Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển chế độ hưu trí ở Việt Nam
Chế độ hưu trí nhằm mục đích đảm bảo ổn định về mặt kinh tế đối với những người tham gia lao động đã kết thúc quá trình lao động với những điều kiện được quy định cụ thể. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các chính sách về bảo hiểm xã hội đã được ban hành. Các quy định về nội dung của chế độ hưu trí cũng dần được hình thành và hoàn thiện theo thời gian kể từ giai đoạn năm 1945 đến nay.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1961, các văn bản pháp luật có những quy định về bảo hiểm xã hội được ban hành như: Sắc lệnh số 29- SL ngày 12 tháng 03 năm 1947 về các chế độ đối với công nhân làm việc tại các xưởng kĩ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và tư nhân. Trong sắc lệnh này có các điều kiện quy định về chế độ thai sản, chế độ trợ cấp ốm đau. Sắc lệnh số 76-SL ngày tháng 05 năm 1950 về quy chế công chức, Sắc lệnh số 77-SL ngày 22 tháng 05 năm 1950 về quy chế công nhân, hai sắc lệnh này ngoài những quy định về quan hệ lao động của công chức và công nhân còn có những quy định về bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật ở thời kì này mới quy định những nét có tính nguyên tắc về bảo hiểm xã hội. Các chế độ BHXH như chế độ bệnh nghề nghiệp, hưu trí, trợ cấp mất sức lao động chưa có quy định toàn diện.
Giai đoạn từ 1961 đến 1994: Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước ban hành kèm theo nghị định 218/CP ngày tháng 12 năm 1961 đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn của pháp luật bảo hiểm xã hội Việt Nam nói chung và chế độ hưu trí nói riêng. Từ việc còn sơ sài và chưa toàn diện về nội dung quy định, bản Điều lệ đã có những quy định cụ thể, đặc biệt là về quỹ bảo hiểm xã hội được chính thức thành lập thuộc Ngân sách Nhà nước.
Trong đó, chế độ bảo hiểm hưu trí được quy định bằng các văn bản dưới luật và áp dụng cho cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước đối với các nhà máy, xí nghiệp, công nông, lầm trường được hoạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông. Các chính sách về bảo hiểm xã hội, đặc biệt là chế độ bảo hiểm hưu trí cũng dần được hoàn thiện về nội dung bao gồm: phạm vị điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nội dung quy định cũng như hình thức văn bản quy phạm. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Giai đoạn từ 1995 đến nay: Năm 1995, bảo hiểm xã hội đã được điều chỉnh bằng Bộ luật lao động, bao gồm các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất. Và đặc biệt, vào năm 2014, chương Bảo hiểm xã hội trong Bộ Luật lao động được tách thành Luật Bảo hiểm xã hội, trong đó quy định thêm chế độ bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Chế độ hưu trí cũng đã có sự thay đổi và dần hoàn thiện hơn sau những lần sửa đổi, bổ sung. Về loại hình bảo hiểm xã hội cũng đã quy định bởi hai hình thức rõ ràng hơn là hình thức bắt buộc và hình thức tự nguyện. Thời điểm này, các nội dung về chế độ hưu trí được quy định cụ thể và rõ ràng hơn, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với các chính sách xã hội của quốc gia. Cụ thể, việc tách vấn đề bảo hiểm xã hội thành Luật bảo hiểm xã hội 2014 và hiện nay là 2022 đã tạo nên bước tiến quan trọng.
Tại Điều 34, Hiến pháp Việt Nam năm 2021 có khẳng định: “Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội”, đồng thời trong báo cáo trọng điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho rằng chúng ta cần nỗ lực nhiều hơn để thực hiện hóa quyền an sinh xã hội cho tất cả mọi người. Và chế độ hưu trí là một phần quan trọng cần được quan tâm. Trên thế giới hiện nay có khoảng 68% người trong độ tuổi hưu trí nhận được trợ cấp hưu trí, lương hưu; điều này có liên quan chặt chẽ đến việc mở rộng các hệ thống hưu trí có đóng góp và không có đóng góp tại nhiều nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Tính trung bình trên toàn cầu, chi tiêu cho trợ cấp hưu trí và các loại hình phúc lợi khác cho người cao tuổi chiếm khoảng 6,9% GDP, trong đó có sự chênh lệch khá lớn giữa các khu vực. Tuy nhiên, mức trợ cấp hiện nay còn thấp, chưa đủ để giúp người cao tuổi thoát nghèo. Có thể thấy, vấn đề về hưu trí đang được quy định và áp dụng trên phạm vi toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam cũng không ngoại lệ. Càng ngày, chế độ hưu trí càng được thay đổi để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội và mở rộng các loại hình bảo hiểm xã hội nhằm tạo điều kiện cho người lao động ngoài quá trình tham gia lao động.
