Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những quy định về thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái niệm thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ

2.1.1. Khái niệm

Tài sản của một người chết đi để lại gọi là di sản, và người được hưởng di sản này gọi là người thừa kế. Chữ thừa kế còn có một nghĩa khác là sự chuyển dịch tài sản của người mệnh một sang một hay nhiều người thừa kế của họ. Đó là phương pháp thủ đắc vì sự mệnh một. Sự di chuyển tài sản này được thực hiện theo ý muốn của chính người mệnh một hoặc theo quy định của cổ luật.

Để có được khái niệm thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ, chúng ta cần đặt nó trong tục lệ của xã hội xưa với hai nền tảng căn bản, đó là: nền tảng kinh tế và nền tảng đạo đức (như ý kiến của TS. Nguyễn Mạnh Bách).

Đứng trên phương diện kinh tế, người ta có thể cho rằng luật thừa kế chỉ là hậu quả của quyền sở hữu. Quyền sở hữu do bản chất là một quyền vĩnh cửu, và do tính chất vĩnh cửu ấy quyền sở hữu phải được di chuyển từ đời này đến đời kia, kể cả chức tước, phẩm hàm mà thế hệ trước đã tạo dựng được. Nếu một người chỉ có quyền sở hữu tạm thời và bị giới hạn trong thời gian còn sống, thì sự thực người ấy chỉ có quyền hưởng dụng tài sản hoặc địa vị đó, họ sẽ tiêu xài hết tiền bạc kiếm được mà không nghĩ đến việc dành dụm để mua tài sản để lại cho con cháu hoặc không phấn đấu để lại “cơ đồ” cho hậu thế. Vì vậy, quyền sở hữu vĩnh cửu sẽ là một nhân tố để tạo ra một tình trạng kinh tế ổn định và phong phú.

Đứng trên phương diện đạo đức, theo tục lệ người Việt, người ta có thể nói rằng luật thừa kế là cần thiết để cho người quá cố làm tròn bổn phận của mình đối với gia đình. Bổn phận của mỗi người đối với gia đình, đối với con cháu không phải chỉ giới hạn trong hiện tại mà còn phải hướng về tương lai. Theo quan điểm này, thì mỗi người còn có bổn phận cả sau khi chết, người ta không phải chỉ nuôi dưỡng con cái mà còn có bổn phận phải gây dựng cho chúng, tức là phải để lại của cải cho chúng, để đời sống của chúng được dễ dàng sau này, thậm chí để lại địa vị xã hội cho chúng.

Theo quan niệm cao cả này thì gia đình có thể được coi là một chuỗi thế hệ liên tiếp nhau, mà thế hệ sau ngay khi ra đời đã được hưởng những gì do thế hệ trước để lại. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Hai nền tảng kinh tế và đạo đức của luật thừa kế đưa đến những hậu quả khác nhau. Nếu người ta chỉ căn cứ vào khía cạnh kinh tế, hay nói khác đi, nếu cho rằng luật thừa kế là hệ luận của quyền sở hữu, thì luật thừa kế sẽ được xây dựng trên căn bản cá nhân. Mỗi người là sở hữu chủ tài sản của mình và quyền sở hữu là quyền tuyệt đối của cá nhân người ấy, cho nên người ta sẽ có toàn quyền tự do sử dụng di sản của mình thế nào cũng được. Theo quan niệm này thì thừa kế theo di chúc có tính cách quan trọng hơn, vì người quá cố có toàn quyền chuyển dịch tài sản của mình theo ý muốn mà không chịu một sự hạn chế nào cả, trong trường hợp này, chế độ thừa kế theo pháp luật chỉ có tính cách phụ thuộc. Trái lại, nếu luật thừa kế được đặt trên nền tảng đạo đức, cho rằng việc chuyển dịch tài sản cho các thừa kế là một bổn phận đối với gia đình sau khi chết, thì nghĩa vụ ấy do pháp luật bắt buộc. Xây dựng trên nền tảng này thì thừa kế theo pháp luật sẽ quan trọng hơn, người quá cố chỉ có thể sử dụng tài sản bằng di chúc trong phạm vi cổ luật cho phép mà thôi.

Sự thực, hai quan niệm trên đây có thể dung hòa với nhau. Thực vậy, sự chuyển dịch tài sản dù là hệ luận của quyền sở hữu đi nữa, thì pháp luật vẫn có quyền can thiệp để hạn chế quyền sử dụng của chủ sở hữu, để bảo vệ “tính đại gia đình” trong xã hội xưa. Trái lại nếu sự chuyển dịch di sản được coi là một bổn phận của người quá cố đối với gia đình, thì cổ luật cũng có thể cho người quá cố được tự do một phần nào trong việc sử dụng tài sản của người ấy, miễn là phải làm tròn bổn phận tối thiểu đối với gia đình.

Trường hợp đặc biệt, để bảo đảm quyền lợi của gia đình và trật tự của xã hội, cổ luật bắt buộc thừa kế hương hỏa và thừa kế tập ấm phải tuân thủ theo những quy định chặt chẽ của pháp luật.

Đặt trong bối cảnh xã hội xưa, “Nếu cần phải chọn cho luật thừa kế một căn bản, thì bổn phận đối với gia đình có thể coi là một căn bản vững chắc nhất. Vì nếu công nhận rằng người quá cố có bổn phận đối với gia đình vợ con thì tức là đã gián tiếp làm cho quan hệ sở hữu có một tác dụng kinh tế và khi đó thì căn bản đạo đức sẽ bao gồm cả căn bản kinh tế” [105; 7].

Thực vậy, bổn phận chuyển dịch của cải xuống cho con cháu tiên niệm rằng quyền sở hữu phải có tính cách vĩnh cửu, và tính cách này làm cho sản nghiệp có một giá trị kinh tế. Ngoài ra những luật lệ đặt căn bản trên những quy tắc đạo đức thường có một giá trị chắc chắn và vĩnh cửu hơn là một căn bản trên một quan niệm kinh tế thường hay thấy. Ví dụ: đứng về phương diện kinh tế, người ta có thể bàn cãi nhiều về quyền sở hữu, trái lại khó có thể tranh cãi về bổn phận của cha mẹ phải bảo đảm đời sống của các con. Từ nguyên tắc luật thừa kế đặt nền tảng trên bổn phận của mỗi người đối với con cái, chúng ta có thể lí luận rằng để có thể làm tròn bổn phận ấy thì cần phải có một quyền sở hữu vĩnh cửu, và khi đó thì tính cách vĩnh cửu của quyền sở hữu sẽ là hệ luận của bổn phận đối với gia đình, chứ không còn là nền tảng của luật thừa kế nữa.

Trên hai nền tảng này, có thể thấy trong cổ luật Việt Nam, nhà lập pháp đã quy định luật thừa kế theo lợi ích lâu dài của gia đình phụ hệ chế khác với quan niệm chật hẹp về vấn đề thừa kế của pháp luật Tây phương. Mọi sự quy định về thừa kế của cổ luật Việt Nam đều được quy định theo mục đích củng cố nền tảng gia đình và bảo đảm sự lưu truyền dòng dõi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Như vậy, cổ luật Việt Nam đã coi thừa kế không đơn thuần chỉ là quyền lợi cá nhân được để lại gia sản cho thân thuộc hay quyền được hưởng tài sản của người mệnh một như quan niệm của pháp luật hiện đại. Vì vậy, ngoài thừa kế tài sản với ý nghĩa vật chất thông thường. Nhà lập pháp triều Nguyễn còn quy định vấn đề thừa kế chức tước của người mệnh một để lại (gọi là thừa kế tập ấm). Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Ngay bản thân từ “kế tự thừa diêu”, có nghĩa là nối dõi tông đường và thừa tiếp sự tế tự tổ tiên. Như vậy là trong khái niệm “thừa kế”, nhà lập pháp phương Đông xưa đã đưa ra khỏi phạm vi các mối quan tâm tầm thường vị kỷ, chỉ nhằm lưu truyền và thụ tặng tài sản. Để được nâng cao thành một định chế tế tự với mục đích duy trì vĩnh viễn, sự phụng sự tổ tiên theo thời gian. Và việc tiếp nhận gia sản của người mệnh một để lại hay di tặng là một phương tiện để thực hiện mục đích ấy.

Đặc điểm này được thể hiện rõ nét qua việc Hoàng Việt luật lệ quy định thừa kế tập ấm. Quy định này cho phép con cháu của người mệnh một được thừa hưởng quan tước của người này. Tại phần giải thích Điều 46 Hoàng Việt luật lệ, nhà lập pháp triều Nguyễn đã chỉ rõ: “Tập là ông, cha có công với đất nước, triều đình ban chức cho con cháu nối đời. Theo thứ lớp tập ấm có hai đặc ân. Ấm cho con cháu gọi là “ân ấm”. Ông, cha đã chết đối với việc phò vua mà ưu đãi xót thương con cháu họ thì gọi là “tước ấm”. Đó là lề lối long trọng tưởng thưởng báo đáp công ơn vậy.”

Vậy là khái niệm thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ không chỉ giới hạn trong việc định đoạt di sản thông thường với giá trị vật chất mà còn được mở rộng việc thừa kế cả những giá trị tinh thần. Quan tước không chỉ có ý nghĩa hưởng dụng một đời của người mệnh một mà còn là “cơ đồ”, là niềm tự hào của hậu thế dòng họ đó.

Với bản chất đó, trong thừa kế cổ luật, dù thừa kế có chúc thư hay thừa kế theo pháp luật, vấn đề chính yếu vẫn là thừa kế về phương diện phụng sự gia tiên và tùy theo cấp độ trách nhiệm thờ tự trong phạm vi gia tộc kế tục sự nghiệp tổ tiên, ta có thể chia thành hai loại: thừa kế có chúc thư để lại và thừa kế theo pháp luật.

Ý muốn của người mệnh một được thể hiện bằng một chứng thư gọi là chúc thư. Đây là loại thừa kế phát sinh do ý chí của người lập chúc phát biểu vào lúc sinh thời. Các con cháu bao giờ cũng phải tôn trọng ý chí của ông bà cha mẹ. Trong cổ luật có 2 loại di chúc là di chúc miệng (có thể là lời trăn trối) và di chúc viết (còn gọi là chúc thư). Trong cổ luật Việt Nam, chúc thư là một chứng thư liên quan đến toàn thể gia tộc, mặc dù nó có mục đích là ghi ý chí của người lập chúc. Thông thường khi lập chúc thư, người lập chúc thường muốn có sự tham dự của thân thuộc và cả những người thừa kế. Thể thức này có hai điều lợi: một là sự hiện diện của thân thuộc chứng minh cho sự công bằng của việc phân sản; và hai là để đảm bảo sự hữu hiệu đối với những người thừa kế, tránh sự “bất tuân tranh giành” sau này. Do sự tham dự của những người thừa kế, chúc thư được làm thành nhiều bản, giao cho mỗi người thừa kế giữ một bản. Về điều kiện nội dung của chúc thư, cổ luật quy định người lập chúc phải có đầy đủ năng lực và sự ưng thuận.

Ngoài ra, cổ luật còn quy định sự tự do lập chúc của người gia trưởng. Với một quyền hạn rất rộng rãi đối với gia sản, người gia trưởng có quyền tự do ấn định phần của các người thừa kế và có quyền truất phần thừa kế đối với những người thừa kế bất xứng (như bất hiếu, bất tuân tranh giành…). Sự tự do lập chúc của người gia trưởng chỉ có một giới hạn duy nhất là sự tôn trọng các luật lệ chỉ định người thừa kế hương hỏa, phần hương hỏa và không được ấn định thừa kế tập ấm vì những nội dung này phải tuân theo quy định của pháp luật [121; 21].

Như vậy, thừa kế theo pháp luật là việc chuyển dịch gia sản của người mệnh một cho những người thừa kế do pháp luật ấn định, không phụ thuộc vào ý chí của người mệnh một. Thậm chí, nếu người mệnh một có để lại chúc thư liên quan đến các nội dung này thì cũng phải tuân theo quy định của luật pháp.

2.1.2. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Nếu cha mẹ không lập chúc thư hoặc không kịp lập chúc thư thì con cháu thỏa thuận tự chia nhau di sản của cha mẹ chúng để lại theo pháp luật dưới sự chứng kiến của người tôn trưởng trong họ. Nếu có tranh chấp thì phải tuân theo luật mà chia cho đúng.

Cha mẹ có lập chúc thư nhưng chúc thư này không có giá trị pháp lý thì di sản chia theo pháp luật. Chúc thư không có giá trị trong các trường hợp sau:

Người vô năng lực vì phạm tội đại ác hoặc vì chưa thoát quyền của người gia trưởng đều không được lập chúc (Điều 223 và Điều 224 Hoàng Việt luật lệ). Vì, cổ luật quy định người lập chúc phải có đầy đủ năng lực và sự ưng thuận khi lập chúc thư.

Về sự ưng thuận của người lập chúc, cổ luật gián tiếp phủ định năng lực lập chúc của người điên và minh thị nghiêm trị loại chúc thư giả mạo hoặc cưỡng bách lập chúc (Điều 76 Hoàng Việt luật lệ).

Ngoài ra, đối với thừa kế hương hỏa, thừa kế tập ấm thì cổ luật trực tiếp quy định các điều khoản mang tính ràng buộc. Thí dụ: người thừa kế hương hỏa và thừa kế tập ấm luật bắt buộc phải giao cho con trưởng dòng đích, phải tuân theo trật tự đích thứ trưởng ấu…

Với các nội dung phân tích ở trên, thừa kế theo pháp luật được Hoàng Việt luật lệ quy định ba trường hợp: thừa kế không có chúc thư, thừa kế hương hỏa (còn gọi là thừa kế tự sản) và thừa kế tập ấm (trường hợp đặc biệt của thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ).

2.2. Thời điểm mở thừa kế Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Xác định được thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì các quan hệ về thừa kế, về chia di sản thừa kế chỉ được phát sinh kể từ thời điểm mở thừa kế. Xác định thời điểm mở thừa kế được quy định trong Hoàng Việt luật lệ cần được chú ý vì nó có những điểm đặc biệt chỉ có trong quy định trong cổ luật, gắn liền với tục lệ của dân tộc.

Điều 82 Hoàng Việt luật lệ minh thị: “Phàm ông, bà, cha, mẹ còn sống, cháu con không được tách hộ khẩu để chia dứt gọn tài sản. Ai trái thì phạt 100 trượng, nếu ông, bà, cha, mẹ thưa lên là cháu con bị buộc tội. Đang lúc còn để tang cha mẹ mà anh em tách hộ khẩu chia hẳn gia sản thì phạt 80 trượng. Trong thời gian đó tôn trưởng đi thưa thì cháu con bị buộc tội, còn việc chia của theo di chúc thì chẳng sao”.

  • Quy định này đã minh thị về thời điểm mở thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ với hai nội dung sau.

Thứ nhất, tại thời điểm người để lại di sản mệnh một thì chưa phát sinh quan hệ thừa kế ngay nếu người phối ngẫu với người mệnh một vẫn còn sống. Cụ thể, nếu người cha mệnh một mà người mẹ vẫn còn sống thì di sản do người cha để lại cho các con của người này hưởng chưa được chia ngay. Ngược lại, nếu người mẹ mệnh một thì người cha sẽ tiếp tục quản lý tài sản chỉ trong trường hợp cả cha lẫn mẹ đều qua đời thì các con mới được chia tài sản.

Ý nghĩa của quy định “Phàm ông, bà, cha, mẹ còn sống, cháu con không được tách hộ khẩu để chia dứt gọn tài sản” phải được hiểu theo nghĩa toàn diện. Nhà làm luật cổ xưa không chỉ cấm “con cháu tách hộ khẩu”, “chia dứt tài sản” khi cả ông bà cha mẹ còn sống mà còn cấm cả trong trường hợp một người mệnh một nhưng người kia vẫn còn sống thì con cháu vẫn phải tôn trọng quy định này. Quan niệm lập pháp này của phương Đông khác hẳn với quan niệm của luật pháp phương Tây. Trên cơ sở lấy yếu tố tài sản làm trung tâm, luật pháp Tây phương cho phép các con được chia di sản ngay khi một trong hai người (cha hoặc mẹ) chết. Nghĩa là, khi người cha qua đời dù người mẹ vẫn còn sống các con vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu chia phần di sản mà người cha để lại cho họ trong khối tài sản chung với người mẹ, buộc người mẹ phải thanh toán phần này cho họ mặc dù người mẹ vẫn đang quản lý, sử dụng khối tài sản chung này. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Quy định này của Hoàng Việt luật lệ xuất phát từ nền luân lý Nho giáo được củng cố thêm bởi tục lệ của dân tộc. Thời xưa, trong gia đình, con cháu không có quyền hành gì về tài sản cả. Nền luân lý Khổng giáo dạy rằng: “Phụ mẫu tại, bất cảm hữu kỳ thân, bất cảm tư kỳ tài” nghĩa là lúc còn cha mẹ, ngay đến tấm thân của các con cũng không phải của mình, không dám có đến cả thân thể riêng, cũng như không được có tài sản riêng tư. “Tử phụ vô tử hóa, vô tư súc, vô tư khí, bất cảm tư giả, bất cảm tư dũ” nghĩa là hai vợ chồng người con không được có tài sản riêng, có gia súc riêng, có đồ dùng riêng, không được cho vay hay tặng dữ [205; 24]. Trên nguyên tắc, nếu người con còn sống với quyền người gia trưởng thì tất cả tài sản của họ đều là của gia trưởng. Các giáo điều này được chép trong sách Lễ ký và đã ngự trị hàng ngàn năm tại Trung Hoa và Việt Nam thời xưa.

Sở dĩ con cháu không được quyền phân sản vì tài sản ấy thuộc quyền quản lý của ông bà cha mẹ. Để khẳng định củng cố cho chế định này tại Điều 83 Hoàng Việt luật lệ tiếp tục cấm các ti ấu trái lệnh người tôn trưởng trong việc tự tiện tiêu dùng của chung của gia đình, “Phàm kẻ ti ấu không tuân lệnh người tôn trưởng ở chung (nghĩa là người thân thuộc ở hàng trên và lớn tuổi hơn), tự tiện tiêu dùng của chung trong nhà, nếu giá tài sản là 10 lạng bạc thì phải phạt 20 roi, thêm mỗi 10 lạng thì tội lại nặng thêm một bậc, nhưng cũng chỉ đến 100 trượng mà thôi”. Giải thích điều này, nhà lập pháp triều Nguyễn đã ghi chú như sau: “Nếu các người ti ấu ở chung cùng tôn trưởng và nếu các tài sản đều để chung, việc quản trị các tài sản phải hoàn toàn do các người tôn trưởng đảm nhiệm. Các người ti ấu không thể tự ý đảm nhiệm việc quản trị hay sử dụng được”. Đây chính là cơ sở để đảm bảo sự tồn tại của chế độ đại gia đình trong xã hội ngày xưa.

Dưới triều Minh Mạng, để bổ sung cho các quy định Hoàng Việt luật lệ. Trong Quốc triều tân luật của Minh Mạng đã minh thị quy định: “Khi hôn thú bị chấm dứt do một người phối ngẫu mệnh một, thì nếu người vợ chết trước, tài sản thuộc về người chồng quản lý; ngược lại, nếu người chồng chết trước, tài sản được giao cho người vợ quản lý” [92; 5].

Trong gia đình phụ hệ, lẽ tự nhiên, khi người vợ mệnh một thì tất cả tài sản chung thuộc về sự quản lý của người chồng và đương nhiên chưa có “thời điểm mở thừa kế” để chia phần này cho các con. Tuy nhiên, đối với việc người vợ được quản lý tài sản khi người chồng chết là một điểm đặc biệt tiến bộ của cổ luật Việt Nam.

