Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản hiến pháp Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Quyền con người là một phạm trù đa diện, kết tinh những giá trị cao đẹp trong nền văn hóa của tất cả các dân tộc. Đây không chỉ là “ngôn ngữ chung” mà còn là “sản phẩm chung”, “mục tiêu chung” và “phương diện chung” của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người, mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới.

Cũng như hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các quyền con người đều được ghi nhận trong Hiến pháp ở những mức độ khác nhau. Như vậy, với hiệu lực pháp lý tối cao của nó, Hiến pháp đang đóng vai trò là công cụ pháp lý cơ bản để hiện thực hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người ở các quốc gia.

Ở nước ta, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội để thông qua Hiến pháp ghi nhận các quyền tự do, dân chủ của nhân dân. Người chi rõ: “Nước ta đã bị chế độ quân chủ cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ” [5]. Như vậy trong tư tưởng của Người, quyền con người luôn gắn liền với Hiến pháp, Hiến pháp chính là công cụ để đảm bảo quyền con người. Vì vậy, không chỉ trong việc soạn thảo và thông qua Hiến pháp 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta mà các bản Hiến pháp sau này đều có những quy định về các quyền con người.

Cho đến nay Việt Nam đã có năm bản Hiến pháp: Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, và hiện nay là Hiến pháp 2013. Mặc dù ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng cả năm bản Hiến pháp trên đều đã có quy định về quyền con người, đặc biệt là những quy định về nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

Hiến pháp năm 1992 được đánh giá là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, phản ánh bản chất nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Hiến pháp năm 1992 cũng đã ghi nhận các quyền con người, quyền công dân cơ bản trong đó có các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Góp phần quan trọng thể chế hóa đường lối của Đảng. Tuy nhiên, sau 20 năm thi hành, Hiến pháp năm 1992 đã bộc lộ một số điểm hạn chế không còn phù hợp với tình hình thực tiễn. Vì vậy, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII đã nhất trí thông qua Nghị quyết số 06/2011/QH13 ngày 06 tháng 8 năm 2011 về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI diễn ra vào tháng 5/2012 đã nêu định hướng sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trong đó chỉ rõ cần tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể hiện sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013. Hiến pháp mới được ban hành có một điểm nhân dân cả nước rất đồng tình ủng hộ và coi đây là một điểm sáng. Đó là hiến chương về quyền con người.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài “Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp Việt Nam” sẽ góp phần làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn quy định về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp, qua đó góp phần hiểu sâu hơn về việc hiến định và sự phát triển của nhóm quyền quan trọng này ở Việt Nam.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Quyền con người là một phạm trù đa diện, đòi hỏi cách tiếp cận và nghiên cứu đa ngành, liên ngành, song tiếp cận và nghiên cứu luật học là một hướng chính. Các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy về quyền con người ở Việt Nam những năm gần đây đang phát triển mạnh mẽ. Hiện đã có một số công trình nghiên cứu về quyền con người nói chung như: Quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Trung tâm Thông tin Tư liệu thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 1993; Chu Hồng Thanh, Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị quốc gia, 1997; Tường Duy Kiên, Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam, Hà Nội, 2004; Phạm Văn Khánh, Góp phần tìm hiểu quyền con người, NXB Khoa học xã hội, 2006…

Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa là một trong hai nhóm quyền cơ bản được ghi nhận và bảo đảm trong luật pháp quốc tế và pháp luật của quốc gia. Các quyền này được ghi nhận ngay trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948, sau đó được cụ thể hóa tại một trong hai Công ước cơ bản nhất về nhân quyền là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966.

Việt Nam cũng đã tham gia Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa từ rất sớm (năm 1982). Mặc dù vậy, do một số lý do khách quan và chủ quan, việc nghiên cứu về quyền con người nói chung, về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng ở nước ta trong thời gian qua vẫn còn hạn chế, dẫn đến việc hiểu biết chưa đầy đủ hoặc sai lệch về nhóm quyền này.

Đối với việc nghiên cứu các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của con người, hiện chúng ta đã có một số công trình nghiên cứu như: Trần Thị Hòe, Vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta hiện nay, 2002; Nguyễn Duy Sơn, Quyền phát triển của con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Trung tâm Thông tin Tư liệu trực thuộc Học viện CTQG Hồ Chí Minh, 2005; Tường Duy Kiên, Trần Thị Hòe, Bảo đảm quyền của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, 2007; Trần Thị Hòe, Vũ Công Giao, Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong pháp luật và thực tiễn ở Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Khoa luật –ĐHQG Hà Nội, 2011… Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Tuy nhiên, các đề tài trên mới chỉ nghiên cứu góc độ nhất định về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung và nhóm quyền này trong pháp luật nói riêng, chưa có đề tài nào đi sâu phân tích và so sánh nội dung các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp trên thế giới và các bản Hiến pháp của Việt Nam. Luận văn này sẽ góp phần khỏa lấp khoảng trống đó.

3. Mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

  • Phân tích so sánh các quy định về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong các bản Hiến pháp của Việt Nam.
  • Đánh giá sự phát triển của các quyền hiến định về kinh tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam với Công ước về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm
  • Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ giới hạn ở việc phân tích quy định về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong các Hiến pháp Việt Nam và trong Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 của Liên hiệp quốc.

4. Phương pháp nghiên cứu luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng pháp luật và nhân quyền.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn này bao gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…

5. Những nét mới của luận văn

Luận văn làm rõ mối quan hệ giữa Hiến pháp với quyền con người, đặc biệt là các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Đánh giá vai trò của Hiến pháp trong việc bảo vệ các quyền con người. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Luận văn cũng nêu và phân tích hệ thống các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của con người được các Hiến pháp Việt Nam ghi nhận và bảo vệ. Trên cơ sở đối chiếu với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người, luận văn nêu ra những đề xuất nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa ở Việt Nam.

