Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Định hướng và giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực thi pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Một số định hướng hoàn thiện và bảo đảm thực thi pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển

Biển và đại dương có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển, tồn tại của nhân loại, của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Kinh tế vận tải biển nói chung từ lâu đã được xem là ngành kinh tế mũi nhọn trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Vào ngày 22 tháng 9 năm 1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ nội dung, quan điểm cơ bản của Chỉ thị số 20-CT/TW của Bộ Chính trị cùng với chủ trương xây dựng Việt Nam trở thành một nước mạnh về biển, phát triển kinh tế – xã hội vùng biển, hải đảo, ven biển cho thấy rõ hơn chủ trương rất quan trọng của chúng ta vào lúc bấy giờ là cần đặt kinh tế biển trong tổng thể kinh tế cả nước, trong quan hệ tương tác với các vùng và trong xu thế hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương. Theo đó, Nghị quyết đã xác định một trong các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn [1, 1]. Tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược này đã được thực hiện năm 2018 để trên cơ sở đó hình thành Chiến lược Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược mới này đã được cơ quan có thẩm quyền chính sách cao nhất là Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam thông qua tại Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 một lần nữa xác định biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn. Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân Việt Nam. Đồng thời, xác định Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề quốc tế, khu vực về biển và đại dương [1, 2].

Trên thực tế, các quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, chưa rõ ràng và chưa phù hợp với thực tế phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta trong tình hình mới. Do vậy, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong tình hình mới này, việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa bằng đường biển cũng phải trên cơ sở mục tiêu và định hướng chung cho cả hệ thống pháp luật. Theo đó, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Hàng hải của nước ta không những phải đảm bảo tính thống nhất với Hiến pháp, phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia cũng như hài hòa với các bộ luật chung khác trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh thương mại cũng như đầu tư mà còn phải đảm bảo các quy định này có thể triển khai ứng dụng và thực thi trên thực tế nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế cũng như hài hòa quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia vào quá trình vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển.

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển

Như phân tích tại Chương 1 về định nghĩa của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển trên bình diện các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như pháp luật Hàng hải của Việt Nam cho thấy, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh và thống nhất về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển mặc dù loại hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển đã không còn trở thành khái niệm xa lạ đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hay có liên hệ với vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Xuất phát từ lý do hiện nay chỉ mới có khái niệm về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và tính quốc tế của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được xác định căn cứ vào một quy định khác của Bộ luật dân sự, cụ thể là quy định tại Điều 663 Bộ luật dân sự 2015. Do vậy, thiết nghĩ, trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như hội nhập kinh tế quốc tế, cần thiết phải có một quy định thống nhất về cách hiểu hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển nhằm tạo cơ sở vững chắc về mặt pháp lý cho các chủ thể tham gia hay có liên hệ với vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển trong giai đoạn hiện nay cũng như sau này.

Ngoài ra, cũng theo phân tích tại Chương 2, người thuê vận chuyển có vị thế được xem là yếu hơn so với người vận chuyển trong việc giao kết và thực thi hợp đồng vận chuyển hàng hóa, đặc biệt là hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển. Ngoài ra, pháp luật Việt Nam chỉ quy định vận đơn là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa, chứ không quy định vận đơn chính là hợp đồng vận chuyển hàng hóa giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển có tên trên vận đơn. Do vậy, khi có tranh chấp liên quan đến hơp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển mà nghĩa vụ chứng minh quan hệ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển lại thuộc về người có yêu cầu thì người thuê vận chuyển có thể khó mà chứng minh có tồn tại một hợp đồng vận chuyển hàng hóa giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển căn cứ vào các quy định của pháp luật Hàng hải hiện nay của nước ta nếu người vận chuyển chây ì hay cố tình không giao kết hợp đồng vận chuyển mà chỉ ký phát một bộ vận đơn đường biển cho người thuê vận chuyển trong khi các điều khoản và điều kiện được ghi nhận trong vận đơn đường biển này lại được người vận chuyển soạn thảo theo hướng dường như bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người vận chuyển, xem nhẹ quyền và lợi ích của người thuê vận chuyển. Do vậy, theo quan điểm của người viết, xuất phát từ thực tế không giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chứng từ vận chuyển, nhà làm luật nên mạnh dạn quy định trong trường hợp người vận chuyển và người thuê vận chuyển không giao kết hợp đồng vận chuyển thì vận đơn chính là hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển nhằm ràng buộc trách nhiệm của người vận chuyển với người thuê vận chuyển đối với số hàng vận chuyển như được ghi nhận trên vận đơn. Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

