Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hiệu quả kinh tế sản xuất hoa cúc trên địa bàn xã Phú Mậu – Huyện Phú Vang – Tỉnh Thừa Thiên Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HOA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHÚ MẬU
Là xã nằm về phía Tây Bắc của huyện Phú Vang, Phú Mậu có diện tích đất tự nhiên khá lớn (718,24 ha), trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 393,31 ha (năm 2013). Nơi đây là vùng đất khá phù hợp cho các loại cây trồng ngắn ngày sinh trưởng và phát triển.
Trong những năm gần đây, nhận thấy được hiệu quả kinh ế rồng hoa cao hơn hẳn một số cây trồng ngắn ngày khác. Nhiều hộ nông dân đã mạnh dạn đầu tư chăm sóc, phát triển cây hoa, nhiều diện tích trồng lúa, hoa màu đã được chuyển sang trồng hoa. Năm 2011, tổng diện tích trồng hoa của toàn xã là 10,5 ha, năm 2012 tăng lên 11,5 ha và đến năm 2013 đạt 13 ha. Trong tổng diện tích trồng hoa của toàn xã thì diện tích trồng hoa cúc chiếm phần lớn. Năm 2011 diện tích trồng hoa cúc là 9 ha, năm 2012 tăng lên 10 ha và năm 2013 đạt 11,3 ha. Trong tổng diện tích trồng hoa cúc ở Phú Mậu thì có 2,5 ha trồng tập trung. Mô hình trồng hoa tập trung này được hình thành từ năm 2005 với sự hỗ trợ k nh phí và kỹ thuật của các ban ngành tỉnh, huyện và Viện rau quả Trung ương.
Ngoài diện tích trồng hoa cúc thương phẩm thì trên địa bàn xã cũng đã triển khai xây dựng cơ sở sản xuất hoa cúc giống. Cơ sở này được hình thành năm 2008 với quy mô diệ tích là 800 m2 và được hỗ trợ kinh phí chủ yếu từ các sở ban ngành của tỉnh, huyện và một phần do hộ nông dân tham gia đóng góp. Nguồn giống sản xuất ra đã đáp ứng được một phần nhu cầu giống của các hộ trồng hoa tại địa phương.
Bên cạnh diện tích trồng hoa cúc thì trên địa bàn xã cũng có trồng một số loại hoa khác như ly ly, đồng tiền, thược dược, lan cắt cành và các loại hoa truyền thống như hoa vạn thọ, hoàng anh… Tuy nhiên các loại hoa ly ly, lan cắt cành chỉ mới trồng ở mức độ thử nghiệm với diện tích nhỏ. vậy, có thể khẳng định rằng hoa cúc đã dần chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất của các hộ nông dân tại địa phương. Do vậy, việc đẩy mạnh đầ tư phát triển nghề trồng hoa sẽ là hướng đi đúng của địa phương, chính quyền địa phương cần có sự hỗ trợ và tạo mọi điều kiện để người nông dân có thêm động lực để phát triển loại cây này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Quản Trị Kinh Doanh
2.3. NĂNG LỰC SẢN XUẤT CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
Để nghiên cứu thực trạng sản xuất hoa của các hộ nông dân trên địa bàn xã Phú Mậu, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát 50 hộ nông dân trên địa bàn 3 thôn là Tiên Nộn, Vọng Trì và Thế Vinh. Trong quá trình điều tra, chúng tôi đã chia các hộ thành hai nhóm hộ là nhóm hộ 1 và nhóm hộ 2. Nhóm hộ 1 bao gồm 31 hộ có diện tích trồng hoa trên 500 m2, nhóm hộ 2 bao gồm 19 hộ có diện tích trồng dưới
Với diện tích trồng hoa khá lớn, nghề trồng hoa ở Phú Mậu trong những năm qua đã góp phần cải thiện mức thu nhập, nâng cao đời sống cho người nông dân và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của xã. Năm 2011, tổng giá trị sản xuất hoa đạt được là 1,575 tỷ đồng, năm 2012 tăng lên 1,840 tỷ đồng và năm 2013 đã đạt được 2,080 tỷ đồng.
Nhưi 500 m2. Dưới đây là một số chỉ tiêu mà chúng tôi lựa ch n để đánh giá năng lực sản xuất hoa của hai nhóm hộ.
2.3.1. Tình hình nhân khẩu và lao động
Qua quá trình điều tra, phỏng vấn 50 hộ trồng hoa ở 3 thôn Tiên Nộn, Vọng Trì và Thế vinh, chúng tôi đã thu thập được số liệu về tình hình chung của các hộ như tuổi của chủ hộ, trình độ văn hóa, nhân khẩu và lao động của chủ hộ được thể hiện qua bảng 4.
Từ bảng số liệu ta thấy mức tuổi bình quân chung của hai nhóm hộ là 53,3 tuổi, đây là mức tuổi tương đối cao. So sánh độ tuổi bình quân giữa hai nhóm hộ, ta thấy không có sự chênh lệch lớn, nhóm hộ 1 có độ tuổi bình quân là 53,58 tuổi trong khi nhóm hộ 2 là 52,84 tuổi. Hầu hết ở độ tuổi này, các chủ hộ điều tra đã ổn định về cơ sở vật chất, có vốn sống và số năm kinh nghiệm nhất định. Các chủ hộ được điều tra đều đã có sự am hiểu trong lĩnh vực trồng hoa. Do vậy, đây là một thuận lợi đáng kể, góp phần nâng cao kết quả sản xuất hoa trong mỗi hộ.
