Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Đặc điểm tình hình tổ chức và hoạt động của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn

2.1.1. Đặc điểm về tổ chức, nhiệm vụ của Nhà trường.

Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn là một trường đặc thù chuyên đào tạo về các lĩnh vực như: Kinh tế, Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch. Được thành lập theo quyết định số: 5845/ QĐ-BGDĐT do Bộ  Giáo dục và Đào tạo ký.

Nhiệm vụ của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn là:

Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các quy định khác của pháp luật dựa trên đặc điểm là một trường đào tạo về văn hóa, nghệ thuật.

Hiện nay, tổ chức bộ máy của nhà trường bao gồm: Hội đồng Quản trị, Ban giám hiệu, các Đoàn thể và 8 phòng ban, 6 khoa, 4 trung tâm chức năng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.1.2 Đặc điểm về điều kiện bảo đảm cho hoạt động đào tạo. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

Điều kiện đất đai  và cơ sở vật chất của nhà trường gồm có: Tổng diện tích quỹ đất của trường hiện có là 7,2 ha. Trong đó diện tích ở nội thành là 1,1ha và diện tích ở ngoại thành là 6,1 ha. Khu đất nằm ở ngoại thành là khu Đô thị Tây Bắc, huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có văn bản đồng ý giao cho trường khu đất này.

Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch có nhiều cơ sở khác nhau, bố trí khá phân tán, gây trở ngại cho quản lý nhà trường nói chung, quản lý chất lượng đào tạo nói riêng. Cụ thể: Trụ sở của Trường hiện nay đặt tại 83/1 Phan Huy Ích, phường 12, Quận Gò Vấp, Tp.HCM. Cơ sở 2 của nhà trường là Khu I-2 Khu đô thị Tây Bắc, Củ Chi, Tp.HCM. Khu đất này sẽ là cơ sở chính của trường sau khi đã xây dựng xong một số hạng mục ở cơ sở 3. Cơ sở 3 của trường nằm cạnh trụ sở 83/1 Phan Huy Ích, phường 12, Quận Gò Vấp, Tp.HCM có địa chỉ  73/479A Phan Huy Ích, P.12, Q.Gò Vấp, TP.HCM cơ sở này rộng 3.097 m2 sẽ xây dựng ở giai đoạn 1. Trường còn sở hữu một số cơ sở như: khu tập thể của cán bộ nhân viên (ở quận 12); cơ sở thực hành cho các loại hình dịch vụ du lịch (ở Tân Bình, quận 7, ở Nhà Bè). Tổng diện tích xây dựng trường hiện nay là 78.349m2 (có bảng phụ lục đính kèm)

Để phục vụ cho nhu cầu học tập của sinh viên học sinh, nhà trường đã tiến hành xây dựng các phòng thực hành với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại và có chất lượng cho từng khoa: Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

  • Khoa Du lịch: trường đã xây dựng một hệ thống mô hình phòng khách sạn với tiêu chuẩn 4 sao có đầy đủ các tiện nghi như: buồng (6 phòng), quầy bar (2 quầy), bếp (1 phòng) với diện tích hơn 1.000m2; Hiện nay trường đang tiếp tục làm các phòng thực hành phục vụ du lịch nghỉ dưỡng và du lịch – resort.
  • Khoa Nghệ thuật: được trang bị các phòng thực hành đàn (3 phòng), phòng vẽ (2 phòng), phòng cắt may (2 phòng), sân khấu biểu diễn (3 phòng + 1 hội trường), phòng máy may (2 phòng): Tổng cộng 13 phòng  với diện tích 700m2.
  • Khoa Kinh tế: bao gồm các phòng thực hành phục vụ cho các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng, Kế toán, Phát hành xuất bản ấn phẩm: bao gồm 6 phòng với diện tích 300m2.
  • Khoa Ngoại ngữ: trường đã trang bị đầy đủ các phòng lab, phòng chiếu cho sinh viên, thêm vào đó là phòng thực hành tiếng Hàn với đầy đủ sách học và tư liệu được tài trợ bởi Tổ chức của Hàn Quốc: bao gồm 2 phòng với diện tích 180m2.
  • Trường còn có một số cơ sở ở Nhà Bè, Tân Bình và ở quận 7 là những cơ sở thực hành cho du lịch nghĩ dưỡng, du lịch nhà hàng khách sạn…cũng thuộc quyền sở hữu của nhà trường.