Cũng như các chế độ khác của hệ thống bảo hiểm xã hội, chế độ hưu trí cũng cần nghiên cứu làm rõ 03 nội dung chính: đối tượng được hưởng chế độ hưu trí, các điều kiện được hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng trợ cấp hưu trí. Ngoài ra, việc xây dựng một mô hình chế độ hưu trí xuyên suốt và chặt chẽ giữa các Bộ, ban, ngành cũng được quan tâm đặc biệt trong thời điểm hiện tại.
2.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về chế độ hưu trí Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Để được hưởng một chế độ bảo hiểm xã hội, người hưởng bảo hiểm phải đảm bảo một số điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Tùy vào từng chế độ bảo hiểm cụ thể mà điều kiện hưởng khác nhau nhưng nhìn chung đều căn cứ vào mức đóng góp của người tham gia bảo hiểm. Trong Luật bảo hiểm xã hội năm 2022, các nhà làm luật đã có sự quy định cụ thể về hai loại hình bảo hiểm xã hội phổ biến trong chế độ hưu trí, đó là bảo hiểm hưu trí bắt buộc và bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Điều này có tác dụng giúp người tham gia lao động được hưởng ưu đãi nhất định từ các loại hình trên và theo đó, mỗi loại hình đều có các điều kiện cụ thể như sau:
2.2.1. Chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc Về đối tượng hưởng
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội, người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động
- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân, hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn, học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
- Về điều kiện hưởng
Điều kiện hưởng lương hưu được quy định tại Điều 54 Luật bảo hiểm xã hội quy định
- Trong điều kiện bình thường:
Người lao động là người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi đủ một trong các độ tuổi thuộc các trường hợp sau:
- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.
Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực thuộc hệ số 0,7 trở lên.
Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò; Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
- Trong điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng đối với Quân đội, Công an, Cơ yếu:
Người lao động là sĩ quan, quan nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quan đội nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn có đủ 20 năm đóng bảo hiểm trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong những trường hợp sau đây:
Nam từ đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân, Luật cơ yếu có quy định khác
Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực số 0,7 trở lên.
Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
- Trong điều kiện đối với lao động nữ hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn:
Trường hợp lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu.
- Trong điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng khi suy giảm khả năng lao động
Đối với những trường hợp suy giảm khả năng lao động, Luật bảo hiểm xã hội cũng quy định cụ thể tại điều 55:
Người lao động là người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 54 của Luật bảo hiểm xã hội nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2024, nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động. Sau đó mỗi năm tăng thêm một tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên
Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi và bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có đủ 15 năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.
Người lao động là sĩ quan, quan nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quan đội nhân dân; hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn có đủ 20 năm đóng bảo hiểm trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong những trường hợp sau đây:
Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, Luật công an nhân dân, Luật cơ yếu có quy định khác. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Nam từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi, nữ từ đủ 45 tuổi đến đủ 50 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoăc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.
Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.
Trường hợp lao động nữ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc mà có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu.
- Về mức hưởng
Mức lương hưu hàng tháng được quy định với 2 mốc thời gian, trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 và từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
Theo đó, trước thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2026, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối vứi nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
Bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH tương ứng với số năm đóng BHXH như sau:
Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2026 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm.
Lao động nữ nghỉ ưu từ năm 2026 trở đi là 15 năm.
Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.
Ngoài ra, cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%. Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi. Mức lương hưu hàng tháng của lao động nữ đủ là người hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn tham gia bảo hiểm xã hội khi nghỉ việc có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đống bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi thì được hưởng lương hưu được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội và mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội như sau: đủ 15 năm đóng BHXH tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH quy định tại điều 62 Luật bảo hiểm xã hội. Từ đủ 16 năm đến dưới 20 năm đóng BHXD, cứ mỗi năm đóng tính thêm 2%. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 115/2023/NĐ-CP, mức lương hưu hàng tháng của người lao động được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng nhân với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
- Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần:
Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương tháng của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau:
| Thời điểm tham gia bảo hiểm xã hội | Tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội |
| Trước 01/01/1995 | 05 năm |
| 01/01/1995 đến 31/12/2008 | 06 năm |
| 01/01/2009 đến 31/12/2014 | 08 năm |
| 01/01/2015 đến 31/12/2023 | 10 năm |
| 01/01/2024 đến 31/12/2019 | 15 năm |
| 01/01/2020 đến 31/12/2024 | 20 năm |
| 01/01/2023 trở đi | Toàn bộ thời gian. |
Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định như trên.