6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

  • Kết quả nghiên cứu là một bản luận văn từ 80-150 trang.

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo về luật học, đặc biệt là chuyên ngành pháp luật về quyền con người và chuyên ngành luật Hiến pháp.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung đề tài được chia thành ba chương như sau:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và Hiến pháp
  • Chương 2:  Sự phát triển của các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp Việt Nam
  • Chương 3:  Một số kiến nghị về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013.

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ HIẾN PHÁP

1.1. Khái quát về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội

1.1.1. Quan niệm về quyền con người

  • Nguồn gốc về quyền con người

Khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người là cốt lõi của khái niệm quyền con người. Nó coi cá nhân con người là trọng tâm của sự quan tâm. Nó dựa trên một hệ thống toàn cầu giá trị phổ biến nhằm hướng đến những giá trị cao quý của cuộc sống và tạo ra một khuân khổ để xây dựng hệ thống quyền con người, được các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ. Ý tưởng về nhân phẩm con người đã có từ thời xa xưa đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, dưới các hình thức khác nhau, trong tất cả các nền văn hóa và tôn giáo. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Trong thời kỳ cổ đại, các nhà chính trị, tư tưởng, tôn giáo đã có những tư tưởng, giáo luật thể hiện sự tôn trọng phẩm giá con người, bảo vệ con người, đặc biệt là những nhóm yếu thế (phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật….) đề cao sự bình đẳng… Đây có thể coi là những tư tưởng đầu tiên của nhân loại có tính hệ thống và nội dung rõ ràng về quyền con người.

Quyền con người gắn liền với lịch sử loài người. Đó là những sản phẩm của điều kiện lịch sử kinh tế – xã hội nhất định và chịu sự chi phối của các cơ sở kinh tế – xã hội đó. Tuy nhiên, do tính độc lập tương đối của tư tưởng, quan niệm về quyền con người còn phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phát triển của tư duy về xã hội nói chung, đặc biệt là tư duy triết học, chính trị, của mỗi thời đại nói riêng.

Nhìn lại lịch sử, các quốc gia trên thế giới cũng đã hình thành và ban hành pháp luật làm phương tiện cai trị, các văn bản pháp luật từ thời cổ đại thông qua các quy định một phần thể hiện các giá trị quan trọng về lịch sử, văn hóa, pháp lý nhưng một phần cũng phản ánh nhận thức quan niệm về công bằng, giá trị của nhân phẩm, và quyền lợi ích chính đáng của con người.

Có thể kể đến như Luật Hammurabi, Luật Manu, Luật Kautilya, Luật Asoka…Ví dụ trong Luật Hammurabi là văn bản luật cổ nhất của nhân loại còn được bảo tồn tốt. Bộ luật này được ban hành vào khoảng thập niên 1760 TCN, Bộ luật thể hiện tư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là phương tiện hữu hiệu để bảo đảm các quyền con người, vì vậy mà vua xứ Babylon là Hammurabi (1810- 1750 TCN) đã nói rằng mục đích của việc ban hành đạo luật cổ nối tiếng này là để: “…ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu” [30]. Bộ luật quy định nhiều hình phạt đối với những tội vi phạm tự do ngôn luận, vu khống người vô tội, hay những hành vi xâm phạm quyền sở hữu. Đặc biệt tư tưởng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật còn được thể hiện rất rõ nét sức mạnh của hình phạt, khi được thực thi một cách công bằng tương ứng với mức độ phạm tội và bất chấp kẻ bị chừng phạt là con vua hoặc kẻ thù, là bảo vệ xã hội này và xã hội sau. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Trong những giai đoạn sau này, tư tưởng đề cao pháp luật với việc bảo đảm quyền con người cũng được sự phát triển bởi nhiều nhà tư tưởng nối tiếng của nhân loại, và được minh chứng bằng sự ra đời của ngày càng nhiều các văn bản pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về các quyền tự do của con người, quyền con người thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu và dần được thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế, từ Đại hiến chương Magna Carta (the Magna Carta, 1251), Bộ luật về các quyền (the Bill of rights, 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân (the Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, 1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (the Declaration Independence, 1766) và Bộ luật về các quyền (the Bill of Rights, 1789/1791) của nước Mỹ cho đến Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con người do Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác thông qua từ đầu thế kỷ XX đến nay. Tất cả đã cho thấy pháp luật đã có một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người.

Có hai trường phái trái ngược nhau về nguồn gốc của nhân quyền mà đôi khi chi phối khá mạnh mẽ quan điểm và cách thức thực hiện quyền con người của các quốc gia. Trường phái thứ nhất – những người theo thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) – cho rằng nhân quyền là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân từ khi sinh ra đều đã được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là con người. Do đó, các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào. Xuất phát từ thuyết pháp quyền tự nhiên, không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tùy tiện tước bỏ các quyền con người. Ngược lại, trường phái thứ hai – những người theo thuyết về quyền pháp lý (legal rights) – cho rằng, quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nó chỉ nảy sinh khi các nhà nước quy định trong pháp luật. Xuất phát từ thuyết này, phạm vi, giới hạn của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và bị chi phối bởi các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa… của các xã hội.

Thực tế cho thấy, quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ thuyết nào kể trên đều không phù hợp, bởi lẽ nếu không được thể chế hóa vào pháp luật thì các quyền tự nhiên của con người không thể được thực hiện; song nếu cực đoan hóa vai trò của nhà nước, của pháp luật sẽ dẫn đến tùy tiện, lạm dụng, vi phạm các quyền tự nhiên của con người.

