xóa bỏ những vấn đề cấp bách đó. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Nhằm bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế, điều 32 Công ước quy định:
Các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em được bảo vệ không bị bóc lột về kinh tế và không phải làm bất cứ công việc gì nguy hiểm hoặc ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ em, hoặc có hại đối với sức khỏe hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hay xã hội của trẻ em [18].
Tại điều này cũng yêu cầu nhà nước phải áp dụng các biện pháp để ngăn chặn, đặc biệt là ấn định tuổi tối thiểu cho việc tuyển dụng lao động, quy định thời gian làm việc và điều kiện lao động cũng như các hình thức xử phạt việc sử dụng lao động trẻ em.
Công ước về quyền trẻ em và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa đều tiếp cận theo hướng bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế thay vì thiết lập quy định chung về lao động trẻ em. Các quốc gia cần phải tham chiếu và vận dụng hai công ước quan trọng nhất của ILO về vấn đề lao động trẻ em, đó là Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiểu (1973) và Công ước số 182 về hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (2011).
Ngoài ra, Liên hợp quốc cũng đã ban hành hai Nghị định thư không bắt buộc, đó là “Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em” và “Nghị định thư về việc sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang”. Hai văn bản này đề cập đến việc xóa bỏ hai trong số những dạng lao động trẻ em tồi tệ nhất là việc cưỡng bức trẻ em tham gia chiến tranh và việc buôn bán, bóc lột tình dục trẻ em. Việt Nam đã phê chuẩn hai Nghị định thư này vào ngày 11-9-2023.
Như vậy, mặc dù không đề cập riêng về vấn đề lao động trẻ em, nhưng Công ước về quyền trẻ em là cơ sở để xây dựng và thực hiện Công ước số 138 và 182 của ILO. Đây đều là những văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng trong việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
2.1.1.4. Các Công ước và Khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về lao động trẻ em
- Vai trò và hoạt động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong việc xây dựng các công ước quốc tế về lao động trẻ em
Kể từ khi thành lập vào năm 1919 đến nay, ILO đã thông qua 188 Công ước và 199 Khuyến nghị, trong đó có 08 Công ước được coi là các công ước cơ bản, điều chỉnh bốn nhóm quyền và nghĩa vụ cơ bản tại nơi làm việc, đó là: loại bỏ mọi hình thức lao động cưỡng ép hoặc bắt buộc; xóa bỏ lao động trẻ em và đặt ưu tiên hàng đầu là loại trừ những hình thức lao động tồi tệ nhất; tạo cơ hội công bằng và chống phân biệt đối xử về việc làm; tự do liên kết và quyền được thương thuyết tập thể.
Cũng trong số các công ước và khuyến nghị do ILO ban hành, có khoảng 30 văn kiện đề cập đến việc bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột và lạm dụng sức lao động. Các công ước về lao động trẻ em bao gồm: Công ước số 5 năm 1919 về tuổi tối thiểu trong công nghiệp; Công ước số 6 năm 1919 về làm việc ban đêm của trẻ em trong công nghiệp; Công ước số 7 năm 1920 về tuổi tối thiểu làm việc trên biển; Công ước số 10 năm 1921 về tuổi tối thiểu trong nông nghiệp…
Hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về lao động của ILO có liên quan đến bảo vệ trẻ em chủ yếu gồm quy định tuổi tối thiểu được phép nhận vào làm việc, cấm sử dụng trẻ em làm việc ban đêm, kiểm tra sức khỏe cho trẻ em lao động và xóa bỏ ngay những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.
Trong số các Công ước của ILO, có hai công ước quan trọng nhất và là nền tảng cho việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là Công ước số 138 năm 1973 về độ tuổi lao động tối thiểu của ILO và Công ước số 182 năm 2011 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.
- Công ước số 138 năm 1973 về độ tuổi lao động tối thiểu của ILO
Để đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, quy định về độ tuổi lao động tối thiểu là nền tảng cơ sở. Từ quy định này, các quốc gia mới có thể thực thi được các biện pháp giảm thiểu trẻ em phải lao động ở độ tuổi quá nhỏ hoặc phải làm các công việc nguy hại, ngăn ngừa và dần tiến tới xóa bỏ lao động trẻ em.
Xuất phát từ nhận thức đó, ngay sau khi được thành lập vào năm 1919, ILO đã thông qua một loạt công ước về tuổi lao động tối thiểu áp dụng trong những ngành nghề, công việc khác nhau như công nghiệp, nông nghiệp, công việc dưới mặt đất trong hầm mỏ… thường được gọi là các Công ước về tuổi tối thiểu. Tuy nhiên các công ước này mới chủ yếu xoay quanh độ tuổi lao động tối thiểu trong một số ngành nghề, trong khi thực tế là có nhiều công việc khác thậm chí còn mang tính chất nguy hại hơn.
Sự ra đời của Công ước số 138 vào năm 1973 đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em và cho thấy vai trò rõ ràng của Tổ chức Lao động quốc tế ILO. Công ước ra đời với mục tiêu là công ước toàn diện nhất về lao động trẻ em cho đến thời điểm đó, vì nó thay thế cho các công ước trước đây chỉ quy định độ tuổi tối thiểu trong một số lĩnh vực, ngành nghề. Công ước số 138 đã cố gắng xác định một cách rõ ràng các quy định được đưa ra ở các Công ước về tuổi lao động tối thiểu trước. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Công ước này cũng đưa ra các khái niệm như công việc nhẹ, đưa ra một số loại trừ như trường hợp trẻ em tham gia hoạt động nghệ thuật. Đây là các yếu tố mới được đưa ra nhằm cụ thể hóa các mức tuổi tối thiểu theo hướng hợp lý nhất, phù hợp với tính chất từng loại hình công việc và phù hợp với sự phát triển sức khỏe, tâm lý và đạo đức của trẻ.
Ngoài ra, Công ước số 138 của ILO còn quan trọng ở chỗ nó đã đưa ra một chiến lược mới để chống lại lao động trẻ em, đó là bãi bỏ hoàn toàn lao động trẻ em. Ngay tại Điều 1 Công ước đã yêu cầu các quốc gia thành viên cam kết theo đuổi một chính sách quốc gia được xây dựng để bảo đảm việc xóa bỏ một cách hiệu quả tình trạng lao động trẻ em và để nâng dần độ tuổi tối thiểu được tuyển dụng vào làm việc hoặc được tham gia lao động tới độ tuổi mà thanh thiếu niên đạt được mức độ phát triển đầy đủ nhất về thể chất và trí lực.
ILO cũng đã ban hành Khuyến nghị số 146 về độ tuổi lao động tối thiểu, đây là văn kiện bổ trợ cho Công ước số 138, đưa ra bổ sung trong việc xác định độ tuổi lao động tối thiểu, hướng dẫn về công việc nguy hại và các điều khoản thực thi Công ước và Khuyến nghị.
- Công ước số 182 năm 2011 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
Công ước số 182 cũng như Công ước số 138 là một trong tám công ước cơ bản của ILO và là một trong những văn kiện quốc tế quan trọng nhất về vấn đề lao động trẻ em. Trước khi Công ước này được thông qua, ILO đã ban hành nhiều công ước, trong đó có Công ước số 138 được coi là văn kiện có cách tiếp cận toàn diện về vấn đề lao động trẻ em. Trong khi đó, lao động trẻ em là một vấn đề rộng lớn, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc biệt là gắn liền với tình trạng đói nghèo, kém phát triển, nên không thể giải quyết trong thời gian ngắn. Bởi vậy, cần phải xác định những ưu tiên trong hành động để thực hiện dần mục tiêu này, cụ thể là phải tập trung xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất – tình trạng mà đang tác động nghiêm trọng đến sự sống còn, phát triển toàn diện và đặt ra những vấn đề cấp thiết về quyền con người của trẻ em. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Xuất phát từ nhận thức kể trên, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế, trong phiên họp lần thứ 87 ngày 01-6-2011, đã thông qua Công ước số 182 về cấm và hành động ngay để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Công ước có hiệu lực từ ngày 19-11-2012 và hiện có hơn 140 quốc gia thành viên. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước này ngày 19-12-2012.