Ngoài ra trường còn có các quan hệ với các doanh nghiệp ngoài trường để hỗ trợ sinh viên có nơi kiến tập và thực tập tốt nghiệp trong thời gian học tập tại trường

Nhà trường đã trang bị đầy đủ các phòng học và các trang thiết bị dạy học đáp ứng cho nhu cầu học tập của 15.000 sinh viên. Thư viện của Nhà trường được xây dựng khá hoàn chỉnh, có lượng tư liệu, sách giáo khoa và tài liệu tham khảo cho sinh viên phong phú. Trong thư viện nhà trường đã có 11.418 đầu sách phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu và đọc sách của học sinh, sinh viên

2.1.3 Đặc điểm về sự đa dạng ngành nghề đào tạo. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

Một là: Đào tạo trung cấp chuyên nghiệp: Nhà trường đào tạo 14 ngành trung cấp chuyên nghiệp. Đó là các ngành đã được Bộ GD&ĐT có quyết định mở ngành: Thanh nhạc; Diễn viên; Thiết kế đồ họa; Thiết kế thời trang; Phát hành xuất bản ấn phẩm; Thư ký văn phòng; Lữ hành – Hướng dẫn viên; Quản lý khách sạn nhà hàng; Quản lý văn hóa; Mạng máy tính; Hạch toán – Kế toán; Tài chính ngân hàng; Tài chính doanh nghiệp; Quản trị doanh nghiệp – sản xuất.

Hai là: Đào tạo Cao đẳng: Nhà trường đào tạo 17 ngành hệ Cao đẳng. Đó là các ngành đã được Bộ GD&ĐT có quyết định mở ngành: Thanh nhạc; Diễn viên kịch – điện ảnh; Thiết kế đồ họa; Thiết kế thời trang; Kinh doanh xuất bản phẩm; Thư ký văn phòng; Việt Nam học; Quản trị Khách sạn; Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành; Tiếng Nhật; Tiếng Hàn Quốc; Tiếng Trung Quốc; Tiếng Anh; Tin học ứng dụng; Quản trị kinh doanh; Kế toán; Tài chính – Ngân hàng.

2.1.4. Đặc điểm về đội ngũ giáo viên, giảng viên của nhà trường.

Trong những năm qua, để cố gắng trở thành một trong những trường phát triển toàn diện, nhà trường đã có một chiến lược phát triển đội ngũ quản lý và đội ngũ giảng viên. Đến nay, nhà trường có một đội ngũ đủ về số lượng, đạt về chất lượng. Đến hết tháng 31/12/2012, quy mô đội ngũ cán bộ công nhân viên và giáo viên, giảng viên nhà trường: 696 người, bao gồm: giảng viên trực tiếp tham gia giảng dạy 561 người (chiếm 80,6%); cán bộ phục phụ chuyên môn: 54 người (chiếm 7,7%); cán bộ phục vụ hành chính: 81 người (chiếm 11,7%).

Giảng viên có trình độ sau đại học: 293 người (chiếm 52.22%) tổng số giảng viên), trong đó: 53GV từ trình độ Tiến sĩ trở lên, 240 thạc sĩ.

Giáo viên cơ hữu 354 (chiếm 63.10% tổng số giáo viên), trình độ sau đại học: 171 người (chiếm 48,3% giảng viên cơ hữu) gồm: 43GV từ trình độ Tiến sĩ trở lên, 128 thạc sĩ.

Giảng viên thỉnh giảng: 207 người (chiếm 36,9%), trong đó: 10GV từ trình độ Tiến sĩ trở lên, 112 thạc sĩ, 85 cử nhân chủ yếu công tác tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; các giảng viên thỉnh giảng đều đáp ứng tiêu chuẩn của Luật Giáo dục: có trình độ, kiến thức chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp, được đào tạo nghiệp vụ sư  phạm.