- Từ những quy định trên, có thể rút ra quy tắc như sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Cách tính mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì mức BQTL = Tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của T năm cuối trước khi nghỉ việc/ (T×12 tháng)
Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì:
- Mức BQTL = Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH
- Tổng số tháng đóng BHXH
Đối với người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo tiền lương do người sử dụng lao động quyết định vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định:
Mức BQTL = Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định + Tổng số tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định/Tổng số tháng đóng BHXH.
- Trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu
Đối với người lao động có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hư 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.
Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0.5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
- Bảo hiểm xã hội một lần
Pháp luật có quy định đối với người lao động khi nghỉ việc không đủ điều kiện về tuổi đời hoặc thời gian đóng bảo hiểm hoặc cả hai để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng thì tùy vào trường hợp mà họ được hưởng trợ cấp một lần, hoặc chờ cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu cho đến khi đủ tuổi để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng hoặc bảo lưu thời gian đóng BHXH để đến khi có điều kiện thì tiếp tục đóng bảo hiểm. Điều này không chỉ phụ thuộc vào tuổi đời, thời gian đóng BHXH của người lao động mà còn căn cứ vào nguyện vọng của chính bản thân họ. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Theo quy định tại Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội, người lao động quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các khoản 1,2 và 4 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 15 năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
- Ra nước ngoài để định cư.
Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.
Trường hợp người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.
Mức hưởng BHXH một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứ mỗi năm được tính như sau:
- 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2022.
- 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho những năm đóng từ năm 2022 trở đi.
Trường hợp thời gian đóng BHXH chưa đủ một năm thì mức hưởng BHXH bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Mức hưởng BHXH một lần thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này không bao gồm số tiền Nhà nước hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
2.2.2. Chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện Về đối tượng hưởng Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Tại khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2022 quy định: Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 điều này.
Nếu như đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hầu hết là người lao động tham gia lao động với hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng với thời hạn từ 3 tháng trở lên, các sĩ quan, quân nhân,…thì đối tượng tham gia bảo hiểm tự nguyện đều tự mình tham gia, không có sự ép buộc từ phía pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế của bản thân họ.
- Về điều kiện hưởng
Theo quy định tại điều 73 Luật bảo hiểm xã hội 2022, người lao động được hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau:
- Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi
- Đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên
Người lao động đã đủ điều kiện theo quy định trên nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 20 năm thì được đóng cho đến khi đủ 20 năm để hưởng lương hưu.
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được chọn một trong các phương thức đóng:
- Đóng hàng tháng;
- Đóng 3 tháng một lần;
- Đóng 6 tháng một lần;
- Đóng 12 tháng một lần;
Đóng một lần cho nhiều năm về sau nhưng không quá 5 năm 1 lần; Đóng một lần cho những năm còn thiếu đối với người tham gia BHXH đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu theo quy định nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không quá 10 năm (120 tháng) thì được đóng đủ 20 năm để hưởng lương hưu.
- Về mức hưởng lương hưu
Trước ngày 01 tháng 01 năm 2026, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện được quy định tại Điều 73 Luật bảo hiểm xã hội 2022 được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH quy định tại Điều 79 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng BHXH; sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 73 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội như sau:
Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2026 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
- Lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2026 trở đi là 15 năm
- Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2%, mức tối đa bằng 75%.
Về cơ bản có thể thấy, mức hưởng lương hưu của loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện là có điểm tương đồng với nhau.
- Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần
Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đã đóng BHXH của toàn bộ thời gian đóng. Thu nhập tháng đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH được điều chỉnh như sau:
Thu nhập tháng đã đóng BHXH sau điều chỉnh của từng năm bằng thu nhập tháng đã đóng BHXH của từng năm nhân với mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH của năm tương ứng.
Mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH được tính trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm.
- Trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu
Về điều kiện để được hưởng trợ cấp một lần trước khi nghỉ hưu, có thể thấy tại Điều 58 và Điều 75 Luật Bảo hiểm xã hội 2022 quy định là hoàn toàn giống nhau.
- Bảo hiểm xã hội một lần
Theo quy định tại Điều 77 Luật bảo hiểm xã hội 2022 và điều 7 Nghị định 134/2023/NĐ-CP: Người lao động quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
Đủ điều kiện về tuổi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 73 của Luật này nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH mà không tiếp tục tham gia BHXH;
- Ra nước ngoài để định cư
Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế.