Hơn nữa, Bộ luật hàng hải 2015 không có quy định về việc đăng ký, công khai mẫu vận đơn của doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm công bố công khai các điều khoản và điều kiện vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển mà doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường biển đó đang áp dụng cho người thuê vận chuyển. Do vậy, theo quan điểm của người viết, cần quy định thêm việc đăng ký, công khai mẫu vận đơn nhằm công khai các điều khoản và điều kiện vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển mà doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hóa bằng đường biển đó đang áp dụng cùng với biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với trường hợp doanh nghiệp cung ứng dịch vụ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển không tuân thủ quy định về việc đăng ký mẫu vận đơn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ngoài ra, theo quan điểm của người viết, do vận đơn là chứng từ vận tải mà người vận chuyển đưa ra và người thuê vận chuyển gần như mặc nhiên chấp nhận nên trong vận đơn có thể tồn tại rất nhiều điều khoản, điều kiện có lợi cho người vận chuyển và bất lợi cho người thuê vận chuyển. Ngoài ra, có thể trong vận đơn còn có những điều khoản có thể dễ gây nhầm lẫn và được hiểu và diễn giải theo hướng khác nhau nên cần quy định thêm về việc giải thích các điều khoản và điều kiện của vận đơn nếu có bất kỳ điều khoản nào trong vận đơn gây tranh cãi hay có thể được giải thích hay diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Theo đó, nhà làm luật cần bổ sung thêm quy định về việc các điều khoản, điều kiện của vận đơn sẽ được giải thích và diễn giải theo hướng có lợi cho người thuê vận chuyển nếu những điều khoản hay điều kiện này gây nhầm lẫn hay có thể được hiểu và diễn giải theo nhiều cách.

Xuất phát từ quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường biển trên thực tế không chỉ liên quan đến chủ thể của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là người vận chuyển và người thuê vận chuyển mà còn có liên quan đến chủ thể khác không tham gia vào việc giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, đó là người cầm giữ vận đơn có quyền nhận hàng từ người vận chuyển nhưng lại không phải là người thuê vận chuyển có tên trên vận đơn. Do vậy, theo quan điểm của người viết, pháp luật Hàng hải Việt Nam cần có thêm các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển và người cầm giữ vận đơn có quyền nhận hàng bởi hiện nay vấn đề này vẫn còn đang bị bỏ ngỏ và chưa được quan tâm đúng mức.

Ngoài ra, pháp luật Hàng hải Việt Nam cũng nên có quy định về việc thừa nhận sự xuất hiện, tồn tại của vận đơn điện tử, giá trị pháp lý của vận đơn điện tử cũng như quyền và nghĩa vụ pháp lý của người vận chuyển và người thuê vận chuyển xuất phát từ vận đơn điện tử trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay.

3.2.2 Hoàn thiện quy định của pháp luật Hàng hải Việt Nam liên quan đến vấn đề miễn trách của người vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