Theo luân lý Nho giáo thì người phụ nữ kiểu mẫu phải có đủ “tam tòng”, “tứ đức”. “Tam tòng” là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, còn “tứ đức” là công, dung, ngôn, hạnh. Theo luân lý này thì người phụ nữ được xem là người “vô năng lực” hoàn toàn về mặt pháp lý. Tuy nhiên, người đàn bà Việt Nam khi bước chân về nhà chồng, không phải hoàn toàn lệ thuộc vào chồng và mất hết quyền lợi. Quy chế pháp lý của người vợ trong gia đình Việt Nam xưa “thật là tế nhị và đặc biệt” [56; 5]. Tổ chức gia đình ở Việt Nam, mặc dù theo chế độ phụ hệ nhưng cũng đã dành cho người vợ một địa vị quan trọng, ngang hàng với người chồng trên cơ sở tạo lập những quyền và nghĩa vụ riêng biệt cho cả hai bên trên cơ sở luân lý, trở thành phong tục, tập quán, gia huấn, gia pháp của mỗi gia đình, thậm chí nhà làm luật triều Nguyễn không cần phải quy định lại những vấn đề này mà mục đích của những chế định chỉ nhằm củng cố thêm khi có những sự vi phạm các nghĩa vụ ấy.

Theo nguyên tắc “tam tòng”, người đàn bà có chồng phải “xuất giá tòng phu”. Ý nghĩa “tòng phu” trong cổ luật Việt Nam cũng đã không khác gì pháp luật Âu Mỹ. Vì cũng giống như ý nghĩa “người gia trưởng” trong pháp luật Âu Mỹ, tất yếu một khi đã lập gia đình thì đoàn thể gia đình ấy phải có một người đứng đầu đại diện và điều khiển gia đình. Người đó chắc chắn phải là người chồng. Vậy là, ngay tại những nước dân chủ Tây phương với nguyên tắc nam nữ bình quyền được xem là nguyên tắc nền tảng của luật pháp nhưng trong tương quan vợ chồng, dân luật vẫn thiết lập một trật tự trong đó quyền gia trưởng vẫn thuộc về người chồng. Mặc dù người chồng là gia trưởng nhưng vẫn không hủy bỏ năng lực của người vợ. Quan niệm này đã được chấp nhận trong cổ luật Việt Nam, nghĩa vụ “tòng phu” không phải là sự truất đoạt ở người vợ các năng lực pháp lý hay mất hết vị trí trong gia đình. Danh từ “nội tướng” mà người xưa thường dùng để chỉ người đàn bà có chồng đủ nói lên vai trò quan trọng và quyền hành thực sự của người phụ nữ trong gia đình Việt Nam thời trước [325; 19]. Điều này cũng đồng thời phủ nhận trong cổ luật Việt Nam không có ý niệm “phu quyền” (puissance mantale) như trong cổ luật La Mã.

Như vậy, đối với người vợ, cổ luật Việt Nam không cho phép người chồng hành xử phu quyền giống như trong luật La Mã hay trong pháp luật cận đại của Pháp. Ở đó, người vợ bị coi như hèn kém, yếu đuối, còn người chồng thậm chí được phép có những hành vi tàn bạo đối với người vợ, do đó người vợ không được pháp luật thừa nhận về năng lực pháp lý. Trong gia đình Việt Nam cổ xưa, người vợ cả ngang hàng với người chồng. Mặc dù người chồng là gia trưởng nhưng địa vị gia trưởng này của người chồng không truất đoạt năng cách pháp lý của người đàn bà. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Chính vì những lý do trên nên địa vị của người vợ cả trong việc phụng sự tổ tiên đã được luật pháp, lễ nghi và tục lệ thừa nhận, coi như ngang hàng với người chồng và không thể vì giá thú mà mất năng cách pháp lý. Điều này là hiển nhiên khi người chồng mệnh một. Theo tư tưởng Lễ ký thì nguyên tắc là “phu tử tòng tử” (chồng chết thì theo con trai), song ở đây không phải là người quả phụ hoàn toàn phụ thuộc con trai và mất hết tư cách pháp lý. Trái lại, tục lệ và cổ luật đã dành cho người quả phụ một địa vị rất xứng đáng nếu như họ không tái giá. Nếu người gia trưởng mất mà các con còn nhỏ thì công việc điều khiển, quản lý khối tài sản gia đình do người quả phụ một mình đảm nhận. Còn người con trai đã lập gia đình, người quả phụ sẽ cùng với con trai cả điều khiển các công việc trong nhà [59; 5]. Địa vị của người quả phụ quan trọng trong việc quản lý di sản của người chồng để lại như vậy nên Hoàng Việt luật lệ đã nghiêm phạt những người tôn thuộc ép buộc người quả phụ đi tái giá. Điều 98 Hoàng Việt luật lệ quy định: “Mãn tang chồng mà thê thiếp quả có nguyện thủ chí mà bị ép gả bởi ông bà cha mẹ và ông bà cha mẹ nhà chồng thì chủ hôn bị phạt 80 trượng. Trong vòng thân thuộc thì tăng thêm 1 bậc, nếu là bà con chỉ phải để tang đại công (9 tháng) trở xuống thì lại tăng thêm 1 bậc nữa. Người đàn bà và người cưới đàn bà đó đều không bị tội”. Sở dĩ nhà lập pháp triều Nguyễn quy định như vậy là vì, không những về mặt đạo lý, Nho giáo khuyến khích sự thủ tiết, mà về mặt luật pháp nhà làm luật e sợ thân thuộc bên nhà chồng muốn tranh giành địa vị gia trưởng và quản lý di sản mà ép buộc người quả phụ phải tái giá.

Thứ hai, về thời điểm mở thừa kế, tại Điều 82 Hoàng Việt luật lệ chỉ rõ: “Đang lúc còn để tang cha mẹ mà anh em tách hộ khẩu, chia hẳn gia sản thì phạt 80 trưởng”. Vì vậy hệ luận suy ra từ quy định này: thời điểm phát sinh thừa kế là thời điểm người có tài sản chết nhưng theo Hoàng Việt luật lệ phải là sau khi mãn tang người mệnh một thì mới được chia di sản thừa kế.

  • Thí dụ: Thời gian để tang cha mẹ là 3 năm. Sau 3 năm (lúc mãn tang cha mẹ), các con mới được chia di sản thừa kế.

Cần lưu ý, điều luật chỉ quy định “cha mẹ” nhưng ở đây cần được hiểu rộng ra là các chủ thể để lại di sản, nghĩa là theo quan niệm huyết thống xuôi, người để lại di sản ngoài cha mẹ còn có ông, bà, cô, dì, chú, bác, anh, chị v.v… Khi nhận di sản thừa kế, người được hưởng vẫn phải tôn trọng thời kỳ để tang này.

Vì vậy, để xác định được thời điểm phát sinh thừa kế chúng ta cần có sự am hiểu về thời gian để tang theo tục lệ. Hoàng Việt luật lệ chủ yếu quy định thừa kế theo quan hệ “huyết thống xuôi” nên chúng ta chỉ quan tâm đến thời gian tang chế cũng chủ yếu theo quan hệ huyết thống xuôi.

Theo Thọ Mai gia lễ, tang có năm hạng theo sự thân sơ và lâu chóng của người sống đối với người chết:

  • Đại tang, để tang 3 năm
  • Cơ phục, để tang 1 năm
  • Cửu công, để tang 9 tháng
  • Tiểu công, để tang 5 tháng
  • Ty ma, để tang 3 tháng
  • Con cái để tang cha mẹ 3 năm

Tang cha dùng khăn sô, áo sô, sổ gấu và gậy tre Tang mẹ dùng khăn sô, áo sô, sổ gấu và gậy vông

  • Con để tang cha ghẻ có 3 trường hợp: Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Ở chung gọi là đồng cư phụ, tang để 1 năm. Trước ở chung, sau ở riêng, tang để 3 tháng.

  • Không bao giờ ở chung là bất đồng cư phụ, không tang.
  • Con để tang cha ghẻ, chồng người kế mẫu nếu ở chung thì 1 năm, bằng không thì không tang.
  • Đích mẫu, kế mẫu, dưỡng mẫu, các con phải để tang 3 năm.
  • Từ mẫu: mẹ sinh ra đã chết, người con còn nhỏ dại, cha nhờ vợ khác hoặc nàng hầu nuôi; người mẹ nuôi người con là từ mẫu. Để tang từ mẫu là 3 năm.
  • Giá mẫu, xuất mẫu và thứ mẫu tang 1 năm.

Giá mẫu là mẹ đẻ, khi cha chết, bước đi bước nữa. Xuất mẫu là mẹ đẻ đã ly hôn.

Thứ mẫu là mẹ đẻ nhưng là vợ lẽ của cha.

  • Vợ lẽ, nàng hầu của cha tức mẹ ghẻ, tang để 3 tháng.
  • Nhũ mẫu, tức là vú nuôi, tang để 3 tháng.
  • Con thứ tang mẹ đẻ (con thứ của người vợ lẽ) tang để 3 năm.
  • Tang cao tổ phụ, mẫu (tức các kỵ) các chút để 3 tháng.
  • Tang tằng tổ phụ, mẫu (tức các cụ) các chắt để 5 tháng.

(Nếu cha hoặc ông người chắt đã chết rồi, người chắt là người thừa trọng, chắt phải để tang 3 năm).

  • Các tằng tổ bá, thúc phụ, mẫu, anh em ruột với tằng tổ phụ, tang để 3 tháng.
  • Các tằng tổ cô, chị em ruột với tằng tổ phụ, tang để 3 tháng nếu các chắt chưa đi lấy chồng, đã xuất giá khỏi để tang.
  • Tang ông bà, tổ phụ và tổ mẫu, cháu để tang 1 năm.

(Nếu cha đã mất, cháu là đích tôn thừa trọng, phải thay cha để tang 3 năm).

  • Các tổ bá, thúc phụ, mẫu tang để 5 tháng.
  • Tang bác trai, bác gái, cô, chú và thím – anh chị em ruột hoặc chị em dâu với cha – 1 năm. Chồng cô không tang.
  • Tang bác trai, bác gái họ, cô họ, chú và thím họ – anh chị em thúc bá với cha, 5 tháng.
  • Tang bác trai, bác gái, chú, thím và cô họ – anh chị em cháu chú bác với cha, 3 tháng.
  • Tang bác trai, cậu, bác gái, 5 tháng. Mợ, cậu vợ, chồng bác gái, chồng dì đều không tang.

Ca dao có câu: Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

  • Chồng cô, vợ cậu, chồng dì Trong ba người ấy, chết thì không tang!

Đối với tang trong quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi

  • Kỵ, tang 3 tháng
  • Cụ, tang 5 tháng
  • Ông, bà tang 1 năm
  • Cha mẹ, tang 3 năm như cha mẹ đẻ
  • Từ ông bà trở lên, nếu là con nuôi lập tự, lại là thừa trọng, tang cũng 3 năm.

Việc xác định thời điểm chia di sản thừa kế phải chờ đến lúc mãn tang là một điểm đặc biệt của cổ luật, khác với quan niệm lập pháp phương Tây hiện đại, sau khi người để lại di sản chết làm phát sinh ngay quan hệ thừa kế và di sản có thể được chia ngay cho những người thừa kế. Quy định này xuất phát từ quan niệm về chữ “hiếu” trong luân lý của Nho giáo, được tục lệ của người Việt xưa củng cố. Đối với người Việt, trong gia đình khi có một người qua đời thì việc làm đầu tiên, quan trọng nhất là việc con cháu phải lo hậu sự cho chu đáo. Tang lễ theo phong tục cổ truyền gồm rất nhiều thủ tục: lễ mộc dục, lễ phạn hàm, lễ phạt mộc, lễ nhập quan, lễ thành phục… Đang lúc đau buồn, “tang gia bối rối” thì không ai lại nghĩ đến việc chia thừa kế ngay, đây là đạo nghĩa, luân lý của người Việt. Ngoài ra trong thời gian để tang cũng là thời gian con cháu tỏ lòng đau buồn, vì vậy việc chia di sản cũng không thể được đề cập trong thời gian đó. Quan niệm này có điểm tương đồng với quan niệm của luật La Mã cổ đại trong việc xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế của người chết để lại. Theo quan niệm tâm linh của người La Mã, người ta không muốn tại thời điểm người có tài sản chết ngay lập tức đã tước đi quyền sở hữu tài sản của người quá cố. Mà vào thời điểm người có tài sản chết, di sản để lại được hiểu là “tài sản chờ”, chưa chia ngay cho những người thừa kế. Đây là sự bảo lưu tư cách chủ thể của người chết đối với tài sản của họ nghĩa là trong thời gian chờ này nó vẫn thuộc về người chết. Cũng theo luật La Mã thì thời gian “chờ” này tối đa là 1 năm.

2.3. Di sản thừa kế Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Cổ luật Đông phương nói chung và cổ luật Việt Nam nói riêng khác hẳn dân luật ở Tây phương ở điểm không quy định các vấn đề về tài sản trong quan hệ gia đình. Về vấn đề tài sản, nếu so sánh sự quy định trong cổ luật với các điều khoản trong dân luật hiện đại, chúng ta sẽ nhận thấy một sự khác biệt rất sâu sắc từ ý niệm đến kỹ thuật pháp lý. Trong cổ luật không tìm thấy những thuật ngữ: quyền sở hữu, quyền thừa kế, tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, tài sản riêng, di sản thừa kế… Do đó, vấn đề di sản thừa kế, vấn đề về sự quản trị tài sản của hai vợ chồng cũng không được cổ luật quy định minh bạch. Nghiên cứu di sản thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ dưới thời Nguyễn cũng trong tình hình này. Thái độ mặc tĩnh của nhà lập pháp triều Nguyễn trong cổ luật không phải là không có lý do.

Trước hết, sắc thái đặc biệt của sự quy định này phát sinh ở quan niệm nhân trị. Theo quan niệm ấy, nhà làm luật trên nguyên tắc không cần can thiệp vào phạm vi các hành động của các thành viên trong gia đình, nếu trật tự gia đình, trật tự xã hội không bị rối loạn. Quan niệm nhân trị về pháp luật cũng đồng thời đòi hỏi ở những thành viên trong gia đình phải giữ đúng “lễ” và “hiếu”. Vì vậy, phương diện tài sản không được quy định minh bạch và nhà làm luật mặc nhiên để cho tục lệ và luân lý điều chỉnh phần lớn vấn đề này.

Sau nữa, di sản thừa kế gắn liền với hiệu lực về vật chất (tài sản) của vợ chồng trong gia đình. Trong xã hội cổ xưa, mục đích thiết yếu của hai họ trong việc giá thú là nhằm kén chọn một người dâu hiền, nhằm mục đích có con cháu nối dõi tông đường và phụng sự tổ tiên trong hiện tại và tương lai, do đó vấn đề lý tài không bao giờ được đặt ra. Mặt khác, người chồng sẽ là gia trưởng với những quyền hạn rộng rãi về phương diện tài sản của gia đình, nên nhà làm luật không cần nghĩ đến việc phải minh bạch trong sự quản trị tài sản của vợ chồng. Ngược lại, người vợ cũng không cần đến một khế ước về hôn sản vì như thế sẽ đi ngược lại luân lý của xã hội và vi phạm quy chế gia đình phụ hệ. Khế ước này cũng trái với quan niệm cổ điển là nhà gái không được ỷ giàu, cậy sang, và điều đó đã được ghi thành giáo huấn ban hành rộng rãi từ thời Lê [68; 5].

Nói cách khác, trong cổ luật Việt Nam, các nhà làm luật thường không minh thị rõ vấn đề về chế độ hôn sản, do đó cũng không minh thị vấn đề về di sản thừa kế. Tuy nhiên, đã có tài sản để lại, có những mối quan hệ trong gia đình thì tất nhiên phải có những vấn đề liên quan đến tài sản đó phải giải quyết, không chỉ giữa những người trong gia đình mà còn liên quan đến sự giao thiệp với người đệ tam. Những vấn đề về tài sản, di sản không thể được tổ chức hệ thống như pháp luật của Tây phương, nhưng tất nhiên cũng phải được giải quyết dưới hình thức này hay hình thức khác trong cổ luật và tục lệ. Thí dụ, trong Hoàng Việt luật lệ, nhà làm luật không minh thị quy định chế độ hôn sản, do đó để nghiên cứu vấn đề này phải suy đoán trên cơ sở các điều luật hoặc phải tìm cách giải quyết trong tục lệ. Cũng mượn thuật ngữ của Tây phương, chúng ta cần làm rõ 2 nội dung về di sản thừa kế trong thành phần của di sản thừa kế và xác định di sản thừa kế.

  • Thứ nhất, về thành phần của di sản thừa kế Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Thành phần di sản thừa kế trong cổ luật bao gồm chủ yếu là bất động sản như: ruộng, vườn, nhà, đất. Ngoài ra còn có động sản hay phù vật như: đồ đạc, quần áo, tiền bạc, vải lụa, thóc gạo, đồ sứ, gia súc, gia cầm, thuyền bè v.v… Những tài sản này được coi là “của nổi”. Khi chủ sở hữu các tài sản này chết đi, các thành phần này đều được xem là di sản thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn.

Trong các thành phần này, có thể khẳng định di sản thừa kế chủ yếu ở thời kỳ này là đất đai. Trong các quy định liên quan đến tài sản (trong chương về hộ luật), Hoàng Việt luật lệ rất chú trọng đến quyền sở hữu ruộng đất, nhất là vấn đề điền sản. Hầu hết các điều khoản đề cập rõ điền sản mà không đề cập đến các tài sản khác, nhất là các quy định về thành phần di sản hương hỏa. Lệ 1 Điều 87 Hoàng Việt luật lệ minh thị: “Nếu các con cháu bán trái phép các điền sản của tiền nhân di lưu để dùng vào việc tế tự thì sẽ bị lưu đi viễn châu, nếu bán quá 50 mẫu”. Qua đó cho thấy di sản chủ yếu là bất động sản vì nó đáp ứng được mục tiêu di chuyển từ đời này qua đời khác mà không bị biến mất để lưu truyền việc tế tự và tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững nền kinh tế của dòng họ, gia tộc.

Điều này dễ hiểu, vì dưới chế độ phong kiến, ngành kinh tế có vai trò quyết định nhất là nông nghiệp. Tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất, người dân chiếm phần lớn dân số xã hội. Dưới thời Nguyễn, cho đến nửa đầu thế kỷ XIX, mặc dù các nghề thủ công đã có một quá trình phát triển lâu dài, liên tục, nhưng trong bối cảnh chung của nền kinh tế tiểu nông, nghề thủ công hoặc thương nghiệp vẫn chỉ là nghề phụ, hỗ trợ cho kinh tế nông nghiệp. Thu nhập từ sản xuất thủ công và thương nghiệp chưa phải là nguồn thu nhập chính, quan trọng để làm tăng thêm thu nhập cho dân cư đến mức dư giả, có thể mua thêm nhiều ruộng đất. Thậm chí, cư dân trong xã thôn có nghề thủ công (Ví dụ: ở Đông Sơn) vẫn gắn bó chặt chẽ với đồng ruộng, dù ít hay nhiều, ruộng đất vẫn là tài sản quan trọng, không có hiện tượng các hộ gia đình tham gia các hoạt động kinh tế khác một cách chuyên nghiệp, tách hẳn khỏi ruộng đồng và bán đứt ruộng đất cho người khác.