2.2. Thực trạng, nguyên nhân trong quản lí chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn hiện nay

Nhằm đánh giá thực trạng quản lý chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn tìm rõ nguyên nhân những mặt mạnh, yếu trong quản lí chất lượng của nhà trường, từ đó để xuất với Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường có những chủ trương biện pháp sát đúng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nhà trường

Chúng tôi tiến hành điều tra ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên về các nội dung quản lí chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn với số lượng 200 phiếu hỏi, kết quả thu được như sau:

Dựa trên kết quả điều tra và thực tiễn quản lí chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn chúng tôi nhận thấy:

2.2.1. Những ưu điểm cơ bản trong quản lý chất lượng đào tạo. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

Trong quản lí hệ thống văn bản, quy chế, quy định liên quan đến giáo dục, đào tạo:

Hệ thống các văn bản, quy chế, quy định về quản lý giáo dục nói chung, quản lý chất lượng đào tạo của nhà trường nói riêng được nhà trường hết sức coi trọng. Qua khảo sát cho thấy, hiện nay toàn trường đang duy trì quản lý hoạt động GD – ĐT trên một số loại văn bản, như: Quy chế GD – ĐT; quy chế hoạt động nghiên cứu khoa học, thông tin khoa học; quy định tự học…Các loại văn bản, quy chế, quy định trên được xây dựng trên cơ sở hướng dẫn của cơ quan chức năng cấp trên và thực tế hoạt động GD – ĐT của nhà trường, bước đầu đã phát huy được hiệu quả nhất định.

Khi chúng tôi điều tra, khảo sát đánh giá hệ thống văn bản, quy chế, quy định liên quan đến đào tạo, cho thấy có 46,00% cán bộ quản lý cho rằng là đầy đủ và phù hợp ( mức tốt), có 35,00% ( mức khá) cho rằng chưa đầy đủ và phù hợp và có 19,0% ( mức trung bình) cho rằng còn thiếu và bất cập. Cũng nội dung này thì có 41,00% (mức tốt) ý kiến của giáo viên cho rằng là đầy đủ và phù hợp, có 33,00% ( mức khá) cho rằng chưa đầy đủ và phù hợp và  26,00% (mức trung bình) cho rằng còn thiếu và bất cập. Vấn đề này được phản ánh khi chúng tôi thực hiện trao đổi với cán bộ, giáo viên các khoa có đào tạo sinh viên chuyên ngành. Hầu hết các ý kiến đều cho thấy việc nghiên cứu, bổ sung, phát triển và hoàn thiện các văn bản, quy chế, quy định làm cơ sở cho chỉ đạo nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường là rất cần thiết.

Trong quản lí thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình của Nhà trường:

Thời gian qua, Nhà trường đã dành nhiều công sức cho việc hoàn thiện mục tiêu đào tạo của tất cả các ngành đào tạo, cấp đào tạo. Đồng thời căn cứ vào khung chương trình đào tạo được Nhà nước quy đinh, Nhà trường đã tổ chức tốt việc xây dựng chương trình đào tạo cho từng ngành theo hướng cơ bản, thiết thực và hiện đại, do đó đã được người học và người sử dụng lao động từ số sinh viên của Nhà trường tốt nghiệp hoan nghênh. Thực tế, qua điều tra, số người đánh giá về quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình của Trương Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn ở mức tốt có 41%, ở mức khá  có  33% số người được hỏi. Điều đó nói lên sự cố gắng lớn cua Nhà trường trong quản lý chất lượng đào tạo ở một trường cao đẳng có nhiều ngành học, với nhiều loại hình đào tạo khác nhau.