Bên cạnh yếu tố độ tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ nhìn chung còn ở mức thấp, số năm đi học trung bình của các chủ hộ là 7,42 năm. Trong đó, nhóm hộ 1 có số năm đi học bình quân là 7,65 năm, cao hơn 0,6 năm so với nhóm hộ 2 (7,05 năm). Trình độ văn hóa có ảnh hưởng đến quyết định sản xuất, chịu trách nhiệm sản xuất và lựa chọn hình thức sản xuất trong mỗi hộ gia đình. Những chủ hộ được học tốt hơn, nhận thức cao hơn sẽ có khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật mới tốt hơn cũng như khả năng quản lý, sử dụng các nguồn lực và tìm ra các phương án sản xuất hoa tốt hơn. Như vậy, trình độ văn hóa có ảnh hưởng ít nhiều đến hiệu quả sản xuất hoa của mỗi hộ.
Bảng 4 : Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều ra năm 2013
Nhân khẩu trung bình của hộ ở mức khá cao, 4,52 người/hộ. Trong đó bình quân nhân khẩu của nhóm hộ 1 là 4,68 người/hộ và của nhóm hộ 2 là 4,26 người/hộ. Số nhân khẩu tru g bình của mỗi hộ ở mức khá cao cho thấy tâm lý sinh nhiều con vẫn còn hiện hữu trong mỗi gia đình ở nông thôn. Đây cũng là một trở ngại lớn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của các gia đình ở nông thôn.
Số nhân khẩu ở mức cao cũng cho thấy lực lượng lao động của các hộ điều tra là khá đồi dào. Bình quân mỗi hộ có 3,72 lao động, trong đó nhóm hộ 1 có trung bình 3,94 lao động/hộ và nhóm hộ 2 có 3,37 lao động/hộ. Trong số lực lượng lao động trung bình mà mỗi hộ có được thì số lao động nông nghiệp là 1,88 người và lao động phi nông nghiệp là 1,73 người. Với nhóm hộ 1, số lao động nông nghiệp trung bình ở mức 2,06 lao động/hộ, số lao động phi nông nghiệp là 1,88 lao động/ hộ. Nhóm hộ 2 có số lao động trung bình thấp hơn nhóm hộ 1 nên số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp của nhóm hộ này cũng thấp hơn, chỉ 1,84 lao động/hộ và số lao động phi nông nghiệp cũng chỉ ở mức 1,53 lao động/hộ. Với một nguồn lực lao động khá dồi dào như vậy, các hộ có thể huy động để sản xuất hoa trong giai đoạn trồng và thu hoạch, đây là những thời kỳ cần khá nhiều công lao động. Việc huy động số lao động sẵn có này sẽ giúp hạn chế được việc đi thuê hoặc đổi công lao động, từ đó sẽ giúp giảm bớt chi phí sản xuất. Tuy nhiên, số lao động trong nông nghiệp cao sẽ tạo ra một lượng lao động dư thừa trong thời kỳ thấp điểm của mùa vụ. Do vậy, giải quyế công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa là vấn đề mà chính quyền địa phương cần quan tâm.
2.3.2. Tình hình sử dụng đất đai Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thể thay thế. Nó là điều kiện cần có để thực hiện các hoạt động sản xuất tạo ra giá trị sản xuất của chủ hộ. Để thấy rõ tình hình sử dụng đất của các hộ điều tra, chúng ta tiến hành phân tích bảng 5 :
Từ bảng 5 ta thấy diện tích đất của các hộ là khá lớn. Bình quân mỗi hộ có 556,40 m2 đất vườn nhà ở tương ứng với 1,11 sào, trong đó nhóm hộ 1 có diện tích 565,16 m2/hộ, nhóm hộ 2 có d ện tích là 542,11 m2/hộ. Do có lợi thế về diện tích đất vườn nhà ở lớn nên đa số các hộ đều sử dụng một phần đất từ vườn nhà để canh tác các loại cây trồng ngắn ngày.
Về đất trồng hoa, có sự chênh lệch khá lớn giữa hai nhóm hộ. Trung bình nhóm hộ 1 có 608,06 m2 /hộ, cao gấp 1,89 lần so với nhóm hộ 2 (321,05m2/hộ). Có sự chênh lệch lớn ày là do các hộ nhóm hộ 1 tiến hành thuê thêm đất ở khu trồng hoa tập trung để trồng. Bình quân chung mỗi hộ có 499,00 m2 đất trồng hoa. Con số này vẫn còn khá khiêm tốn so với diện tích đất mà mỗi hộ có được.
Về đất trồng cây hoa màu, trung bình mỗi hộ có 425,00 m2 diện tích đất trồng hoa màu, trong đó nhóm hộ 1 có trung bình 466,13m2/hộ, cao hơn so với nhóm hộ 2 (357,89 m2/hộ). Hầu hết các hộ dùng đất này để trồng các loại cây như rau, cải…, bên cạnh đó một số hộ cũng sử dụng để trồng dưa, đậu… Các loại cây trồng này thường mang lại hiệu quả thấp hơn so với trồng hoa.