Có thể nói, trong một xã hội chuyên sinh sống về nông nghiệp, riêng các ruộng đất mới là thành phần chính yếu của gia sản. Trái lại, các động sản hay phù vật chỉ giữ một địa vị khiêm tốn và chỉ được coi là những tài sản phụ, không quan trọng. Nhờ có điền sản mới sản xuất được thóc gạo và ngũ cốc để nuôi sống hoặc để đổi chác lấy các đồ vật khác. Do đó, có thể nói trong xã hội cổ xưa các điền sản là nguồn gốc căn bản của tất cả các tài sản khác. Trong tất cả các nước Đông phương dưới thời phong kiến, quan niệm “Một tấc đất, một tấc vàng” (nhất thốn thổ, nhất thốn kim), vẫn được tôn trọng, giống như quan điểm của cổ luật La Mã “Res mobilis, res vilis” (các động sản là vật ty tiện không giá trị) mà Tây phương còn áp dụng cho đến tiền bán thế kỷ thứ XIX [136; 25]. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Bản thân các vua triều Nguyễn cũng ý thức được tầm quan trọng của điền sản vì vậy rất quan tâm đến điền sản là di sản thờ cúng. Dưới thời Nguyễn, việc ban cấp ruộng đất chỉ còn lại duy nhất hình thức tự điền (ruộng thờ) được thực hiện dưới thời Gia Long và Minh Mệnh [360; 20]. Trong Đại Nam thực lục đã chép: Vào cuối năm 1838, Minh Mệnh đã rất đắn đo khi sung công một phần ruộng đất tư ở Bình Định làm công điền quân cấp: “Ruộng đất tư là của thế nghiệp, năm tháng đã lâu, sổ sách đã thành, nay vô cớ cắt mất của riêng huyết mạch của người ta, xét ra không phải là việc yên nhân tình, một phen làm sợ rằng chưa thấy lợi mà nhiễu dân thì không nói hết”. Ngoài ra, về thuế đền thổ, nhà nước đánh thuế hầu hết các loại ruộng, đất nhưng trừ đất ruộng thừa tự của dân là không đánh thuế.

  • Thứ hai, xác định di sản thừa kế

Việc xác định đúng di sản thừa kế có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo khả năng tốt nhất cho người hưởng di sản được hưởng đúng phần di sản của mình. Góp phần quan trọng củng cố tinh thần đoàn kết trong gia đình truyền thống của người Việt xưa. Mặc dù vấn đề này không được cổ luật quy định một cách trực tiếp nhưng bằng cách này hay cách khác các vấn đề trong cuộc sống vẫn đặt ra buộc nhà làm luật triều Nguyễn phải giải quyết. Nhà lập pháp cổ luật ý thức được việc xác định di sản thừa kế không đúng có thể làm ảnh hưởng trực tiếp không chỉ về lợi ích vật chất mà còn ảnh hưởng đến lợi ích tinh thần của những người thừa kế, gây ra sự bất hòa cho những mối quan hệ trong gia đình “tứ đại đồng đường”. Theo giáo lý của Nho giáo thì trong năm mối quan hệ của con người: Quân – Thần; Phụ – Tử; Phu – Phụ; Huynh – Đệ; Bằng Hữu thì đã có đến ba mối quan hệ trực tiếp gắn liền với gia đình. Theo giáo lý của Nho giáo gia đình của người Việt xưa được mô tả với diện mạo của gia đình với lối sống luân lý, trọng đạo đức. Nếu xác định di sản không đúng sẽ làm cho gia đình không giữ được sự hòa thuận, không còn tình yêu thương, đùm bọc lẫn nhau. Thì sự tranh giành, đố kỵ sẽ phá vỡ thiết chế của gia đình Việt cổ, làm tổn hại đến truyền thống gia đình và thậm chí là tổn hại đến cả nền văn hóa Việt Nam. Theo nhà sử học Jonh Demous: “Gia đình là …một thiết chế hết sức cơ bản và bền vững; thường khi nó là một thứ mẫu chung hay một nền móng cho cả một nền văn hóa” [49; 21].

Việc xác định đúng di sản thừa kế không chỉ có ý nghĩa đảm bảo quyền lợi cho những người thừa kế mà còn là sự bảo đảm quyền lợi cho những người đệ tam. Những đệ tam nhân này là những người có quyền hoặc nghĩa vụ liên quan đến di sản mà người mệnh một để lại. Xác định di sản thừa kế không chính xác hoặc không đầy đủ thì người thừa kế bị ảnh hưởng về quyền lợi và cũng vì thế mà họ không có đủ điều kiện để thực hiện nghĩa vụ mà người mệnh một có nghĩa vụ phải thực hiện với các đệ tam nhân trong một quan hệ nghĩa vụ nào đó làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đệ tam nhân được pháp luật bảo vệ. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Theo dân luật, tài sản của một người liên hệ chặt chẽ với thân phận của người ấy, khi người này chết đi thì toàn bộ tài sản của người ấy được chuyển sang cho các thừa kế của họ; lúc này tài sản của người quá cố khi đó sẽ được nhập chung với tài sản riêng của người thừa kế. Vì vậy, người thừa kế sẽ là chủ sở hữu các tài sản thuộc di sản thay cho người quá cố và đồng thời cũng phải gánh chịu các món nợ do người quá cố để lại [103; 7].

Đồng nhất với quan điểm này, di sản thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ thời Nguyễn thường gồm có 2 phần là tích sản và tiêu sản. Tích sản là tất cả tài sản của người mệnh một để lại gồm cả bất động sản và động sản (hay phù vật). Các tiêu sản là các món nợ mà người chết phải trả cho các đệ tam nhân và các chi phí cho việc mai táng của người này. Nếu những người thừa kế được hưởng phần tích sản thì cũng phải gánh vác phần tiêu sản, vì theo nguyên tắc trên, tất cả gia tài (gồm cả phần tích sản lẫn tiêu sản) phải được chuyển dịch sang hết cho những người thừa kế.

  • Về thành phần tích sản: được xác định theo nguyên tắc tài sản riêng thuộc quyền sở hữu của người mệnh một.

Tích sản là thành phần tài sản do vợ chồng góp vào hay cùng làm ra. Trong Hoàng Việt luật lệ, nhà làm luật triều Nguyễn không minh thị quy định chế độ hôn sản [68; 5]. Do đó, muốn nghiên cứu vấn đề này cần phải suy đoán từ Điều 76 khi đề cập đến việc phân chia tài sản của gia đình, Điều 83 khi đề cập đến việc phân chia tài sản giữa con vợ cả và con vợ lẽ, việc thừa kế di sản cha mẹ đẻ của người con gái, Điều 96 khi đề cập đến việc người vợ cả được ngang hàng với người chồng… Song cũng từ suy đoán này đã có các quan điểm khác nhau trong việc nhìn nhận chế độ hôn sản của pháp luật triều Nguyễn. Theo TS. Huỳnh Công Bá thì đã có 2 quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu.

Quan điểm thứ nhất (của Philastre, Engène Sicé, Nguyễn Huy Lai): Theo quan điểm này, chế độ hôn sản dưới triều Nguyễn là chế độ hôn sản cộng đồng toàn sản (communauté universelle). Theo đó, tất cả tài sản trong sự phối hiệp phu phụ đều đặt dưới quyền độc nhất của người chồng về phương diện quản lý cũng như sử dụng, người vợ không được thừa nhận quyền có của riêng. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Quan điểm thứ hai (của Camille Briffaut, Vũ Văn Mẫu,…): Theo quan điểm này, chế độ hôn sản dưới triều Nguyễn là chế độ hôn sản cộng đồng pháp định (communauté juridique). Theo đó, người đàn bà có chồng được có tài sản riêng trong khối tài sản chung của gia đình. Trong sự phối hiệp phu phụ, mỗi người phối ngẫu được mang góp kỷ phần của mình và vẫn giữ nguyên vốn ấy, đến khi giá thú đoạn tiêu nếu không có con cái, họ được phép rút kỷ phần về. Còn trong quá trình sống chung họ có nghĩa vụ đồng tâm hiệp tác và trong mọi hành động họ phải cùng nhau chịu trách nhiệm về những hậu quả của sự hiệp tác ấy.

Chính việc không minh thị quy định chế độ hôn sản trong pháp luật triều Nguyễn nên dẫn đến việc có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này là điều tất yếu. Cuộc tranh luận này đã được giải quyết với việc đưa ra các luận cứ thuyết phục để bảo vệ cho quan điểm thứ hai:

Một là, tại nội dung “phạm vi những người được thừa kế theo pháp luật” được trình bày tại phần 2.4 của luận văn sau đây thì cả con gái cũng được chia gia tài điền sản của cha mẹ đẻ giống như Quốc triều Hình luật và khi lấy chồng ắt người vợ phải đem tài sản đó nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng để làm ăn và nuôi con. Và đó là khối cộng đồng hôn sản pháp định.

Hai là, theo Lệ 2 Điều 76 của Hoàng Việt luật lệ mà người ta thường nêu ra để cho rằng tất cả tài sản của vợ đều được nhập vào gia sản của chồng. Thực ra, điều luật này không quy định rõ nội dung như vậy, mà điều luật ấy chỉ buộc người đàn bà góa không có con, nếu tái giá thì phải trả lại cho nhà chồng tất cả tài sản của người chồng mệnh một. Vậy không thể căn cứ một cách hợp lý vào Lệ 2 Điều 76 của Hoàng Việt luật lệ để suy luận rằng tài sản của người vợ bị sáp nhập vào gia sản của người chồng để trở thành một khối duy nhất thuộc quyền sử dụng của người chồng.

Ba là, theo tục lệ của người Việt, người vợ luôn luôn được đặt ngang hàng với người chồng, làm nội tướng trong gia đình, người vợ gần như bao giờ cũng giữ tiền bạc, sắp xếp mọi việc trong gia đình. Theo Maitre thì: “Điều mà người Việt Nam tỏ ra hơn hẳn các dân tộc khác ở Viễn Đông là địa vị mà họ dành cho người vợ cả trên thực tế gần như bình đẳng với chồng”. Một trong những lý do khiến người vợ có địa vị quan trọng trong gia đình là do những hoạt động kinh tế tự chủ của họ. Giáo sư Ynsun Yu đã nhận xét: “Khía cạnh quan trọng của vị trí người vợ trong gia đình truyền thống Việt Nam. Nó đã chứng minh rằng sở dĩ người vợ được vị thế cao trong gia đình là do những hoạt động kinh tế của chính mình…”. Một số người khách Tây phương đến Việt Nam vào thế kỷ XVIII, XIX cũng nhận xét rằng phụ nữ Việt Nam không chỉ cùng chồng lao động trên đồng ruộng, mà còn tham gia các hoạt động thương mại, làm nghề thủ công… và “không thấy có sự phân biệt về tiền công với đàn ông”. Một người Anh đến du lịch đã nói “đàn bà Việt Nam cũng sắc sảo như đám con buôn cổ phần chứng khoán ở Luân Đôn” [25; 34].

Quả là từ xa xưa, phụ nữ Việt Nam rất cần cù, chịu thương, chịu khó cùng chồng xây dựng gia đình như ca dao, tục ngữ đã phản ánh: “Chồng cày, vợ cấy…”, Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

“Của chồng, công vợ”, “Thuận vợ, thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”… Công lao to lớn của người phụ nữ còn thể hiện ở việc một mình gánh vác vấn đề kinh tế để phụng dưỡng cha mẹ, nuôi dạy con cái thành “con hiền, cháu thảo” khi chồng vắng nhà vì học hành, thi cử hoặc vì đánh giặc giữ nước. Với các hoạt động kinh tế tự chủ này, chúng ta hoàn toàn chứng minh được người phụ nữ trong triều Nguyễn có quyền có tài sản riêng, và trong khối tài sản chung với người chồng, người vợ vẫn có những quyền quản trị nhất định.

Giải quyết vấn đề này, chúng tôi đồng ý với ý kiến của giáo sư Vũ Văn Mẫu. Đứng trước thái độ mặc tĩnh của nhà làm luật, triều Nguyễn cần phải đi tìm ở tục lệ. Vì cho dù nhà làm luật có yên lặng, song khó khăn vẫn đặt ra trong cuộc sống hàng ngày và những khó khăn ấy đã được giải quyết hoặc bằng sự dàn xếp êm thấm trong gia đình, hoặc bằng sự can thiệp của nhà chức trách căn cứ vào tục lệ và những tục lệ ấy chính là nếp sống từ đời Lê truyền lại. Trong các giải đáp của Ủy ban cố vấn Án lệ dưới thời Pháp thuộc có nói đến các từ ngữ “của nhà vợ”, “của nhà chồng” được lưu dụng trong dân gian, đấy là những bằng chứng chứng tỏ rõ rằng quan niệm cộng đồng pháp định của nhà Lê bao gồm “phu tông điền sản” (ruộng đất, tài sản của chồng), “thê điền sản” (ruộng đất, tài sản của vợ) và “tần tảo điền sản” (tài sản của hai vợ chồng tạo nên khi kết hôn) đã được duy trì trong tục lệ suốt dưới thời gian trị vì của triều Nguyễn [71; 5].

Trong Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong dưới thời Minh Mệnh, Thiệu Trị, vẫn tôn trọng nguyên tắc phân sản và thừa kế tài sản của người phụ nữ có chồng, khi giá thú bị đoạn tiêu, y như pháp luật triều Lê. Đó là:

Tôn trọng quyền sở hữu về những tài sản riêng do cha mẹ chia cho người con gái khi đi lấy chồng. Chỉ có con của người phụ nữ đó mới có quyền thừa kế những tài sản ấy. Trong trường hợp không có con thì dòng họ của người con gái được thừa kế, chứ không phải là người chồng hay nhà chồng. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Trong trường hợp tài sản do hai vợ chồng cùng góp sức tạo lập nên thì luật pháp tôn trọng sự đóng góp công sức của người phụ nữ và trước pháp luật hai vợ chồng có quyền hưởng dụng và sở hữu như nhau.

Như vậy là trong suốt một thời kỳ dài dưới triều Nguyễn, từ thời vua Gia Long cho đến Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức…, bằng tục lệ hay luật viết, cả trong ứng xử gia đình lẫn trong tương tranh pháp luật, chế độ hôn sản cộng đồng pháp định vẫn được tôn trọng. Đó cũng chính là nguyên tắc đã trở thành truyền thống dưới thời Lê và được pháp luật triều Nguyễn tiếp tục khẳng định. Đây là một định chế có ý nghĩa tiến bộ trong lịch sử pháp chế Việt Nam, so với khu vực và thế giới lúc bấy giờ.

Pháp luật triều Nguyễn cũng giống như pháp luật triều Lê ở Việt Nam, đã thừa nhận một chế độ cộng đồng pháp định giống như của Tây phương. Chế độ cộng đồng hôn sản trong cổ luật Việt Nam là chế độ hôn sản duy nhất và bắt buộc áp dụng cho tất cả các giá thú. Không một cặp vợ chồng nào có thể làm hôn khế để ước định một chế độ khác với chế độ chung nói trên. Sở dĩ như vậy là vì chế độ hôn sản do cổ luật quy định là sự phản ánh của tổ chức gia đình phụ hệ. Theo chế độ cộng đồng hôn sản này, người ta phân biệt ra các điền sản tân tạo, phu tôn điền sản, thê tôn điền sản và các phù vật (của nổi) gồm những động sản theo quan niệm của dân luật hiện đại. Mặc dù tất cả đều hợp thành một khối duy nhất, đặt dưới quyền điều khiển và sử dụng của người chồng, song các phu tôn điền sản và thê tôn điền sản lâm thời được hồi phục bản chất pháp lý trong những trường hợp buộc phải thanh toán khối cộng đồng hôn sản. Nếu gia đình không có con, nghĩa là nếu giá thú không thực hiện được mục đích nối dõi tông đường, hai loại tài sản trên được phân chia trên căn bản sự tôn trọng quyền lợi của ngành họ nào đã góp các tài sản ấy. Nếu trái lại, giá thú có con, thì các tài sản ấy để lại cho các con. Như vậy, chủ trương rằng, trong cổ luật tất cả các tài sản đều là của chung thì tất nhiên không đúng; mà bênh vực chủ thuyết cho cổ luật Việt Nam đã thừa nhận cho người đàn bà có chồng được có của riêng cũng không phù hợp với sắc thái đặc biệt của cổ luật Việt Nam. Thuật ngữ “tài sản riêng” (les biens propres) phản chiếu một ý niệm mượn trong kỹ thuật pháp lý của Tây phương, không có trong cổ luật Việt Nam. Trong tục lệ, qua kết quả khảo sát của Ủy ban cố vấn án lệ cho thấy người xưa đã sử dụng hai thuật ngữ rất đúng là “của nhà chồng” và “của nhà vợ”, nó đã dịch rất sát nghĩa các khái niệm “phu tôn điền sản” và “thê tôn điền sản” trong cổ pháp. Các loại điền sản này, như đã phân tích, có một quy chế đặc biệt không thể được đồng hóa với các khái niệm tài sản chung hay tài sản riêng. Những tài sản ấy là kỷ phần của mỗi người phối ngẫu góp vào để xây dựng tương lai gia đình và để lại cho con. Nhưng nếu mục tiêu có con không thành tựu thì quyền lợi của mỗi họ (tôn) đối với các tài sản ấy lại xuất hiện và phải được tôn trọng. Nếu muốn áp dụng kỹ thuật pháp lý Tây phương và tìm một thuật ngữ để biểu hiện sắc thái đặc biệt ấy thì có thể dùng thuật ngữ “tài sản chung với điều kiện giải trừ” (biens communs sous condition résolutoire) hay “tài sản riêng với điều kiện đình chỉ” (biens propres sous condition suspensive). Nói cách khác, các tài sản ấy có thể coi là tài sản chung, nhưng nếu giá thú không có con thì tính cách tài sản chung sẽ bị giải trừ. Hoặc là chỉ có thể coi các tài sản trên là tài sản riêng khi nào xảy ra điều kiện không có con. Trong trường hợp này, điều kiện nói trên không có tính cách giải trừ mà chỉ có tính cách đình chỉ. Sự phân tích trên chứng tỏ rằng qua những biện pháp do truyền thống và tục lệ chi phối, kỹ thuật pháp lý trong cổ luật Việt Nam đã đạt đến mức độ uyên vi độc đáo, vừa thỏa mãn được mục đích thiết yếu của giá thú là sự sinh con nối dõi, vừa bênh vực hữu hiệu quyền lợi của hai họ mà không xâm phạm vào tình nghĩa cao quý giữa hai vợ chồng. Nhờ kỹ thuật pháp lý mới lạ ấy, trong cổ luật Việt Nam, người ta không cần phải quy định các khế ước hôn thú, tuy vậy quyền lợi của hai vợ chồng và hai họ vẫn được tôn trọng trong tình đoàn kết mật thiết [75; 5]. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Trên đây, chúng tôi đề cập đến chế độ hôn sản của vợ chồng theo pháp luật triều Nguyễn trong trường hợp người vợ là vợ cả. Còn đối với người vợ lẽ là trường hợp biệt lệ của cổ luật thì cũng có một vài vấn đề cần lưu ý.

Về chế độ tài sản đối với người vợ lẽ không có quy định nào của cổ luật (cả Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ) đề cập đến. Vì lẽ địa vị của người vợ lẽ ở gia đình và xã hội được xem là thấp kém, người vợ lẽ phần nhiều không xuất thân từ gia đình danh giá nên trong gia đình nhà chồng hầu như không có quyền lợi gì. Vì lý do này nên cổ luật không quy định chế độ hôn sản đối với người vợ lẽ.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp người vợ lẽ có tài sản riêng và có thể tự lập một cuộc sống không phụ thuộc vào vợ cả và chồng. Trường hợp này không được cổ luật minh thị vậy chúng ta cần tìm cách giải quyết ở tục lệ.