Kể từ khi Liên Hợp Quốc chính thức thừa nhận quyền con người vào năm 1948, với sự ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, và nhiều văn kiện chính trị, pháp lý quốc gia về nhân quyền đều thừa nhận nguồn gốc tự nhiên song cũng nhấn mạnh vai trò của nhà nước và pháp luật trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, từ đó quyền con người đã phát triển như một khuân khổ đạo đức, chính trị, pháp lý và như một định hướng nhằm phát triển thế giới tự do khỏi sự sợ hãi và tự do làm điều mong muốn.Trong lời nói đầu của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 đã nhấn mạnh: “Việc thuần nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [9]. Như vậy trong lời nói đầu của Tuyên ngôn, quyền con người được hiểu là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tách rời, không thể chuyển nhượng được của cá nhân. Tuyên ngôn không đưa ra định nghĩa về quyền con người mà nói về nội hàm đưa ra các quyền chính trên cơ sở sự đồng thuận của đông đảo các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

  • Khái niệm quyền con người

Ngày nay, quyền con người được thừa nhận là một khái niệm toàn cầu như được ghi nhận trong tuyên bố của hội nghị thế giới Wien (Áo) về quyền con người năm 1993 và các nghị quyết của Liên Hợp Quốc đã được thông qua nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948- 1998).

Tuy nhiên cho đến nay cách hiểu về quyền con người vẫn chưa có sự thống nhất, Một mặt, đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của quyền con người. Mặt khác, quyền con người được xem dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật… Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm tất cả các thuộc tính của quyền con người.

Tùy vào tính chủ quan của mỗi người, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà quyền con người được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa phổ biến nhất vẫn là định nghĩa của văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người (OHCHR). Theo định nghĩa này:

Quyền con người (human rights) là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [39, tr.8].

Liên quan đến các khái niệm trên, cũng cần lưu ý, thuật ngữ human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (theo tiếng thuần Việt) hoặc nhân quyền (theo Hán – Việt). Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người” [37], Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, đây là hai từ đồng nghĩa, và hoàn toàn có thể sử dụng trong nghiên cứu, và hoạt động thực tiến về quyền con người Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Một số tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam, định nghĩa về quyền con người cũng không hoàn toàn giống nhau nhưng xét chung quyền con người được hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [14, tr.37].

Như vậy, trong hai định nghĩa trên thì quyền con người là những quyền vốn có của con người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc, hay quốc gia, dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kỳ một thân phận nào khác. Mọi người được hưởng các quyền của mình một cách bình đẳng không có sự phân biệt đối xử. Những quyền này có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời.

  • Đặc tính của quyền con người

Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các tính chất cơ bản là: “tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau” [14, tr.41]

Các quyền con người đều không thể phân chia và có tính phụ thuộc lẫn nhau thể hiện ở chỗ bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.

Ví dụ, để đảm bảo các quyền bầu cử, ứng cứ (các quyền dân sự chính trị cơ bản), cần đồng thời bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên quan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y tế, quyền có mức sống thích đáng…vì nếu không, các quyền bầu cử, ứng cử rất ít có ý nghĩa với những người đói khổ bệnh tật hay mù chữ. Vì vậy mà các quyền con người được đảm bảo theo quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước, cam kết, thỏa thuận hoặc tập quán quốc tế. Và luật quốc tế cũng đặt ra với các quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ, và thực hiện các quyền con người cốt yếu để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Xét bản chất và từ lịch sử phát triển của quyền con người, có thể khẳng định nhân quyền là sự kết tinh những giá trị nhân văn cao đẹp nhất trong nền văn hóa của mọi dân tộc. Đó là sản phẩm chung của toàn nhân loại, không phải là sáng kiến hay phát minh riêng của bất kỳ giai cấp, dân tộc, quốc gia hay khu vực nào.

Từ những tư tưởng về quyền con người xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại , thể hiện qua những bộ luật , thư tịch cổ của nhiều quốc gia và trong các kinh điển của tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới. Đến thời kỳ Phục Hưng, những tư tưởng đó được kế thừa, phát triển thành các học thuyết về quyền bởi một số nhà tư tưởng nổi tiếng ở châu Âu. Những học thuyết này tác động đến sự ra đời của các văn kiện pháp lý nổi tiếng về nhân quyền, bao gồm Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ (1776), Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của nước Pháp (1789) và một loạt Hiến pháp ở châu Âu và Bắc Mỹ. Từ đầu thế kỷ XIX, nhân quyền bắt đầu được đề cập trong một số điều ước của Hội Chữ thập đỏ-Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Hội Quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế, tuy nhiên, chỉ sau sự ra đời của Liên Hợp Quốc (1945), vấn đề nhân quyền mới nổi lên thành một vấn đề chi phối một cách ngày càng mạnh mẽ và toàn diện đời sống chính trị quốc tế. Một ngành luật quốc tế mới – luật nhân quyền quốc tế đã ra đời từ sau 1945, do những nỗ lực của Liên Hợp Quốc. Hiện nay, ngành luật này đã bao gồm hàng trăm văn kiện, đề cập đến một phạm vi rộng lớn các quyền áp dụng chung cho mọi cá nhân và các quyền đặc thù áp dụng riêng cho một số nhóm xã hội nhất định. Ở thời điểm hiện tại, có thể khẳng định rằng, không một dân tộc, quốc gia nào trên thế giới có thể đứng ngoài sự tác động của luật nhân quyền quốc tế.