Bảng 5: Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra năm 2013
Về đất trồng lúa thì đa số các hộ được điều tra đều có diện tích đất trồng lúa tương đối lớn. Trung bình mỗi hộ có 3.185,00 m2 đất trồng lúa, tương ứng với 6,37 sào. Trong đó nhóm hộ 1 có diện tích là 3.548,39 m2/hộ (7,10 sào/hộ) cao hơn 956,28 m2 so với nhóm hộ 2 (2.592,11m2/hộ tương ứng với 5,18 sào). Sự chênh lệch này là do nhóm hộ 1 có số khẩu trung bình mỗi hộ ao hơn nên diện tích ruộng được giao khoáng nhiều hơn, bên cạnh đó số lao động của nhóm hộ này cũng nhiều hơn nên các hộ này thuê thêm đất để canh tác.
Tóm lại, tiềm năng đất canh tác của các hộ điều tra là khá lớn. Tuy nhiên, diện tích đất dành để trồng hoa vẫn còn ở mức khiêm tốn. Việc sử dụng đất để canh tác các loại cây trồng hiệu quả thấp sẽ không khai thác được hết những tiềm năng của đất. Do đó, các hộ cần có những kế hoạch cụ thể cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và kết hợp luân ca h hằm khai thác hết những tiềm năng sẵn có và góp phần cải thiện thu nhập.
2.3.3. Tình hình trang bị tư liệu sản xuất Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
Ngoài đất đai, lao động, vốn đầu tư thì tư liệu sản xuất cũng là một yếu tố quan trọng cho mọi hoạt động sản xuất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp nó ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất của nông hộ. Tư liệu sản xuất là điều kiện để tổ chức sản xuất, nếu tư liệu sản xuất được trang bị một cách hợp lý thì sẽ giải phóng bớt sức lao động của nông hộ và góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, trong điều kiện của nông hộ, quy mô sản xuất của các hộ còn nhỏ lẻ nên tư liệu sản xuất còn thô sơ và không đồng bộ giữa các hộ. Để thấy rõ mức độ trang bị tư liệu sản xuất của các hộ, ta tiến hành phân tích bảng 6.
Bảng 6: Tình hình trang bị TLSX của các hộ điều tra năm 2013
Trâu bò cày kéo phục vụ cho sản xuất nông nhiệp và đồng thời cũng là nguồn vốn của các hộ nông dân. Qua bảng 6 ta thấy số lượng trâu bò của mỗi hộ là khá ít, trung bình mỗi hộ có 0,30 con, trong đó các hộ thuộc nhóm hộ 1 có 0,39 con/hộ, các hộ thuộc nhóm hộ 2 có 0,16 con/hộ. Số lượng trâu bò được các hộ nuôi chủ yếu để sử dụng vào việc sản xuất lúa, một số khác sử dụng để làm đất trồng hoa. Trong những năm gầ đây, việc đẩy mạnh cơ giới hóa trong nông nghiệp đã thay thế dần sức kéo của trâu bò. Mặc khác, diện tích đồng cỏ để chăn thả trâu bò cũng dần bị thu hẹp là nguyên nhân mà các hộ giảm dần số lượng đàn trâu bò.
Dụng cụ lao động cầm tay là những vật dụng không thể thiếu trong quá trình sản xuất hoa, các vật dụng này bao gồm cuốc năm, cuốc tượng, cào, vồ đập đất…Do sự cần thiết của nó nên hầu hết các hộ đều trang bị các loại vật dụng này để phục vụ cho việc làm đất. Trung bình mỗi hộ có 3,66 cái, trong đó nhóm hộ 1 có mức đầu tư nhiều hơn, 3,90 cái/hộ và nhóm hộ 2 có 3,26 cái/hộ.
Hầu hết các hộ đều trang bị máy bơm nước để phục vụ cho việc tưới tiêu. Trung bình mỗi hộ có 1,12 cái, trong đó nhóm hộ 1 có số lượng nhiều hơn nhóm hộ 2, trung bình nhóm hộ 1 có 1,19 cái/hộ và nhóm hộ 2 có 1,00 cái/hộ. Sở dĩ các hộ đều có trang bị máy bơm là vì nguồn nước các hộ sử dụng là từ nguồn nước giếng ngầm và nước sông nên cần có máy bơm để bơm nước lên phục vụ cho việc tưới.
Cùng với máy bơm nước thì dụng cụ tưới nước cũng được các hộ trang bị khá đầy đủ. Trung bình mỗi hộ có 1,12 đôi bô để tưới nước, trong đó nhóm hộ 1 có 1,19 đôi/hộ, nhóm hộ 2 có 0,84 đôi/hộ. Việc sử dụng bình tưới nước để tưới hoa sẽ giúp cho lượng nước tưới tới mỗi cây hoa được đều hơn và giảm được xói mòn đất so với việc tưới trực tiếp bằng máy bơm nước. Tuy nhiên, việc gánh tưới sẽ iêu ốn khá nhiều sức lao động của các hộ. Do vậy trong thời gian đến các hộ cần ứng dụng các phương pháp tưới chuyên nghiệp hơn, đó là đầu tư hệ thống tướ hỏ giọt hoặc tưới phun sương.