Theo tục lệ thì tài sản của người chồng và của vợ lẽ đều phải riêng rẽ chứ không phải là chế độ hôn sản cộng đồng pháp định như với người vợ cả. Người vợ lẽ được độc quyền về tài sản riêng của mình. Song nếu người vợ lẽ ở riêng nhà thì phải tự đảm nhận các khoản tài chính trong gia đình, sự nuôi nấng và dạy giỗ các con của mình.

Vậy là, đối với tài sản, người vợ lẽ có quyền có của riêng. Nhưng về tư cách đối với pháp luật thì cũng vẫn phải dưới quyền giám hộ của chồng. Thí dụ: bán đất động sản, đi thưa kiện ai người vợ lẽ cũng phải có chồng cho phép mới thực hiện được.

Như vậy, đối với chế độ hôn sản, nhà làm luật triều Nguyễn đã kế thừa các quy định của Quốc triều Hình luật, tôn trọng tục lệ của dân tộc. Người vợ (dù là vợ cả hay vợ lẽ) đều được cổ luật bảo vệ cho quyền có tài sản riêng, bảo vệ cho vị thế của người vợ cả được ngang hàng chồng trong việc quản trị khối tài sản chung của vợ chồng. Thậm chí, đối với tài sản của riêng, người vợ lẽ còn được rộng quyền hơn người vợ cả. Ngoài việc tục lệ cho phép có tài sản riêng lại còn có quyền “lương vua không phải đóng, áo chồng chẳng phải may”, người vợ lẽ không có trách nhiệm phải gánh vác công việc nhà chồng như người vợ cả. Cũng chính vì lý do này, nên người vợ lẽ không được quyền thừa kế tài sản của chồng để lại, không có quyền gì trong gia đình. Người vợ lẽ chỉ được nhận tiền cấp dưỡng từ người vợ cả khi người chồng mệnh một.

  • Về thành phần tiêu sản Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Con người sống chết theo quy luật sinh – lão – bệnh – tử. Khi chết đi, người này chấm dứt tư cách chủ thể (về mặt pháp lý) và chấm dứt cuộc sống sinh học. Tuy nhiên sự chấm dứt tư cách chủ thể này không đồng nghĩa với việc chấm dứt các nghĩa vụ pháp lý của họ với các đệ tam nhân. Nếu cho rằng mọi quan hệ người chết đã tham gia đều bị chấm dứt thì đó là sự công nhận phi thực tế, gây mất ổn định trong đời sống dân sự. Khi người thừa kế được hưởng phần tích sản thì đương nhiên họ cũng phải gánh vác phần tiêu sản nếu lúc sinh thời người để lại di sản chưa trả hết. Trong gia đình cổ xưa, để sinh sống và tồn tại nếu tài sản không đủ đáp ứng nhu cầu thì người “cầm trịch” phải vay, mượn. Trong gia đình “tứ đại đồng đường” có đủ cơ sở để chứng minh rằng đa số các khoản nợ của người gia trưởng đều nhằm đảm bảo cho gia đình sinh sống. Người thừa kế là con, cháu đều liên quan đến việc sử dụng các tài sản này. Trong cổ luật, khi một người mệnh một thì khó xác định đâu là nợ của gia đình, đâu là nợ riêng của người chết. Theo TS. Nguyễn Ngọc Điện thì không thể thiết lập được sự rạch ròi giữa hai khái niệm “nợ của gia đình” và “nợ do một người chết để lại”. Việc trả nợ cũng trên danh nghĩa gia đình trả nợ và theo thứ tự nếu người vợ hoặc chồng còn sống thì người sống phải trả nợ, nếu cha mẹ đều chết thì con cháu phải trả nợ cha mẹ để lại. Cổ luật và tục lệ đều thừa nhận vấn đề này. Tục lệ “phụ trái tử hoàn” trong xã hội xưa được coi là một nếp sống, chuẩn mực về đạo đức và luân lý, là đạo hiếu đối với bậc sinh thành [26; 21].

Quan niệm này đồng nhất với quan niệm của luật La Mã cổ đại. Theo đó, di sản không chỉ bao gồm tài sản mà còn bao gồm cả nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Tại điểm b – Bảng V Luật XII quy định “những món nợ của người chết đem chia trực tiếp cho những người thừa kế tỷ lệ với phần di sản mà họ được hưởng”. Như vậy, bên cạnh quyền hưởng tài sản do người chết để lại, người thừa kế phải gánh chịu phần nghĩa vụ của người chết.

Thành phần tiêu sản cụ thể là các khoản nợ riêng của vợ chồng trước ngày cưới và các khoản ma chay cho một người phối ngẫu bị mệnh một. Do luật pháp không minh thị quy định vấn đề này, nên ở đây cần phải căn cứ trên tục lệ, thông qua các câu trả lời của Ủy ban cố vấn án lệ dưới thời Pháp thuộc. Đối với vấn đề này, tục lệ đã giải quyết một cách rất hợp lý, theo sát thành phần của tích sản như sau:

Đối với các món nợ của người vợ có trước khi giá thú, người chồng không phải trả. Nếu kỷ phần của người vợ đem về lúc làm giá thú khá quan trọng thì người chồng thường lấy của ấy để thanh toán các món nợ của vợ, hoặc có khi người chồng dùng những tiền của người vợ làm ra được trong thời kỳ giá thú để trả nợ riêng của vợ trước đây. Đối với những gia đình khá giả, người chồng thường tự ý trả nợ hoặc can thiệp, bảo lãnh cho vợ, hoặc xin khất nợ để trả sau.

Đối với các món nợ của vợ đã ký kết trong thời kỳ giá thú, người chồng phải chịu trách nhiệm trả, vì các tài sản và lợi tức do vợ kiếm ra đều gia nhập vào khối tài sản chung. Lẽ dĩ nhiên, nguyên tắc này cũng được áp dụng trong trường hợp người vợ làm nghề buôn bán.

Đối với nợ nần của chồng, người vợ bao giờ cũng có trách nhiệm phải trả khi chồng chết. Người quả phụ thường xem là một vấn đề danh dự trong việc trả nợ cho chồng, bất luận là món nợ nào.

Tuy nhiên, theo cổ pháp phương Đông, di sản thừa kế không đơn thuần chỉ mang giá trị vật chất mà còn mang ý nghĩa tinh thần. Vì vậy, nhà lập pháp triều Nguyễn cũng đồng thời thừa nhận một hình thức di sản đặc biệt đó là thừa kế tập ấm. Đây là việc con cháu được thừa tập quan tước của ông bà, cha mẹ để lại. Đây là trường hợp đặc biệt trong chế định thừa kế trong Hoàng Việt luật lệ dưới triều Nguyễn.

2.4. Phạm vi những người được thừa kế theo pháp luật Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

2.4.1. Quan hệ hôn nhân

Với nguyên tắc bảo đảm quan hệ huyết thống nên phạm vi những người được thừa kế theo pháp luật trong quan hệ hôn nhân theo cổ luật có những điểm đặc biệt khác với nguyên tắc lập pháp Tây phương. Về nguyên tắc, vợ, chồng không phải là người thừa kế của nhau. Tuy nhiên, để đảm bảo cho cuộc sống của người vợ góa, chồng góa, cổ luật cho phép người vợ góa, chồng góa được quản lý, hưởng dụng hoa lợi, lợi tức từ di sản của người mệnh một để lại. Ngoài ra, trong một vài trường hợp, cổ luật còn cho phép người vợ góa, chồng góa sẽ được hưởng một phần điền sản của người mệnh một. Phần điền sản này chỉ để nuôi sống một đời người vợ góa, chồng góa. Nếu người vợ góa cải giá thì phải trả lại phần điền sản đó cho họ hàng bên chồng [322; 36].

Tuy nhiên, tục lệ và cổ luật của ta lại quy định chế độ đa thê, theo đó nên địa vị pháp lý của người vợ cả, vợ lẽ và nàng hầu lại khác nhau. Nguyên tắc nêu trên tùy theo vị trí của người vợ mà có sự khác biệt.

  • Thứ nhất, đối với người vợ cả.

Vợ cả là người gánh vác giang san nhà chồng, là người có nhiệm vụ phụng sự ông bà tổ tiên, được xem là “nội tướng” trong gia đình. Vì vậy, luật pháp và tục lệ có quy định chặt chẽ về điều kiện, về nghi lễ của giá thú. Bất kỳ một sự vi phạm nào về điều kiện, về nghi lễ thì đều bị xem là “cẩu hợp” và người vợ cả không được thừa nhận địa vị của mình.

Trong cổ luật Việt Nam không có việc khai báo giá thú để vào sổ hộ tịch như trong pháp luật hiện đại. Tuy nhiên, để chứng minh cho sự hợp pháp của hôn thú và địa vị của người vợ cả, người ta thường căn cứ trước hết vào sự kiện các nghi lễ đã được cử hành long trọng theo tục lệ. Theo phong tục Việt Nam, giá thú phải đủ “lục lễ” là: nạp thái (kén chọn), vấn danh (hỏi tuổi), nạp cát (chọn được tuổi), thỉnh kỳ (xin ngày), nạp tệ (dẫn lễ cưới) và thân nghinh (đón dâu). Trước đây, trong mục “Hồng Đức hôn giá lễ nghi” chép ở Thiên Nam dư hạ tập thời Lê, cũng đã quy định 4 lễ là: nghị hôn (chạm mặt), định thân (vấn danh), nạp trưng (hành sính) và thân nghinh (nghinh hôn). Trong phần đông các gia đình nông thôn Việt Nam, chúng được giản tiện chỉ còn 3 lễ là: dạm (gồm cả nạp thái và vấn danh), hỏi (gồm cả nạp cát và thỉnh kỳ) và cưới (gồm cả nạp tệ và thân nghinh).

Mặc dù không được niêm yết hay loan báo nhưng đính hôn và giá thú với nhiều nghi lễ trọng thể trên, có bà con hai họ chứng kiến và tham dự nên thường việc chứng minh địa vị vợ cả không mấy khó khăn. Đối với lễ đính hôn, bằng chứng thường là sự nạp sính lễ trọng thể theo nghi lễ, còn đối với giá thú, người ta thường căn cứ vào một số bằng chứng cụ thể:

Ngoài việc viện dẫn những người tham dự lễ cưới. Người ta cũng có thể chứng minh bằng việc đã nộp tiền lan nhai hay tiền cheo. Tục nộp cheo tức là nộp cho làng nhà gái bằng tiền hoặc bằng lễ vật được định bởi hương ước để làng này công nhận là chàng rể đã lấy cô gái làng mình. Trai gái cùng làng cưới nhau cũng phải nộp cheo theo lệ làng. Lễ nộp cheo rất quan trọng đối với tục cưới xin cũ. Ca dao có câu: Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

  • Có cưới mà chẳng có cheo,
  • Dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài.

Khi nộp cheo, lý trưởng hoặc tiên chỉ làng cấp cho chàng rể một tờ phái cheo, tức là tờ biên lai nhận rằng lễ cưới đã có nộp cheo. Về sau, chỉ cần tờ phái cheo là chứng minh được tính hợp pháp của hôn thú [174; 3].

Ngoài ra, theo Điều 94 Hoàng Việt luật lệ quy định vấn đề phúc báo hôn thư hay tư ước trong việc hứa giá thú hay sự đính hôn và sự hứa giá thú đó cũng có giá trị như giá thú đã quyết định. Mọi sự bội hôn hay hối hôn đều bị trừng trị: chủ hôn bị phạt 50 roi, nếu định cưới hay gả chỗ khác bị phạt 70 trượng và gả theo chỗ đã hứa giá thú, nếu đã cưới gả chỗ khác rồi thì phạt 80 trượng, cho đoàn tụ, nhưng tiền cưới sung công.

Trong tục lệ ở nhiều địa phương, trong giá thú luôn có việc lập tờ sính ghi rõ sính lễ và tài sản cần cưới. Đây cũng là bằng chứng viện dẫn chứng minh giá thú đã được cử hành.

Theo Khổng giáo, trong xã hội Việt Nam, gia đình được coi là nền tảng của quốc gia. Nhà lập pháp chú trọng đến việc tăng cường uy lực của cha mẹ đối với con cháu cốt sao cho căn bản gia đình được vững chắc. Hơn nữa, trong mối tương quan phu – phụ, người chồng được công nhận là gia trưởng, có nhiều quyền hành hơn người vợ. Tuy nhiên, người vợ vẫn có một địa vị xứng đáng. Trong cổ pháp Việt Nam, luật nhà Lê cũng như luật nhà Nguyễn coi người vợ cả ngang hàng với chồng; riêng các người vợ lẻ mới chịu một địa vị thấp kém [172; 50]. Các nhà nghiên cứu nước ngoài rất khâm phục khi cho rằng địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam hơn hẳn các nước ở Viễn Đông cùng thời.

Mục đích cốt yếu của giá thú trong cổ luật là phụng sự tổ tiên. Người vợ cả có nhiệm vụ giúp người chồng thực hiện chữ “hiếu” đó cả trong hiện tại cũng như trong tương lai. Vì vậy, nhiệm vụ tế tự phải giao cho con trưởng của người vợ cả là đích trưởng tử, người vợ cả cũng gọi là đích thê. Điều 96 của Hoàng Việt luật lệ cũng nêu rõ địa vị của người vợ cả: “Thê giả, tề dã” có nghĩa là người vợ cả ngang hàng với chồng. Theo tục lệ, người vợ cả và người vợ lẽ có thể ở riêng nhà nhưng bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng phải để ở nhà nơi người vợ cả ở với người chồng. Có lẽ vậy nên tục lệ còn gọi vợ cả là “chính thất”.

Xuất phát từ địa vị quan trọng này nên khi một trong hai người phối ngẫu mệnh một thì người kia có toàn quyền quản lý di sản mà người mệnh một để lại. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Quốc triều tân luật dưới thời Minh Mệnh đã minh thị quy định: “Khi hôn thú bị chấm dứt do một người phối ngẫu mệnh một, nếu người vợ chết trước, tài sản thuộc về người chồng quản lý; ngược lại, nếu người chồng chết trước, tài sản được giao cho người vợ quản lý”. Như vậy, trong hầu hết các trường hợp, người vợ hoặc chồng còn sống chỉ có trách nhiệm quản lý di sản người mệnh một để lại.

Trong câu 226 Tập ý kiến của Ủy ban tư vấn án lệ đã liệt kê những người mà tục lệ cho là có quyền ăn thừa kế đã ghi rõ: con, cháu, cha mẹ, ông bà nội tộc và ngoại tộc. Người chồng góa và người vợ góa không được ghi trong bản liệt kê ấy. Câu 237 cũng nói là, di sản trước hết truyền cho con cháu không phân biệt trai gái, nếu không có con cháu thì truyền cho cha mẹ, ông bà bên nội và những người này nhận rồi giao lại cho người thừa tự. Riêng trong câu 257 tập ý kiến lại nói, nếu người vợ chết vô hậu, người chồng trở thành sở hữu chủ của cải của vợ, với nhiệm vụ lập thừa tự cho vợ. Như vậy, theo tục lệ, chỉ riêng trường hợp vợ chết vô hậu (không con) thì chồng mới được hưởng di sản của vợ [148 – 149; 7].

Đới với người vợ góa là vợ cả thì sau khi chồng mệnh một, người vợ cả được thay thế quyền gia trưởng của chồng trong việc quản lý khối di sản. Trong một vài trường hợp đặc biệt, người vợ góa được hưởng một phần điền sản của chồng với điều kiện là không tái giá và chỉ được hưởng dụng một đời.

  • Thứ hai, đối với người vợ lẽ.

Không bàn đến nguồn gốc và nguyên nhân tục lấy nhiều vợ nữa, nhận xét rằng xã hội xưa thịnh hành tục lấy nhiều vợ. Ngôn ngữ thường gọi người phụ nữ này là vợ bé, vợ lẽ, vợ hai, vợ thứ, cổ luật dùng chữ “thiếp”. Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ đều có nhắc đến một vài quy định về thể chế lấy thiếp. Điều 96 Hoàng Việt luật lệ quy định: “Đã có vợ (thê) mà lại lấy người khác làm vợ thì phải phạt 90 trượng, hôn nhân sau bị tiêu hủy, người đàn bà phải trở về bản tông”. Nhà lập pháp triều Nguyễn giải thích thêm rằng nếu một người đã có vợ (thê) mà lại lấy một người đàn bà khác làm vợ nữa, một người chồng có 2 người vợ cả là làm một việc bất nghĩa. Nhà lập pháp triều Nguyễn cho phép có nhiều thiếp nhưng chỉ được có một thê và phải phân biệt rõ ràng giữa thê và thiếp. Theo cổ luật, như đã trình bày ở trên, chỉ có người đàn bà kết hôn theo đúng lễ nghi mới được pháp luật và phong tục coi là vợ cả, là thê, là chính thất. Còn những người đàn bà khác được lấy về trong nhà đều là những người ở địa vị “tiện” đối với địa vị “quý” của người vợ cả, địa vị kém hẳn người vợ cả và phải ở dưới quyền người này. Pháp luật cũng như phong tục đối đãi hai người vợ ấy khác xa nhau. Cũng điều 96 của Hoàng Việt luật lệ với nhan đề là “thê thiếp thất tự”, quy định: “Phàm đem thê làm thiếp thì phạt 100 trượng. Vợ lớn còn sống mà đem vợ nhỏ làm vợ lớn thì phạt 90 trượng và sửa đổi lại cho đúng”. Lời chú thích của nhà lập pháp cổ xưa nói rõ thêm ý biểu lộ rõ sự khác biệt giữa vợ cả và vợ lẽ. Vợ cả là ngang hàng với chồng: “Thê giả, tề dã”. Vợ lẽ chỉ là người đàn bà được đem về nhà và được người chồng hỏi đến. Giữa người quý kẻ tiện, có sự khác biệt không thể lẫn lộn được. Đem vợ cả xuống làm vợ lẽ là đem “quý” xuống làm “tiện”, đem vợ lẽ lên làm vợ cả là đem “tiện” lên làm “quý”, thế là loạn cương thường đạo lý. Luật xưa không những ấn định cho người vợ cả một vị thứ cao hơn người vợ lẽ, mà còn bắt người chồng không được thiên ái vợ lẽ mà sơ tình với vợ cả. Vấn đề này đều được luật pháp thời Lê và thời Nguyễn quy định. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Luật xưa chỉ có vài điều khoản như trên về việc lấy vợ lẽ. Nên những điều kiện về nội dung và về hình thức khi lấy vợ lẽ hoàn toàn do phong tục chi phối. Tục ngữ có câu: “thú thê mãi thiếp, mua hầu cưới vợ”, qua đó cho thấy việc lấy vợ lẽ không phải là một nghi lễ, không cần phải có hôn lễ. Kinh lễ xưa không đâu nói đến nghi lễ lấy thiếp cả. Lấy vợ cả theo quan niệm xưa là việc của gia tộc, do phụ mẫu chi mệnh, còn lấy lẽ là việc của người vợ cả. Người vợ cả kén chọn bỏ tiền ra mà sắm sửa cho lẽ, rồi lại đi đón về cho chồng. Bất cứ trường hợp nào, cũng phải có sự ưng thuận của người vợ cả, đó là điều kiện duy nhất cốt yếu khi lấy vợ lẽ. Như thế, xưa kia, xã hội Việt cổ chỉ biết có một loại giá thú là giá thú khi lấy vợ cả do luật pháp, phong tục, lễ nghi quy định.