Xem xét sự phát triển của vấn đề nhân quyền trong lịch sử nhân loại, năm 1977, Karel Vasak đưa ra ý tưởng về ba “thế hệ quyền con người”(generations of human rights) [14, tr.58], trong đó thế hệ thứ nhất(bắt đầu từ các thế kỷ XVII-XVIII) thể hiện ở sự ghi nhận các quyền dân sư,̣ chính trị; thế hệ thứ hai (bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX) đánh dấu bằng việc thừa nhận các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; còn thế hệ thứ ba (bắt đầu từ giữa thế kỷ XX) với đặc trưng là mở rộng sự ghi nhận các quyền tập thể, tiêu biểu như quyền tự quyết dân tộ c, quyền phát triển, quyền được sống trong hoà bình.

1.1.2. Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của con người Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

  • Khái quát chung về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội

Như đã nêu ở phần trên, nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội là thế hệ quyền thứ hai, hướng vào việc tạo lập các điều kiện và sự đối xử bình đẳng, công bằng cho mọi công dân trong xã hội.

Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội có một vị trí rất quan trọng trong hệ thống quyền con người. Do vậy trong quá trình nghiên cứu về quyền con người, chúng ta không thể đi sâu nghiên cứu quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như một bộ phận cơ bản, thiết yếu trong tổng thể quyền con người. Về lịch sử pháp điển hóa quyền con người, các tiêu chuẩn quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được coi là ra đời muộn hơn các quyền dân sự, chính trị. Tuy nhiên, về lịch sử nhân loại nói chung, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được quan tâm đề cập đồng thời thậm chí là sớm hơn các quyền dân sự chính trị. Bởi điều đó thể hiện ở khát vọng giải phóng con người khỏi đói rét, dịch bệnh…được phản ánh trong nhiều học thuyết, tôn giáo chủ yếu.

Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được ghi nhận trong trong pháp luật của nhiều quốc gia thời kỳ Cổ – Trung đại thông qua những quy định về sự bảo vệ nhà nước và cộng đồng đối với nhóm cư dân yếu thế trong xã hội.

Theo dòng chảy của lịch sử, chúng được đề xướng và vận động mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX, và bắt đầu được quan tâm bởi một số Chính phủ kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Các quyền tiêu biểu thuộc nhóm quyền này bao gồm: quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở…

Động lực chính thúc đẩy sự hình thành của nhóm quyền này được cho là từ cuộc khủng hoảng của xã hội tư bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dẫn tới tình cảnh khốn khổ của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động. Trong bối cảnh đó, những người theo chủ nghĩa tự do mới đã đưa ra ý tưởng cải tổ các xã hội tư sản nhằm giảm bớt những bất công xã hội và khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Do tác động của cuộc đấu tranh này, một số nhà nước tư sản đã ban hành những chính sách về phúc lợi xã hội để cải thiện đời sống của người dân. Một ví dụ điển hình trong số đó là chính sách xã hội của thủ tướng Đức Bismarck. Trên cơ sở Tuyên ngôn Keider (1881), nước Đức dưới sự lãnh đạo của Bismarck đã thiết lập một hệ thống bảo trợ xã hội thống nhất trên toàn quốc mà trọng tâm là bảo hiểm xã hội. Từ năm 1919, Hiến pháp của nước này đã quy định quyền được bảo hiểm xã hội trong các trường hợp già yếu, bệnh tật…

Có hai sự kiện tác động hết sức quan trọng đến sự phát triển của nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Sự kiện thứ nhất là sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới – nước Nga Xô viết vào năm 1917. Ngay từ Hiến pháp 1918, Nước Nga Xô viết đã ghi nhận các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cơ bản của con người như quyền có việc làm, quyền học tập, quyền được chăm sóc y tế… Các quyền này tiếp tục được khẳng định, mở rộng và bổ sung, trở thành một trong những nội dung chính của các Hiến pháp năm 1924, 1936, 1977 của Liên Xô (tương tự là trong Hiến pháp của các nước xã hội chủ nghĩa). Sự kiện thứ hai là việc thành lập hai tổ chức liên chính phủ quốc tế lớn là Hội Quốc liên và Tổ chức Lao động quốc tế, hai tổ chức này, đặc biệt là Tổ chức Lao động quốc tế đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy các quyền về lao động, việc làm của người lao động [14, tr.60]. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Cùng với hệ thống quyền con người nói chung, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, với việc Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966. Trong vấn đề này, sự đóng góp của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa là hết sức to lớn. Chính do sự đấu tranh kiên quyết và kiên trì của phe các nước xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô trên diễn đàn Liên Hợp Quốc trong thời kỳ Chiến tranh lạnh đã buộc khối các nước tư bản chủ nghĩa phải nhượng bộ, dẫn đến việc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua cả hai công ước về các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cùng vào năm 1966 – mà hiện đóng vai trò là hai điều ước nền tảng của luật nhân quyền quốc tế.

  • Nội dung cơ bản các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cơ bản trong luật nhân quyền quốc tế

Các quyền về kinh tế, văn hóa và xã hội tạo thành ba bộ phận có mối liên kết với nhau trong mối quan hệ tổng thể của một nhóm quyền, đồng thời, tất cả các bộ phận này lại có mối liên kết với một nhóm các quyền về dân sự và chính trị.

Trên thực tế, hiện vẫn còn có những tranh luận xung quanh hệ thống các quyền con người được gọi là các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, bởi lẽ một số quyền con người (tùy theo bối cảnh và hoàn cảnh) có thể xếp vào nhiều hơn một nhóm.

Xét ở góc độ pháp điển hóa, các quyền và tự do này đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), sau đó, được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác mà đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR) (được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào năm 1966).