- Bên cạnh sự khác biệt về ưu tiên hành động, còn có một vài điểm khác biệt giữa Công ước số 182 và Công ước số 138, cụ thể là:
Một là, theo Công ước 138, việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em là một quá trình lâu dài, phụ thuộc vào hoàn cảnh, mức độ phát triển của mỗi quốc gia trong khi đó Công ước 182 đòi hỏi việc xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất phải được thực hiện ngay, trong một thời gian xác định, bất kể hoàn cảnh và mức độ phát triển của các quốc gia.
Hai là, nếu như Công ước 138 quy định một khuôn khổ chiến lược quốc gia nhằm xóa bỏ lao động trẻ em căn cứ vào hoàn cảnh của mỗi quốc gia thì Công ước 182 đặt việc xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất lên vị trí ưu tiên cao nhất trong khuôn khổ chiến lược này.
Ba là, Công ước 138 phân biệt giữa các nước có trình độ phát triển kinh tế và giáo dục khác nhau qua việc đưa ra những mức độ tuổi lao động tối thiểu tương ứng với các hoàn cảnh thông thường và các hoàn cảnh đặc thù còn Công ước 182 không có sự phân biệt như vậy. Công ước này áp dụng như nhau cho tất cả các nước, với tất cả trẻ em không phân biệt trai hay gái dưới 18 tuổi [37].
Tuy có những khác biệt nhất định, cả hai công ước có sự liên kết với nhau trong một mục đích chung là giải quyết vấn đề lao động trẻ em. Công ước 182 không sửa đổi, thay thế hoặc gây bất cứ ảnh hưởng gì đến việc phê chuẩn hay thực hiện Công ước 138. Công ước 138 vẫn giữ vai trò nền tảng cho việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em. Việc ban hành Công ước 182 chỉ nhằm hỗ trợ cho Công ước 138, qua việc tập trung xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, coi đó là những mục tiêu ưu tiên so với các hình thức lao động trẻ em khác. Bởi vậy, trong một số trường hợp, việc một quốc gia tham gia Công ước 182 có thể coi là một bước đi tiến tới việc tham gia Công ước 138, tức là tiến tới cam kết xóa bỏ hoàn toàn các hình thức lao động trẻ em.
Khuyến nghị số 190 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ lao động trẻ em được ILO ban hành nhằm bổ sung những quy định của Công ước số 182 và được khuyến nghị nên được áp dụng cùng với Công ước.
Ngoài ra, khi nói đến khuôn khổ pháp lý quốc tế về lao động trẻ em, còn cần kể đến Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của ILO (the International Programme on the Elimination of Child Labour – IPEC). Đây là một chương trình hành động toàn cầu do ILO triển khai từ năm 1992 nhằm giúp các quốc gia thành viên tăng cường năng lực giải quyết vấn đề lao động trẻ em, tiến tới xóa bỏ dần tình trạng lao động trẻ Mặc dù chương trình này không phải là một điều ước quốc tế, song nó có ý nghĩa rất to lớn đối với việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em trên thế giới do nó thể hiện cam kết chung của cộng đồng quốc tế trong vấn đề này, mặt khác nó cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật rất hữu ích cho các quốc gia trong việc xây dựng và thực thi các chính sách, pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Các vấn đề về lao động trẻ em được IPEC tập trung giải quyết đó là: những công việc độc hại, bóc lột, lao động cưỡng bức hay trong các điều kiện dễ bị tổn thương nhất, lao động của trẻ em gái và trẻ em dưới 12 tuổi.
Các hoạt động cụ thể mà IPEC thường hợp tác với các quốc gia bao gồm:
- Đánh giá, phân tích tình hình lao động trẻ em và xác định những nhóm đối tượng cần ưu tiên trợ giúp, can thiệp;
- Hỗ trợ xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về xóa bỏ lao động trẻ em, trong đó xác định rõ chiến lược, mục tiêu và biện pháp hành động cụ thể, phân công trách nhiệm, dự trù kinh phí và thời gian cần thiết cho các hoạt động, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan;
- Tạo lập và củng cố sự thống nhất về quan điểm và hành động giữa các chủ thể tham gia thực hiện kế hoạch hành động quốc gia;
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch hành động quốc gia đã được xây dựng;
- Giám sát, đánh giá hiệu quả tác động của các kế hoạch hành động quốc gia [37].
2.1.2. Pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
2.1.2.1. Quy định về độ tuổi lao động tối thiểu
Công ước số 138 đã xác định ba mức tuổi tối thiểu áp dụng chung cho mọi quốc gia, có thể khái quát qua bảng dưới đây:
- Bảng 2.1: Mức tuổi lao động tối thiểu xác lập theo Công ước số 138 của ILO
Thứ nhất, theo Khoản 3 điều 2 Công ước, 15 tuổi là mức tuổi lao động tối thiểu phổ biến mà các quốc gia thành viên phải nêu rõ trong bản tuyên bố kèm theo văn bản phê chuẩn Công ước. Từ độ tuổi này có thể được tuyển dụng hoặc làm các công việc không có tính chất nguy hại. Tuy nhiên, mức tuổi này phải không được thấp hơn độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc. Điều đó có nghĩa là khi xác định độ tuổi lao động tối thiểu phổ biến, các quốc gia phải căn cứ vào độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc và độ tuổi này phải luôn luôn bằng hoặc cao hơn tuổi hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc.
Khuyến nghị số 146, tại Đoạn 7 mục II yêu cầu các quốc gia thành viên cần đặt ra mục tiêu nâng dần độ tuổi lao động tối thiểu lên 16 tuổi và khuyến cáo các quốc gia mà độ tuổi tối thiểu vẫn dưới 15 tuổi đối với những công việc quy định tại Điều 2 Công ước số 138 thì cần thực hiện ngay các bước để nâng lên 15 tuổi bằng với mức quy định của Công ước.
Thứ hai, theo Khoản 1 điều 3 Công ước, 18 tuổi là mức tuổi lao động tối thiểu cho phép đối với công việc hoặc nghề nghiệp nào mà do tính chất hoặc điều kiện tiến hành có thể gây hại cho sức khỏe, an toàn hoặc đạo đức của thanh thiếu niên. Những loại việc làm hoặc lao động này sẽ do pháp luật quy định hoặc do cơ quan có thẩm quyền xác định, sau khi tham khảo ý kiến tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động có liên quan.
- Khuyến nghị số 146 cũng khuyến cáo: Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Trường hợp độ tuổi tối thiểu để được nhận vào làm các loại công việc hoặc việc làm có thể gây tổn hại tới sức khoẻ, an toàn và tinh thần của người trẻ tuổi dưới 18 tuổi, cần thực hiện ngay các bước để tăng độ tuổi đó lên mức đã ấn định [32].
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 3 điều 3 Công ước, mặc dù độ tuổi lao động tối thiểu với các công việc nguy hại là 18, sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động có liên quan, pháp luật quốc gia hoặc các nhà chức trách có thẩm quyền vẫn có thể cho phép các thanh thiếu niên được sử dụng hoặc đi làm việc ngay từ độ tuổi 16, với điều kiện là an toàn và đạo đức của họ phải được bảo đảm đầy đủ và những thanh thiếu niên này phải được hướng dẫn hay đào tạo một cách cụ thể và thích đáng để làm các công việc tương ứng. Đây là mức tuổi tối thiểu có điều kiện mà các quốc gia trong hoàn cảnh thông thường hay quốc gia có điều kiện đặc thù đều có thể áp dụng
Thứ ba, từ 13 đến 15 tuổi là mức tuổi tối thiểu mà có thể cho phép tuyển dụng hoặc tham gia lao động trong những công việc nhẹ mà không có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự phát triển của trẻ và không ảnh hưởng đến việc học tập, việc tham gia vào những chương trình hướng nghiệp hay đào tạo nghề đã được các nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận, hoặc những chương trình mà các em có khả năng tiếp thu theo Khoản 1 điều 7 Công ước.