Theo tục lệ xưa, ở các gia đình, có rất nhiều trường hợp vợ cả vì không có con trai, thân đi cưới vợ lẽ cho chồng. Người vợ lẽ về gần gũi chồng, phải kính nể người vợ cả. Lại có những người vợ lẽ, sau khi lấy chồng làm ăn khấm khá, xin phép vợ cả cưới vợ ba cho chồng, lẽ tất nhiên người vợ ba về phải chịu phục tùng hai bà vợ trước. Có nhiều gia đình cứ bà nọ cưới bà kia, khiến ông chồng chỉ việc tọa hưởng, có khi đến năm, sáu vợ. Việc cưới thêm vợ cho chồng, thường chỉ có ở những gia đình khá giả, nhất là khi người chồng có địa vị trong hàng xã, hàng tổng. Đối với những gia đình kinh tế hạn chế ít khi nghĩ đến chuyện lấy thêm vợ bé. Vả chăng, lấy chồng làm lẽ là một điều không cô gái nào muốn. Ca dao đã có câu:

  • Lấy chồng làm lẽ khổ thay Đi cấy, đi cày chị chẳng kể công
  • Tối tối chị giữ lấy chồng.
  • Chị cho manh chiếu nằm không ngoài nhà Sáng sáng chị gọi bớ hai,
  • Trở dậy nấu cám thái khoai băm bèo!

Không ai muốn làm lẽ nhưng hoàn cảnh đưa đẩy, đàn ông trong xã hội xưa vẫn được có vợ lẽ, và có khi đến vợ ba, vợ tư, vợ năm, vợ sáu như thường! [179; 3]. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Ngoài ra, “trật tự thê thiếp” không chỉ luật pháp mà tục lệ cũng mặc định trở thành luân lý, đạo đức. Sự thật, người đàn ông trong xã hội xưa nếu được giáo dục cẩn thận và biết trọng lễ nghi phong tục thì ít khi say mê vợ lẽ mà bỏ bê vợ cả. Vì người vợ cả vẫn là trụ cột trong đám vợ con, nên dù người chồng năm thê bảy thiếp vẫn không sao nhãng người vợ cả. Đây là người vợ của cha mẹ cưới cho, bản thân người vợ cả trong xã hội xưa cũng tự hiểu rằng:

  • Dù chàng năm thiếp bảy thê
  • Thì chàng cũng chẳng bỏ gái sề này đâu.

Với địa vị thấp kém như vậy, trong Quốc triều Hình luật và cả Hoàng Việt luật lệ đều không có quy định nào về quyền của người vợ lẽ mà chỉ quy định bổn phận phải phục tùng chồng và vợ cả. Vì vậy, khi chồng mệnh một, người vợ lẽ phải phục tùng quyền gia trưởng của người vợ cả và chỉ được người vợ cả cấp dưỡng [36; 46]. Về nguyên tắc, người vợ lẽ không thuộc diện được thừa kế của chồng.

  • Thứ ba, cần phân biệt giữa vợ lẽ và nàng hầu.

Những người vợ sau người vợ cả thường bị gọi là “nàng hầu”, “bà hầu”, “làm hầu”. Ngày nay, danh từ “nàng hầu” được dân gian gọi gần như đồng nghĩa với vợ lẽ. Tuy nhiên, điều này không chính xác, vì theo tục lệ, giữa “nàng hầu” và “vợ lẽ” có sự khác biệt rõ rệt.

Theo tục lệ xưa, nàng hầu là những cô gái con nhà nghèo được các ông nhà giàu, tuy đã có vợ cả, vợ lẽ đủ rồi, mua về để hầu hạ các ông. Đây cũng là một cách lấy thêm vợ lẽ, người vợ này mang danh nàng hầu và quyền hạn thấp kém hơn cả quyền hạn của người vợ lẽ.

Lấy vợ lẽ thì phải nộp cheo, còn mua nàng hầu thì không cần một nghi lễ gì, nàng hầu như một món hàng, có giá mua bán.

Người vợ lẽ sinh con, đứa con gọi người vợ lẽ là mẹ. Ngược lại, khi nàng hầu sinh con thì đứa con đó lại là con người vợ cả. Đứa con này gọi mẹ đẻ mình (nàng hầu) bằng cô, còn tiếng mẹ để dành kêu người vợ cả.

Trong gia đình, cũng có nhiều trường hợp người chồng không muốn mua hầu nữa, nhưng các bà vợ vì không muốn thuê người giúp việc nên mua hầu cho chồng để nàng hầu phải làm công việc của người đầy tớ và thỉnh thoảng mới được chồng hỏi tới.

Trong Hoàng Việt luật lệ và các bộ cổ luật khác không đề cập gì đến quyền và nghĩa vụ của “nàng hầu”. Trong gia đình, “nàng hầu” không khác gì đầy tớ. Vì vậy, khi người chồng mệnh một, nàng hầu không được hưởng gì từ di sản người chồng để lại.

2.4.2. Quan hệ huyết thống Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Trong tục lệ cũng như trong cổ luật Việt Nam từ xưa nhà lập pháp luôn luôn căn cứ vào liên hệ họ hàng xa hay gần với người mệnh một để ấn định ai được hưởng di sản của người ấy. Đây là mối liên lạc trong quan hệ huyết thống.

  • Theo tục lệ cũ của ta, phạm vi gia đình rất rộng rãi, gồm có thân thuộc và nhân thuộc.
  • Về thân thuộc: Ủy ban Cố vấn Án lệ giải đáp câu hỏi số 1, đã phân biệt 4 loại thân thuộc:
  • Các thân thuộc trong gia tộc gồm có các bà con họ gần cùng sống chung trong một nhà. Trong gia tộc, thường có hai vợ chồng và các con.

Các thân thuộc cửu tộc gồm có chín đời thân thuộc. Nếu lấy đời mình làm gốc, thì ở trên có cha mẹ hay phụ mẫu; trên cha mẹ có ông bà hay tổ phụ mẫu; trên ông bà có cụ hay tằng tổ phụ mẫu; trên cụ có kỵ hay cao tổ phụ mẫu; trên kỵ có cao cao tổ; trên cao cao tổ có thủy tổ. Ở dưới đời mình, thì có con hay tử; ở dưới con thì có cháu hay tôn; ở dưới cháu thì có chắt hay tằng tôn; ở dưới chắt thì có chút hay huyền tôn; ở dưới nữa, có chít gọi chung là viễn tôn. Từ cao tổ đến viễn tôn, gọi là cửu tộc.

  1. Cao tổ phụ mẫu (kỵ)
  2. Tằng tổ phụ mẫu (cụ)
  3. Tổ phụ mẫu (ông bà)
  4. Phụ mẫu (cha mẹ)

Mình

  1. Con: Tử
  2. Cháu: Tôn
  3. Chắt: Tằng tôn
  4. Chút: Huyền tôn
  5. Chít: Viễn tôn

Kể từ đời cao tổ trở lên, trên bàn thờ tổ tiên các bài vị riêng sẽ bỏ đi và sự thờ cúng chỉ cử hành chung cho tất cả các vị, không thờ riêng biệt nữa. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

  • Thân thuộc tông tộc hay đồng tông gồm các người thân thuộc cùng thờ một ông tổ, cùng đội một họ. Giữa những người này, kể từ ngũ đại trở đi, không phải để tang nhau nữa.
  • Thân thuộc đồng tính gồm những người cùng đội một họ. Nhưng cần nhận định rằng những người này có thể không cùng chung một ông tổ.

Điểm qua 4 loại thân thuộc trên đây ta thấy rằng hai loại trên thuộc về thân thuộc trực hệ nghĩa là mối dây thân thuộc do huyết thống mà có. Nói một cách khác, trong thân thuộc trực hệ giữa hai đời liên tiếp với nhau có một mối tương quan phụ hệ hay tử hệ, tức là mối tương quan giữa cha mẹ và các con.

Hai loại thân thuộc dưới thuộc về thân thuộc bàng hệ. Bà con bàng hệ hay bàng thân không thuộc cùng một ngành, tuy là cùng chung một tổ. Thí dụ: chú, cháu mỗi người một ngành khác nhau.

Tục lệ của ta lại phân biệt trong thân thuộc bà con bên nội hay nội thân nghĩa là thân thuộc về bên cha, và bà con họ ngoại hay ngoại thích nghĩa là thân thuộc về bên mẹ, cũng như trong luật Tây phương phân biệt dòng họ cha hay dòng họ mẹ. Tùy theo, người ta phải đi ngược về phía cha hay phía mẹ để tìm ông tổ chung với người thân thuộc của mình, người này sẽ được coi là nội thân hay ngoại thích.

  • Chúng ta có sơ đồ “Thân đẳng trực hệ” như sau:

Theo tục lệ của ta, phàm thân thuộc ngang hàng với nhau thuộc về cùng một đời thường gọi là bà con bằng vai. Sự sơ thân của thân thuộc một đời đối với thân thuộc đời khác, sẽ lấy số đời phân cách giữa 2 người làm tiêu chuẩn. Thí dụ, giữa chú và cháu, chỉ cách có một đời. Cách tính này không được chuẩn xác lắm, nhưng có lợi là biểu lộ một cách giản dị mối thân thuộc xa gần giữa hai người bà con.

Nhiều khi trong các gia đình đại Nho, để phân biệt các bà con thân thuộc cùng một đời, người ta thường chọn một chữ đệm riêng cho tên tất cả những người ấy. Một thí dụ điển hình là bài thơ Đế hệ do vua Minh Mạng làm ra để ấn định tên hiệu các đời vua trong hoàng tộc:

  • Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh Bảo Quý Định Long Trường Hiền Năng Kham Kế Thuận Thế Thụy Quốc Gia Xương

Mỗi một chữ trong bài thơ trên đây phải dùng để làm chữ đệm cho tất cả những người trong hoàng tộc thuộc về cùng một đời. Thứ tự các đời trong hoàng tộc như vậy sẽ do thứ tự các chữ trong bài thơ chỉ định. Thí dụ: tất cả các con của vua Minh Mạng đều lấy chữ đệm là Miên; các con của vua Thiệu Trị đều lấy chữ đệm là Hồng; vua Thành Thái và vua Khải Định đều là cháu năm đời của vua Minh Mạng cho nên lấy chữ đệm thứ tư là Bửu, vua Thành Thái là Bửu Lan và vua Khải Định là Bửu Đảo.

Với sự phân biệt họ hàng trên đây, thân thuộc và thích thuộc, trực hệ và bàng hệ, tôn thuộc và ty thuộc, nội thân và ngoại thích. Tục lệ và cổ luật Việt Nam trước đây đã ấn định rõ ràng và theo thứ tự những người họ hàng lần lượt được quyền thừa kế của nhau. Cũng theo tục lệ và cổ luật, trong việc thừa kế, liên lạc họ hàng do tang chế ấn định. Quyền thừa hưởng không còn nữa khi nào người sống không còn phải để tang người chết. Theo tục lệ thì họ hàng hết đời thứ 5 thì không phải để tang nhau nữa [136; 7]. Ngoài ra, tục lệ và cổ luật thường định sự thân sơ để xác định thứ tự ưu tiên hưởng di sản thừa kế giữa các thân thuộc bằng thời hạn để tang dài ngắn (theo các điều lễ trong Nho giáo). Những vấn đề này đã được các bộ cổ luật trong đó có Hoàng Việt luật lệ đặc biệt chú trọng. Trong Hoàng Việt luật lệ, nhà lập pháp cổ xưa đã trù liệu ở ngay đầu bộ luật, các biểu đồ về thời hạn để tang đối với những người thân thích [127; 23]. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Tang chế chia làm 5 bậc:

  • Đại tang trảm thôi 3 năm (áo vải sô chặt bằng dao và may chứ không cắt bằng kéo).
  • Đại tang tề thôi 1 năm (áo vải sô, gấu liền – trường hợp mẹ chết trước cha, thì tang phục may theo lối tề thôi).
  • Đại công 9 tháng (tang phục may bằng vải thô).
  • Tiểu công 5 tháng (tang phục may bằng vải hơi thô).
  • Và các tiểu tang ty ma không quá 3 tháng (tang phục bằng vải nhỏ).

Vì mỗi loại tang trên đây, nhà lập pháp triều Nguyễn đã định rõ các tang phục, cho nên 5 bậc tang thường gọi là ngũ phục.

Để có cái nhìn tổng quát về vấn đề này, chúng ta có 2 biểu đồ để tang bên nội và bên ngoại.

  • Biều đồ để tang bên nội
  • Biều đồ để tang bên ngoại.

Liên hệ họ hàng trên cơ sở huyết thống với người để lại di sản rất rộng. Tuy nhiên, đối với chế định thừa kế, quan hệ huyết thống quan trọng hàng đầu và được cổ luật đặc biệt quan tâm là quan hệ giữa cha mẹ và các con. Đây là người đối tượng được hưởng di sản chủ yếu trong cổ luật. Theo Hoàng Việt luật lệ với quan hệ huyết thống xuôi con cái là hàng thừa kế được ưu tiên đầu tiên. Khi người mệnh một không để lại di chúc thì di sản được truyền xuống cho các con của người này. Những người họ hàng có quan hệ huyết thống còn lại chỉ được hưởng tiếp sau nếu người mệnh một không có con, nhưng trong xã hội xưa những trường hợp này hiếm khi xảy ra.

Với lý do này, trong việc nghiên cứu nội dung phạm vi những người được hưởng di sản thừa kế có quan hệ huyết thống, luận văn tập trung nghiên cứu chế định về tử hệ trong Hoàng Việt luật lệ dưới thời nhà Nguyễn.

Tử hệ là mối dây liên lạc giữa cha mẹ và con cái dưới hình thức phụ hệ hay mẫu hệ. Mối liên hệ giữa con cái với người cha là phụ hệ. Mối liên hệ giữa con cái với người mẹ là mẫu hệ. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Trong quan điểm pháp lý của Hoàng Việt luật lệ và pháp luật triều Nguyễn, trong quan hệ huyết thống, tử hệ có 2 loại: tử hệ chính thức và tử hệ tư sinh. Tử hệ chính thức là khi con sinh ra do cha mẹ của chúng có kết lập giá thú với nhau, nghĩa là đứa trẻ được thụ thai trong thời gian giá thú. Tử hệ tư sinh (hay còn gọi là tử hệ ngoại hôn) khi con sinh ra do cha mẹ của chúng ăn ở với nhau mà không có giá thú. Các con tư sinh có thể được chính thức hóa khi cha mẹ chúng kết lập giá thú với nhau [99; 5].

  • Về chế định tử hệ chính thức
  • Sự thừa nhận tử hệ chính thức

Trong gia đình xưa, con cháu đông đúc là biểu hiện của phúc đức vì vấn đề nối dõi tông đường và thờ phụng tổ tiên được đặt lên hàng đầu. Do đó, pháp luật chấp nhận chế độ đa thê. Ngoài vợ cả, người chồng được lấy thêm vợ lẽ và nàng hầu, với điều kiện phải tôn trọng nghiêm ngặt trật tự thê thiếp và đích thứ trưởng ấu. Vì vậy, tất cả các con sinh ra bởi người chồng và được người chồng công nhận, bất luận là con vợ cả, vợ lẽ, nàng hầu đều được xác định là con chính thức. Trong cổ luật Việt Nam không có con ngoại tình về phía người cha, cổ luật Việt Nam không quan tâm đến việc xác định phụ hệ chính thức. Mà quyền xác định phụ hệ chính thức được nhà lập pháp cổ xưa thừa nhận mặc thị cho người cha. Theo đó, tất cả các con của người cha đều là con chính thức của người cha đó, bất kể con được sinh ra trong hay ngoài giá thú. Về tục lệ, cũng dành cho người chồng những quyền hạn rộng rãi về việc xác định phụ hệ chính thức cho người cha. Do đó, tuy không minh thị quy định sự thừa nhận và suy đoán phụ hệ chính thức, nhưng Hoàng Việt luật lệ và pháp luật triều Nguyễn vẫn công nhận quyền đó cho người chồng và người cha. Tất cả những người con này đều được quyền ngang nhau trong việc hưởng di sản thừa kế của người cha.

Trái lại, pháp luật triều Nguyễn không cho phép người vợ có được quyền này. Hoàng Việt luật lệ trừng phạt nặng tội ngoại tình, thông gian của người đàn bà có chồng. Nhưng so sánh với Quốc triều Hình luật và luật nhà Đường thì hình phạt người đàn bà có chồng mà phạm gian ở Hoàng Việt luật lệ có phần nhẹ hơn nhiều.

  • Sự suy đoán tử hệ chính thức Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Sự suy đoán tử hệ chính thức cũng không được Hoàng Việt luật lệ minh thị quy định, nhưng tục lệ cho biết: Các người con được sinh ra trong thời kỳ giá thú, bất kể người mẹ là vợ cả, vợ thứ hay nàng hầu đều được thừa nhận là con chính thức của người chồng. Luật lệ cũng không ấn định thời kỳ thai nghén tối thiểu và tối đa của người phụ nữ là bao nhiêu ngày. Mặc dù, dân gian vẫn quan niệm thời gian mang thai của người phụ nữ là 9 tháng 10 ngày (tức là 280 ngày), nhưng tục lệ vẫn không loại trừ những đứa trẻ sinh ra trước 5 tháng sau ngày kết lập giá thú và quá 12 tháng sau ngày giá thú bị đoạn tiêu. Đối với những đứa trẻ sinh ra trước 7 tháng sau khi lập giá thú, tuy có thể bị hồ nghi về sự đoan chính của người mẹ nhưng người cha không khước từ thì đứa trẻ ấy vẫn được coi là con ruột của người chồng và vẫn được thừa nhận quyền hưởng di sản thừa kế. Nếu có những dấu hiệu đẻ non thì bao giờ đứa trẻ cũng được người chồng nhận và đó là trường hợp rất thông thường. Trường hợp này người chồng không muốn kiện cáo làm gì để tránh dư luận bàn tán xấu hổ. Cũng có khi một người đã luống tuổi nhưng chưa có con, họ đành chấp nhận một đứa trẻ đã được thụ thai do một người đàn ông khác làm con của mình khi cưới người mẹ của nó về làm vợ. Đối với những đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ người chồng đi vắng hoặc thất tung quá 9 tháng 10 ngày (280 ngày), thì người chồng có quyền xin khước từ phụ hệ. Thực tế cho thấy, người chồng thường thực hiện một trong hai thái độ sau đây: hoặc giả họ im lặng về tính cách bất thường của sự sinh đẻ này, hoặc giả họ sẽ rẫy vợ và bỏ đứa con cho người vợ. Đối với các trẻ sinh quá thời hạn 9 tháng 10 ngày sau khi giá thú bị đoạn tiêu (do ly hôn hoặc người chồng mệnh một), thì người chồng hoặc gia đình nhà chồng (nếu người chồng đã chết) có thể khước từ đứa trẻ ấy. Tuy nhiên, nhiều khi đứa trẻ sinh ra 12 tháng hay 13 tháng sau khi giá thú bị đoạn tiêu cũng vẫn được coi là con của người chồng cũ vì xem đó là việc đẻ lên tháng (tục gọi là chửa trâu). Những đứa con do sự suy đoán tử hệ và được người cha người mẹ thừa nhận thì đều được xem là tử hệ chính thức và đều được hưởng di sản thừa kế của cha mẹ chúng.

  • Sự khước từ tử hệ chính thức

Tuy pháp luật không quy định cụ thể, nhưng theo tục lệ, thông thường khi nào người chồng không muốn nhận con vì lẽ người vợ không đoan chính thì người ấy sẽ rẫy vợ và bỏ con cho vợ. Nếu người vợ đi kiện, tòa sẽ phân xử về sự việc khước từ của người chồng. Lúc bấy giờ mọi chứng cứ và sự suy đoán sẽ được xuất trình và chứng minh. Sự khước từ tử hệ chính thức cũng có thể do người cha tuyên bố tại hội đồng gia tộc với sự hiện diện của các hương chức làng xã. Sự khước từ này không bắt buộc phải làm trong thời hạn nào cả. Nhiều khi sự khước từ đó do các người thừa kế của người chồng nêu lên để tranh gia tài do người chết để lại. Đối với người con bị khước từ phụ hệ sẽ do người mẹ đảm nhận việc nuôi dưỡng và giám thủ. Đứa trẻ sẽ phải theo họ mẹ. Nếu người này túng thiếu, họ thường cho đứa trẻ làm con nuôi hay làm thuê với một người thân thuộc của mình hay với một người ngoài. Trong trường hợp được làm con nuôi lúc còn thiếu thời, đứa trẻ được cho phép lấy họ cha nuôi, nhưng không được chọn làm người lập tự cho cha nuôi.