Dựa trên cách tiếp cận liên kết mà theo đó các quyền kinh tế, văn hóa, và xã hội được chia thành ba nhóm, cụ thể như sau:

Nhóm quyền kinh tế (economic rights), bao gồm:

  1. Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng
  2. Quyền lao động

Nhóm quyền xã hội (social rights), bao gồm:

  1. Quyền được hưởng an sinh xã hội.
  2. Quyền được hưởng sức khỏe về thể chất và tinh thấn.

Nhóm quyền văn hóa (cultural rights), bao gồm:

  1. Quyền giáo dục
  2. Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học.

Cũng cần lưu ý rằng, để phục vụ mục đích nghiên cứu và trong quá trình áp dụng, một số quyền thuộc các nhóm ở trên đôi khi còn được chia tách thành những quyền khác cụ thể hơn. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Dưới đây là khái quát nội dung cốt lõi của những quyền này.

  • Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng

Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng hàm nghĩa việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở và chăm sóc y tế, v.v… cũng như được cải thiện không ngừng điều kiện sống. Trong đó quan trọng nhất là quyền có đủ lương thực, thực phẩm và quyền có nhà ở thích đáng.

  • Quyền này được ghi nhận tại Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, trong đó có nêu rằng:

Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng đối phó của họ [32, Điều 25]

Ngoài ra quyền này còn được ghi nhận tại Điều 11 ICESCR, Điều 27, Công ước quyền trẻ em và một số văn kiện khác. Quyền này cũng đồng thời được ghi nhận trong một số văn kiện nhân quyền khu vực (ví dụ, Khoản 1 Điều 12 Nghị định thư bổ sung Công ước của Châu Mỹ về quyền con người trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa).

Uỷ ban giám sát ICESCR đã giải thích nội hàm của quyền có mức sống thích đáng trong các Bình luận chung số 4 (năm 1991), số 7 (năm 1997), số 12 (năm 1999), số 14 (năm 2000) và số 15 (năm 2002).

  • Quyền lao động, việc làm

Quyền về lao động, việc làm là một nội dung quan trọng trong hệ thống các quyền kinh tế, xã hội cơ bản của con người. Quyền này bao gồm các khía cạnh như quyền có việc làm, tự do lựa chọn nghề nghiệp, được trả lương công bằng, xứng đáng, được bảo đảm các điều kiện lao động an toàn, tôn trọng nhân phẩm… Trước khi được ghi nhận trong các Điều 6, 7, 8 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR), quyền này được đề cập trong nhiều công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế. Một số khía cạnh của quyền này, cụ thể như vấn đề cấm lao động cưỡng bức, còn được đề cập trong các điều ước quốc tế khác về quyền con người của Liên Hợp Quốc như Công ước về cưỡng bức lao động năm 1930; Công ước về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị như nhau năm 1957; Công ước vê chính sách việc làm năm 1964; Công ước về quyền dân sự chính trị năm 1966;

  • Quyền được hưởng an sinh xã hội Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Nội dung cơ bản của quyền được hưởng an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội bao gồm các khía cạnh: chăm sóc sức khỏe và trợ cấp cho người lao động và gia đình khi gặp khó khăn; trợ cấp tàn tật và bảo đảm phúc lợi cho người lao động khi cao tuổi, nghỉ hưu, bệnh tật hoặc bị tai nạn khi làm việc. Đối tượng được hưởng an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội là tất cả mọi người, trong đó đặc biệt chú trọng đến những người cao tuổi, bệnh tật, thất nghiệp, những người góa bụa và trẻ mồ côi.

Quyền được hưởng an sinh xã hội được quy định trong UDHR đã nêu rằng: “… mọi người đều có quyền được hưởng an sinh xã hội…” [32, Điều 22]; Điều 9 ICESCR có nêu một cách ngắn gọn rằng, “các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội” [19, Điều 9]; Điều 26, Công ước về quyền trẻ em; Điều 11, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và nhiều điều ước quốc tế khác.

  • Quyền được hưởng sức khỏe về thể chất và tinh thần

Sức khỏe được hiểu bao gồm cả về thể chất và tinh thần ở mức độ cao nhất có thể được. Trên thực tế có rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, ví dụ như đói nghèo, dịch bệnh, môi trường sống, dịch vụ y tế, vệ sinh cá nhân… Do đó, trách nhiệm bảo đảm quyền về sức khỏe không chỉ thuộc về nhà nước mà còn về các cá nhân

Với ý nghĩa như vậy, trong những năm gần đây, quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Ngày 11 tháng 5 năm 2000, Uỷ ban Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã thông qua khuyến nghị chung về vấn đề này. Tiếp đó, tại kỳ họp thứ 49 của Uỷ ban nhân quyền Liên Hợp Quốc ngày 22 tháng 4 năm 2002 cũng đã thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ của Báo cáo viên đặc biệt về quyền được những tiêu chuẩn cao nhất cho sức khỏe, thể chất và tinh thần của tất cả mọi người. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Thực tế, quyền được hưởng tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe mang ý nghĩa là một quyền cơ bản của con người lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện thành lập của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sau đó được pháp điển hóa trong UDHR, theo đó “mọi người có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết… Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” [32, Điều 25]

Quy định của Điều 25 UDHR sau đó được cụ thể hóa trong các Điều 7,11,12 ICESCR; Điều 10,12,14 CEDAW, Điều 24 CRC, Điều 5 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965, Tuyên bố Viên và Chương trình hành động thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai năm 1993. Ngoài ra, quyền về sức khỏe còn được ghi nhận trong một số văn kiện khi vực về quyền con người, chẳng hạn như Hiến chương xã hội châu Âu năm 1961 sửa đổi (Điều 11), Hiến chương châu Phi về quyền con người và các quyền của các dân tộc năm 1981 (Điều 16), Nghị định thư bổ sung Công ước Châu Mỹ về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1988 (Điều 10)…

  • Quyền được giáo dục

Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 26 UDHR, trong đó nêu rõ:

Mọi người đều có quyền được học tập, Giáo dục phải miễn phí, ít nhất là ở các bậc tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề phải mang tính phổ thông và giao dục đại học hay cao hơn phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có khả năng. Mục tiêu của giáo dục, trong đó nêu rõ: Giáo dục phải nhằm giúp con người phát triển đầy đủ về nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng với các quyền và tự do cơ bản của con người. Giáo dục cũng phải nhằm tăng cường sự hiểu biết, lòng khoan dung và tình hữu nghị giữa tất cả các dân tộc, các nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, cũng như phải nhằm đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc về duy trì hòa bình. Theo Khoản 3 Điều này, cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn các hình thức giáo dục cho con cái họ [32, Điều 26].