Trong quản lý thực hiện kế hoạch hóa giáo dục, đào tạo:

Kế hoạch hoá trong GD – ĐT được nhà trường rất quan tâm, đã xây dựng các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, giai đoạn, từ cấp nhà trường đến các cấp quản lý. Cụ thể, như: Kế hoạch đào tạo; chương trình môn học, kế hoạch đầu bài; lịch giảng dạy; kế hoạch kiểm tra giảng dạy, thanh tra giảng dạy; kế hoạch thực tập cuối khóa…“Công tác tham mưu, tổ chức quản lý, thực hiện kế hoạch đào tạo và hiệp đồng giảng dạy chặt chẽ, đảm bảo đúng tiến trình, sát với tình hình thực tế, chất lượng ngày càng được nâng lên”

Tính kế hoạch về quản lý đào tạo ở trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn được thể hiện cụ thể trong lịch huấn luyện chính khoá, ngoại khoá; kế hoạch tự học; kế hoạch tuần; kế hoạch môn học. Việc triển khai thực hiện kế hoạch cũng được tiến hành khá nề nếp và khoa học. Các tập thể và cá nhân thường xuyên thực hiện kế hoạch cơ bản chủ động, nghiêm túc và đạt được các yêu cầu đề ra. Nhất là, việc điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đã diễn ra nhiều do có những nhiệm vụ đột xuất, song các lực lượng đã chủ động, linh hoạt giải quyết những tình huống cụ thể và đạt được yêu cầu thực tiễn đặt ra. Kết quả khảo sát cho thấy, đa số cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên đều khẳng định việc kế hoạch hóa giáo dục, đào tạo thực hiện ở mức tốt là 54, 00%, mức khá 25, 00%,  mức trung bình là 11,0%.

Trong quản lý các điều kiện, cơ sở vật chất bảo đảm cho hoạt động giáo dục, đào tạo:

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một trong những nhân tố góp phần quyết định đến chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhà trường. Nhận thức sâu sắc vấn đề này nhà trường đã tổ chức xây dựng kế hoạch quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học chặt chẽ, xác định mục tiêu, nguyên tắc và nhiệm vụ quản lý. Chính vì vậy, đã phát huy được hiệu lực các chế độ quy định của quân đội về quản lý, xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng, sửa chữa và bảo quản một cách phù hợp.

Những năm qua, Nhà trường đã rất cố gắng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho GD – ĐT nói chung. Nhà trường đã xây dựng, mua sắm, trang bị, sử dụng, tu sửa, bảo quản cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học. Theo khảo sát, điều tra cho thấy việc bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật cho hoạt động đào tạo, thì có 44,00% ý kiến của cán bộ quản lý, giảng viên và học viên sư phạm cho là ở mức tốt, 35,00% ở mức khá và 19,00% ở mức trung bình. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

Trong quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo:

Đây là một trong những khâu quan trọng, là chức năng cơ bản của công tác quản lí. Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo được nhà trường, các cơ quan chức năng, khoa giáo viên và đơn vị quản lý sinh viên tiến hành thường xuyên và nhìn chung đảm bảo tốt. Thông qua công tác kiểm tra đã giúp cho chủ thể quản lý đánh giá kết quả hoạt động đào tạo của nhà trường đạt được mức độ nào, người học gặp những khó khăn vướng mắc gì để từ đó có biện pháp quản lý tốt hơn trong thời gian tiếp theo.

Hiện nay, việc trao đổi thông tin về kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đào tạo giữa Phòng Đào tạo, khoa giáo viên, đơn vị quản lý sinh viên của nhà trường là tương đối tốt. Theo điều tra xã hội học cho thấy công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đào tạo của nhà trường nhìn chung luôn bảo đảm tốt các khâu của quy trình đánh giá và kết quả đánh giá phần nào đó đã phản ánh được thực tế chất lượng đào tạo, công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo đã đánh giá cơ bản sát, đúng năng lực đào tạo của nhà trường. tổng hợp ý kiến cho thấy, số cán bộ, giáo viên cho rằng đánh giá kết quả đào tạo mức tốt là 48,00%, có 33,00% mức khá và 19,00% mức trung bình.

Trong nâng cao phẩm chất, năng lực của các chủ thể quản lý giáo dục, đào tạo:

Năng lực quản lý của các chủ thể trong quản lý chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lý và chất lượng đào tạo. Qua khảo sát cho thấy có tới 68% cán bộ quản lý, giáo viên cho rằng năng lực của các chủ thể quản lý đạt mức tốt và 22% ý kiến cho rằng – đạt  mức khá. Như vậy, năng lực quản lí của các chủ thể  quản lí ở nhà trường đã được bồi dưỡng thường xuyên và luôn được đánh giá sát đúng với đặc điểm, nhiệm vụ, mục tiêu yêu cẩu của chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lí của nhà trường hiện nay.