Ngoài mức tuổi tối thiểu áp dụng chung kể trên, Công ước số 138 cũng quy định về các mức tuổi tối thiểu trong hoàn cảnh đặc thù với các quốc gia có nền kinh tế và điều kiện giáo dục còn hạn chế. Cụ thể:
Theo Khoản 4 điều 2, “Mọi quốc gia thành viên mà nền kinh tế và các phương tiện giáo dục chưa phát triển đầy đủ thì, sau khi tham khảo ý kiến các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động có liên quan có thể xác định mức tối thiểu là 14 tuổi trong giai đoạn đầu” [31]. Mọi quốc gia thành viên đã quy định mức tối thiểu là 14 tuổi như trên, thì trong các báo cáo theo Điều 22 của Điều lệ Tổ chức Lao động quốc tế, phải cho biết lý do của việc quy định mức tuổi như vậy và tới thời điểm cụ thể nào họ sẽ thôi không áp dụng Khoản 4 nói trên. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Theo Khoản 4 điều 7, quốc gia thành viên nào mà nền kinh tế và các phương tiện giáo dục chưa phát triển đầy đủ và thể xác định mức tối thiểu là 14 tuổi (sử dụng những quy định của Khoản 4 điều 2) vẫn có thể cho phép trẻ em từ 12 đến 14 tuổi nhưng chưa hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc tham gia làm những công việc nhẹ nhàng mà không có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự phát triển của trẻ và không ảnh hưởng đến việc học tập, việc tham gia vào những chương trình hướng nghiệp hay đào tạo nghề đã được các nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận, hoặc những chương trình mà các em có khả năng tiếp thu (thay vì 13 đến 15 tuổi như áp dụng thông thường).
Như vậy, quy định chính của Công ước 138 là các quốc gia phải đưa ra pháp luật độ tuổi trẻ em được tham gia lao động với mức tuổi lao động tối thiểu là 15, tuổi tối thiểu cho công việc nguy hại là 18 tuổi. Tuy nhiên, Công ước cũng đưa ra loại trừ cho những công việc nhẹ nhàng. Các quốc gia thành viên cũng có thể giới hạn phạm vi áp dụng tuổi tối thiểu đối với từng ngành nghề.
Khuyến nghị 146 là văn bản quan trọng bổ sung cho Công ước 138. Nó cung cấp một số hướng dẫn bổ trợ, ví dụ như các yếu tố mà chính sách quốc gia nhằm xóa bỏ lao động trẻ em nên chú trọng, cách xác định công việc nguy hại. Công ước 138 cùng với Khuyến nghị 146 còn được gọi chung là Các văn kiện năm 1973 đã củng cố nội dung những văn kiện trước đó về lao động trẻ em bằng việc xác định các độ tuổi lao động tối thiểu áp dụng chung cho tất cả các ngành, nghề, khu vực kinh tế, đồng thời yêu cầu các quốc gia phải thiết lập chính sách và thực thi các biện pháp nhằm xóa bỏ lao động trẻ em một cách nhanh nhất.
Về phạm vi tác động, Công ước 138 áp dụng với mọi lĩnh vực kinh tế và mọi dạng nghề nghiệp, việc làm, bất kể đó là công việc có hợp đồng hay không có hợp đồng, công việc làm công ăn lương hay tự quản lý, công việc có được hay không được trả công, công việc trong hay ngoài môi trường gia đình. Tuy nhiên, theo Điều 6, Công ước không áp dụng với những dạng công việc sau đây:
- Công việc do trẻ em hoặc người chưa thành niên thực hiện trong các trường phổ thông, dạy nghề hoặc kỹ thuật hoặc trong các cơ sở đào tạo khác; Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Công việc do những người từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện trong các cơ sở kinh doanh, nếu được thực hiện theo đúng những điều kiện mà nhà chức trách có thẩm quyền quy định sau khi tham khảo ý kiến với các tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động có liên quan, và là một phần không tách rời của: (a) Một chương trình giáo dục hoặc đào tạo nghề mà trách nhiệm trước hết thuộc một nhà trường hay một cơ sở đào tạo nghề; (b) Một chương trình đào tạo nghề được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận và được tiến hành chủ yếu hoặc toàn bộ tại một doanh nghiệp; (c) Một chương trình hướng nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn một nghề hoặc một hướng đào tạo nào đó [31].
Ngoài ra, Điều 8 quy định một ngoại lệ của việc cấm tuyển dụng trẻ em hoặc trẻ em tham gia lao động, đó là sau khi đã tham khảo ý kiến từ các tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động có liên quan, các nhà chức trách có thẩm quyền có thể cấp giấy phép lao động trên cơ sở các trường hợp của cá nhân, với mục đích chuẩn bị cho các hoạt động biểu diễn nghệ thuật. Giấy phép này phải quy định giới hạn về thời gian và những điều kiện của việc tuyển dụng hoặc lao động.
2.1.2.2. Quy định về điều kiện làm việc
- Công việc nhẹ nhàng
Khoản 2 điều 7 Công ước số 138 cho phép tuyển dụng hoặc tham gia lao động trong những công việc nhẹ với những người ít nhất từ 15 tuổi trở lên tuy chưa hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc. Những hoạt động cho phép tuyển dụng hoặc lao động này phải được nhà chức trách có thẩm quyền quy định và phải quy định số giờ cũng như những điều kiện cho việc tuyển dụng hoặc lao động đó. Quy định này nhằm ngăn ngừa việc lạm dụng sự cho phép giảm độ tuổi trên nhằm mục đích bóc lột sức lao động trẻ em.
Khuyến nghị số 146 (Đoạn 13 Khoản 4) yêu cầu khi áp dụng quy định kể trên đối với công việc nhẹ cần chú ý đến:
- Đảm bảo tiền lương công bằng và bảo vệ mức lương đó trên cơ sở tiền công bằng nhau cho công việc bằng nhau;
- Giới hạn nghiêm giờ làm việc trong ngày và trong tuần, và cấm làm thêm giờ nhằm tạo đủ thời gian cho việc giáo dục và đào tạo (bao gồm thời gian cần thiết để làm bài tập), cho việc nghỉ ngơi trong ngày và các hoạt động lúc nhàn rỗi;
- Không loại trừ khả năng cứu nguy trong các tình huống khẩn cấp thực sự, tạo thời gian liên tục tối thiểu trong 12 giờ nghỉ đêm, và các ngày nghỉ thông thường hàng tuần;
- Đảm bảo có một kỳ nghỉ lễ hàng năm có lương bằng ít nhất bốn tuần và, trong bất kỳ trường hợp nào, không được ngắn hơn mức đảm bảo cho người trưởng thành; Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Phạm vi áp dụng của các chương trình an sinh xã hội, bao gồm các chương trình trợ cấp chấn thương do công việc, chăm sóc y tế và trợ cấp ốm đau, bất kỳ điều kiện làm việc hoặc công việc nào có thể;
- Việc duy trì các tiêu chuẩn thoả đáng về an toàn, sức khoẻ và hướng dẫn, giám sát phù hợp [32].
Công việc nguy hại
Công ước 138 mô tả công việc nguy hại là mọi loại hình việc làm hoặc công việc mà bản chất hoặc các điều kiện làm việc có thể nguy hại tới sức khoẻ, sự an toàn hoặc phẩm hạnh của thanh, thiếu niên. Công ước này không đưa ra định nghĩa rõ ràng, nhưng Điều 3 của Công ước 182 đã liệt kê các công việc thuộc nhóm này.
Theo Đoạn 3 Khuyến nghị số 190, khi xác định các loại công việc nguy hại và những nơi tồn tại các công việc đó, ngoại trừ những vấn đề khác, quốc gia cần xem xét các yếu tố sau:
- Công việc khiến trẻ em lâm vào tình trạng dễ bị lạm dụng về mặt thể chất tâm lý hay tình dục;
- Công việc dưới mặt đất, dưới nước, ở các độ cao nguy hiểm hay trong các khoảng không gian bị tù hãm;
- Công việc với các loại máy móc thiết bị và dụng cụ nguy hiểm hoặc công việc đòi hỏi phải dùng sức để xử lý hoặc vận chuyển những khối hàng nặng;
- Công việc trong môi trường có hại cho sức khoẻ ví dụ như có thể khiến trẻ em phải tiếp xúc với các chất, những tác nhân hay những chu trình độc hại hoặc với tiếng ồn, nhiệt độ hay độ rung làm tổn hại đến sức khoẻ của trẻ em;
- Công việc trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ví dụ làm việc trong nhiều giờ liền, công việc vào ban đêm hay công việc khiến trẻ em bị giam hãm vô lý tại địa điểm của người sử dụng lao động [34].