Điều 26 UDHR được cụ thể hóa trong các Điều 13 và 14 ICESCR. Điều 13 ICESCR đề cập đến quyền được giáo dục nói chung, theo đó, các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được học tập. Các quốc gia nhất trí rằng giáo dục phải hướng vào việc phát triển đầy đủ nhân cách và ý thức về nhân phẩm nhằm tăng cường sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người. Các quốc gia cũng nhất trí rằng giáo dục cần giúp mọi người tham gia hiệu quả vào xã hội tự do, thúc đẩy sự hiểu biết, khoan dung và tình hữu nghị giữa các dân tộc và các nhóm về chủng tộc, sắc tộc hoặc tôn giáo, cũng như nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động duy trì hòa bình của Liên Hợp Quốc.

Liên quan đến Điều 13 ICESCR, Uỷ ban về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã giải thích một cách khá toàn diện và chi tiết về quyền này trong Bình luận chung số 13 (năm 1999). Theo văn kiện này, mọi hình thức giáo dục, cho dù là công lập hay tư thục, chính quy hay không chính quy, đều phải hướng tới những mục tiêu được xác định trong Điều 13 (Khoản 1) ICESCR. Mặc dù mức độ và cách thức thực hiện quyền này phụ thuộc vào điều kiện hiện tại của mỗi quốc gia thành viên, song mỗi quốc gia cần bảo đảm giáo dục dưới mọi hình thức và ở tất cả các cấp. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Điều 14 cụ thể hóa vấn đề quyền phổ cập giáo dục tiểu học, theo đó, mỗi quốc gia thành viên. Công ước mà lúc trở thành thành viên chưa thể bảo đảm thực hiện được việc giáo dục tiểu học phổ cập và miễn phí trong phạm vi lãnh thổ nước mình hoặc các cùng lãnh thổ khác thuộc quyền tài phán của nước mình, cam kết, trong vòng hai năm sẽ lập ra và thông qua một kế hoạch hành động chi tiết, nhằm thực hiện từng bước nguyên tắc giáo dục tiểu học phổ cập và miễn phí cho mọi người trong một khoảng thời gian hợp lý đã được ấn định trong kế hoạch đó.

Liên quan đến Điều 14 ICESCR, Uỷ ban về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã giải thích thêm trong Bình luận chung số 11 (năm 1999). Theo Uỷ ban, yêu cầu bắt buộc nêu trong nội dung của quyền này hàm ý không một bậc phụ huynh, người giám hộ pháp lý hoặc quốc gia nào có thể chối bỏ trách nhiệm đảm bảo cho trẻ em có thể tiếp cận giáo dục ở bậc cơ sở. Yêu cầu miễn phí hàm ý giáo dục cơ sở phải luôn rộng mở cho mọi trẻ em và không được yêu cầu trẻ em hay các bậc phụ huynh, người giám hộ pháp lý phải đóng bất kỳ một khoản học phí nào. Việc quy định một số khoản phí gián tiếp (ví dụ như thu lệ phí xây dựng mà được ngụy trang dưới hình thức tình nguyện đóng góp, hoặc quy định mua và mặc đồng phục có giá cao của nhà trường….) là vi phạm yêu cầu này.

  • Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học

Quyền này đầu tiên được đề cập trong Điều 27 UDHR. Theo Điều này:

Mọi người có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học. Mọi người đều có quyền được bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần phát sinh từ bất kỳ sang tạo khoa học, văn học hay nghệ thuật nào mà người đó là tác giả [32, Điều 27]

  • Điều 15 ICESCR cụ thể hóa nội dung Điều 27 UDHR, theo đó, các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận mọi người đều có quyền:

Được tham gia vào đời sống văn hóa; b) Được hưởng các lợi ích của tiến bộ khoa học và các ứng dụng của nó; c) Được bảo hộ các quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào của mình [19, Điều 15].

Theo khoản 3, Điều 15 của Công ước, các thành viên Công ước cam kết tôn trọng quyền tụ do không thể thiếu được đối với nghiên cứu khoa học và các hoạt động sáng tạo. Các khoản 2 và 4 Điều 15 nêu rõ, để thực hiện đầy đủ quyền này các quốc gia thành viên Công ước phải thực thi nhiều biện pháp, trong đó có các biện pháp cần thiết để bảo tồn, phát triển, phổ biến khoa học và văn hóa, bảo đảm quyền tham gia hoạt động văn hóa.

Theo Uỷ ban về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc, các quốc gia thành viên cần phải cung cấp thông tin về việc tạo lập quỹ cho việc thúc đẩy, phát triển văn hóa và tham gia rộng rãi vào đời sống văn hóa, nhà bảo tàng, thư viện, rạp chiếu phim, các hình thức biểu diễn nghệ thuật truyền thống… Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Liên quan đến Điều 15 ICESCR, Uỷ ban quyền kinh tế, xã hội, văn hóa chưa có Bình luận chung nào đề cập Điều này. Bởi vậy, nhận thức về nội dung của quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học hiện vẫn giới hạn ở các quy định trong các Điều 15 ICESCR và Điều 27 UDHR.