Trong việc phối hợp các lực l­ượng giáo dục để bảo đảm và kiểm soát chất lượng đào tạo:

Các khoa chuyên ngành đã chủ động trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình, xác định nội dung hướng tới nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Việc xác định thời gian, thời điểm cho lựa chọn chủ đề, chuẩn bị giáo án cũng như lịch giảng rất cụ thể. Việc phân công giáo viên bảo đảm khoa học, phù hợp với chuyên môn và khả năng giảng dạy bảo đảm tính hiệu quả giảng dạy. Các giáo viên, hầu hết đều nhận thức rõ việc kết hợp giữa truyền đạt tri thức với tổ chức, quản lý trong đào tạo là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu trong thực hiện mục tiêu của quá trình đào tạo của nhà trường. Những giáo viên được khoa phân công theo dõi, giúp đỡ sinh viên trong học tập chuyên ngành, luôn xác định rõ trách nhiệm, chủ động trong hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện của sinh viên.

Trong quản lí hoạt động tự học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học của đội ngũ giáo viên, giảng viên:

Giáo viên giữ vai trò quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường, hoạt động tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện của đội ngũ giáo viên là yếu tố tiên quyết trong nâng cao chất lượng đào tạo. Qua thăm dò ý kiến có 75% ý kiến đòi hỏi cho rằng quản lí hoạt động này ở mức độ tốt và 22% ở mức khá, như vậy, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhà trường đã có nhiều biện pháp khuyến khích, động viên đội ngũ giáo viên khắc phục khó khăn để tự phát triển đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường.

Trong quản lí hoạt động tự học tập, rèn luyện của sinh viên:

Quản lí hoạt động tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện của sinh viên của nhà trường được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo ở mỗi sinh viên. Các cấp lãnh đạo của nhà trường đã có nhận thức đúng đắn nên hoạt động quản lí này thực hiện tương đối tốt có 61% ý kiến được hỏi cho rằng ở mức tốt và 21% cho rằng ở mức khá.

2.2.2. Những hạn chế trong quản lý chất lượng đào tạo. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

Trong quản lí hệ thống văn bản, quy chế, quy định liên quan đến giáo dục, đào tạo:

Hệ thống các văn bản chưa đầy đủ, đồng bộ và chất lượng một số loại văn bản, quy chế, quy định còn bộc lộ hạn chế. Đặc biệt là “Năng lực quán triệt và cụ thể hoá các chỉ thị, nghị quyết, quy định của trên vào thực tiễn đào tạo của nhà trường” ở một số cơ quan chuyên môn, khoa giáo viên và đơn vị quản lý sinh viên chưa thực sự hiệu quả.

Nhiều ý kiến cho rằng các văn bản, quy định, quy chế GD – ĐT của nhà trường hiện nay còn chưa đồng bộ, chồng chéo và việc tổ chức triển khai thực hiện có nội dung đạt hiệu quả chưa cao. Các ý kiến cho rằng nhà trường cần tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa nội dung các văn bản, quy chế, quy định, bổ sung và hoàn thiện một số loại văn bản, chỉ thị về GD – ĐT, nhất là các quy định, hướng vầ đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, để theo sát sự vận động, biến đổi của tình hình mới đáp ứng được với yêu cầu của xã hội đặt ra.

Trong quản lí thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình của Nhà trường:

Có 16% ý kiến được hỏi cho rằng thực triễn quản lí nội dung, chương trình đào tạo đạt ở mức trung bình, có những nội dung và chương trình còn chưa phù hợp, thậm chí còn lạc hậu với sự phát triển của thực tiễn, chưa bổ sung, cập nhật kịp thời dẫn tới chất lượng nội dung, chương trình đào tạo không cao. Các ý kiến cho rằng nhà trường cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nội dung chương trình  đào tạo sát thực với ngành nghề đào tạo.