Khi giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa với người thuê vận chuyển và được người thuê vận chuyển thanh toán cước phí vận chuyển thì nghĩa vụ của người vận chuyển chính là đảm bảo cho hàng hóa vận chuyển có thể đến tay người nhận hàng mà không có bất kỳ tổn thất hay thiệt hại nào. Vì vậy, nếu người vận chuyển không thể thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình như cam kết, thỏa thuận tại hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển thì người vận chuyển phải có trách nhiệm bồi thường đầy đủ các tổn thất và thiệt hại đối với hàng hóa mà người vận chuyển đã nhận vận chuyển. Tuy nhiên, văn kiện pháp lý quốc tế về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, cụ thể là Quy tắc Hague và quy định pháp luật Hàng hải của Việt Nam đều có quy định về vấn đề miễn trách của người vận chuyển đối với các tổn thất và thiệt hại cho hàng hóa xuất phát từ lý do thuyền trưởng, thuyền viên và người làm công của người vận chuyển có lỗi trong việc điều khiển hoặc quản trị tàu biển. Tuy nhiên xuất phát từ lý do người vận chuyển là bên có ưu thế hơn trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng vận chuyển với người thuê vận chuyển cũng như tình hình thực tế về việc người trực tiếp điều khiển, điều động tàu biển trong quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển chính là những người làm công của người vận chuyển, tức thuyền trưởng, thuyền viên của tàu mà người viết cho rằng quy định pháp luật liên quan đến vấn đề miễn trách của người vận chuyển là không phù hợp và cần điều chỉnh theo hướng người vận chuyển sẽ không được hưởng quyền miễn trách nếu tổn thất hoặc thiệt hại phát sinh từ hay có liên quan đến việc người làm công do người vận chuyển tuyển dụng vào làm việc có lỗi trong việc san xếp hàng, vận chuyển hàng hóa, điều khiển, điều động tàu biển. Cơ sở cho kiến nghị này xuất phát từ thực tiễn khai thác tàu biển bởi trên thực tế sẽ xuất hiện trường hợp người vận chuyển không phải là chủ tàu mà người vận chuyển là người thuê tàu trên cơ sở hợp đồng thuê tàu. Việc thuê tàu tàu biển để khai thác trên thực tế có hai dạng đó là thuê tàu kèm cả thuyền bộ và thuê tàu không bao gồm thuyền bộ. Hình thức thuê tàu bao gồm thuyền bộ chính là việc chủ tàu cho người thuê tàu khai thác tàu và các thiết bị có sẵn trên tàu trong một thời hạn mà thuyền viên trên con tàu đó là người làm công cho chủ tàu trong khi hình thức thuê tàu không bao gồm thuyền bộ chính là việc chủ tàu chỉ cho người thuê tàu khai thác tàu và các thiết bị có sẵn trên tàu trong một thời hạn mà thuyền viên trên con tàu đó không phải là người làm công cho chủ tàu mà chính người thuê tàu là người tuyển dụng và trả lương cho số thuyền viên đó. Do vậy, quy định của pháp luật Hàng hải Việt Nam liên quan đến vấn đề miễn trách của người vận chuyển cần phải làm rõ thêm, rằng người vận chuyển sẽ không được miễn hoàn toàn trách nhiệm nếu tổn thất hay thiệt hại xảy ra cho hàng hóa xuất phát từ lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc người làm công của người vận chuyển trong việc điều khiển quản trị tàu trong quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển mà thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc người làm công của người vận chuyển là những người được người vận chuyển tuyển dụng vào làm việc và nhận lương, các khoản phụ cấp, trợ cấp khác từ người vận chuyển. Trong trường hợp, thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc người làm công không phải là người được người vận chuyển tuyển dụng vào làm việc và nhận lương, các khoản phụ cấp, trợ cấp khác từ người vận chuyển thì người vận chuyển được miễn hoàn toàn trách nhiệm nếu tổn thất hay thiệt hại xảy ra cho hàng hóa xuất phát từ lỗi của thuyền trưởng, thuyền viên, hoa tiêu hàng hải hoặc người làm công này trong việc điều khiển quản trị tàu trong quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

Ngoài ra, cũng cần nói thêm rằng, theo quy định của pháp luật hiện hành, người vận chuyển đã có quyền giới hạn trách nhiệm trong việc bồi thường hàng hóa vận chuyển cho người thuê vận chuyển rồi nên việc quy định thêm quyền miễn trách của người vận chuyển càng làm cho vị thế của người thuê vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã yếu còn yếu hơn.