  • Liên quan chặt chẽ đến quyền văn hóa và hưởng thụ các kết quả của các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó

Thứ nhất, Nhà nước có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do cá nhân, tìm kiếm và nhận thông tin về phát triển khoa học vào đời sống và áp dụng như là kết quả của tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Thứ hai, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền của cá nhân được hưởng thụ các phúc lợi từ tiến bộ khoa học đó. Điều 15, khoản 4 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng quy định trách nhiệm của nhà nước khuyến khích, phát triển các mối quan hệ và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khoa học, văn hóa…

1.2. Hiến pháp và quyền con người Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

1.2.1. Khái niệm về Hiến pháp

Có nhiều quan điểm và định nghĩa về Hiến pháp. Theo từ điển luật Black’s Law Dictionnary, Hiến pháp là “luật tổ chức cơ bản của một quốc gia hay một nhà nước thiết lập các thể chế và bộ máy của chính quyền, xác định phạm vi quyền lực của chính quyền, vào bảo đảm các quyền và tự do của công dân” [38].

Như vậy, hiểu một cách khái quát, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Trong hệ thống pháp luật của quốc gia, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tất cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, không được trái với Hiến pháp. Vị trí tối cao của Hiến pháp là do nó phản ánh sâu sắc nhất chủ quyền của nhân dân và về nguyên tắc phải do nhân dân thông qua (qua hội nghị lập hiến, quốc hội lập hiến hoặc trưng cầu ý dân). Điều này khác với các đạo luật bình thường chỉ do quốc hội (nghị viện) gồm những người đại diện do dân bầu và ủy quyền xây dựng.

Một trong những chức năng cơ bản của Hiến pháp là bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Thông qua Hiến pháp, người dân xác định những quyền gì của mình mà nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện, cùng những cách thức để bảo đảm thực hiện, cùng với những cách thức để bảo đảm thực thi những quyền đó.

Với tính chất là văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao, Hiến pháp là bức tường chắn quan trọng nhất để ngăn ngừa những hành vi lạm dụng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, cũng như là nguồn tham chiếu đầu tiên mà người dân thường nghĩ đến khi các quyền của mình bị vi phạm. Hiệu lực bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp còn được phát huy qua việc hiến định các cơ chế, thiết chế bảo vệ quyền, cụ thể như thông qua hệ thống tòa án tư pháp, các cơ quan nhân quyền quốc gia, cơ quan thanh tra Quốc hội (Ombudsman) hay Tòa án Hiến pháp…

Trong nhà nước quân chủ chuyên chế không tồn tại Hiến pháp bởi ở nhà nước đó, quyền lực của nhà vua là tối thượng. Khổng Tử từng có một câu nói nổi tiếng “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” [47]. Ý nói vua bảo thần phải chết, thần không chết thì đó là bất trung. Như vậy, ở đây con người đã bị tước đi quyền tự nhiên vốn có và căn bản nhất đó là quyền được sống.

Vì vậy nhà nước dân chủ ra đời, trong đó mọi người dân có thể tự do bày tỏ tư tưởng, ý kiến và quan điểm về các vấn đề của đất nước và bản thân mình mà không sợ hãi bị đàn áp hay trừng phạt, quyền lực nhà nước hoàn toàn thuộc về nhân dân thì mới có Hiến pháp. Để thể hiện và bảo vệ chủ quyền của nhân dân, thông thường Hiến pháp chỉ có thể được thông qua với sự chấp thuận của nhân dân (qua trưng cầu ý dân). Thêm vào đó, Hiến pháp thường quy định các nguyên tắc bầu cử (tự do phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín) như là phương thức để nhân dân ủy quyền cho các thiết chế đại diện. Ngoài ra, việc quy định các cơ chế, thiết chế giám sát, kiểm sát quyền lực (giữa các cơ quan nhà nước và giữa nhân dân với nhà nước) trong Hiến pháp cũng là những cách thức để bảo đảm quyền lực của nhân dân. Hiến pháp quy định rõ những việc nhà nước được thực hiện, không được thực hiện và bắt buộc phải thực hiện vì lợi ích của người dân. Tất cả những hành vi vi phạm Hiến pháp phải được ngăn chặn và xét xử kịp thời. Như vậy, bản chất của Hiến pháp xét đến cùng chính là nhằm bảo vệ quyền con người.

1.2.2. Mối quan hệ giữa Hiến pháp và quyền con người Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

  • Hiến pháp và quyền con người có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời, thể hiện qua một số khía cạnh sau.

Quyền con người tạo động lực cho sự phát triển của Hiến pháp Từ lịch sử phát triển của quyền con người, có thể thấy tư tưởng về quyền con người gắn với những quyền tự nhiên vốn có của con người. Trong Bộ luật Hammurabi (1810 – 1750 TCN); Hiến chương Magna Carta (1251) và Bộ luật về các quyền (1689) của nước Anh; Tuyên ngôn độc lập (1776) của Hoa Kỳ…Những văn kiện này đều ghi nhận các quyền con người một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp là các quyền tự nhiên

Ví dụ, theo Lời nói đầu của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền từ do và mưu cầu hạnh phúc” [15, tr.115]. Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp khẳng định: “Người ta sinh ra đã tự do và bình đẳng về các quyền…” [15, tr.119]. Như vậy, ở đây các quyền và tự do được coi là những quyền tự nhiên, vốn có của con người, không phải là do nhà nước ban phát cho mới có được.

Trong lịch sử pháp điển hóa quyền con người trong Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới, một cấu phần của Hiến pháp (Đại Hiến chương Magna Carta, Bộ luật về các quyền của nước Anh), hoặc sự ra đời của Hiến pháp ở nhiều quốc gia (Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ, Tuyên ngôn nhân quyền, dân quyền của Pháp) đều phản ánh ảnh hưởng của lý thuyết quyền con người là các quyền tự nhiên.