Đoạn 3 Khuyến nghị số 190 là cơ sở cho các quốc gia xác định các công việc nguy hại được nêu cả trong Công ước số 182 và 138. Trong trường hợp một quốc gia đã phê chuẩn Công ước 138 nhưng chưa phê chuẩn Công ước 182, quy định kể trên vẫn được coi là tài liệu tham khảo (cùng với quy định có liên quan trong Khuyến nghị 146) trong vấn đề này. Tuy nhiên, Công ước 182 yêu cầu các quốc gia có nghĩa vụ cao hơn đối với các công việc nguy hại so với Công ước 138, thể hiện qua các khía cạnh:
Thứ nhất, khác với Công ước số 138, công ước số 182 yêu cầu các quốc gia khi xác định các công việc được coi là nguy hại theo Khoản d điều 3 bắt buộc phải tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan, đặc biệt là các tiêu chuẩn nêu trong Đoạn 3 và 4 của Khuyến nghị 190. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Thứ hai, nếu như Công ước số 138 cho phép áp dụng độ tuổi tối thiểu có điều kiện với các công việc nguy hại (có thể là từ 16 tuổi nếu đáp ứng một số điều kiện nhất định) thì Công ước 182 không cho phép ngoại lệ như vậy. Đây là sự không đồng nhất giữa hai công ước và có thể gây khó khăn cho những quốc gia đã tham gia cả hai công ước này. Tuy nhiên, Khuyến nghị số 190 đã giải quyết sự không đồng nhất này khi gợi ý rằng các quốc gia có thể cho phép trẻ em từ độ tuổi 16 được làm những công việc nguy hại với các điều kiện tương tự nêu ở Khoản 3 điều 3 Công ước 138 (theo Đoạn 4).
Thứ ba, Công ước số 182 có quy định chặt chẽ hơn Công ước 138 về công việc nguy hại. Cụ thể, tại Khoản 2 và 3 Công ước 182 quy định:
Cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên phải xác định những nơi tồn tại các công việc nguy hại sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động có liên quan và phải định kỳ xem xét, sửa đổi danh mục các công việc nguy hại khi cần thiết [33].
2.1.2.3. Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Đoạn 13, mục IV Khuyến nghị số 146 quy định giới hạn nghiêm giờ làm việc trong ngày và trong tuần, và cấm làm thêm giờ nhằm tạo đủ thời gian cho việc giáo dục và đào tạo, cho việc nghỉ ngơi trong ngày và các hoạt động lúc nhàn rỗi và đảm bảo có một kỳ nghỉ lễ hàng năm có lương bằng ít nhất bốn tuần và trong bất kỳ trường hợp nào, không được ngắn hơn mức đảm bảo cho người trưởng thành.
2.1.2.4. Quy định về thanh tra, kiểm tra lao động trẻ em
Đoạn 14 Khuyến nghị số 146 đưa ra các biện pháp nhằm đảo bảo áp dụng hiệu quả Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu và của Khuyến nghị này cần bao gồm:
- Củng cố việc thanh kiểm tra lao động và các dịch vụ liên quan, ví dụ bằng chương trình đào tạo đặc biệt cho các thanh tra viên nhằm phát hiện các trường hợp lạm dụng các cơ sở hoặc việc làm của trẻ em và người trẻ tuổi để điều chỉnh các trường hợp lạm dụng đó; Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Củng cố các dịch vụ cải thiện và thanh kiểm tra việc đào tạo trong các cơ sở;
- Chú trọng vai trò mà các thanh tra viên có thể thể hiện được trong việc cung cấp thông tin và tư vấn về những công cụ hiệu quả phù hợp với các điều khoản liên quan cũng như đảm bảo việc thực thi các điều khoản đó;
- Việc thanh kiểm tra lao động và kiểm tra công tác đào tạo trong các cơ sở cần phối kết hợp chặt chẽ với nhau để tạo được hiệu quả kinh tế lớn nhất và các công tác quản lý lao động cần phối hợp chặt chẽ với các công tác về giáo dục, đào tạo, phúc lợi và hướng dẫn cho trẻ em và người trẻ tuổi [32].
2.1.2.5. Quy định về xử lý vi phạm
Công ước 138 và Khuyến nghị 146 đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo sự thực hiện các văn kiện này. Công ước nêu “tất cả những biện pháp cần thiết, bao gồm điều khoản về những hình phạt thích hợp, sẽ được cơ quan có thẩm quyền thực hiện để đảm bảo sự cưỡng chế hiệu quả của những điều khoản của Công ước này” [31, Điều 9].
Công ước 182 còn nêu rõ một quốc gia cần thực hiện tất cả các biện pháp mà quốc gia đó xét thấy cần thiết để thực hiện và cưỡng chế thi hành các quy định của quốc gia mà sẽ đem lại hiệu quả đối với Công ước này. Trong mọi trường hợp, các biện pháp này sẽ bao gồm cả các biện pháp trừng phạt và có thể bao gồm những biện pháp trừng phạt khác nếu cần thiết.
2.1.2.6. Pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
- Khái niệm “các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất”
Theo Điều 3 Công ước số 182, thuật ngữ “các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” bao gồm:
- Mọi hình thức nô lệ hay tương tự nô lệ như buôn bán và vận chuyển trẻ em, gán nợ, lao động nô lệ và lao động cưỡng bức trong đó có tuyển mộ cưỡng bức trẻ em tham gia vào các xung đột vũ trang;
- Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em vào hoạt động mại dâm, sản xuất các sản phẩm phim ảnh khiêu dâm hoặc biểu diễn khiêu dâm;
- Sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ em vào các hoạt động bất hợp pháp, đặc biệt vào mục đích sản xuất và vận chuyển chất ma tuý như được nêu tại các hiệp định quốc tế; Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Những công việc mà tính chất hoặc các điều kiện của nó có thể xâm hại đến sức khoẻ, an toàn và đạo đức của trẻ [33].
“Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất trong nhóm thứ nhất (a) “mọi hình thức nô lệ hay tương tự nô lệ” bao trùm nội dung của các văn kiện pháp lý quốc tế về xóa bỏ chế độ nô lệ hay tương tự như nô lệ” [37].
Các văn kiện pháp lý quốc tế về xóa bỏ chế độ nô lệ hay tương tự như nô lệ chính mà các quốc gia có thể tham chiếu bao gồm: Các Công ước số 29 năm 1930 và số 105 năm 1957 của ILO về lao động cưỡng bức; Công ước về chế độ nô lệ năm 1926 và Nghị định thư sửa đổi năm 1953 (của Liên hợp quốc); Công ước bổ sung về xóa bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ và các thể chế, tập tục tương tự như chế độ nô lệ (của Liên hợp quốc) năm 1956; Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về quyền trẻ em về sử dụng trẻ em trong xung đột vũ trang năm 2013…
“Các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất trong nhóm thứ hai (b) và thứ ba (c) bao trùm nội dung của các văn kiện pháp lý quốc tế về buôn bán người vào mục đích mại dâm và sản xuất văn hóa phẩm khiêu dâm và chống tội phạm xuyên quốc gia” [47]. Các văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu có liên quan mà các quốc gia có thể tham chiếu bao gồm: Công ước về trấn áp việc buôn người và bóc lột mại dâm người khác của Liên hợp quốc năm 1949; Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước này về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em năm 2012.
Với các hình thức công việc tại nhóm thứ tư, Công ước 182 quy định sẽ do các quốc gia thành viên xác định trên cơ sở tham vấn với các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động, cũng như trên cơ sở tham chiếu với các quy định ở Đoạn 3, 4 Khuyến nghị 190 của ILO – văn kiện bổ sung Công ước số 182.
- Biện pháp xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
Theo Điều 1 Công ước 182, nghĩa vụ tổng quát của quốc gia là phải áp dụng ngay những biện pháp khẩn cấp có hiệu quả để bảo đảm nghiêm cấm và xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Để thực hiện nghĩa vụ này, Công ước xác định những yêu cầu mang tính nguyên tắc với các quốc gia, đó là:
- Thiết lập hoặc chỉ định cơ chế quốc gia giám sát việc thực hiện Công ước (Điều 5);
- Thiết lập và thực hiện chương trình hành động quốc gia nhằm ưu tiên xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Điều 6); Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Triển khai tất cả các biện pháp cần thiết, bao gồm các chế tài thích hợp, để bảo đảm thực hiện có hiệu quả Công ước (Khoản 1 điều 7);
- Triển khai các biện pháp hiệu quả trong thời gian hạn định, có tính đến tầm quan trọng của giáo dục, để ngăn ngừa lao động trẻ em và bảo vệ trẻ em lao động (Khoản 2 điều 7);
- Chỉ định một cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc thực hiện Công ước (Khoản 3 điều 7);
- Tiến hành các biện pháp thích hợp để hỗ trợ và hợp tác quốc tế (Điều 8).