Trong quản lý thực hiện kế hoạch hóa giáo dục, đào tạo:

Do nhận thức chưa đầy đủ về mục đích, ý nghĩa của kế hoạch đào tạo, cho nên vẫn còn một số cán bộ quản lý, giáo viên còn đơn giản, chưa quan tâm đúng mức, tính kế hoạch chưa cao, còn biểu hiện hình thức, nội dung giảng dạy chưa sát thực tiễn của nhà trường, yêu cầu đào tạo. Cho nên, việc kế hoạch hóa giáo dục, đào tạo thực hiện ở mức độ tốt 44,00%, mức khá là 36,00%,  mức trung bình là 20,00%.

Công tác xây dựng kế hoạch GD – ĐT nói chung và xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng đào tạo đã được Ban Giám hiệu nhà trường nhận định đó là: “Công tác quản lý, thực hiện kế hoạch huấn luyện có nội dung còn hạn chế. Lịch giảng dạy còn một số nội dung bố trí môn học, thời gian lên lớp, địa điểm thực hành chưa bảo đảm tính khoa học; thời gian dành cho thực hành chuyên ngành ít; việc bố trí, sắp xếp thời gian, trật tự các môn học, thời gian ôn luyện, kiểm tra, thi còn có những bất cập. Về vấn đề này, chúng tôi đã trao đổi, phỏng vấn một số đồng chí cán bộ quản lý, ở các khoa giáo viên về thực trạng tính kế hoạch trong GD – ĐT và quản lý hoạt động đào tạo ở khối các khoa giáo viên còn bộc lộ những hạn chế, như: Việc cụ thể hoá mục tiêu đào tạo, kế hoạch, “phân chia thời gian giảng dạy” ở một số khoa, tổ bộ môn và giáo viên chưa thể hiện rõ tính kế hoạch trong quản lý hoạt động đào tạo của nhà trường.

Trong quản lý các điều kiện, cơ sở vật chất bảo đảm cho hoạt động giáo dục, đào tạo:

Tìm hiểu về vấn đề này qua khảo sát, trao đổi với các cán bộ quản lý, giáo viên và sinh viên, chúng tôi thấy rằng, măc dù nhà trường và các cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắng, tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất, tuy nhiên, chất lượng một số trang bị kỹ thuật dạy và học hiện đại, giảng đường, còn hạn chế, thiếu đồng bộ.

Hiện nay, nhà trường vẫn chưa có được những phòng học chuyên dụng với trang thiết bị cần thiết (bảng, gương, camera, ghi âm các loại đồ dùng trực quan, các công cụ phương tiện, công cụ dạy học…) để sinh viên có thể thực hành, rèn luyện theo quy trình khoa học và chỉnh sửa các thao tác nghề nghiệp chưa chuẩn; đồng thời xem và phân tích các giờ giảng mẫu của giảng viên qua băng hình để học tập, đúc rút kinh nghiệm, mặt khác nguồn tài liệu và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong học cũng như thực hành còn chậm, chưa theo kịp thực tiễn dạy học hiện nay. Cũng vấn đề này khi được hỏi thì có 76,00% ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên cho rằng cần thiết phải đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác phòng học chuyên dụng phục vụ tốt cho hoạt động giáo dục, đào tạo. Do điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất của nhà trường còn có những hạn chế nhất định, cho nên khó tránh khỏi những bất cập chưa hợp lý trong nâng cao chất lượng bảo đảm cho hoạt động đào tạo.

Trong quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo:

Tuy nhiên vẫn còn một số bộ phận chưa xây dựng cụ kế hoạch kiểm tra, đánh giá theo từng kỳ mà báo lịch theo từng môn. Điều đó dẫn đến việc thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo vẫn chưa cao.