3.2.3 Hoàn thiện quy định của pháp luật Hàng hải Việt Nam liên quan đến thẩm quyền của tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp liên quan đến số lượng, khối lượng, chất lượng hàng hóa vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam

Như phân tích tại mục 2.5, trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, chủ thể của hợp đồng có xu hướng lựa chọn trọng tàu nước ngoài, cụ thể là Trọng tài Anh hoặc Singapore là cơ quan giải quyết tranh chấp đối với các vấn đề phát sinh từ hay có liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Điều khoản giải quyết tranh chấp như thế trong bối cảnh hiện nay ở nước ta sẽ không tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong việc khởi kiện người vận chuyển tại tổ chức trọng tài nước ngoài, điển hình như Trọng tài Anh hoặc Singapore bởi chi phí thuê luật sư nước ngoài tham gia tố tụng trọng tài là quá lớn so với tỷ lệ mà doanh nghiệp Việt Nam có thể thu hồi được thông qua phán quyết trọng tài nước ngoài này. Do vậy, theo quan điểm của người viết, cần bổ sung quy định của pháp luật Hàng hải Việt Nam liên quan đến thẩm quyền của tòa án Việt Nam đối với các tranh chấp liên quan đến số lượng, khối lượng, chất lượng hàng hóa được vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam. Theo đó, những tranh chấp liên quan đến số lượng, khối lượng hay chất lượng của hàng hóa được vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam sẽ do Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển bất kể hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển đó có bất kỳ thỏa thuận nào về thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, quy định về thẩm quyền của Việt Nam đối với những tranh chấp liên quan đến số lượng, khối lượng hay chất lượng của hàng hóa được vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam chỉ nên hạn chế trong một khoản thời gian nhất định, ví dụ như trong khoảng thời gian 5 năm để các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam có khoảng thời gian tìm hiểu và nâng cao kiến thức liên quan đến vận chuyển hàng hóa bằng đường biển cũng như dần dần thay đổi thói quan mua bán hàng hóa với đối tác nước ngoài bởi dù sao thì hợp đồng nói chung và hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển nói riêng đều là thỏa thuận mà đã là thỏa thuận thì phải đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của các chủ thể trong hợp đồng, chứ không nên có sự áp đặt hay bắt buộc nào.

Ngoài ra, trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay không có tòa chuyên trách về các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực hàng hải nói chung và vận tải biển nói riêng trong khi hàng hải hay vận tải biển là những ngành mũi nhọn, then chốt có sự đóng góp khá lớn vào GDP (Gross domestic product – Tổng sản phẩm quốc nội) của cả nước trong những năm gần đây. Do vậy, việc thành lập tòa chuyên trách trong lĩnh vực hàng hải là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả xét xử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư nước ngoài cũng như đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Bên cạnh đó, do đặc thù của lĩnh vực hàng hải, vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển là ngôn ngữ sử dụng chính và phổ biến là tiếng Anh nên những người thực thi pháp luật, bao gồm cả thẩm phán cần phải được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ về hàng hải và vận tải biển cũng như có trình độ ngoại ngữ tốt nhằm đảm bảo hiệu quả giải quyết các tranh chấp phát sinh trong vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển.

3.2.4 Hoàn thiện quy định của pháp luật Hàng hải Việt Nam liên quan đến việc lưu giữ và xử lý hàng hóa của người vận chuyển. Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

Nghĩa vụ của người vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa phát sinh khi người vận chuyển nhận được khoản thanh toán cước phí vận chuyển từ người thuê vận chuyển. Do vậy, trong trường hợp người vận chuyển đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển với người thuê vận chuyển nhưng người thuê vận chuyển lại không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình như thỏa thuận tại hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển thì người vận chuyển sẽ được hưởng quyền lưu giữ và xử lý hàng hóa vận chuyển.