Theo Đoạn 2 Khuyến nghị số 190, Chương trình hành động quốc gia nên được xây dựng và thực hiện như một vấn đề khẩn cấp, có sự tham khảo ý kiến của các cơ quan Chính phủ liên quan và tổ chức của người sử dụng lao động và người lao động, có xét đến ý kiến của những trẻ em bị ảnh hưởng trực tiếp bởi những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, ý kiến của gia đình các em và nếu thích hợp, ý kiến của các nhóm liên quan khác cam kết thực hiện mục đích của Công ước 182 và Khuyến nghị này. Ngoài ra, chương trình nên nhằm vào các mục tiêu cụ thể là:
- Xác định và tố cáo những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất;
- Ngăn chặn việc đưa trẻ em tham gia vào hoặc đưa trẻ em ra khỏi những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, bảo vệ các em khỏi những hành động bức hại và giúp các em phục hồi, hoà nhập xã hội thông qua các biện pháp đáp ứng được các nhu cầu về giáo dục thể chất và tâm lý cho các em;
- Đặc biệt quan tâm đến những em ở lứa tuổi nhỏ hơn, trẻ em gái, những nơi làm việc không công khai mà trẻ em gái đặc biệt gặp nguy cơ cao, những trẻ em khác có nguy cơ bị tổn thương cao hoặc có nhu cầu đặc biệt;
- Xác định, tiếp cận và phối hợp với cộng đồng mà ở đó trẻ em có nguy cơ cao;
Cung cấp thông tin, cảnh tỉnh và huy động sự tham gia của công luận và của các nhóm xã hội có liên quan khác, bao gồm trẻ em và gia đình của các Khuyến nghị số 190 đề xuất những biện pháp cần thiết mà các quốc gia cần tiến hành để thực hiện có hiệu quả Công ước 182, bao gồm:
- Pháp luật quốc gia hoặc cơ quan có thẩm quyền nên xác định người chịu trách nhiệm trong trường hợp các quy định quốc gia về việc cấm và loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất không được tuân thủ.
- Hình sự hóa những hành vi sử dụng trẻ em làm các công việc thuộc về các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (theo Đoạn 12 Khuyến nghị). Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Đảm bảo rằng các hình phạt sẽ được áp dụng cho việc vi phạm những quy định pháp luật quốc gia về nghiêm cấm và loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, bao gồm cả hình phạt hình sự nếu thích hợp.
- Quy định ngay những biện pháp hành chính, dân sự hay hình sự, ví dụ như một hệ thống giám sát đặc biệt đối với những doanh nghiệp đã sử dụng những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, và trong trường hợp thường xuyên vi phạm có thể xem xét việc tạm thời hay vĩnh viễn rút giấy phép hoạt động.
- Tiến hành những biện pháp khác bao gồm: tuyên truyền nâng cao nhận thức cho các đối tượng trong xã hội; lôi cuốn sự tham gia của toàn xã hội; đào tạo nâng cao năng lực cho các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm; quy định và xử lý hình sự những công dân lạm dụng trẻ em cả khi ở nước khác; cải cách thủ tục pháp lý và hành chính để xử lý vi phạm một cách hiệu quả; xây dựng cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo và bảo vệ nhân chứng, nạn nhân; thúc đẩy thực hiện quyền giáo dục; nâng cao nhận thức và hỗ trợ các bậc cha mẹ và gia đình không sử dụng trẻ em vào các hoạt động kinh tế.
Công ước 182 và Khuyến nghị 190 đã đưa ra khái niệm các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, biện pháp loại bỏ vấn đề này và cả các biện pháp cưỡng chế thi hành các điều khoản của công ước. Điều này cho thấy những nỗ lực của ILO nhằm thực hiện mục tiêu ưu tiên xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất trong mục tiêu tổng thể là loại bỏ lao động trẻ em. Đây là những văn kiện quốc tế quan trọng nhằm cung cấp cho các quốc gia thành viên cơ sở pháp lý và các mục tiêu xây dựng chính sách quốc gia nhằm ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em một cách hiệu quả nhất.
2.2 KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
2.2.1. Khái quát các văn bản pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
Việt Nam hiện đã tham gia tất cả các điều ước quốc tế cơ bản về lao động trẻ em, bao gồm Công ước về quyền trẻ em, hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em, các Công ước số 182 và 138 của ILO. Điều này cho thấy sự quan tâm của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em.
“Phòng ngừa trẻ em rơi vào hoàn cảnh phải lao động sớm hoặc bị bóc lột, lạm dụng là những biện pháp đầu tiên, đồng thời là biện pháp cơ bản không thể bỏ qua để đảm bảo hiệu quả lâu dài và vững chắc của việc xóa bỏ lao động trẻ em” [10, tr.69]. Đây cũng là biện pháp được vận dụng trong các chương trình xóa bỏ lao động trẻ em của Liên hợp quốc, ILO và một số tổ chức quốc tế khác.
Nhiều văn bản pháp luật Việt Nam đã đề cập đến việc phòng ngừa nguy cơ trẻ em lao động sớm hoặc bị bóc lột, lạm dụng. Trong đó, các văn bản có ý nghĩa quan trọng nhất về vấn đề này là Bộ luật Lao động năm 2024, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2016, Bộ luật Hình sự và một số văn bản khác.
Bộ luật Lao động 2024: Bộ luật này đặt ra khuôn khổ pháp lý cụ thể để ngăn chặn trẻ em lao động sớm và lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên. Bộ luật đã dành hẳn một mục gồm những điều khoản quy định riêng đối với lao động chưa thành niên. Theo đó thì “Lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [29, Điều 161]. Bộ luật cũng quy định rõ, người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khỏe, học tập trong quá trình lao động.
Để cụ thể hóa những quy định quan trọng về vấn đề lao động trẻ em trong Bộ luật Lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 10/2025/TT-BLĐTBXH ngày 10 tháng 06 năm 2025 về danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên. Ngày 11-06-2025, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp tục ban hành Thông tư số 11/2025/TT-BLĐTBXH về danh mục công việc nhẹ được sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc.
- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2016: Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Đạo luật này xác lập một khuôn khổ pháp lý nền tảng có tác dụng phòng ngừa, bảo vệ và giúp đỡ trẻ em lao động. Điều đó được thể hiện ở một số khía cạnh như:
Thứ nhất, Luật đã quy định một hệ thống các quyền cơ bản mà trẻ em Việt Nam được hưởng, trong đó tất cả các quyền đều trực tiếp hoặc gián tiếp giúp trẻ em tránh khỏi nguy cơ phải lao động sớm, bị bóc lột, lạm dụng hoặc xâm hại. Cụ thể là các quyền:
- Quyền được khai sinh và có quốc tịch (điều 11);
- Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức (điều 12);
- Quyền được sống chung với cha mẹ (điều 13);
- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự (điều 14);
- Quyền được chăm sóc sức khỏe (điều 15);
- Quyền được học tập, được học tiểu học miễn phí ở các trường công lập (điều 16);
- Quyền được vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi (điều 17)…
Các quyền này cơ bản đều phù hợp với các quyền trẻ em được pháp luật quốc tế công nhận, nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ.
Thứ hai, tại Điều 7 của Luật nghiêm cấm các hành vi bóc lột, lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động và một số điều cấm khác có liên quan như: cấm bỏ rơi trẻ em; dụ dỗ, lôi kéo, lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi; lạm dụng tình dục trẻ em; dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em đánh bạc, hoạt động mại dâm, mua, bán, sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý, văn hoá phẩm bạo lực, khiêu dâm; cản trở việc học tập của trẻ em.
Thứ ba, Luật đã quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan, các tổ chức xã hội và gia đình trong việc bảo đảm các quyền của trẻ em. Những quy định này nhằm bảo đảm các quyền trẻ em được tôn trọng và thực hiện trên thực tế, đồng thời củng cố vững chắc khuôn khổ pháp lý về bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột, lạm dụng hay xâm hại.