Về bình phun thuốc thì hầu hết các hộ đều có trang bị để phục vụ cho việc phun thuốc BVTV. Trung bình mỗi hộ có 1,52 cái, trong đó nhóm hộ 1 có 1,65 cái/hộ, nhóm hộ 2 có 1,32 cái/hộ. Việc trang bị đầy đủ bình phun thuốc sẽ giúp các hộ chủ động hơn trong việc phun thuốc phòng trừ bệnh cho hoa. Các hộ trồng nhiều hoa và các loại cây trồng khác thường trang bị 2 bình p un thuốc để tiện cho việc phun các loại thuốc khác nhau.
Việc canh tác các lo i hoa ngày dài sẽ rất cần đến các dụng cụ chiếu sáng để giúp hoa sinh trưởng tốt hơn. Trung bình mỗi hộ trang bị 18,26 cái bóng điện, trong đó nhóm hộ 1 là những hộ có diện tích trồng lớn nên trang bị nhiều hơn, 22,65 bóng/hộ, nhóm hộ 2 có 11,11 bóng/hộ. Cùng với bóng điện thì dây điện cũng là vật dụng không thể thiếu để dẫn điện chiếu sáng cho hoa. Trung bình mỗi hộ sử dụng 42,30 mét dây điện để phục vụ việc chiếu sáng cho hoa, trong đó nhóm hộ 1 có số lượng dây lớn hơn, 50,81 mét/hộ, nhóm hộ 2 với số lượng bóng điện ít hơn nên sử dụng dây điện ít hơn, 28,42 mét/hộ.
Tóm lại, mức độ trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra là tương đối đầy đủ. Tổng giá trị TLSX bình quân mỗi hộ đạt 7.962,22 nghìn đồng, trong đó nhóm hộ 1 có giá trị cao hơn, đạt 9.943,35 nghìn đồng/hộ, nhóm hộ 2 đạt 4.729,84 nghìn đồng/hộ. Tuy vậy, TLSX mà các hộ trang bị vẫn còn khá thô sơ và mới chỉ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất hiện tại. Do đó, trong thời gian tới cùng với việc mở rộng diện tích sản xuất thì các hộ cần trang bị thêm TLSX, đặc biệt là các loại tư liệu hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm bớt sức lao động.
2.4. KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT HOA CÚC CỦA CÁC HỘ ĐIỀU TRA Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
2.4.1. Chi phí sản xuất của các hộ
Trong mỗi quá trình sản xuất, muốn tạo ra được kết quả mong muốn thì trước hết phải bỏ ra một khoảng chi phí đầu tư nhất định. Đối với sản xuất hoa, việc đầu tư các khoản chi phí có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả của quá rình sản xuất. Để thấy rõ các khoản chi phí mà các hộ trồng hoa phải bỏ ra trong mộ vụ, chúng ta đi sâu vào phân tích bảng 7.
Từ bảng 7, chúng ta có thể thấy không có sự chê h lệch lớn giữa tổng chi phí đầu tư của hai nhóm hộ. Tổng chi phí đầu tư của nhóm hộ 1 là 5.954,35 nghìn đồng/sào, của nhóm hộ 2 là 5.970,44 nghìn đồng/sào, chỉ cao hơn 16,09 nghìn đồng so với nhóm hộ 1. Trung bình chung mỗi hộ đầu tư 5.958,28 nghìn đồng cho một sào hoa. Để thấy cụ thể sự chênh lệch về chi phí đầu tư giữa 2 nhóm hộ, ta cùng nghiên cứu từng khoản mục chi phí .
Về khoản chi phí trung gian: là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bằng tiền mà các hộ phải bỏ ra trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoa. Đây là khoản chi phí lớn nhất, trung bình chung mỗi hộ phải bỏ ra 3.147,66 nghìn đồng/sào cho khoản chi phí này, trong đó nhóm hộ 1 bỏ ra 3.173,18 nghìn đồng/sào (chiếm 53,29% trong tổng chi phí) và hóm hộ 2 bỏ ra 3.068,80 nghìn đồng/sào (chiếm 51,40 %). Mức chênh lệch về khoản chi phí ày giữa hai nhóm hộ là không nhiều nhưng nó cũng đã phần nào phản ánh năng lực tổ chức sản xuất của các nhóm hộ.
Trong tất cả các loại chi phí vật chất mà các hộ phải bỏ ra thì chi phí giống là lớn nhất. Trung bình một sào đất mỗi hộ phải chi ra 1.271,74 nghìn đồng để mua cây giống, chiếm 21,34% trong tổng chi phí, trong đó nhóm hộ 1 chi 1.290,19 nghìn đồng, nhóm hộ 2 chi 1.214,75 nghìn đồng, thấp hơn 75,44 nghìn đồng so với nhóm hộ 1. Có sự chênh lệch này là do các hộ nhóm 1 sử dụng một số giống hoa mới có giá cao hơn
Đầu tư cho phân bón cũng là một khoản chi phí khá lớn mà các hộ phải bỏ ra. Trung bình một sào hoa mỗi hộ chi ra 801,45 nghìn đồng, khoản chi phí này chiếm 13,45% trong tổng chi phí, trong đó nhóm hộ 1 chi 803,90 nghìn đồng (chiếm 13,50%) và nhóm hộ 2 chi 793,89 nghìn đồng (chiếm 13,30%), chỉ thấp hơn 10,01 nghìn đồng so với nhóm hộ 1.