  • Sự phân biệt đích thứ trưởng ấu Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Trong chế định thừa kế của cổ luật, sự phân biệt đích thứ trưởng ấu có ý nghĩa quan trọng.

Trong gia đình, các con của người chồng, dù là con của vợ chính, vợ thứ hay nàng hầu đều là con chính thức của người chồng, nhưng có sự phân biệt giữa đích thứ trưởng ấu. Con vợ chính dù ít tuổi bao giờ cũng được coi là anh đối với các con của vợ thứ hay nàng hầu. Sự phân biệt này rất quan trọng về phương diện tế tự, vì người con được ưu tiên chỉ định để trông nom việc phụng sự tổ tiên bao giờ cũng là người trưởng nam trong số các con của vợ cả. Người ấy được gọi là đích trưởng tử. Không có người con trưởng mới chọn con thứ và không có con của vợ cả mới chọn đến con của vợ thứ. Vì vấn đề lựa chọn người nối dõi việc phụng tự là mục tiêu tối thiết yếu của hôn nhân nên nó đã được nhà làm luật hết sức quan tâm. Cả Quốc triều Hình luật trước đây, lẫn luật pháp dưới triều Nguyễn về sau, đều minh thị quy định vấn đề này. Điều 76 Hoàng Việt luật lệ, với tiêu đề là “lập đích tử vi pháp” đã quy định: “Phàm lập con chính con trưởng trái phép thì phải phạt 80 trượng. Khi vợ cả đã trên 50 tuổi mà không có con mới được phép lập con dòng thứ làm trưởng tử. Không lập trưởng tử thì tội cũng như trên”. Để giải thích điều này, nhà lập pháp triều Nguyễn còn nói rõ thêm: “Thường dân tuy không có tập ấm chức sự nhưng kế thừa nối dõi thờ cúng tổ tiên nên phải rất coi trọng. Con trai tuổi lớn tuổi nhỏ, dòng chính dòng thứ đều là con, nhưng trước hết phải lập trưởng tử từ dòng chính. Người này nếu bị trở ngại gì không thể làm trưởng tử được thì mới phải lập con trai kế cùng dòng đích làm trưởng tử. Trong trường hợp vợ chính đã trên 50 tuổi mà không có con mới được phép lập con dòng thứ làm trưởng tử. Nếu bỏ con dòng chính mà lập con dòng thứ, bỏ lớn lập nhỏ một cách trái phép thì sẽ bị phạt 80 trượng và bắt cải lập trở lại người đáng lập. Con cái trong gia đình phải phân chia dòng đích dòng thứ, lớn nhỏ theo khuôn phép, không thể thay đổi được”. Việc lập tự còn liên quan đến vấn đề thừa kế hương hỏa. Cũng theo Hoàng Việt luật lệ người thừa tự được hưởng phần tự sản, còn gọi là của hương hỏa. Của hương hỏa thường là ruộng đất và bất động sản, nhưng cũng có thể là tiền bạc. Hương hỏa có thể do chính người gia trưởng thiết lập lúc sinh thời hoặc do các con cháu hay thân nhân của người ấy thiết lập, sau khi người ấy mệnh một. Hương hỏa có tính chất đặc điểm khác với kỵ điền. Hương hỏa được lập ra là để phụng tự người thiết lập hương hỏa, và cả người phối ngẫu và gia tiên của người thiết lập hương hỏa ấy trong các dịp lễ tết và giỗ chạp. Phần hương hỏa phải được giao cho người thừa tự được chỉ định theo đúng luật lệ. Còn kỵ điền thì chỉ dùng vào việc kỵ giỗ người lập kỵ điền hay thân nhân nào đó của người ấy mà thôi. Việc giao kỵ điền cho ai là tùy theo ý chí của người thiết lập kỵ điền.

  • Về chế định tử hệ tư sinh (hay ngoại hôn)

Tử hệ tư sinh hay ngoại hôn là trường hợp một đứa trẻ sinh ra do sự phối hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà mà không có lập hôn thú hoặc ngoài hôn thú. Mối quan hệ giữa những người ngoại hôn và con cái của họ thuộc về vấn đề tử hệ tư sinh hay ngoại hôn.

  • Sự thừa nhận con tư sinh Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Sự thừa nhận con tư sinh là một hành vi pháp lý theo đó người cha hay người mẹ của đứa trẻ được xem là cha hay mẹ của nó và cho nó được quyền nhập vào đoàn thể gia đình ngoại hôn. Trong đoàn thể gia đình ngày trước, người chồng không những có quyền lấy vợ cả và vợ lẽ mà còn được lấy thêm nàng hầu. Đối với nàng hầu, nhiều khi không cần phải cưới xin và nếu có con với nàng hầu thì các người con ấy cũng được người chồng thừa nhận là con chính thức của mình.

Vậy trong trường hợp nào các đứa trẻ sinh ra bị xem là con đẻ hoang hay con tư sinh? Một đứa trẻ bị xem là con đẻ hoang hay con tư sinh thuộc về một trong hai trường hợp sau đây:

Một là, khi người con gái có thai mà không được một người đàn ông nào nhìn nhận.

Hai là, khi người đàn bà có chồng mà phạm tội thông gian rồi sinh con.

  • Trách nhiệm thừa nhận con tư sinh

Theo Điều 332 Hoàng Việt luật lệ, trong trường hợp hòa gian, con tư sinh, dù trai hay gái, nếu được sinh ra, đều do người đàn ông phải nhận lấy và nuôi nấng với điều kiện là hai người thông gian đó bị bắt quả tang tại đương trường. Trong mọi trường hợp khác, nếu người đàn bà có chửa thì chỉ bắt tội riêng đối với người đàn bà đó mà thôi; bởi vì không có bằng chứng về tội của người đàn ông, cho dù người đàn bà có khai ra là ai đi nữa. Để giải thích về điều này, “lời chú” của Điều 332 Hoàng Việt luật lệ nói rõ như sau: Việc thông gian do yếu tố chính là một sự kiện thường hay được giấu kín và cũng rất khó dẫn chứng vì không có một dấu tích gì để làm bằng chứng. Vì vậy, người sự buộc vu cáo về việc này rất dễ dàng. Bởi thế cần phải bắt được quả tang thì sự kiện đó mới có bằng chứng. Nếu một người chỉ phao ngôn là một người đàn ông và một người đàn bà nào đó đã phạm gian thì những lời nói vô bằng cớ ấy không đủ để truy tố họ. Nếu bắt người đàn bà phải khai rõ sự thực, rất có thể rằng người này sẽ giấu tên nhân tình của mình và lại vu khai cho người mà y ghét. Cho nên, trong những trường hợp không bắt được quả tang, các con tư sinh dù là con trai hay con gái, đều do người đàn bà phải quản nhận và cấp dưỡng. Như vậy, ngoài trường hợp thông gian bị bắt quả tang, Hoàng Việt luật lệ không có chép sự truy tìm phụ hệ tư sinh. Trong điều kiện chưa có các phương pháp xác định bằng khoa học hiện đại, thì sự quy định của Hoàng Việt luật lệ là hữu ý.

  • Thân trạng con tư sinh (ngoại hôn) Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Khi một đứa trẻ được sinh ra do sự thông gian không bắt được quả tang và không được người cha thừa nhận thì đó là dứa trẻ tư sinh đối với người mẹ và do người mẹ nuôi dưỡng. Cùng trường hợp này là những đứa trẻ sinh ra do sự ngoại hôn mà người mẹ của nó là gái chưa chồng hoặc do sự cưỡng gian không bắt được quả tang. Trong mọi trường hợp trên, thân trạng tử hệ chỉ phát sinh giữa người con và người mẹ mà không phát sinh đối với người cha. Điều đó có nghĩa là, trên phương diện pháp lý, giữa họ không có trách nhiệm và quyền lợi về thân quyền và mọi nghĩa vụ khác, cũng như là các quyền lợi về lý tài và về thừa kế. Đối với trường hợp con loạn sinh, do cha mẹ vì loạn luân mà sinh ra, chúng thường được giao hoặc cho một người khác nuôi dưỡng và thân trạng của chúng bị pháp luật hạn chế.

Theo tục lệ, con tư sinh có thể do người cha nhìn nhận một cách mặc nhiên hay minh thị. Sự nhìn nhận mặc nhiên có thể do sự kiện người cha đem về nuôi tại nhà, cho con đổi họ mình, cho phép con gọi mình là cha, cấp dưỡng cho người mẹ, v.v… (giải đáp các câu hỏi 192 và 193 của Ủy ban tư vấn án lệ).

Đối với các con còn đang ở trong thời kỳ thai nghén cũng có thể nhìn nhận được. Sự nhìn nhận này có thể có 2 hình thức: hoặc người cha đưa người mẹ về nhà nuôi, hoặc người cha tìm chỗ cho người mẹ ở riêng và trông nom cấp dưỡng cho đến khi lâm bồn.

Nhưng ngoài trường hợp được người cha tự ý nhìn nhận, người con không thể nào kiện để tìm phụ hệ hay mẫu hệ tư sinh hoặc đòi cấp dưỡng. Theo cổ luật và tục lệ, khi đã coi người nào là cha mẹ mình thì cấm không được kiện các bậc ấy.

Đối với các trẻ tư sinh được nhìn nhận như vậy, thân phận như thế nào? Vấn đề được hưởng di sản thừa kế của cha mẹ chúng được cổ luật quy định thế nào? Các trẻ tư sinh, kể cả con ngoại tình tuy đã được người cha nhìn nhận, về thân quyền có một thân phận thấp kém đối với các con chính thức. Các con trai tư sinh vẫn bị những con trai của vợ cả, dù sinh sau, lấn hàng, và phải gọi bằng anh [168; 23]. Tuy nhiên, về phương diện thừa kế, các con tư sinh vẫn được hưởng phần ngang bằng các con chính thức.

  • Về vấn đề con gái được hưởng di sản thừa kế trong pháp luật triều Nguyễn.

Con gái có được hưởng di sản thừa kế trong pháp luật triều Nguyễn hay không? Nghiên cứu vấn đề này đã có 2 quan điểm khác nhau như sau.

  • Quan điểm thứ nhất của P. Philastre, Eugenè Sicé, Nguyễn Huy Lai: theo quan điểm này người con gái không được hưởng di sản thừa kế của cha mẹ. Quan điểm này cho rằng, Hoàng Việt luật lệ chỉ quy định cho con trai có quyền hưởng, không bảo vệ cho quyền lợi của người con gái gây sự bất bình đẳng giữa con trai và con gái, không kế thừa pháp luật triều Lê và trái với tục lệ của dân tộc. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.
  • Quan điểm thứ hai của Camille, Vũ Văn Mẫu, TS. Huỳnh Công Bá…: Quan điểm này lại cho rằng, người con gái trong gia đình vẫn được Hoàng Việt luật lệ bảo vệ cho ngang quyền với con trai mà vẫn được hưởng thừa kế. Pháp luật triều

Nguyễn đã kế thừa yếu tố tiến bộ này của luật triều Lê, vẫn tôn trọng truyền thống tôn trọng phụ nữ của dân tộc.

Sở dĩ có sự khác nhau căn bản trên đây là do cách hiểu về chữ “tử” ở Lệ 1 Điều 83 Hoàng Việt luật lệ. Nguyên văn điều luật này viết như sau: “Đích thứ tử nam trừ hữu quan ấm tập tiên tận đích trưởng tử tôn kỳ phân xách gia tài điền sản bất vấn thê thiếp tì sinh, chỉ dĩ tử số quân phân” (Tạm dịch: Ngoại trừ việc tập ấm quan tước thì phải tuân theo nguyên tắc là con trai và phân biệt giữa dòng đích và dòng thứ, trước hết là con phải chọn con cháu ngành trưởng dòng đích, còn đối với việc phân chia gia tài ruộng đất thì chỉ căn cứ vào tổng số con mà phân chia). Theo P. Philastre, chữ “tử” ở đây chỉ là con trai (enfants mâles) và vì con gái không được hưởng gia sản nên không có tài sản riêng mang về nhà chồng, chỉ với những hộ tuyệt tự thì con gái mới được chia gia tài theo như Lệ 2 Điều 83: “Hộ tuyệt tự quả vô đồng tông ứng khế chi nhân sở hữu thân nữ thừa thụ, vô nữ giả thính địa phương quan tường minh thượng ty chước nghĩ sung công”. (Tạm dịch: Đối với những hộ tuyệt tự, tài sản thực không có người trong tộc được thừa kế sở hữu thì giao cho con gái thừa hưởng, nếu không có con gái thì phải báo một cách tường tận cho quan địa phương biết để xem xét sung công). Trái lại, theo Briffaut, chữ “tử” ở đây là bao gồm cả con trai và con gái, nên khi về nhà chồng người đàn bà cũng được có tài sản riêng do cha mẹ cho (của hồi môn) hoặc để lại (thừa kế di sản), người vợ cả được luật pháp (Điều 96) cho phép ngang hàng với chồng (thê giả, tề dã) và trong nhiều trường hợp người đàn bà được đứng tên trong sổ địa bạ chứng tỏ họ có tài sản riêng. Theo Briffaut, Lệ 2 Điều 83 chỉ liên quan đến việc chia tài sản hương hỏa để thờ phụng cha mẹ, chứ không phải là việc chia gia sản nói chung.

Theo Hoàng Việt luật lệ, con gái cũng được quyền thừa tự và thừa hưởng hương hỏa nhưng phải sau hàng thân thuộc. Lệ 2 Điều 83, Hoàng Việt luật lệ quy định: “Khi một gia đình tuyệt tự không còn ai có thể nói dõi, các con gái của người mệnh một có thể được nhận thừa kế”. Đây chính là một sự quy định có phần sát thực tế hơn nhằm duy trì sự hương hỏa được lâu dài.

Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, đứng trước thái độ mặc tĩnh của nhà làm luật triều Nguyễn cần phải đi tìm ở tục lệ. Vì cho dù nhà làm luật có yên lặng, song khó khăn vẫn đặt ra trong cuộc sống hằng ngày và những khó khăn ấy đã được giải quyết hoặc bằng sự can thiệp của nhà chức trách căn cứ vào tục lệ và những tục lệ ấy chính là nếp sống từ đời Lê truyền lại.

Và như vậy việc con gái vẫn được hưởng di sản thừa kế đã được duy trì trong tục lệ suốt dưới thời gian trị vì của triều Nguyễn [70; 5]. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Tìm hiểu chế độ sở hữu ruộng đất ở một số địa phương dưới triều Nguyễn, trong địa bạ đều có phụ nữ đứng tên là chủ sở hữu.

Ở Quảng Hòa (Cao Bằng) nửa đầu thừa kế XIX, theo địa bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840). Hiện tượng phụ nữ đứng tên chủ sở hữu xuất hiện trong cả hai địa bạ của Quảng Hòa. Đối với các chủ sở hữu là nữ, địa bạ Gia Long 4 có số lượng nữ sở hữu là 88 người, địa bạ Minh Mệnh 21 có số lượng nữ sở hữu là 40 người với diện tích sở hữu là 244.2.3.4.0 (thời Gia Long) và 109.5.11.5.0 (thời Minh Mệnh) [127; 30].

Ở một số xã thôn có nghề thủ công thuộc huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) nửa đầu thế kỷ XIX. Tỷ lệ chủ nữ đứng tên trong sở hữu ruộng đất là khá phổ biến với tỷ lệ phân bố như sau [75; 10].

  • Phân bố sở hữu của chủ nữ

Những tư liệu trong các sổ địa bạ đã chứng minh phụ nữ cũng có tài sản riêng và ngang quyền với đàn ông trong việc đứng tên sở hữu chủ đối với điền sản.

Thực ra, ngoài bộ Hoàng Việt luật lệ, dưới các triều Minh Mệnh và Thiệu Trị, nhà Nguyễn còn có những tập hợp luật lệ bổ sung được chép trong Minh Mệnh luật đại lược, Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong. Nội dung Hoàng triều khai định luật lệ và Chấn chỉnh hương phong chép gần giống nhau và bổ sung cho nhau. Điều đáng chú ý là có thể thấy trong hai bản văn đó có một số điều luật hộ, hoặc không thấy hoặc có nội dung khác với những điều luật hộ trong bộ Hoàng Việt luật lệ. Trừ vài điểm thuộc thời Minh Mệnh (năm thứ 6) còn hầu hết đều thuộc năm đầu thời Thiệu Trị [49; 24]. Nghiên cứu các điều khoản về luật hộ trong luật lệ thời Minh Mệnh và Thiệu Trị đã giải đáp được nhiều điều về chế độ hôn sản dưới triều Nguyễn. Cuộc tranh luận giữa Philastre và Briffaut về chữ “tử” được lệ viết chúc thư thời Minh Mệnh giải quyết. Trong thể lệ viết chúc thư, bản mẫu có nói rõ: “Đứa con trai con gái nào dám càn rỡ tranh giành gia tài điền sản thì tự mình chịu tội thất hiếu” [49; 21]. Vậy là cả con gái cũng được chia gia tài điền sản của cha mẹ đẻ.

Một ví dụ cụ thể chứng minh cho vấn đề này được chép trong gia phả họ Võ ở Bình Định: Dưới thời Gia Long ông Võ Văn Thăng kết duyên cùng bà Đinh Thị Đạt và có 5 người con, 1 trai và 4 gái: Võ Thị Vân, Võ Văn Thuyên, Võ Thị Điển, Võ Thị Khuê và Võ Thị Thân. Dòng họ Võ này tuy là phụ canh ở Kim Trì nhưng lại là một trong những dòng họ tiền hiền có công khai phá miền đất Kim Trì.

Là một trong những dòng họ tiền hiền khai phá vùng đất Kim Trì nên họ Võ có rất nhiều ruộng đất tư hữu, tới hàng trăm mẫu. Đến nay trong nhân dân vẫn còn lưu truyền tên gọi một số xứ đồng mà khi xưa vốn là sở hữu của những người thuộc dòng họ Võ, như gò Chòi, đám Vỡ, đám Ao, xứ Mạ.

Tư liệu về ruộng đất của dòng họ Võ này còn lưu giữ cho biết, khi xưa cụ Thăng chia ruộng đất cho con cái rất đều, con gái cũng được phần như con trai, mỗi người được 10 mẫu ruộng, riêng con trai trưởng thêm 5 mẫu làm ruộng tế tự.

Trong địa bạ Kim Trì lập năm 1815 đã tìm thấy tên 4 người con của ông Võ Văn Thăng trong danh sách các chủ sở hữu ruộng tư của địa bạ, thậm chí có người có cả đất tư bao gồm các con gái, mức sở hữu đất của họ như sau:

2.4.3. Quan hệ nuôi dưỡng (nghĩa dưỡng) Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Tử hệ nghĩa dưỡng là một tử hệ giả tạo (hay nhân tạo) được thiết lập bởi ý chí của các tư nhân trong những hoàn cảnh và thể thức được luật pháp chuẩn nhận, nó cũng phát sinh những tương quan pháp lý tương tự như trong tử hệ tự nhiên, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Đây là một định chế khá phổ biến ở nước ta, vì người ta thường nuôi con nuôi do sự từ tâm, do sự dị đoan hay do mưu lợi. Trong Quốc triều Hình luật đã có quy định về vấn đề này và Hoàng Việt luật lệ cũng có quy định. Tuy nhiên, giữa nghĩa dưỡng và lập tự có khác nhau. Nghĩa dưỡng chỉ là việc nuôi con nuôi thông thường, còn lập tự là kén chọn người nối dõi tông đường và tiếp tục việc thờ phụng tổ tiên.