- Bộ luật Hình sự năm 2011 sửa đổi, bổ sung năm 2021: Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Bộ luật này có một điều quy định trực tiếp về tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em là Điều 228. Ngoài ra, Bộ luật còn bao gồm một số tội danh khác trừng trị những hành vi liên quan đến một số hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Cụ thể: Điều 120 Bộ Luật Hình sự quy định về tội danh mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; các tội danh liên quan đến mại dâm trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em và khiêu dâm trẻ em (Điều 112, 114, 115 và 116); tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252)…
- Luật Phổ cập giáo dục tiểu học và Luật Giáo dục:
Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam đã cho thấy, việc bảo đảm quyền được học tập của trẻ em là một trong những biện pháp quan trọng và có hiệu quả nhất trong việc phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng trẻ em lao động sớm. Các đạo luật này quy định chi tiết về quyền học tập của trẻ em, gồm quyền được học tiểu học miễn phí, là cơ sở pháp lý chủ yếu để hiện thực hóa quyền được giáo dục của trẻ em. Bên cạnh đó, ngày 24-3-2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện bảo đảm, trách nhiệm của các cơ quan; tiêu chuẩn, thẩm quyền công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tới cấp trung học cơ sở và xóa mù chữ.
- Luật Dạy nghề năm 2018:
Bên cạnh giáo dục, việc dạy nghề cũng là biện pháp hiệu quả không chỉ giúp trẻ em tránh được nguy cơ lao động sớm mà còn chuẩn bị cho trẻ các kỹ năng lao động để trẻ có thể tham gia vào thị trường lao động khi đến độ tuổi pháp luật cho phép. Theo đó, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập và vận hành các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề… dưới dạng độc lập hay gắn với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục; theo hình thức công lập, bán công, dân lập, tư nhân hay của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Điều 9 quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động dạy nghề, trong đó có hành vi lợi dụng việc dạy nghề để trục lợi, lạm dụng sức lao động. Luật cũng quy định về hợp đồng dạy nghề và quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia dạy nghề và trách nhiệm quản lý của Nhà nước nhằm đảm bảo việc học và dạy nghề mang lại hiệu quả và ngăn ngừa các tiêu cực phát sinh từ hoạt động này.
- Bên cạnh khuôn khổ pháp luật nêu trên, Việt Nam cũng đã và đang triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, cụ thể là các chương trình:
Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2023 – 2027 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2023) với mục đích chính là chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực. Trước đó, chúng ta đã triển khai Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2013-2022 (ban hành kèm theo Quyết định số 23/2013/QĐ-TTg) ngày 25-02-2013 của Thủ tướng Chính phủ). Nội dung chính của chương trình gồm: truyền thông, giáo dục, vận động xã hội nhằm tạo mối quan tâm và thúc đẩy sự thay đổi về nhận thức của toàn xã hội đối với công tác bảo vệ trẻ em; xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ chăm sóc trẻ em.
Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2024 – 2020 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17-10-2024) với mục tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng; hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2027; đến năm 2020, có ít nhất 30% trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non; đến năm 2020, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở bậc tiểu học là 99% và ở bậc trung học cơ sở là 95%, trong đó đặc biệt quan tâm đến trẻ em dân tộc ít người, trẻ em khuyết tật; khuyến khích các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, gia đình, cộng đồng, người dân và trẻ em tham gia bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Chúng ta cũng đang nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch:
- Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 –
- Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2016 –
- Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em giai đoạn 2025 –
- Chương trình phòng, chống bạo lực đối với trẻ em giai đoạn 2016 –
- Chương trình xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất giai đoạn 2016 – 2020…
Theo các cam kết của Chính phủ, đến năm 2016, Việt Nam sẽ xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; đến 2020 sẽ xóa bỏ lao động trẻ em trong điều kiện nặng nhọc, độc hại nguy hiểm và giảm thiểu lao động trẻ em, trẻ em tham gia hoạt động kinh tế.
Cùng với các chương trình xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm, các quy định và chương trình kể trên đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện, hoàn chỉnh nhằm bảo vệ trẻ em Việt Nam trước những nguy cơ dẫn đến tình trạng phải lao động quá sớm hoặc bị bóc lột, lạm dụng hay xâm hại.
2.2.2. Pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
2.2.2.1. Quy định về độ tuổi lao động tối thiểu
Nhìn chung, có thể khái quát khuôn khổ pháp luật Việt Nam liên quan đến tuổi lao động tối thiểu như sau:
- Bảng 2.2: Độ tuổi lao động tối thiểu theo pháp luật Việt Nam
Theo Điều 3 Bộ luật Lao động, người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. Như vậy, có thể hiểu độ tuổi tối thiểu được tham gia lao động ở Việt Nam là từ đủ 15 tuổi, tương ứng với quy định tại Điều 2 Công ước số 138 của ILO.
- Bên cạnh đó, từ quy định của Điều 163 Bộ luật lao động:
Không được sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành [29].
Có thể hiểu là độ tuổi tối thiểu được tuyển dụng và tham gia làm các công việc nguy hại theo pháp luật Việt Nam là từ đủ 18 tuổi.
Với mức dưới 15 tuổi, Điều 164 Bộ luật Lao động quy định:
- Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định.
- Khi sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi thì người sử dụng lao động phải tuân theo quy định sau đây:
- Phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật và phải được sự đồng ý của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi;
- Bố trí giờ làm việc không ảnh hưởng đến giờ học tại trường học của trẻ em;
- Bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi.
- Không được sử dụng lao động là người dưới 13 tuổi làm việc trừ một số công việc cụ thể do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định. Khi sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc thì người sử dụng lao động phải tuân theo quy định tại khoản 2 Điều này [29]. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Thông tư số 11/2025 /TT-BLĐTBXH ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã quy định rõ danh mục công việc được sử dụng người dưới 13 tuổi và người từ 13 đến dưới 15 tuổi làm việc.
Công việc được sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc gồm:
- Diễn viên: múa; hát; xiếc; điện ảnh; sân khấu kịch, tuồng, chèo, cải lương, múa rối (trừ múa rối dưới nước);
- Vận động viên năng khiếu: thể dục dụng cụ, bơi lội, điền kinh (trừ tạ xích), bóng bàn, cầu lông, bóng rổ, bóng ném, bi-a, bóng đá, các môn võ, đá cầu, cầu mây, cờ vua, cờ tướng, bóng chuyền.
Công việc được sử dụng người từ 13 đến dưới 15 tuổi làm việc gồm:
- Những công việc được sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc;
- Các nghề truyền thống: chấm men gốm, cưa vỏ trai, vẽ tranh sơn mài, làm giấy dó, nón lá, se nhang, chẩm nón, dệt chiếu, làm trống, dệt thổ cẩm, làm bún gạo, làm giá đỗ, làm bánh đa (miến), làm bánh đa Kế;
- Các nghề thủ công mỹ nghệ: thêu ren, mộc mỹ nghệ, làm lược sừng, đan lưới vó, làm tranh Đông Hồ, nặn tò he;
- Đan lát, làm các đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu tự nhiên như: mây, tre, nứa, dừa, chuối, bèo lục bình;
- Nuôi tằm;
- Gói kẹo dừa [3].
Theo Điều 164 Bộ luật Lao động, người học nghề, tập nghề phải đủ 14 tuổi và phải có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề, trừ một số nghề do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định. Như vậy theo Bộ luật thì độ tuổi tối thiểu để học nghề là từ đủ 14 tuổi.
Quy định về độ tuổi tham gia lao động của Bộ luật Lao động cũng phù hợp với Luật Dạy nghề. Luật này quy định về thời gian học nghề trình độ trung cấp cho người hoàn thành xong chương trình trung học cơ sở “Từ ba đến bốn năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở” [27, Điều 18]. Điều này có nghĩa là trẻ em 15 tuổi thì học hết lớp 9 và có thể bắt đầu học nghề.
Các tiêu chuẩn của ILO về việc thiết lập độ tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc hoặc lao động với ba độ tuổi khác nhau phụ thuộc vào bản chất của việc làm hoặc công việc được thực hiện. Những độ tuổi này được thiết lập theo nguyên tắc không thấp hơn độ tuổi hoàn thành giáo dục bắt buộc và, trong mọi trường hợp, không thấp hơn 15 đối với độ tuổi tối thiểu chung, 13 đối với công việc nhẹ nhàng và 18 (16 tuổi với những điều kiện nhất định) đối với công việc độc hại.
Nhìn chung, có thể thấy việc quy định về độ tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
2.2.2.2. Quy định về điều kiện làm việc
Bộ Luật lao động đã đưa ra yêu cầu chặt chẽ về điều kiện sử dụng lao động chưa thành niên. Điều 162 của Bộ Luật lao động quy định:
- Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động.
- Khi sử dụng người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu [29].