Các loại phân bón mà các hộ sử dụng chủ yếu là phân chuồng, vi sinh, Ure, NPK và phân lân. Phân chuồng được các hộ sử dụng nhiều nhất để bón lót khi làm đất, trung bình 1 sào các hộ sử dụng 4 đến 5 tạ phân chuồng. Tuy sử dụng nhiều nhưng do phân được tận dụng từ chất thải chăn nuôi nên cũng giảm bớt được chi phí. Trung bình một sào mỗi hộ bỏ ra 336,67 nghìn đồng chi phí phân chuồng, trong đó nhóm hộ 1 bỏ ra 318,30 nghìn đồng/sào, nhóm hộ 2 bỏ ra 393,44 nghìn đồng/sào, cao hơn 75,14 nghìn đồng. Phân vi sinh cũng là loại phân hữu cơ được các hộ sử dụng để bón lót. Trung bình mỗi hộ bón 29,26 kg phân vi sinh cho một sào hoa cúc, tương đương với chi phí mua phân là 73,15 nghìn đồng, trong đó bình quân của nhóm hộ 1 là 85,54 nghìn đồng/sào và nhóm hộ 2 là 34,84 nghìn đồng/sào, thấp hơn 50,71 nghìn đồng so với nhóm hộ 1. Có sự chênh lệch khá lớn này là do nhóm hộ 2 sử dụng nhiều phân chuồng nên họ hạn chế sử dụng phân vi sinh. P ân NPK tổng hợp là loại phân vô cơ được các hộ sử dụng nhiều để bón cho hoa, trung bình 1 sào mỗi hộ bón 33,37 kg tương ứng với mức chi phí là 293,63 nghìn đồng, trong đó nhóm hộ 1 đầu tư 297,61 nghìn đồng/sào, nhóm hộ 2 đầu tư 281,31 nghìn đồng/sào, thấp hơn 16,30 nghìn đồng so với nhóm hộ
Do đã sử dụng phân NPK tổng hợp nên các hộ sử dụng rất ít phân Ure. Trung bình 1 sào mỗi hộ chỉ sử dụng 2,14 kg phân Ure, tương ứng với 19,73 nghìn đồng tiền mua phân. Một loại phân vô cơ nữa được các hộ sử dụng là phân lân, các hộ sử dụng loại phân này để bón lót và bón khi cây bắt đầu hóa mầm hoa. Trung bình 1 sào mỗi hộ sử dụng 21,74 kg tương ứng với mức chi phí là 78,28 nghìn đồng, trong đó nhóm hộ 1 đầu tư 79,26 nghìn đồng/sào, nhóm hộ 2 đầu tư 75,25 nghìn đồng/sào, thấp hơn 4,01 nghìn đồng so với nhóm hộ 1.
Vôi góp phần cải tạo đất và tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh có trong đất, phần lớn các hộ đều sử dụng vôi để bón trước khi tiến hành làm đất. Trung bình 1 sào đất mỗi hộ bón 26,85 kg vôi tương ứng với mức chi phí 37,60 nghìn đồng, trong đó nhóm hộ 1 bón 27,32 kg/sào tương ứng với 38,25 nghìn đồng/sào, nhóm hộ 2 bón 25,41 kg/sào tương ứng với 35,57 nghìn đồng/sào.
Ngoài chi phí giống và phân bón thì thuốc BVTV cũng là một khoản chi phí khá lớn mà các hộ phải đầu tư để đảm bảo cho hoa cúc sinh trưởng và phát triển tốt. Trung bình một sào mỗi hộ phải đầu tư 730,46 nghìn đồng chi phí thuốc BVTV, chi m 12,26% trong tổng chi phí, trong đó nhóm hộ 1 đầu tư bình quân 732,10 nghìn đồng/sào và nhóm hộ 2 đầu tư 725,41nghìn đồng/sào. Sự chênh lệch giữa 2 nhóm hộ là không lớn, chỉ 6,69 nghìn đồng. Các loại thuốc BVTV mà các hộ sử dụng thường là các loại thuốc hóa học trừ sâu, nấm và các loại thuốc kích thích sinh rưởng, kích thích ra hoa, dưỡng lá…Những loại thuốc này có giá khá cao làm tăng chi phí đầu tư của mỗi hộ.