Một số cán bộ, giáo viên trực tiếp hướng dẫn nghiệp vụ cho sinh viên  hoạt động tự kiểm tra vẫn chưa có khả năng sử dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá. Phòng Đào tạo chưa có đầy đủ các thông tin phản hồi về hoạt động đào tạo từ phía người học thông qua hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả để trao đổi với các khoa giáo viên, đơn vị quản lý sinh viên, cán bộ quản lý, giáo viên hướng dẫn nghiệp vụ. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

Do văn bản hướng dẫn cách đánh giá từng nội dung trong quá trình đào tạo của nhà trường chưa cụ thể, tường minh; việc phối hợp giữa các bộ phận trong công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đào tạo vẫn còn hạn chế, đánh giá mang tính chủ quan ở từng chuyên ngành đào tạo.

Trong nâng cao phẩm chất, năng lực của các chủ thể quản lý giáo dục, đào tạo:

Mặc dù tổng thể thì năng lực của các chủ thể quản lí đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới hoạt động quản lí trong tình hình mới. Nhưng trên thực tế vẫn còn 10% ý kiến cho rằng ở mức trung bình, diều này khẳng định chất lượng đội ngũ cán bộ quản lí không đồng đều về kinh nghiệm và năng lực quản lí thực tế.

Trong việc phối hợp các lực l­ượng giáo dục để bảo đảm và kiểm soát chất lượng đào tạo:

Trên thực tế thực trạng việc phối hợp giữa các lực l­ượng (cơ quan, khoa giáo viên) trong việc quản lí chất lượng đào tạo có nơi chức chặt chẽ, thiếu sự hợp tác giữa các cơ quan, khoa giáo viên và cán bộ quản lí dẫn đến sự chồng chéo trong tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo của nhà trường qua thăm dò ý kiến có tới 12% số người được hỏi cho rằng ở mức độ trung bình.

Trong quản lí hoạt động tự học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học của đội ngũ giáo viên, giảng viên:

Trong điều kiện kinh tế khó khăn cũng tác động không nhỏ đến tâm tư nguyện vọng của đội ngũ giáo viên dẫn đến tự học tập, nghiên cứu để vươn lên ở một số giáo viên còn hạn chế, tính chất trung bình chủ nghĩa chưa thực sự yên tâm với nghề giáo, còn biểu hiện chân trong, chân ngoài dẫn đến ngại học tập, rèn luyện để với lên không cao có 17%  ý kiến được hỏi cho rằng quản lý hoạt động này ở mức trung bình.

Trong quản lí hoạt động tự học tập, rèn luyện của sinh viên:

Một bộ phận sinh viên do chưa chuẩn bị tốt về mặt tâm lí cho định hướng nghề nghiệp trong tương lai; chưa thể hiện tính sẵn sàng và tâm lý vững vàng cho hoạt động tự rèn luyện kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp; xác định nhiệm vụ học tập chưa đúng đắn, còn đơn giản, chưa tích cực trong rèn luyện tích lũy kinh nghiệm trong quá trình học tập. Chất lượng sinh viên được đào tạo không đồng đều nhau về trình độ nhận thức, khả năng tố chất, năng khiếu, khả năng thuyết trình còn hạn chế, bản lĩnh tâm lý, nhiều kỹ năng chưa tốt, khi được hỏi có 18% ý kiến cho rằng quản lí hoạt động tự học, tự nghiên cứu và rèn luyện của sinh viên đạt mức trung bình.

2.2.3. Nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong quản lý chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn

2.2.3.1. Nguyên nhân của những ưu điểm:

Một là, Đảng ủy, Ban giám hiệu trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn luôn có chủ trương đúng đắn, xác định đào tạo đội ngũ những người làm công tác văn hóa nghệ thuật và du lịch nguồn nhân lực cho thành phố và cho cả nước. Nhà trường luôn coi trọng đào tạo kiến thức, chuyên môn nghề nghiệp, đi đôi với chú trọng rèn luyện năng lực của sinh viên. Tập trung lãnh đạo đổi mới, cải tiến tổ chức, quản lý quá trình đào tạo; phát huy sức mạnh của các tổ chức, trước hết là tổ chức đảng trong quản lý quá trình  giáo dục, đào tạo.