Khoản 2 Điều 165 Bộ luật Lao động đã quy định các nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên, bao gồm:
- Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm;
- Công trường xây dựng;
- Cơ sở giết mổ gia súc;
- Sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp;
- Nơi làm việc khác gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn và đạo đức của người chưa thành niên [29].
Thông tư 10/2025/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về ban hành danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên đã cụ thể hóa Điểm e khoản 2 điểu 165 như sau:
- Tiếp xúc với các yếu tố vệ sinh môi trường lao động không đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo quy định của pháp luật hiện hành: điện từ trường, rung, ồn, nhiệt độ, bụi silic, bụi không chứa silic, bụi bông, bụi amiăng;
- Tiếp xúc với các loại chất, tia phóng xạ; bức xạ bởi tia X và các tia có hại khác không đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo qui định của pháp luật hiện hành; Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh truyền nhiễm;
- Thời gian làm việc trên 04 giờ/ngày trong không gian làm việc gò bó, chật hẹp, công việc có khi phải quỳ gối, nằm, cúi khom;
- Trên giá cao hay dây treo cao hơn 3 m so với mặt sàn làm việc; địa hình đồi núi dốc trên 300 [2].
Khoản 1 Điều 165 đã quy định các công việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên, bao gồm:
- Mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;
- Sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;
- Bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc;
- Phá dỡ các công trình xây dựng;
- Nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;
- Lặn biển, đánh bắt cá xa bờ;
- Công việc khác gây tổn hại cho sức khoẻ, an toàn hoặc đạo đức của người chưa thành niên [29].
Các công việc khác tại Điểm g khoản 1 Điều 165 bao gồm 91 công việc được quy định tại danh mục đi kèm Thông tư số 10/2025/TT-BLĐTBXH. Danh mục này đã mở rộng hơn so với quy định tại Thông tư trước đây quy định về điều kiện lao động có hại và các công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên là Thông tư liên Bộ số 09/TTLB ngày 13-4-1995 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế. Đây là những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc phải tiếp xúc với các chất độc hại có ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe và ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của người chưa thành niên, ví dụ như: trực tiếp nấu rót và vận chuyển kim loại lỏng, tháo dỡ khuôn đúc làm sạch sản phẩm đúc ở các lò; công việc trên giàn giáo hoặc trên rầm xà cao hơn 3 m so với sàn thao tác và các công việc tương tự; lắp dựng, tháo dỡ hoặc thay đổi giàn giáo (trừ trường hợp phụ việc làm trên mặt đất hoặc trên sàn nhà)…
2.2.2.3. Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Về thời giờ làm việc, Điều 163 Bộ luật Lao động quy định:
- Thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi không được quá 08 giờ trong 01 ngày và 40 giờ trong 01 tuần. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
- Thời giờ làm việc của người dưới 15 tuổi không được quá 04 giờ trong 01 ngày và 20 giờ trong 01 tuần và không được sử dụng làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm [29].
Như vậy, so với người lao động thành niên, thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên ít hơn 8 giờ/tuần. Quy định này cũng có rút ngắn so với quy định trước đó trong Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2014 với mức thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên là 42 giờ/ngày.
Đối với trẻ em từ đủ 14 tuổi được phép học nghề thì thời gian học nghề cũng chưa được quy định rõ để bảo vệ sức khỏe và sự phát triển về thể chất của các em.
Về vấn đề làm thêm giờ, Điều 163 Bộ luật Lao động quy định: “Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm trong một số nghề và công việc theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội” [29]. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có hướng dẫn của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về các nghề và công việc này. Quy định này vẫn chưa phù hợp với nội dung Đoạn 13 Khuyến nghị số 146 vì theo Khuyến nghị, cấm làm thêm giờ nhằm tạo đủ thời gian cho việc giáo dục, nghỉ ngơi và các hoạt động khác.
- Về thời giờ nghỉ ngơi
Từ Điều 108 đến Điều 112 Bộ luật Lao động mới chỉ có quy định chung cho tất cả người lao động gồm:
- Người lao động được nghỉ 30 phút nếu làm việc liên tục trong 8 giờ hoặc 6 giờ đối với công việc nặng nhọc theo danh mục quy định của Thông tư số 10/TT-BLĐTBXH và được nghỉ 45 phút trong trường hợp làm việc vào ban đêm;
- Người lao động làm việc theo ca được nghỉ ít nhất 12 giờ trước khi chuyển sang ca khác;
- Người lao động được nghỉ ít nhất là 24 giờ/tuần làm việc (01 ngày) và 4 ngày/tháng làm việc;
- Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ 12 ngày và hưởng nguyên lương hàng năm đối với công việc bình thường, 14-16 ngày đối với công việc nặng nhọc, độc hại tùy theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Đây là những chuẩn mực đã được quy định một cách cụ thể, chi tiết cho người lao động. Tuy nhiên chưa có quy định cụ thể, chi tiết và nghiêm ngặt riêng cho người lao động chưa thành niên để tránh việc lạm dụng sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật và để phù hợp với thể trạng, sự phát triển của lao động chưa thành niên.
2.2.2.4. Quy định về thanh tra
Bộ luật Lao động dành một chương quy định Thanh tra Nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm lao động. Cụ thể, nhiệm vụ thanh tra nhà nước về lao động bao gồm: thanh tra việc thực hiện các quy định pháp luật về lao động; điều tra tai nạn lao động và những vi phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động; tham gia hướng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động; xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về lao động. Những nhiệm vụ này do Thanh tra chuyên ngành lao động là Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện. Ngoài ra, luật cũng quy định:
Việc thanh tra an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực: phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang do các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó thực hiện với sự phối hợp của thanh tra chuyên ngành về lao động [29].
Việc thanh tra lao động chưa thành niên, lao động trẻ em cũng nằm trong các loại hình và thuộc thẩm quyền thanh tra chung nêu trên.
Tuy nhiên, để bảo vệ đối tượng là trẻ em dưới 15 tuổi, Thông tư số 10/2025/TT-BLĐTBXH và cả Thông tư số 11/2025/TT-BLĐTBXH đã nhấn mạnh:
Sở Lao động – Thương binh và xã hội có trách nhiệm:
- Phối hợp với Sở Y tế, Liên đoàn Lao động địa phương thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Thông tư;
- Tăng cường thanh tra phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm quy định của pháp luật về sử dụng lao động chưa thành niên;
- Hàng năm, tổng hợp và báo cáo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về tình hình thực hiện Thông tư này cùng với báo cáo công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trên địa bàn [2, Điều 2].
Như vậy, Sở Lao động – Thương binh và xã hội có trách nhiệm chính trong việc thanh tra, kiểm tra và giám sát thực hiện pháp luật về lao động chưa thành niên tại địa phương và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm giám sát, quản lý trên phạm vi cả nước. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
2.2.2.5. Quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến lao động trẻ em
Xử phạt vi phạm pháp luật nhằm mục đích ngăn ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm quyền trẻ em mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Người có hành vi vi phạm các quy định của Bộ luật Lao động thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Tại Điều 9 Nghị định 71/2023/NĐ-CP ngày 22-8-2023 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định chi tiết các hành vi vi phạm quyền trẻ em, lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động, làm cơ sở cho việc xử lý hành vi vi phạm trên thực tế. Các quy định cụ thể như sau:
- Cha, mẹ, người giám hộ, người nhận nuôi dưỡng trẻ em bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em hoặc bắt trẻ em làm những công việc mà pháp luật không cho phép.
- Người nhận dạy nghề cho trẻ em bắt trẻ em làm công việc quá sức, nặng nhọc, quá thời gian, trong môi trường độc hại, nguy hiểm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em.
- Sử dụng lao động trẻ em không trả công hoặc trả công không tương xứng, không có cam kết của cha, mẹ, người giám hộ, không có hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; bắt trẻ em lao động quá sức, quá thời gian, nặng nhọc, trong môi trường độc hại, nguy hiểm; sử dụng trẻ em làm những công việc trái với quy định của pháp luật về lao động.
- Sử dụng trẻ em làm những công việc trong vũ trường, cơ sở xoa bóp, vật lý trị liệu, sòng bạc, nhà hàng ka-ra-ô-kê, quán rượu, quán bia hoặc những nơi có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em.
- Sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng giả, hàng cấm, hàng trốn thuế.