Như phân tích tại mục 1.8, về mặt lý thuyết, người vận chuyển có quyền dỡ hàng, gửi vào một nơi an toàn, thích hợp và bán đấu giá số hàng vận chuyển trong trường hợp người nhận hàng không đến nhận hàng hay người nhận hàng từ chối nhận hàng hoặc người nhận hàng trì hoãn việc nhận hàng và đã quá thời gian theo thỏa thuận trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển hoặc có nhiều người cùng xuất trình vận đơn, vận đơn suốt đường biển, giấy gửi hàng đường biển hoặc chứng từ vận chuyển khác có giá trị để nhận cùng một lô hàng hoặc người giao hàng và người nhận hàng không thanh toán hết các khoản nợ đã được quy định tại hợp đồng vận chuyển hoặc không đưa ra bảo đảm cần thiết [130, 22] [3, 8]. Tuy nhiên, trên thực tế, người vận chuyển gần như không thể thực thi quyền lưu giữ hàng và bán đấu giá số hàng vận chuyển để thu giá dịch vụ vận chuyển cũng như các chi phí khác được ghi trong chứng từ vận chuyển bởi người vận chuyển không có các hồ sơ, tài liệu, chứng từ mua bán hàng hóa để thực hiện thủ tục hải quan nhằm nhập khẩu số hàng vận chuyển đó nhằm bán đấu giá số hàng đó và thu hồi cước phí vận chuyển. Như phân tích tại chương 2, hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển là một loại hợp đồng độc lập với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Việc vận chuyển hàng hóa của người vận chuyển chỉ làm thay đổi vị trí địa lý của số hàng vận chuyển chứ người vận chuyển không thể biết và cũng không thể có các chứng từ liên quan đến quá trình mua bán hàng hóa giữa các bên trong hợp đồng mua bán. Vì người vận chuyển, nhất là người vận chuyển nước ngoài, không thể thực thi quyền lưu giữ và xử lý hàng hóa trên thực tế nên số hàng còn tồn đọng tại các cảng biển ngày càng gia tăng. Do vậy, để giải quyết vấn đề hàng tồn đọng tại các cảng biển này, thiết nghĩ cần trao quyền bán thanh lý số hàng tồn đọng này cho người vận chuyển mà không cần người vận chuyển phải bổ sung số chứng từ liên quan đến hàng hóa, xuất xứ hàng hóa …. nếu hàng hóa vận chuyển không phải là phế liệu, hàng cấm hay số hàng này không đảm bảo yếu tố về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để tránh trường hợp người vận chuyển lạm dụng quyền thanh lý số hàng tồn đọng này, nhà làm luật cần cân nhắc kỹ cũng như cần yêu cầu người vận chuyển có các bảo đảm tài chính thích hợp để bảo đảm cho vấn đề xử lý hàng tồn đọng này có hiệu quả.

3.3 Các giải pháp đẩy mạnh và đảm bảo thực thi pháp luật hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

3.3.1 Thay đổi thói quen mua bán của doanh nghiệp Việt Nam với đối tác nước ngoài

Nếu như trước đây thói quen bán hàng theo điều kiện FOB và mua hàng theo điều kiện CIF của các doanh nghiệp Việt Nam dẫn đến quyền vận tải hay quyền giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa nằm trong tay của các đối tác nước ngoài, chứ không nằm trong tay của các doanh nghiệp Việt Nam thì hiện nay thói quen này phải thay đổi để tranh thủ quyền vận tải hay quyền giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa về tay của các doanh nghiệp Việt Nam. Việc chủ động giao kết hợp đồng vận chuyển sẽ giúp các doanh nghiệp nắm rõ hơn về lịch trình di chuyển của con tàu, thời gian hàng đến cảng cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp khi phải nhờ đến các cơ quan tài phán như tòa án hoặc trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hay có liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển bởi nếu quyền vận tải hay quyền giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa nằm trong tay của các đối tác nước ngoài thì khi xảy ra bất kỳ vấn đề nào đối với hàng hóa như thiếu hụt hàng hóa, tổn thất hàng hóa … thì các doanh nghiệp Việt Nam khó mà tiến hành khởi kiện bởi lý do doanh nghiệp Việt Nam không có trong tay hợp đồng vận chuyển hàng hóa đó và doanh nghiệp Việt Nam càng khó chứng minh việc doanh nghiệp Việt Nam là một bên của hợp đồng vận chuyển hàng hóa đó.

Ngoài ra, do đặc thù của lĩnh vực hàng hải, vận tải biển là ngôn ngữ trong giao tiếp cũng như giao dịch là tiếng nước ngoài, cụ thể là tiếng Anh nên cũng cần trang bị cho những người phụ trách trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển với đối tác nước ngoài những kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực hàng hải và vận tải biển cũng như trình độ và khả năng ngoại ngữ tốt để có thể đọc hiểu các tài liệu, thỏa thuận hay hợp đồng với đối tác nước ngoài.