Chi phí cho việc sử dụng điện để chiếu sáng và chạy máy bơm nước chiếm tỷ lệ tương đối nhỏ trong tổng chi phí. Trung bình 1 sào mỗi hộ bỏ ra 172,55 nghìn đồng chi phí tiền điện để chiếu sáng và chạy máy bơm nước, chiếm 2,90% trong tổng chi phí, trong đó nhóm hộ 1 đầu tư 172,94 nghìn đồng/sào và nhóm hộ 2 đầu tư 171,31 nghìn đồng/sào, sự chênh lệch giữa hai nhóm hộ là không đáng kể. Trong tổng chi phí tiền điện thì chi phí tiền điện c o việc thắp sáng chiếm phần lớn, bởi việc thắp sáng cho hoa kéo dài liên tục trong vòng 1 tháng đầu tiên sau khi trồng. Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
Ngoài các chi phí vật chất bằng tiền nêu trên thì bình quân 1 sào mỗi hộ phải bỏ ra 133,87 nghìn đồng cho các khoản chi phí khác như vè, dây buộc chống đổ. Khoản chi phí này chiếm 2,25% trong tổng chi phí, trong đó chi phí của nhóm hộ 1 chiếm 2,28% tươ ứ với 135,81 nghìn đồng/sào và của nhóm hộ 2 chiếm 2,14% tương ứng 127,87 ghìn đồng/sào.
Bên cạnh các loại chi phí trung gian thì chi phí lao động cũng là một khoản chi phí khá lớn. Hầu hết các hộ đều sử dụng lao động của gia đình tham gia vào quá trình sản xuất hoa. Chi phí lao động gia đình được chúng tôi hạch toán theo chi phí cơ hội với giá một ngày công lao động là 150 nghìn đồng. Trung bình 1 sào hoa mỗi hộ sử dụng 18,74 công lao động cho việc làm đất, trồng, chăm sóc và thu hoạch. Số công lao động này tương ứng với mức chi phí là 2.810,62 nghìn đồng và chiếm tới 47,17% trong tổng chi phí. Đối với nhóm hộ 1, trung bình mỗi hộ sử dụng 18,54 công lao động cho 1 sào hoa ứng với mức chi phí là 2.781,17 nghìn đồng và chiếm 46,71% tổng chi phí. Nhóm hộ 2 sử dụng 19,34 công lao động cho 1 sào hoa, ứng với mức chi phí là 2.901,64 nghìn đồng và chiếm 48,60% trong tổng chi phí. Nhóm hộ 2 có mức chi phí lao động cao hơn 120,47 nghìn đồng so với nhóm hộ 1. Điều này cũng cho thấy trình độ tổ chức lao động của nhóm hộ 1 tốt hơn nhóm hộ 2.
Từ những phân tích trên, có thể thấy chi phí đầu tư cho một sào hoa của các hộ điều tra là khá lớn. Đối với chi phí trung gian, là những yếu tố đầu vào mà hầu hết các hộ phải mua từ bên ngoài với giá trị mua tương đối lớn. Do vậy, việc sử dụng sao cho hợp lý nhất các yếu tố này là điều mà các hộ cần đặc biệt chú rọng để tích kiệm chi phí trong quá trình sản xuất hoa.
2.4.2. Kết quả và hiệu quả trồng hoa của các hộ Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
Hiệu quả luôn là một mục tiêu quan trọng của bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Nghề trồng hoa cũng vậy, việc đánh g á đúng hiệu quả kinh tế sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát triển sản xuất hoa. Để thấy rõ được kết quả và hiệu quả quá trình sản xuất hoa úc ủa ác hộ nông dân, chúng tôi sử dụng các chỉ tiêu GO, VA, IC, các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng lao động, tất cả được thể hiện qua bảng 8.
Từ bảng 8 ta thấy kết quả sản xuất hoa cúc trên một đơn vị diện tích của nhóm hộ 1 cao hơn so với nhóm hộ 2. Cụ thể: tổng giá trị sản xuất hoa cúc trên 1 sào của nhóm hộ 1 là 17.427,06 nghìn đồng, cao hơn 3.922,96 nghìn đồng (1,29 lần) so với nhóm hộ 2; giá trị gia tăng trên 1 sào của nhóm hộ 1 là 14.253,88 nghìn đồng, cao hơn 3.818,58 nghìn đồ (1,37 lần) so với nhóm hộ 2. Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do nhóm hộ 1 có sự đầu tư hợp lý hơn, kỹ thuật chăm sóc hoa cũng tốt hơn nên chất lượng cây hoa tạo ra cao hơn và nhờ đó giá bán hoa của các hộ này cao hơn.
Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn của nhóm hộ 1 cao hơn nhóm hộ 2. Cụ thể, khi cùng đầu tư một đồng chi phí trung gian thì nhóm hộ 1 tạo ra được 5,49 đồng giá trị sản xuất và 4,49 đồng giá trị gia tăng trong khi đó nhóm hộ 2 chỉ thu được 4,40 đồng giá trị sản xuất và 3,34 đồng giá trị gia tăng.
Bảng 8: Kết quả và hiệu quả trồng hoa bình quân sào của các hộ điều tra năm
Bên cạnh hiệu quả sử dụng vốn, chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động của nhóm hộ 1 cũng lớn hơn nhóm hộ 2. Cụ thể, tổng giá trị sản xuất hoa cúc trên một lao động của nhóm hộ 1 là 917,21 nghìn đồng, cao ơn 242,00 nghìn đồng (1,36 lần) so với nhóm hộ 2; giá trị gia tăng trên một lao động của nhóm hộ 1 là 750,20 nghìn đồng, của nhóm hộ 2 là 521,77 nghìn đồng, thấp hơn 228,43 nghìn đồng (1,44 lần) so với nhóm hộ 1.