- Để trẻ em tham gia, sử dụng trẻ em trong sản xuất, kinh doanh, phổ biến sản phẩm văn hóa, thông tin, truyền thông, đồ chơi, trò chơi, đồ dùng có nội dung bạo lực, đồi trụy, nguy hiểm, không phù hợp hoặc có hại cho sự phát triển của trẻ em [6]. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Nghị định số 95/2025/NĐ-CP ngày 22-8-2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã đưa ra các mức xử phạt cụ thể với các hình thức vi phạm pháp luật lao động chưa thành niên như sau:
Phạt cảnh cáo đối với người sử dụng lao động có hành vi không lập sổ theo dõi riêng khi sử dụng lao động chưa thành niên hoặc không xuất trình sổ theo dõi khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
- Sử dụng người dưới 15 tuổi mà không ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật;
- Sử dụng lao động chưa thành niên làm việc quá thời giờ làm việc quy định tại Khoản 2 Điều 163 của Bộ luật Lao động;
- Sử dụng người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, trừ một số nghề, công việc được pháp luật cho phép.
Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
- Sử dụng lao động là người chưa thành niên làm công việc, tại nơi làm việc bị cấm sử dụng theo quy định tại Điều 165 của Bộ luật Lao động;
- Sử dụng người dưới 15 tuổi làm công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 164 của Bộ luật Lao động [7, Điều 19].
Nghị định số 144/2025/NĐ-CP ngày 29-10-2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em đã đưa ra mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cấm lạm dụng lao động trẻ em; sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng hóa, hàng giả, hàng trốn thuế, tiền tệ trái phép như sau:
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi của cha, mẹ, người giám hộ, người nuôi dưỡng trẻ em bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em.
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng hóa, hàng giả, hàng trốn thuế, tiền tệ trái phép. Hình thức phạt bổ sung: tịch thu hàng trốn thuế, hàng giả, tiền tệ trái phép [8, Điều 29]. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Điều 228 Bộ luật Hình sự cũng có quy định về hành vi sử dụng lao động trẻ em trái phép được xác định là tội phạm:
Người nào sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phát hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm [28].
2.2.2.6. Pháp luật Việt Nam về xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
So sánh với các tiêu chuẩn tối thiểu có liên quan của ILO, có thể thấy quy định mức tuổi tối thiểu là 18 của Việt Nam đối với công việc nguy hại phù hợp với nội dung Điều 3 Công ước số 138, còn quy định về những dạng công việc nguy hại phù hợp với nội dung đoạn 3 Khuyến nghị số 190 của ILO.
Mặc dù không có định nghĩa nào về “những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” hay “các công việc nguy hại” với trẻ em, tuy nhiên, qua đối chiếu với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Lao động và các đạo luật khác có liên quan, có thể thấy rằng tất cả những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất nêu ở Điều 3 Công ước 182 đều bị cấm và xử lý theo pháp luật Việt Nam [37].
Cụ thể, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nghiêm cấm mọi hình thức xâm hại trẻ em trong khi Bộ luật Lao động cấm sử dụng lao động chưa thành niên trong các công việc nguy hại đến sức khỏe, thể chất, tinh thần. Đây có thể coi là những quy định nền tảng có tác dụng phòng ngừa những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2011, sửa đổi bổ sung năm 2021 quy định những hình phạt với nhiều hành vi có liên quan, cụ thể như sau:
- Bảng 2.3: Bảng đối chiếu giữa những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất theo Công ước số 182 và các tội có liên quan trong Bộ luật Hình sự Việt Nam
Cùng với việc thể chế hóa trong pháp luật, rất nhiều Chương trình quốc gia liên quan đến xóa bỏ lao động trẻ em – trong đó đặc biệt liên quan trực tiếp đến việc xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất – đã và đang được thực hiện như: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em (2013-2022); Chương trình quốc gia ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại nguy hiểm (2016-2022); Chương trình hành động quốc gia chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em (2016-2022) đã được tiến hành đem lại kết quả tương đối khả quan; Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2023-2027; Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2024-2020; Chương trình quốc gia về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất giai đoạn 2016-2020 cũng đang được xây dựng.
Chương trình hỗ trợ Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế ILO tại Việt Nam với các mục tiêu: (a) Cải thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động trẻ em với số liệu cụ thể về trẻ em trai và trẻ em gái; (b) Tạo môi trường thuận lợi để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất ở cấp độ quốc gia; (c) Xây dựng và thực hiện các mô hình can thiệp lồng ghép nhằm giảm thiểu các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất tại các tỉnh được chọn, và tổng hợp thành tài liệu để sẵn sàng cho việc nhân rộng các mô hình; (d) Các hoạt động vận động chính sách, nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực được lồng ghép và thực hiện trong tất cả 3 mục tiêu nêu trên như là những vấn đề lồng ghép. Chương trình được tiến hành thí điểm tại 5 tỉnh, thành phố: Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Nam, Đồng Nai và Hà Nội.
2.3 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TƯƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Nhìn chung, các quy định của pháp luật Việt Nam tương đối phù hợp với các tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế về ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em.
Theo dõi Bảng 2.1 – Mức tuổi lao động tối thiểu xác lập theo Công ước số 138 của ILO và Bảng 2.2 – Độ tuổi lao động tối thiểu theo pháp luật Việt Nam, có thể thấy quy định về mục này của chúng ta hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế tại Công ước số 138 và Khuyến nghị số 146 của ILO. Chúng ta cũng đã xác định được danh mục công việc được sử dụng người dưới 13 tuổi và người từ 13 đến dưới 15 tuổi làm việc.
Quy định tại Điều 165 Bộ luật Lao động và Thông tư số 10/2025/TT-BLĐTBXH đã đưa ra danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên. Đây là các công việc tương ứng với các công việc nguy hại tại Công ước số 138, Công ước số 182 và Khuyến nghị số 190 của ILO. Về cơ bản, danh mục này đã quy định khá chi tiết từ quy định về công việc nguy hại của các văn kiện quốc tế nêu trên về công việc nguy hại.
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam mới chỉ đưa ra được một số quy định cơ bản, còn rất nhiều tiêu chuẩn quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em chúng ta còn chưa tiến hành “nội luật hóa” hoặc quy định chưa phù hợp. Cụ thể:
Mặc dù đã phê chuẩn Công ước số 182 nhưng pháp luật Việt Nam vẫn chưa đưa ra khái niệm “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em”, “các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” trong khi đây là nền tảng cho việc loại bỏ lao động trẻ em và chúng ta cũng đã xác định mục tiêu ưu tiên là xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất.
Việt Nam cũng chưa có quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi áp dụng riêng để phù hợp với lao động chưa thành niên mà vẫn giống như các đối tượng lao động khác. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
Bên cạnh đó, một số yêu cầu về nghĩa vụ của quốc gia trong việc áp dụng ngay những biện pháp khẩn cấp để đảm bảo nghiêm cấm và xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất được xác định trong Công ước số 182 và Khuyến nghị số 190 mà Việt Nam vẫn chưa luật hóa được, ví dụ: thiết lập hoặc chỉ định cơ chế quốc gia giám sát việc thực hiện Công ước; chỉ định một cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc thực hiện Công ước; xác định người chịu trách nhiệm trong trường hợp các quy định quốc gia về việc cấm và loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất không được tuân thủ; quy định một hệ thống giám sát đặc biệt đối với những doanh nghiệp đã sử dụng những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất…
Tuy còn nhiều vấn đề tồn tại trong quá trình nội luật hóa các quy định quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, có thể thấy Việt Nam đã rất cố gắng trong việc xây dựng pháp luật làm cơ sở điều chỉnh vấn đề này. Chúng ta cần tiến hành nghiên cứu kỹ các tiêu chuẩn quốc tế, tiến hành khảo sát điều tra để đưa ra những quy định phù hợp với thực tiễn nhằm đạt hiệu quả thực thi cao nhất.
- Kết luận Chương 2
Các quyền trẻ em đã được đề cập rất nhiều trong các văn kiện quốc tế. Trong đó, các tiêu chuẩn về lao động trẻ em cũng đã được xây dựng rõ ràng và cụ thể, chủ yếu là trong các điều ước quốc tế do ILO ban hành. Việt Nam cũng rất tích cực trong việc tham gia các điều ước quốc tế về quyền trẻ em nói chung và lao động trẻ em nói riêng. Nhìn chung, các quy định của pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em khá phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, các quy định này còn khá chung chung và khái quát, vẫn cần được bổ sung và hoàn thiện thêm nhằm thực hiện mục tiêu lâu dài về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Luận văn: Thực trạng PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em