Như vậy, tư tưởng về quyền con người nói chung, các quyền tự nhiên của con người nói riêng có mối liên hệ rõ ràng và trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của Hiến pháp trên thế giới.

  • Quyền con người là những quy định không thể thiếu trong Hiến pháp

Mặc dù bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới (Hiến pháp Hoa Kỳ 1787), không bao hàm các quy định về quyền con người, nhưng trên thực tế, trước khi bản Hiến pháp này được thông qua, các phe trong Hội nghị lập hiến lúc đó đã đạt được thỏa thuận rằng ngay sau đó Quốc Hội Mỹ sẽ xem xét và thông qua các quy định bổ sung về quyền con người. Kết quả là 10 điều đầu tiên bổ sung Hiến pháp 1787 đã được thông qua, tất cả đều có nội dung về quyền con người, gọi là Bộ luật về quyền của nước Mỹ Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

Ở châu Âu cùng thời kỳ đó, chỉ trong vòng 35 năm (từ năm 1795 đến 1830), hơn 70 bản Hiến pháp của các quốc gia trong chấu lục đã được thông qua. Tất cả đều quy định các quyền con người như đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền 1789 của nước Pháp và Bộ luật nhân quyền của nước Mỹ [13, tr.286].

Như vậy, quyền con người, quyền công dân trở thành một cấu thành quan trọng, một nội dung cơ bản trong các bản Hiến pháp trên thế giới.

Một nhà nghiên cứu đã nhận định rằng: “Nếu không có chế định quyền con người, quyền công dân, thì cũng không thể có bản thân Hiến pháp…” [11, tr.148]

Từ khi Luật nhân quyền quốc tế ra đời cùng với Liên Hợp Quốc thì thực tế trong các bản Hiến pháp của các quốc gia đã ghi nhận và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, và đây là chế định không thể thiếu trong Hiến pháp.

  • Hiến pháp có vai trò bảo vệ quyền con người

Các quyền con người không phải là quà tặng của thượng đế, hay sự ban phát của Nhà nước mà là kết quả lao động và đấu tranh của bản thân quần chúng lao động. Do vậy, các quyền con người phải được ghi nhận, khẳng định trong pháp luật, và phải được bắt đầu từ Hiến pháp, bởi ở mọi quốc gia trên thế giới, Hiến pháp đều được coi là đạo luật gốc của quốc gia, là nền tảng để xây dựng các đạo luật thông thường khác.

Khi Hiến pháp có những quy định về quyền con người, thì chính là điều kiện để các quyền con người được tôn trọng và bảo vệ, là điều kiện để cụ thể hóa các chế đinh, quy phạm Hiến pháp về quyền con người.

Hiện nay, hầu hết các quyền con người theo luật nhân quyền quốc tế đã được ghi nhận trong Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới, tuy với mức độ khác nhau. Như vậy với hiệu lực tối cao của nó, Hiến pháp đang đóng vai trò là công cụ pháp lý cơ bản để hiện thực hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người ở các quốc gia.

Nếu như các quyền dân chủ, các quyền dân sự, chính trị luôn được đề cập đầu tiên trong Hiến pháp các quốc gia ví dụ như quyền bầu cử, ứng cứ là điều kiện tiên quyết để đảm bảo quyền làm chủ của người dân thì nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cũng là nhóm quyền không thể thiếu trong Hiến pháp và có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau… vì nếu các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội có liên quan như quyền giáo dục, chăm sóc sức khỏe, y tế không được đảm bảo thì các quyền ứng cử, bầu cử ít có ý nghĩa với những người mù chữ, những người nghèo khổ, ngược lại việc bảo đảm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội đều gắn liền với sự phát triển của các quyền dân sự, chính trị, bởi kết quả của việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh và hiệu quả trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội là yếu tố nền tảng thúc đẩy các điều kiện sống về kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi người dân. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

  • Hiến pháp bảo vệ quyền kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua các hình thức sau:

Thứ nhất, Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước, mọi người dân phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp. Vì vậy, ghi nhận các quyền con người trong Hiến pháp đồng nghĩa với việc buộc các cơ quan nhà nước, mọi cá nhân, công dân đều phải tuân thủ và thực hiện

Cơ quan nhà nước có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp trong tất cả quá trình từ thành lập, tổ chức hoạt động đến thực thi các chức năng do Hiến pháp trao cho trên cơ sở nhân dân làm chủ. Hiến pháp là căn cứ để nhà nước ban hành các đạo luật cụ thể với mục đích bảo vệ tối đa các quyền con người.

Thứ hai, Hiến pháp quy định sự chế ước quyền lực giữ các cơ quan nhà nước, chống lại sự tùy tiện của nhà nước trong khi thực hiện chức năng của mình, bảo vệ quyền lợi nhân dân

Thứ ba, Hiến pháp là căn cứ viện dẫn trước tòa án khi có các hành vi vi phạm các quyền được Hiến pháp công nhận.

Thứ tư, Hiến pháp đặt ra cơ chế bảo hiến làm căn cứ đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo đó, việc bảo vệ Hiến pháp nhằm mục đích bảo đảm tính toàn vẹn và tối cao của các giá trị, nguyên tắc, quy định của Hiến pháp; chống lại sự vi phạm từ bất kỳ chủ thể nào. Tất cả những sự diễn giải trái với tinh thần và nguyên tắc của Hiến pháp sẽ bị đình chỉ và bãi bỏ bởi Tòa án hoặc một cơ quan chuyên trách thực hiện. Vì vậy, các giá trị, tinh thần và quy định của Hiến pháp sẽ được giữ nguyên vẹn, quyền của người dân sẽ không bị xâm phạm. Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464