Luận văn nghiên cứu cả hai nội dung: con nuôi lập tự và nghĩa dưỡng (con nuôi không lập tự).

  • Thứ nhất, về con nuôi không lập tự
  • Điều kiện nghĩa dưỡng:

Trong sự nghĩa dưỡng có thể nuôi một người đồng tông hay khác họ.

Không có điều kiện tuổi liên hệ đến người đứng nuôi hay người dưỡng tử. Dưỡng tử có thể là đứa trẻ sơ sinh dưới 3 tuổi bị vứt bỏ, không biết cha mẹ và không biết họ tên của chúng (Lệ 5 Điều 76 Hoàng Việt luật lệ).

Trong trường hợp biết rõ cha mẹ đẻ của dưỡng tử thì việc dưỡng tử phải được cha mẹ đẻ của đứa bé ưng thuận. Đây là hệ luận được suy ra từ Điều 77 của Hoàng Việt luật lệ: Trừng phạt 90 trượng và đồ 2 năm rưỡi những kẻ nào bắt được con trai, con gái nhà lương thiện lạc đường mà không đem nộp quan, lại để ở nhà mình hoặc bán đi cho người khác để làm con cháu.

Nghĩa tử có thể là con trai hoặc con gái.

  • Hiệu lực của nghĩa dưỡng: Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Nghĩa tử không phải mang họ của nghĩa phụ và nghĩa mẫu (Điều 76 Hoàng Việt luật lệ). Đây là điểm khác biệt trọng yếu so với định chế lập tự, vì người lập tự bao giờ cũng phải chọn một người con trai ở trong họ.

Tuy nhiên, nếu là một trẻ bị vứt bỏ dưới 3 tuổi không biết được họ tên thì người đứng nuôi có thể cho nghĩa tử đội họ của mình (Khoản 4 Điều 76 và Lệ 5 Điều 76 Hoàng Việt luật lệ). Kể cả trong trường hợp này, nghĩa tử vẫn không thể được chọn làm người lập tự, vì sự thật nghĩa tử cũng vẫn chỉ là một người ở bên ngoài gia tộc của cha nuôi, chỉ có điều là không biết rõ họ của đứa trẻ đó mà thôi.

Vì vẫn đội họ của bản tông nên nghĩa tử vẫn chưa thể mất hết mối liên lạc với gia đình cha mẹ đẻ của mình. Tuy đối với cha mẹ nuôi, người ấy phải phụng dưỡng không thể bỏ đi được để tỏ lòng biết ơn về công nuôi nấng, song trong 2 trường hợp người này có thể xin trở về với cha mẹ đẻ: một là cha mẹ nuôi đã sinh con trai, hai là khi cha mẹ đẻ không có con trai.

Khi dưỡng tử xin trở về bản tông thì không được phép đem về nhà cha mẹ mình những tài sản đã thu nhận được ở nhà cha mẹ nuôi. Điều này chứng tỏ các dưỡng tử có thể được hưởng một phần gia tài của cha mẹ nuôi, nếu không rời bỏ nhà cha mẹ nuôi. Trong Hoàng Việt luật lệ còn dự liệu minh thị là các trẻ nuôi dưới 3 tuổi được hưởng một phần gia tài của cha mẹ nuôi và không ai trong gia đình cha mẹ nuôi có thể bắt buộc các trẻ ấy trở về bản tông để xâm chiếm phần gia tài này.

Tóm lại, theo Hoàng Việt luật lệ và tục lệ, thì con nuôi không lập tự không cần cùng họ với người nuôi. Đây chỉ là nghĩa tử. Nghĩa tử muốn ở với cha mẹ nuôi hoặc trở về với cha mẹ đẻ cũng được. Con nuôi ở hẳn với cha mẹ nuôi cũng được hưởng một phần gia tài theo luật chước chấp tài sản, nghĩa là phần gia tài tùy cha mẹ nuôi muốn cho bao nhiêu cũng được, không như những con đẻ, khi bố mẹ chết phần gia tài được hưởng đồng đều với nhau trừ người con trưởng phải giữ việc khói hương được hưởng phần hơn.

  • Thứ hai, về con nuôi lập tự

Nước ta lấy sự thờ phụng tổ tiên làm trọng, nên những người không con phải lo nuôi con nuôi lập tự.

Thường, người ta chọn một người cháu gọi bằng bác hay bằng chú, nhưng nếu cháu gần không có, trong trường hợp người không con không có anh em ruột, hoặc anh và em trai ruột người này cũng không con, thì lập cháu xa, nhưng vẫn phải đồng huyết thống, nghĩa là cũng thuộc về họ nội. Đối với việc lập tự bắt buộc phải là người đồng tông để khỏi gây nên sự rối loạn trong việc phụng sự tổ tiên (Điều 76 Hoàng Việt luật lệ và “lời chú”). Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Tục lệ và luật pháp định rằng việc lập tự phải theo thứ tự chiêu thuận, nghĩa là cháu mới được thừa tự cho chú bác, chứ cháu không được lấy chú bác lập tự cho mình. Ngoài ra anh không có con trai, em có thể ăn thừa tự anh được, trái lại anh không được ăn thừa tự cho em, phải để việc ăn thừa tự cho con mình tức là cháu ruột của em.

Người được lập thừa tự có thể bị phế bỏ, nếu người đó xét ra kém đức hạnh, hoặc làm điều gì phạm tới thanh danh gia đình. Phế người thừa tự này để lập người khác, gọi là lập ái hay lập hiền.

Trong việc lập thừa tự không được chọn con độc đinh hoặc con trưởng, vì những người con này đã có phận sự riêng lo việc hương khói cho cha mẹ.

Người đã được lập tự phải ở với cha mẹ nuôi như cha mẹ đẻ, không được bỏ nhà đi, và được hưởng mọi quyền lợi như một người con đẻ.

Với định chế lập tự, bắt buộc phải chọn con trai để tiếp tục việc phụng tự trong họ (suy từ Điều 76 Hoàng Việt luật lệ).

Việc lập tự mặc nhiên thành vô hiệu, nếu cha mẹ nuôi sau khi lập tự con nuôi, lại sinh được con trai. Tuy việc lập tự thành vô hiệu, nhưng người con nuôi vẫn giữa được quyền lợi như một người con đẻ và sẽ được hưởng một phần gia tài với người con đẻ.

Khi cha mẹ nuôi đã có con trai, người con nuôi lập tự trước có thể trở về sống với cha mẹ mình.

Người đàn ông lúc sống không con, khi chết đi, vợ có thể thỏa thuận với tộc trưởng để lập tự cho chồng.

Những người đã hỏi vợ mà chưa cưới, hoặc mới cưới vợ mà chết sớm không con, nếu đã trưởng thành rồi, cha mẹ có thể chọn người lập tự cho; những người chết non trong thời kỳ ty ấu không được phép lập tự.

Luật và tục ta có lệ ở rể, nghĩa là bố mẹ vợ nuôi con rể. Rể là người khác họ, không thể lập tự được, và vì vậy, rể không thể thừa tự cho cha mẹ vợ. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Luật ta xưa có nói: Chiêu tế dưỡng lão, nghĩa là nuôi rể để dưỡng già, chứ không phải nuôi rể để trông nom việc khói hương.

  • Hoàng Việt luật lệ đã quy định 2 trường hợp ở gửi rể như sau:

Trường hợp thông thường nhất là việc “chiêu tế dưỡng lão” (mời rể cùng ở để trông nom việc dưỡng lão) được quy định ở Lệ 3 Điều 94 Hoàng Việt luật lệ. Khi cha mẹ nhà vợ không có con trai, người ta thường mời chàng rể ở gửi rể trông nom khi tuổi già. Tuy nhiên, trong bất luận trường hợp nào, người rể cũng không thể được chọn làm người lập tự cho cha mẹ vợ. Khi cha mẹ vợ chết, người tộc trưởng bên nhà vợ phải chọn một người thừa tự để phụng tự như luật định.

Trường hợp “nghĩa tế” là người rể nghèo được cha mẹ vợ nuôi như con nuôi, được quy định ở Lệ 3 của Điều 76 Hoàng Việt luật lệ. Nếu người gửi rể được bố mẹ vợ quý trọng thì người được lập tự cũng không được tự ý đuổi người nghĩa tế đi được và người này cũng được hưởng một phần gia sản của cha mẹ vợ. Theo Lệ 3 Điều 94 Hoàng Việt luật lệ trong tất cả các trường hợp ở gửi rể, nhà vợ phải nhờ người mai mối lập một hôn thư ghi rõ là người rể phải trông nom sự dưỡng lão cha mẹ vợ, hoặc phải ở gửi rể trong bao nhiêu năm. Nếu cha mẹ nhà trai chỉ có một con trai, thì người này không được phép ở gửi rể. Dù sao, như Điều 76 Hoàng Việt luật lệ đã ấn định, không bao giờ được chọn con rể làm người lập tự cho cha mẹ vợ (vì khác họ). Cha mẹ phải chọn người trong họ mình để giao cho nhiệm vụ thừa tự. Người được lập tự và người ở rể được chia nhau gia tài. Nếu người cha vợ không chọn người lập tự trước khi mệnh một thì các tôn thuộc trong gia tộc phải chọn người trong họ để lập tự.

2.5. Phân định di sản thừa kế

2.5.1 Thừa kế không có chúc thư

Tương tự như pháp luật hiện đại, khi người mệnh một không để lại chúc thư, vấn đề thừa kế được giải quyết theo quy định của pháp luật. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Trong cổ pháp, khi một trong hai người phối ngẫu mệnh một, gia sản không phải đem chia ngay cho các người thừa kế. Nếu có con chung, người phối ngẫu còn sống vẫn tiếp tục điều khiển khối cộng đồng gia sản. Di sản chỉ truyền cho các người thừa kế khi nào người phối ngẫu còn lại mệnh một. Trong trường hợp người mẹ chết trước, các con vẫn sống dưới quyền của người cha là gia trưởng nên không có quyền được có tài sản riêng. Trong trường hợp người cha chết trước, nếu người mẹ vẫn tiếp tục thủ tiết ở vậy thì luật pháp công nhận cho người mẹ được tiếp tục điều khiển toàn thể khối tài sản cộng đồng. Các con cháu không thể xin lập sổ hộ tịch riêng biệt và phân chia tài sản. Chỉ khi nào người quả phụ tái giá hoặc cả cha lẫn mẹ đều đã chết thì con cái mới được quyền phân chia gia sản. Lệ 1 Điều 83 Hoàng Việt luật lệ quy định: “Ngoại trừ phẩm tước tập ấm và tự sản, các tài sản còn lại của người chết được chia đều cho các con, không phân biệt con của vợ cả, vợ thứ hay nàng hầu. Đối với con tư sinh do người cha thừa nhận cũng được hưởng quyền thừa kế như các người con khác của người cha đó. Nếu không được cha thừa nhận thì con tư sinh chỉ được thừa kế của người mẹ đẻ với điều kiện người mẹ đó không có chồng khác với cha nó”. Điều 76 Hoàng Việt luật lệ cho phép nghĩa tử cũng được hưởng thừa kế nếu như đã bị vứt bỏ và thu nuôi từ lúc dưới 3 tuổi. Theo tục lệ, đối với người nghĩa tử khác (ngoài người con nuôi lập tự được thừa kế hương hỏa) được phần gia tài nếu có chúc thư của cha mẹ nuôi. Trường hợp các con rể ở gửi rể, tuy không được lập tự nhưng cũng được chia gia tài cùng với người lập tự (theo Lệ 3 Điều 76 Hoàng Việt luật lệ). Trong Hoàng Việt luật lệ không thấy minh thị quy định quyền thừa kế của cha mẹ người mệnh một. Theo tục lệ, nếu người vợ góa còn sống và không cải giá thì ông bà không có quyền gì đối với tài sản của người con mình đã chết và người vợ góa có bổn phận phải phụng dưỡng cha mẹ chồng. Trong trường hợp người chết có con thì tài sản sẽ để lại cho con. Nếu người chết không có con và người vợ cải giá thì quyền thừa kế của cha mẹ chồng hoặc tôn nhân nhà chồng mới được đặt ra và có liên quan với vấn đề lập tự cho người chết ấy. Cũng theo cổ luật, sự thừa kế của con cái là một sự chuyển dịch đương nhiên và do đó cũng phải chịu trách nhiệm đương nhiên theo nguyên tắc “phụ trái tử hoàn” (cha mắc nợ thì con phải trả). Ngoài ra, đối với con cháu mà bổn phận là phải thờ phụng cha mẹ ông bà và tổ tiên, do đó không có quyền từ khước sự thừa kế. Người phối ngẫu còn sống cũng là người thừa kế và chịu trách nhiệm đương nhiên đối với các trái khoản của người mệnh một. Còn đối với cha mẹ và các tôn nhân đều có quyền khước từ sự thừa kế của mình. Cũng theo cổ luật, trừ trường hợp có chúc thư minh định phần của mỗi người thừa kế, nếu sự phân sản không công bằng và hợp pháp thì các người thừa kế có quyền đi kiện để bảo vệ quyền thừa kế của mình [120; 5].

Trên đây là tinh thần chung của pháp luật triều Nguyễn về thừa kế không có chúc thư để lại. Vậy vấn đề phân định di sản thừa kế trong trường hợp này được nhà lập pháp triều Nguyễn quy định cụ thể như thế nào?

Khi một người mệnh một làm chấm dứt các quan hệ tài sản liên quan đến người này và phát sinh quan hệ thừa kế liên quan đến khối di sản người này để lại, buộc phải phân chia và thanh toán. Song cũng giống những trường hợp về tài sản khác, ở vấn đề phân định cụ thể di sản này nhà lập pháp triều Nguyễn cũng vẫn giữ một thái độ mặc tĩnh.

Bởi lẽ, được coi như một định chế có tính cách cao đẹp và trang nghiêm, nhằm mục đích thờ phụng tổ tiên và nối dõi tông đường, chứ không phải là vì lý tài. Song những khó khăn vẫn cứ đặt ra trong cuộc đời hằng ngày, buộc các nhà chức trách phải giải quyết theo tục lệ. Nhưng điều đó không thể không khiến cho các quan tòa phải phân vân, vì xét xử mà không có luật đều dễ dẫn đến những sai sót, làm “cong vẹo pháp luật” (uổng pháp). Trong khi đó, ở luật pháp thời Lê các định chế về phân sản do sự đoạn tiêu giá thú giữa vợ chồng thì lại rất phong phú. Do đó, trong những năm đầu của triều đại mình, Minh Mệnh nhận thấy cần thiết phải tham chước luật cũ để bổ sung trong các trường hợp:

  • Phân chia gia tài khi vợ trước có tạo lập điền sản nhưng không có con, vợ sau có con nhưng không góp phần tạo lập điền sản. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ. 
  • Phân chia tài sản khi hai vợ chồng cùng gây dựng được điền sản nhưng chết mà không có con.
  • Xử lý tài sản khi người vợ trước có con nhưng không góp phần tạo lập điền sản, vợ sau không có con nhưng có tạo lập điền sản.
  • Xử lý tài sản riêng của người vợ hay của người chồng vốn là tài sản thừa kế riêng của cha mẹ mình.
  • Phân chia tài sản riêng của người chồng chết trong trường hợp vợ cả có một hay nhiều con, người vợ sau không có con.
  • Phân chia tài sản do người vợ cả tạo lập nên cho con người vợ cả và cho người vợ sau không có con.

Trong các trường hợp trên, Quốc triều tân luật của Minh Mệnh đã giải quyết như sau: Khi hôn thú bị chấm dứt do một người phối ngẫu mệnh một, thì nếu người vợ chết trước, tài sản thuộc về người chồng quản lý; ngược lại, nếu người chồng chết trước, tài sản được giao cho người vợ quản lý. Nếu người vợ có con thì sau khi người vợ chết sẽ giao tài sản đó cho con giám thủ và phụng tự. Nếu vợ chồng không có con thì người vợ chỉ được hưởng dụng một đời với điều kiện là không được tái giá. Nếu người vợ tái giá, tài sản đó sẽ thuộc về gia tộc của người chồng và người ta sẽ trích ra 1/10 để dùng lập tự cho người chồng. Nếu người vợ không tái giá, thì tài sản đó, gồm cả tài sản của cha mẹ chồng cho người chồng đều thuộc về người vợ hưởng dụng. Sau khi người vợ chết, tài sản đó được chia đôi: một nửa thuộc về gia tộc nhà chồng và người ta trích lấy 1/10 để lập tự cho người chồng, còn lại thì gia tộc chia nhau; một nửa thuộc về gia tộc nhà vợ và người ta cũng trích lấy 1/10 để lập tự cho người vợ và số còn lại thì gia tộc chia nhau. Riêng đối với tài sản do cha mẹ của vợ hoặc chồng chia cho, thì khi vợ chồng khi ly hôn mà không có con, hoặc khi hai người phối ngẫu chết đi mà không có con, hoặc khi người vợ chết đi mà không có con thì sẽ trả về cho mỗi bên, hoặc cho gia đình của mỗi bên đã cho. Trường hợp người chồng có nhiều vợ: Nếu người vợ trước có một con, vợ sau không có con, khi người chồng chết thì gia sản được chia làm 3 phần, con của vợ trước được 2 phần, người vợ sau không con được 1 phần dùng để dưỡng lão cho đến hết đời (sau khi chết hoặc cải giá thì tài sản đó thuộc về con của người vợ trước). Nếu người vợ trước có 2 con trở lên thì người vợ sau không con được hưởng một phần giống như phần của mỗi người con của vợ trước. Nếu người vợ trước có con và cùng chồng tạo lập điền sản, người vợ sau không con và cũng không tham gia tạo lập điền sản thì khi người chồng chết, tài sản được chia làm hai: một nửa giao cho con người vợ trước, còn một nửa đem chia thành 2 phần: một phần giao cho con người vợ trước, còn lại một phần giao cho người vợ sau dùng để dưỡng lão cho đến hết đời (khi người vợ sau chết hoặc cải giá, phần đó tiếp tục được giao về cho con người vợ trước).

Trong những vấn đề nêu trên, pháp luật của triều Nguyễn, từ sau năm 1824 đã không khác gì so với pháp luật của triều Lê.

Trong Quốc triều Hình luật, việc thanh toán hôn sản được quy định như sau: Nếu chồng cùng vợ trước có một con, vợ sau không có con, nay chồng chết trước và không có chúc thư, thì điền sản sẽ chia làm 3 phần: cho con vợ trước 2 phần, vợ sau 1 phần. Nếu vợ trước có 2 con trở lên thì phần vợ sau chỉ bằng phần của mỗi người con mà thôi. Phần của người vợ sau chỉ được dùng để cấp dưỡng cho một đời mình, không được nhận làm của riêng. Nếu vợ sau chết hay cải giá thì phần ấy lại thuộc về con chồng. Trường hợp người vợ chết trước cũng thế, nhưng người chồng vẫn cứ được hưởng, dù có cải thú hay không. Nếu điền sản là của chồng và vợ trước làm ra thì chia làm 2 phần: vợ trước và chồng mỗi người một phần. Phần của vợ trước thì để riêng cho con của bà ta, còn phần của chồng thì được đem chia ra như đoạn trên. Nếu điền sản là của chồng và vợ sau mỗi người một phần. Phần của chồng thì đem chia như đoạn trên, còn phần của vợ sau thì được nhận làm của riêng. Ngược lại, trường hợp vợ chết trước thì chồng cũng phải đem tài sản ra phân chia như thế (Điều 1 “phần tăng bổ” của chương “Điền sản”).