Như vậy, có thể thấy hiệu quả kinh tế mang lại từ việc sản xuất hoa cúc của nhóm hộ 1 cao hơn nhiều so với nhóm hộ 2. Kết quả này có phần ảnh hưởng từ việc đầu tư, chăm sóc của các hộ. Bên cạnh đó việc nhóm hộ 1 đạt hiệu quả cao hơn nhóm hộ 2 cũng hờ vào lợi thế quy mô. Điều này cho thấy mở rộng quy mô diện tích trồng hoa sẽ giúp sử dụ g cân đối và hợp lý hơn các loại nguồn lực và từ đó hiệu quả kinh tế mang lại sẽ tăng lên.
2.5. VẬN DỤNG HÀM COOB – DOUGLAS NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DOANH THU SẢN XUẤT HOA CÚC CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN
2.5.1. Xây dựng mô hình hồi quy Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
Để đánh giá chính xác hơn mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến doanh thu sản xuất hoa cúc của các hộ điều tra, chúng tôi sử dụng hàm Coob – Do glas.
Mô hình có dạng = A.X1α1.X2α2.X3α3.X4α4.X5α5.eβ1TT
Hay: LnY = A + α1.LnX1 + α2.LnX2 + α3.LnX3 + α4.LnX 4 + α5 .LnX5 + β1.TT
Trong đó:
Doanh thu đạt được (1000 đ/sào) X1: Diện tích (m2)
X2: Chi phí giống (1000 đ/sào)
X3: Chi phí phân bón (1000 đ/sào)
X4: Chi phí thuốc BVTV (1000 đ/sào)
X5: Kinh nghiệm (Năm sản xuất)
TT: Thời tiết (TT = 1: p ù ợp, TT = 0: không phù hợp)
Thực hiện hồi quy bằng phần mềm SPSS với mức ý nghĩa α = 0,05 ta có kết quả:
LnY = 0,934 + 0,272LnX1 – 0,289LnX2 + 0,670LnX3 + 0,663LnX4 + 0,098LnX5 + 0,065TT
Bảng 9: Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu sản xuất hoa cúc
2.5.2. Phân tích kết quả hồi quy Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
Mức ý nghĩa thống kê F = 45,447 có nghĩa với độ tin cậy 95% bác bỏ giả thiết H0 cho rằng các biến độc lập Xi k ông ảnh hưởng tới doanh thu của các hộ trồng hoa cúc, chấp nhận giả thiết H1 cho rằng có biến độc lập Xi có ảnh hưởng đến doanh thu.
Hệ số R2 cho biết phần trăm biến động của biến phụ thuộc do biến độc lập trong mô hình gây ra. Với R2 = 0,864 tức là các biến đưa vào mô hình giải thích được 86,4% sự biến động của biến phụ thuộc. R2 ở mức tương đối cao, điều này cho thấy có sự tương quan mạ h iữa doanh thu và các yếu tố diện tích, phân bón và thuốc BVTV.
Ý nghĩa các tham số:
α1 = 0,272 là hệ số co giãn của doanh thu với diện tích trồng hoa cúc, cho biết trong điều kiện các yếu tố khác trong mô hình không đổi, khi diện tích tăng lên 1% thì doanh thu tăng lên 0,272%.
α3 = 0,670 là hệ số co giãn của doanh thu với chi phí phân bón, cho biết trong điều kiện các yếu tố khác trong mô hình không đổi, khi tăng chi phí phân bón lên 1% thì lợi doanh thu lên 0,670%.
α4 = 0,663 là hệ số co giãn giữa doanh thu với chi phí thuốc BVTV, cho biết trong điều kiện các yếu tố khác trong mô hình không đổi, khi tăng chi phí thuốc BVTV lên 1% thì doanh thu tăng lên 0,663%.
Đối với các biến X2, X5, TT đại diện cho chi phí giống, số năm kinh nghiệm và thời tiết. Kết quả hồi quy cho thấy ba biến này có mức ý nghĩa dưới 95%, điều này cho thấy các yếu tố chi phí giống, số năm kinh nghiệm và thời tiết chưa phản ánh được mức độ ảnh hưởng của nó đến doanh thu với độ tin cậy 95%. Chúng tôi cho rằng, việc sử dụng giống hoa cúc của các hộ chưa hợp lý bởi qua điều tra cho thấy các hộ sử dụng giống từ nhiều nguồn khác nhau. Một số hộ sử dụng nguồn giống có chất lượng tốt từ cơ sở sản xuất uy tín, một số hộ sử dụng cùng lúc nhiều nguồn giống khác nhau thông qua các trung gian. Bên cạnh đó, mật độ cây giống trồng trên một sào của các hộ vẫn chưa đạt mức tối ưu nên yếu tố giống chưa giả thích được mức độ ảnh hưởng đến doanh thu.
Với yếu tố kinh nghiệm sản xuất, chúng tôi cho rằng việc canh tác các loại hoa khác nhau sẽ đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc khác nhau. Vì vậy, những kinh nghiệm mà các hộ tích lũy được khi sản xuất những giống hoa truyền thống sẽ không phù hợp khi ứng dụng vào sản xuất các giống oa cúc mới. Thực tế điều tra chúng tôi nhận thấy có những hộ có rất nhiều năm k nh nghiệm nhưng kết quả sản xuất hoa vẫn đạt thấp hơn so với một số hộ có ít kinh nghiệm. Điều này dẫn đến yếu tố kinh nghiệm chưa giải thích được mức độ ảnh hưởng đến doanh thu trong mô hình.