Hai là, các chủ thể quản lý giáo dục chủ động, sáng tạo trong tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo. Các lực lượng này luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, hiệp đồng chặt chẽ, đoàn kết thống nhất, khắc phục khó khăn, quyết tâm hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Ba là, phần lớn sinh viên có động cơ, thái độ trách nhiệm học tập, rèn luyện tốt, tích cực tu dưỡng, phấn đấu. Tính tích cực, tự giác, trách nhiệm và quyết tâm học tập và rèn luyện của sinh viên là yếu tố bảo đảm biến quá trình quản lý của tổ chức thành quá trình tự quản lý của mỗi sinh viên trong quản trình đào tạo.

2.2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế: Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

Một là, Quản lí chất lượng đào tạo những năm qua ở trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn còn chưa tuân thủ theo lý luận quản lý và khoa học quản lý giáo dục. Sự phân cấp quản lý giữa các cơ quan đào tạo và các cơ quan chức năng, khoa chuyên ngành và đơn vị quản lý sinh viên còn chưa rõ ràng, thiếu thống nhất, chưa đồng bộ về tính pháp lý, đôi khi các hoạt động quản lý còn chồng chéo nhau.

Hai là, Các yếu tố bảo đảm cho tổ chức, quản lý quá trình đào tạo còn hạn chế. Quá trình đào tạo được cấu thành bởi nhiều thành tố, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Việc tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo có liên quan mật thiết với các yếu tố đó. Vì thế, các yếu tố cơ sở vật chất, giáo trình, tài liệu, phương tiện kỹ thuật dạy và học, nhất là chưa có được phòng học chuyên dụng, vì vậy sinh viên chưa có điều kiện để áp dụng những phương tiện, kỹ thuật dạy học hiện đại vào quá trình học tập và nghiên cứu mà chủ yếu vẫn theo phương pháp truyền thống, do đó chất lượng đào tạo hiệu quả chưa cao.

Ba là, Quản lí nội dung đào tạo của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên còn thiên về quản lý hành chính, chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng đào tạo, chưa tạo thời gian cho sinh viên thực hành, số lần thực hành chuyên môn nghề nghiệp còn ít, nên chưa có điều kiện để sinh viên rèn luyện tay nghề và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn bản thân.

Bốn là, Công tác kiểm tra của các cơ quan chức năng, khoa giáo viên, đơn vị quản lý sinh viên chưa kết hợp được giữa thường xuyên và đột xuất mà thường chỉ được tiến hành theo định kỳ do vậy việc phát hiện những thiếu sót, lệch lạc của sinh viên còn chưa kịp thời để khắc phục ngay từ đầu. Việc đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên còn cao hơn so với năng lực thực tế của người học do tâm lý “cả nể” hoặc do “giải quyết mối quan hệ”.

Quản lý chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn hiện nay là hoạt động được tiến hành có hệ thống, thường xuyên nhằm xác định mức độ đạt được về kết quả đào tạo so với mục tiêu yêu cầu đào tạo và khả năng đáp ứng của sản phẩm đào tao của Nhà trường trước những đòi hỏi của xã hội đối với người cán bộ làm văn hóa nghệ thuật, du lịch và kinh doanh. Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo tập trung hướng vào việc tạo ra những điều kiện bảo đảm chất lượng, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chất lượng của từng yếu tố cấu thành quá trình đào tạo.

Trước những đòi hỏi nâng cao chất lượng đào tạo của toàn bộ hệ thống giáo 1dục hiện nay, các chủ thể quản lý giáo dục của Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn cần làm tốt việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp qui và cụ thể hoá mục tiêu đào tạo vào các quy chế, quy định; bảo đảm và kiểm soát chặt chẽ chất lượng đào tạo chuyên ngành; phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng sư phạm trong quá trình giáo dục; nêu cao tính tích cực, chủ động học tập của sinh viên; xây dựng môi trường chính trị, văn hoá lành mạnh. Chỉ có như vậy Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn mới có thể làm tròn sứ mệnh của mình trong đào tạo nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý chất lượng tại trường SaigonAct

One thought on “Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo tại SaigonAct

  1. Pingback: Luận văn: Chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng SaigonAct

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464