Về trường hợp vợ chồng không có con, nếu một trong hai người chết trước thì việc phân chia điền sản do cha mẹ cho trước đây được thực hiện như sau: Nếu chồng chết trước, số điền sản đó sẽ được chia làm 2 phần: một phần giao cho người trong họ ăn thừa tự để giữ việc hương khói; một phần thuộc về người vợ dùng để cấp dưỡng cho đến suốt đời mình. Khi vợ chết hay tái giá thì phần ấy sẽ được chuyển giao cho người thừa tự. Nếu cha mẹ chồng còn sống thì giao cả về cho cha mẹ chồng. Ngược lại, trường hợp người vợ chết trước người chồng thì cũng phân chia như thế, chỉ khác là dù chồng có tái thú hay không thì cũng đều được hưởng. Nếu điền sản ấy là do hai vợ chồng làm ra thì sẽ chia làm 2 phần: mỗi người một phần. Phần của vợ sẽ được dùng làm của riêng, phần của chồng sẽ được chia làm 3 phần: 1 phần cho người thừa tự, 2 phần cho người vợ dùng để cấp dưỡng suốt đời mình (nếu vợ chết hay cải giá thì 2 phần đó sẽ giao cho người thừa tự). Về phần thừa tự, nếu cha mẹ chồng còn sống thì sẽ do cha mẹ chồng giữ. Ngược lại, trường hợp người vợ chết trước thì điền sản cũng được phân chia như thế, chỉ khác là cho dù có tái thú hay không người chồng cũng được hưởng (Điều 2 “phần tăng bổ” của chương “Điền sản”).

Về trường hợp vợ chồng đã có con nhưng một người chết trước và con cũng lại chết: Nếu trường hợp vợ chết trước thì điền sản riêng của vợ sẽ chia làm 3 phần: cho chồng 2 phần, cho người thừa tự 1 phần. Nếu cha mẹ vợ còn sống thì tài sản ấy được chia làm 2 phần: một phần giao về cho cha mẹ vợ và một phần giao về cho người chồng. Phần của người chồng chỉ được dùng để cấp dưỡng trong một đời mình, không được nhận làm của riêng (khi người chồng chết thì phần ấy sẽ thuộc về cha mẹ vợ hay người thừa tự. trường hợp ngược lại, nếu người chồng chết trước thì tài sản riêng của người chồng cũng được phân chia như thế, nếu người vợ cải giá thì phải trả lại (Điều 3 “phần tăng bổ” của chương “Điền sản”).

2.5.2. Thừa kế hương hỏa (thừa kế tự sản) Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Khác với pháp luật hiện đại, việc để lại “một phần di sản dành cho việc thờ cúng” là một nội dung của thừa kế theo di chúc, theo đó người mệnh một có toàn quyền quyết định vấn đề để lại hay không để lại di sản thờ cúng và cả việc để lại bao nhiêu dành cho việc thờ cúng.

Khi nghiên cứu cổ luật thừa kế về các tài sản hương hỏa, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng người mệnh một không có toàn quyền sử dụng các tài sản do mình để lại mà bị bó buộc phải tuân theo nhiều quy tắc của cổ luật về thừa kế hương hỏa. Pháp luật bắt buộc phải lập hương hỏa, ngoài ra còn có các quy định ràng buộc về người lập hương hỏa, thành phần hương hỏa, người ăn hương hỏa, sự chấm dứt hương hỏa. Các phép tắc này do nhà làm luật đặt ra với mục đích bảo vệ gia đình và phụng sự gia tiên. Vì vậy, trong cổ pháp, thừa kế hương hỏa là một nội dung quan trọng của thừa kế theo pháp luật. Lý do có sự khác biệt giữa cổ luật và luật pháp hiện đại về vấn đề này được giáo sư Vũ Văn Mẫu lý giải: “Trong khi sự quy định của luật Tây phương về thừa kế hướng về sự bảo vệ các con, trong cổ luật Việt Nam thừa kế chỉ là một kỷ luật pháp lý để làm vững chắc nền móng căn bản của gia đình. Có thể nói rằng sự quy định của Tây phương hướng về tương lai, còn sự quy định của Đông phương ngoảnh về quá khứ và muốn quá khứ được bảo tồn trong tương lai” [202; 24].

  • Người lập hương hỏa

Ai cũng có quyền được lập hương hỏa (tự sản), không phân biệt nam nữ, tuổi tác. Trong thực tế, việc lập hương hỏa được đặt ra khi một người lúc sống được thừa hưởng phần hương hỏa do tiền nhân thiết lập, đến khi người ấy chết thì một phần hương hỏa ấy sẽ được chuyển sang cho người con trưởng, nếu không có con trưởng thì sẽ giao cho cháu trưởng, nếu không có người kế tự (nam giới) thì phải chỉ định người lập tự trong hàng thân tộc. Nếu một người cha chết nhưng không làm chúc thư, mà có để lại gia sản cho các con, thì bổn phận của các người con đó lúc chia gia sản phải lập hương hỏa giao cho người con trưởng giám thủ. Người quả phụ cũng có thể lập hương hỏa cho chồng với các tài sản do chồng để lại hoặc do mình kiếm ra được. Trường hợp một gia đình tuyệt tự thì việc lập hương hỏa phải do gia tộc hoặc xã quan quyết định và chuyển giao cho người kế tự.

  • Thành phần hương hỏa

Căn cứ vào Lệ 1 Điều 87 Hoàng Việt luật lệ nói rằng: “Nếu các con cháu bán trái phép các điền sản của tiền nhân di lưu để dùng vào việc tế tự thì sẽ bị lưu đi viễn châu, nếu bán quá 50 mẫu”, qua đó cho thấy tài sản hương hỏa thuộc vào loại bất động sản ruộng đất. Sở dĩ hương hỏa phải là bất động sản vì chúng phải được di chuyển từ đời này qua đời khác để lưu truyền việc tế tự, nên chỉ có các bất động sản mới thỏa mãn được các điều kiện ấy. Tuy nhiên, theo một đạo dụ năm Thiệu Trị 4 (1844), trong các gia đình tuyệt tự phần dùng làm tự sản không thể nào vượt quá giới hạn 30 mẫu ruộng và 3000 quan tiền [286; 31]. Như vậy, trong thành phần hương hỏa, ngoài ruộng đất còn có thể có cả tiền nong, nhưng bất động sản vẫn là yếu tố chính yếu. Vì theo tục lệ, phần hương hỏa gồm có những bất động sản có thể sinh lợi như ruộng đất, ao, vườn, nhà cửa. Các lợi tức do nó sinh ra sẽ được dùng vào việc tế tự, còn bản thân các bất động sản đó thì sẽ được lưu truyền từ đời này sang đời khác mà không bị biến mất. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

  • Người ăn hương hỏa

Người ăn hương hỏa có nghĩa vụ phải phụng sự gia tiên hoặc người mệnh một (Dụ năm Thiệu Trị 4), nghĩa vụ quản lý tài sản hương hỏa (Điều 87 Hoàng Việt luật lệ) và nghĩa vụ chỉ định người được thừa tự thay mình (Điều 306 và 307 Hoàng Việt luật lệ). Theo Điều 76 Hoàng Việt luật lệ, việc lập đích tử (người nhận hương hỏa và thừa tự) phải tuân theo nguyên tắc về việc tập ấm. Trước hết phải chọn trưởng nam trong các con của vợ cả. Chỉ có thể chọn con thứ của người vợ cả nếu người con trưởng bị ngăn cản. Nếu người vợ cả quá 50 tuổi mà không có con trai thì mới được phép lập con trưởng của người vợ thứ. Trong trường hợp người chết không có con cháu, người thân thuộc muốn được hưởng phần hương hỏa thì phải hội đủ 4 điều kiện: đồng tông (Điều 76 Hoàng Việt luật lệ) theo lệ “chiêu mục tương đương”, không là con một trong gia đình và không có hiềm khích với người được lập hương hỏa. Khi một gia đình tuyệt tự, không còn ai trong họ có thể kế tự thì con gái của người mệnh một có thể được nhận thừa kế (Điều 85 Hoàng Việt luật lệ). Nếu gia đình tuyệt tự không có con cả con gái thì các quan trong bản hạt trình lên quan trên để sung công tài sản. Đến năm Thiệu Trị 4 (1844), nhà Nguyễn ban hành chỉ dụ cho phép giao tài sản ấy cho một người gia nhân để lo việc tế tự, nếu gia sản ấy không quá 30 mẫu ruộng và 3000 quan tiền [286; 31].

  • Sự chấm dứt hương hỏa Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Hương hỏa có thể bị chấm dứt vì 3 lý do: một là tài sản hương hỏa bị phá hủy do một tai biến thiên nhiên (như bão lụt…) hay lý do khác (như chiến tranh…); hai là tài sản hương hỏa bị chấm dứt vì lý do pháp định (khi hương hỏa đã lưu truyền quá 5 đời gọi là “ngũ đại mai thần chủ”, hay khi ngành họ bị tuyệt tự); tài sản hương hỏa được cải dụng thành hậu điền (hậu Thần, hậu Phật…), hoặc được bán để chi dùng vào các việc khác (như xây dựng từ đường, phần mộ…) [120; 5].

2.5.3. Thừa kế tập ấm (hay thế tập)

“Tập ấm” là một nội dung quan trọng của thừa kế trong cổ luật. Thế tập và tập ấm gọi chung là tập ấm, là chế độ bổ nhiệm quan lại thông qua địa vị quan chức của cha ông đã chết mà bổ dụng con cháu. Chỉ có con cháu của các đại thần mới được hưởng chế độ này. Chế độ tập ấm thể hiện sự ưu đãi của nhà nước đối với con cháu các quan đại thần có công. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đã chép: “Tập ấm là người được làm quan, con cháu người ấy được kế tiếp thừa hưởng ơn huệ triều đình”.

Về thời điểm được tập ấm: con cháu được tập ấm khi mãn tang cha, ông người có địa vị quan chức. Vấn đề này được suy ra từ Lệ 9 Điều 46 Hoàng Việt luật lệ: “Những người đáng được tập chức, cha hiện còn sống khai man là cha chết rồi, để gian mạo nối tập quan chức, phải xử tội đưa ra sung làm quân ở biên giới gần. Đợi khi nào người cha chết đi, cho lấy người con trai thứ nối tập chức; nếu không có con trai đích, thứ nào, thì con cháu do vợ thứ sinh ra nối tập chức”.

Minh Mạng năm thứ 15 đã đưa ra chỉ chuẩn: phàm các con cháu công thần được dự phong, đáng được tập phong, thì đợi khi mãn tang rồi do bộ Binh xét nghĩ tâu lên, sau khi được chỉ chiếu lệ tập phong.

  • Đảm bảo trật tự đích thứ trưởng ấu và nguyên tắc huyết thống trong tập ấm.

Điều 46 Hoàng Việt luật lệ định rõ: “Phàm quan viên văn võ nào mà con đáng được tập ấm, đều cho con, cháu trưởng về hàng đích được tập ấm. Nếu con, cháu trưởng về hàng đích có duyên cớ gì, (hoặc là chết, có bệnh tật, can tội thông gian, trộm cắp v.v…), thì con, cháu thứ về hàng đích được tập ấm. Nếu không có con, cháu thứ về hàng đích mới cho con, cháu trưởng về hàng thứ được tập ấm. Nếu không có con, cháu của vợ thứ đẻ ra, thì cho em ruột hay là cháu gọi bằng chú, bác đứng ăn thừa tự được tập ấm. Nếu các con, cháu của hàng vợ thứ sinh ra và em ruột, cháu gọi bằng chú bác không theo thứ tự, mà tập ấm lấn vượt, thì phải phạt roi, trượng, đồ 3 năm (vẫn bắt phải theo thứ tự mà tập ấm).

Con cháu các viên quan nào đáng được nối tập ấm, (người trong chi ấy và quan bản quản làm cam đoan khám xét rõ ràng) làm tờ tư (do bộ ấy) tâu xin cho nối tập ấm, chi lương. Nếu con, cháu nào được tập ấm mà tuổi còn bé phải đợi đến năm 18 tuổi mới dự vào triều tham làm việc công. Nếu chi phái ấy không có ai thừa tự được thì chuẩn cho vợ viên quan ấy khai xin cấp lương cho để nuôi sống suốt đời. Nếu xin con người họ khác, người ngoài, về nuôi làm con đẻ, lừa dối quan trên, gian mạo tập ấm, thì người con nuôi ấy phải phạt 100 trượng đưa đi sung làm quân ở biên giới xa. Về lương cấp cho nhà ấy, ngày ngày việc phát ra đình chỉ không cấp cho nữa. Kẻ nào xui bao (tranh lấn, gian mạo) cũng phải chịu tội ngang người can phạm.

Nếu quan tư nào coi việc ấy biết (việc tranh lấn, gian mạo) mà để vậy cho làm, thì cũng phải cùng chịu tội; nếu không biết thì không bắt tội. (Nếu nhận tiền giúp đỡ cho kẻ can phạm, đoán nhận là xét thực, thì khép vào tội lấy tiền làm cong vẹo pháp luật theo mức nặng trị tội).” Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Hoàng Việt luật lệ quy định nghiêm ngặt trật tự đích thứ trưởng ấu, và bảo đảm tuyệt đối nguyên tắc huyết thống trong thừa kế tập ấm. Ngoài quy định tập ấm cho các con, cổ luật minh định cho người vợ góa của người mệnh một được hưởng dụng lương bổng của người này một đời.

Trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đã chép lại các sự lệ về tập ấm được định ra trong các đời vua triều Nguyễn.

Gia Long năm thứ 16 (1817), lệ định: Con cháu các công thần được tập ấm, phẩm cấp chia ra làm 7 bậc, chỉ cho con trưởng, cháu trưởng về hàng đích của các công thần được 1 người tập ấm; nếu không có con, cháu trưởng về hàng đích, cho theo luật lấy hàng thứ tập ấm.

Năm thứ 18 (1819), định lệ con các quan viên được tập ấm: Phàm các quan văn, võ từ nhất, nhị, tam phẩm, con đẻ ra có bao nhiêu người đều cho làm quan viên tử cả; được tha cho không phải đi lính, làm công việc quan; thuế thân, thuế hộ, tiền đầu quan, tiền cước phí. Quan viên tứ phẩm có con đẻ ra bao nhiêu người đều cho làm quan viên tử, được tha không phải đi lính, làm công việc quan, nhưng phải nộp tiền thuế thân, thuế hộ, tiền đầu quan, tiền cước phí theo như lệ tráng hạng. Chánh, tòng ngũ phẩm và chánh lục phẩm, con đẻ ra chỉ được 1 người làm quan viên tử, việc tập ấm theo như con quan tứ phẩm [196; 31].

Minh Mạng thứ 1 (1820), có ân Chiếu rằng: Phàm các công thần đã chết đi, mà không có con cháu thừa tự, chuẩn cho quan cai quản và quan ở doanh, trấn, nơi sở tại ấy tra xét cho rõ ràng, nếu vợ cả của viên quan ấy còn ở lại giữ tiết, thì khai rõ họ, tên, tuôi và quán chỉ, tâu xin lượng cấp cho tiền lương để nuôi sống, có thứ bậc khác nhau.

Năm thứ 5 (1824), y lời nghị, chuẩn định rằng: Từ nay về sau, các con, cháu đích, thứ của công thần phẩm trật vào bậc nào, cùng con đẻ của các quan viên được tập ấm, người nào có đơn kêu xin, thì quan sở tại phải xét hỏi cho rõ ràng, đích xác. Nếu phàm trật của người cha từ chánh lục phẩm trở lên, thì đều nên chiểu theo phẩm trật của người cha cho con tập ấm làm quan viên tử, tuân theo như lệ năm Gia Long thứ 18 (1819) đã định ra. Nếu phẩm trật của người cha từ tòng lục phẩm trở xuống, thì không cần phải bàn nữa [198; 31].

Việc trừng phạt nặng đối với những trường hợp “gian mạo” tập ấm cũng được Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ chép một lời dụ của vua Minh Mạng năm thứ 3 (1822): Năm thứ 3 (1822), y lời nghị, chuẩn định rằng: “Tên Trần Đức Tự ở huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định mạo xưng là chính phái của Khánh lý quận công tranh bậy ruộng thờ cúng, tập ấm bậy, chiếu theo luật phải gia lên mức nặng phạt 100 trượng, đồ 4 năm” [200; 31]. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Nếu không có con, Hoàng Việt luật lệ cho phép cháu cũng được tập ấm. Thiệu Trị năm thứ 6 (1846) đã chuẩn định cho phép cháu (gọi người mệnh một bằng chú ruột) được thừa tập địa vị của chú ruột. “Năm thứ 6 (1846) y lời nghị, chuẩn định rằng: Người tỉnh Quảng Nam là Nguyễn Văn Nhượng, nguyên trước là Quốc tử giám tế tửu; đã chết, được truy tặng là Quang lạc tự khanh, không có con trai, lập cháu gọi bằng chú là Văn Tuấn làm con thừa tự; vả lại, tên Nguyễn Văn Nhượng nguyên trật khi trước là chánh tứ phẩm; sau được truy tặng hàm tòng tam phẩm, thì phẩm trật của viên ấy so với Vũ Đức Mậu cũng ngang nhau; sao ví được với Ngô Tòng Chu, Tống Phúc Đạm mà cho được đời đời tập tước. Huống chi Văn Tuấn là cháu thừa tự cho chú, lại không bằng Vũ Đức Đôn là cháu thừa tự cho ông, lại con thân hơn. Trước đây tên Vũ Đức Đôn còn không được dự vào lệ tập ấm, thì tên Nguyễn Văn Tuấn sao lại được đặc cách tập ấm. Đơn của tên Nguyễn Văn Tuấn kêu xin làm hạng quan viên tử, khoản ấy không cần phải bàn đến nữa. Từ nay về sau, có việc nào giống vậy cứ theo thế mà làm” [201; 31].

  • Về thủ tục tập ấm

Điều 46 Hoàng Việt luật lệ quy định chặt chẽ về thủ tục tập ấm tránh võng mạo (lừa dối) làm uổng pháp (cong vẹo pháp luật). Con cháu được thừa kế tập ấm, tộc trưởng của bản gia, và bổn quản các quan phải xét tra, lấy lời khai, kết luận cho rõ ràng, gởi về nội bộ đề nghị xin cấp cho họ. Nếu còn nhỏ tuổi thì không cho tham gia vào công dịch nơi triều đình, phải đợi đến 18 tuổi trở lên mới được tham gia việc công. Luận văn: Quy định thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ.

Nếu có ai xui xiển làm chuyện vượt bực dối trá kia thì bắt tội cùng phạm nhân. Người xui xiển vượt bực bị phạt 100 trượng, đồ 3 năm, kẻ làm theo việc dối trá đó cũng phạt 100 trượng, đày ra biên giới xa, sung lính.

Nếu cai quản ty nơi ấy biết mọi việc trá mạo con ngoài họ xin cấp lương ấy, mà còn giúp đỡ cho họ nữa để tiến đến xin tập ấm, thì phạm tội như phạm nhân. Cho phép làm chuyện vượt thứ lớp, phạt 100 trượng, đồ 3 năm, cho phép gian trá cũng phạt 100 trượng, sung vào lính biên giới. Không biết là tội ở bản gia, không ở quan ty, cho nên không tội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giá trị thừa kế theo pháp luật trong Hoàng Việt luật lệ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464