3.3.2 Phát triển “hãng tàu” mang thương hiệu Việt Nam

Để đáp ứng nhu cầu di chuyển, đi lại của nhân dân, rất nhiều phương tiện giao thông vận tải đã ra đời và phát triển. Nói đến phương thức vận chuyển hành khách phổ biến hiện nay ở Việt Nam, cụ thể là ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ ngay lập tức nghĩ đến các doanh nghiệp vận tải hành khách như Vinasun, Mai Linh, Phương Trang …. Tuy nhiên, khi nói đến các “hãng tàu” cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa thì chúng ta khó mà liệt kê ra danh sách các “hãng tàu” mang thương hiệu Việt Nam cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa mà chỉ có thể liệt kê một loạt các “hãng tàu” nước ngoài hiện đang cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hóa như phân tích tại mục 2.4 của Chương 2 nói trên. Do vậy, chúng ta cần phát triển “hãng tàu” mang thương hiệu Việt Nam đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa cho các doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu vận chuyển hàng hóa, nhất là các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa nhưng lại chiếm đa số trên thị trường Việt Nam và “hãng tàu” mang thương hiệu Việt Nam này có khả năng cạnh tranh với các “hãng tàu” nước ngoài trên thị trường hàng hải nói chung và vận tải hàng hóa quốc tế bằng đường biển nói riêng.

3.3.3 Phát triển đội tàu biển Việt Nam Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

Bên cạnh việc phát triển “hãng tàu” mang thương hiệu Việt Nam, chúng ta cần phát triển và khai thác triệt để, tối đa đội tàu biển Việt Nam nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu vận chuyển hàng hóa đa dạng của các doanh nghiệp Việt Nam.

Theo ông Nguyễn Đình Việt, Phó Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam, tính đến tháng 12 năm 2019, đội tàu biển Việt Nam có 1.507 chiếc, trong đó tàu vận tải hàng hóa là 1.047 chiếc với tổng trọng tải khoảng 7,55 triệu DWT (deadweight tonnage – Trọng tải toàn phần). Cũng theo ông Nguyễn Đình Việt, căn cứ vào số liệu thống kê của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc thì đội tàu biển Việt Nam đứng thứ tư trong khu vực Đông Nam Á, chỉ đứng sau Singapore, Indonesia và Malaysia và đứng thứ hai mươi chín trên thế giới. Cơ cấu đội tàu biển Việt Nam thời gian qua đã có bước phát triển và cải thiện đáng kể khi đội tàu biển được phát triển theo hướng chuyên dụng hóa và số lượng tàu chuyên dụng tăng từ mười chín con tàu trong năm 2013 lên ba mươi chín con tàu trong năm 2019. Ngoài ra, đội tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam gần như đảm nhận được gần một trăm phần trăm lượng hàng vận tải nội địa bằng đường biển [1, 2]. Như vậy, có thể thấy rằng đội tàu Việt Nam trong thời gian đã phát triển tương đối đáng kể.

Tuy nhiên, trước đây đội tàu biển Việt Nam lại thường xuyên bị xếp vào danh sách đen của Tokyo – Mou (Tổ chức hợp tác quốc tế kiểm tra nhà nước cảng biển châu Á – Thái Bình Dương với 20 quốc gia thành viên) về việc tàu biển bị lưu giữ ở nước ngoài. Nếu đội tàu biển của một quốc gia bị xếp vào danh sách đen của Tokyo – Mou thì điều đó đồng nghĩa với việc tàu biển của quốc gia đó thường xuyên bị chú ý, kiểm tra ngặt nghèo hơn, khả năng tàu bị lưu giữ cũng cao hơn. Nếu tàu biển bị lưu giữ thì việc tàu bị lưu giữ cũng ảnh hướng đến lịch vận chuyển và hàng hóa chuyên chở bằng tàu biển. Thời gian lưu giữ tàu càng dài thì chủ tàu càng phải đối mặt với nguy cơ giao chậm hàng và bị chủ hàng phạt nặng, gây tốn kém thời gian cũng như kinh phí bảo lãnh. Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