Một vấn đề nữa là yếu tố thời tiết, yếu tố này mang tính khách quan. Phần lớn các hộ cũng đã biết cách tận dụng những nguồn lực sẵn có của mình để hạn chế sự ảnh hưởng của mó đến kết quả sản xuất hoa. Bởi vậy kết quả hồi quy cũng cho thấy biến độc lập này không có ý nghĩa trong mô hình.
2.6. TIÊU THỤ SẢN PHẨM HOA CÚC CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
Trong sản xuất hàng hóa, thị trường tiêu thụ là cầu nối giữa người mua và người bán, nó đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra một cách thường xuyên và liên tục. Đối với thị trường nông sản, tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp có tác động mạnh mẽ đến cung cầu của thị trường nông sản và giá cả nông sản. Do đó, việc nắm bắt thông tin giá cả trên thị trường là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế.
Trong những năm qua, hoạt động sản xuất hoa cúc của các hộ nông dân trên địa bàn xã đã đạt được những kết quả khá tích cực. Chất lượng sản phẩm hoa không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, việc tiêu thụ hoa của các hộ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, giá hoa biến động nhiều đã ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người nông dân. Thông thường, giá hoa đạt mức cao nhất vào các dịp lễ lớn, tết… Vào các thời điểm này giá hoa có thể lên đến 4.000 – 5.000 đ/cây. Ngược lại vào những thời điểm nhu cầu về hoa thấp thì giá có thể giảm xuống 1.000 – 2.000 đ/cây. Giá hoa còn tùy thuộc vào kích cỡ, chất lượng hoa.
Hoa sản xuất ở Phú Mậu chủ yếu được tiêu thụ trong địa bàn tỉnh, một số nhỏ được vận chuyển ra tiêu thụ ở tỉnh Quảng Trị thông qua hữ g người bán buôn. Việc tiêu thụ hoa chủ yếu là do các hộ nông dân tự thực hiện, quá trình phân phối hoa được thực hiện qua các kênh chủ yếu sau:
Kênh 1:
Người sản xuất
Người thu gom
Người bán buôn
Người bán lẻ
Người tiêu dùng
Kênh 2:
Người sản xuất Người bán lẻ Người tiêu dùng
Kênh 3:
Người sản xuất Người tiêu dùng
Tro các kênh tiêu thụ chủ yếu trên thì kênh 1 chiếm khoảng 10%. Hoa sau khi thu hoạch được các hộ bán cho những người thu gom ngay tại vườn. Các hộ lựa chọn kênh phân phối này thường là các hộ trồng hoa với số lượng lớn. Tuy nhiên, số lượng hoa được tiêu thụ qua kênh này chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với số hoa được sản xuất ra. Nguyên nhân là do số lượng người thu gom còn ít và khả năng thu gom của họ còn thấp, mặc khác hoa bán qua kênh này thường thấp hơn giá thị trường nên người nông dân vẫn ít lựa chọn kênh phân phối này. Tuy vậy, kênh này mang lại ưu điểm là tiêu thụ nhanh sản phẩm sau khi thu hoạch, tiết kiệm được thời gian do không phải vận chuyển đi tiêu thụ.
Kênh 2 có khoảng 80% số hộ lựa chọn. Việc tiêu thụ hoa qua kênh này được thực hiện thông qua các chợ bán buôn, chủ yếu thông qua chợ đầu mối Phú Hậu. Phần lớn các hộ lựa chọn kênh phân phối này vì giá bán hoa qua kênh này cao hơn kênh 1. Bên cạnh đó địa bàn xã cách không xa chợ đầu mối Phú Hậu, giao thông lại thuận tiện nên người nông dân thích lựa chọn kênh phân phối này.
Kênh 3 có 10% số hộ lựa chọn. Thông qua kênh này, hoa được bán trực ti p từ người nông dân đến người tiêu dùng qua các chợ bán lẻ trên địa bàn tỉnh. Do không có các trung gian tham gia nên giá bán qua kênh này thường cao nhất. Tuy nhiên, việc phân phối hoa qua kênh bán lẻ làm mất nhiều thời gian của người nông dân, đồng thời cũng cần đến các kỹ thuật bảo quản hoa trong quá trình tiêu thụ. Đây cũng chính là nguyên nhân mà kênh phân phối này được ít các hộ lựa chọn.
Như vậy, hình thức tiêu thụ hoa của các hộ ô g dân trên địa bàn xã là rất đa dạng. Tùy từng điều kiện cụ thể mà các hộ lựa chọn kênh phân phối cho phù hợp. Tuy nhiên, trong dài hạn cần phải xây dựng kênh tiêu thụ hoa ổn định và thống nhất để đảm bảo đầu ra cho sản phẩm hoa. Khóa luận: Thực trạng về kinh tế sản xuất hoa tại Phú Mậu
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao sản xuất hoa tại xã Phú Mậu

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát sản xuất hoa cúc tại xã Phú Mậu