Để đưa đội tàu biển Việt Nam ra khỏi danh sách đen của Tokyo – Mou, giúp đội tàu biển Việt Nam được chủ hàng nhìn nhận là đội tàu biển an toàn, ít bị chính quyền cảng kiểm tra cũng như mang đến uy tín về vận tải biển của đội tàu biển Việt Nam trên trường quốc tế, các cơ quan chuyên ngành của Việt Nam tiến hành kiểm soát chặt chẽ quá trình đăng kiểm chất lượng tàu biển đóng mới và thường xuyên kiểm tra đột xuất tàu đang khai thác, hoạt động quốc tế, hậu kiểm sau khi kiểm tra định kỳ để duy trì danh sách trắng. Sau rất nhiều nỗ lực, đội tàu biển Việt Nam đã có năm năm liên tiếp nằm trong danh sách trắng của Tokyo – Mou.

Tuy nhiên, từ đầu năm 2020 đến nay, đã có ba con tàu biển Việt Nam chạy tuyến quốc tế bị chính quyền cảng biển nước ngoài lưu giữ do tàu biển không đảm bảo an toàn hàng hải. Do vậy, đội tàu biển Việt Nam rất có thể đối mặt với nguy cơ trở lại danh sách đen như trước đây nếu chúng ta không có bất kỳ biện pháp khắc phục nào.

  • Tiểu kết Chương 3

Một trong các chức năng của pháp luật chính là chức năng điều chỉnh của pháp luật. Theo đó, pháp luật hướng sự điều chỉnh của mình nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong một chừng mực nhất định nào đó. Pháp luật Hàng Hải Việt Nam được ra đời cũng không nằm ngoài mục tiêu hướng đến sự hài hòa lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội. Vì vậy, để đảm bảo hài hỏa quyền lợi của các chủ thể trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển, pháp luật Hàng hải Việt Nam nên có một số điều chỉnh để cân bằng vị thế giữa hai chủ thể trong quan hệ hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển cũng như đảm bảo nguyên tắc cơ bản của các giao dịch dân sự, ví dụ như nguyên tắc bình đẳng thỏa thuận khi tham gia vào các quan hệ vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Ngoài ra, pháp luật Hàng hải của Việt Nam nên có một vài điều chỉnh phù hợp với thực tế phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay như đưa ra khái niệm hay cách hiểu thống nhất về hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển cũng như điều kiện cụ thể để người vận chuyển có thể hưởng quyền miễn trách khi người vận chuyển được xem là bên có vị thế cao hơn so với người thuê vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển. Ngoài ra, đất nước Việt Nam với những điều kiện tự nhiên thuận lợi phát triển kinh tế biển nên việc phát triển đội tàu biển Việt Nam cũng như hãng tàu mang thương hiệu Việt Nam là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển của các doanh nghiệp có nhu cầu vận chuyển ở trong nước cũng như quốc tế.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

Vận tải biển được xem là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay bởi các ưu điểm do vận tải biển mang lại. Tính đến thời điểm hiện nay, mặc dù Việt Nam chưa gia nhập vào bất kỳ văn kiện pháp lý quốc tế nào liên quan đến vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, nhưng những quy định về vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã được đưa vào Bộ luật Hàng hải của Việt Nam, củng cố thêm sự phát triển của pháp luật Hàng hải của Việt Nam nói chung và pháp luật hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển nói riêng. Tuy nhiên, pháp luật Hàng hải hiện hành của Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn phản ánh toàn diện thực tế hoạt động vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển của Việt Nam hiện nay cũng như trong thời gian tới. Do vậy, pháp luật Hàng hải của Việt Nam cũng cần có sự điều chỉnh cũng như cập nhật thích hợp để pháp luật Hàng hải của Việt Nam có thể phản ánh sự vận động và phát triển của hoạt động vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển của Việt Nam.

Ngoài ra, phát huy tiềm năng của ngành kinh tế vận tải biển Việt Nam, bên cạnh nỗ lực phát triển đội tàu biển Việt Nam cũng như xây dựng các “hãng tàu” mang thương hiệu Việt Nam có khả năng cạnh tranh với nước ngoài thì các doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi thói quen trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế với đối tác nước ngoài nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của mình, tranh thủ được quyền giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển… Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế về đường biển

One thought on “Luận văn: Giải pháp hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển”

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng hợp đồng vận chuyển hàng hóa đường biển

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464