Về mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần, quy định tương tự như đối với bảo hiểm xã hội một lần trong loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc.
2.3. Thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
2.3.1. Những kết quả đạt được
Về số liệu cụ thể, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là 13,16 triệu người, bảo hiểm thất nghiệp là 11,24 triệu người; bảo hiểm xã hội tự nguyện là 240000 người, bảo hiểm y tế là 76,39 triệu người vào thời điểm quý 02 năm 2025. Và cho tới cuối năm 2025, con số này đã có sự tăng lên, cả nước có 13,52 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện là 291000 người. Từ năm đầu tiên thực hiện Luật BHXH là năm 2015, số người tham gia BHXH bắt buộc là hơn 7 triệu người, đến năm 2020 là 10,4 triệu người và hiện tại là 13,52 triệu người, từ những con số trên có thể thấy, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội đã tăng lên đáng kể, và tăng hơn 1 triệu người so với năm 2024. Những số liệu về số người đóng bảo hiểm xã hội ở các tỉnh thành cụ thể trên cả nước cũng có dấu hiệu tăng lên theo từng năm [24].
Trong năm 2025, toàn ngành BHXH đã thu 289,349 tỷ đồng, trong đó, thu BHXH là 194,943 tỷ đồng, số tiền nợ BHXH là 5737 tỷ đồng, chiếm 3,0% số kế hoạch thu BHXH do Thủ tướng Chính phủ giao, giảm 0,8% so với năm 2024 [25].
Có sự phân cấp rõ ràng trong hệ thống Bảo hiểm xã hội. Điều này được thể hiện rõ ràng qua việc thực hiện chế độ hưu trí trên địa bàn các tỉnh thành ở Việt Nam. Sự phân cấp chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội từ bảo hiểm xã hội tỉnh, huyện đến đại diện chi trả, đơn vị sử dụng lao động đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và phục vụ tốt đối tượng tham gia BHXH. Trong những năm qua, bảo hiểm xã hội ở các tỉnh thành luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Sở, Ban, Ngành, đoàn thể, các cơ quan thông tin, truyền thông, các đơn vị sử dụng lao động, các cơ sở y tế trên địa bàn trong vấn đề triển khai nhiệm vụ. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Hiện nay, việc lĩnh chế độ BHXH hàng tháng bằng tiền mặt chuyển sang lĩnh bằng thẻ ATM và ngược lại đang ngày càng phát triển rộng rãi hơn, điều này cũng tạo điều kiện để người được hưởng lương hưu lựa chọn phương pháp nhận lương phù hợp và nhanh chóng. Căn cứ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2022/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2022; quyết định số 828/QĐ-BHXH ngày 27/05/2024 của BHXH Việt Nam Ban hành Quy định quản lý chi trả các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp; Quyết định số 636/QĐ-BHXH ngày 22/04/2024 của BHXH Việt Nam về việc ban hành Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, người hưởng chế độ BHXH hàng tháng thực hiện việc nộp hồ sơ tại cơ quan BHXH quận, huyện và tự do lựa chọn Ngân hàng của Việt Nam thuận lợi nhất trong địa bàn cơ quan BHXH quản lý và mở tài khoản là có thể áp dụng phương pháp này.
Công nghệ thông tin được đưa vào ứng dụng vào các hoạt động nghiệp vụ của ngành. Đặc thù của BHXH là cần lưu trữ khối lượng thông tin lớn, phức tạp và lâu dài, phạm vi quản lý rộng, bao quát nhiều ngành nghề, do đó việc ứng dụng công nghệ thông tin được coi là yêu cầu bức thiết. BHXH cũng đã in, đổi thẻ BHYT co người tham gia BHYT đã đồng bộ theo mã số BHXH. Ngoài ra, các tỉnh thành cũng đang triển khai và hoàn thiện ứng dụng phần mềm có lắp đặt camera giám sát trong công tác tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa. Đến nay, việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ bằng phần mềm đã dần đi vào ổn định, đáp ứng được việc luân chuyển hồ sơ liên thông giữa các phòng nghiệp vụ và giữa bảo hiểm xã hội thành phố với bảo hiểm xã hội huyện. Việc ứng dụng hiệu quả phần mềm này là một bước tiến trong công tác cải cách thủ tục hành chính, xác định rõ trách nhiệm của công chức viên chức thụ lý và xử lý hồ sơ, hạn chế được tình trạng trả chậm, muộn hồ sơ, tiết kiệm thời gian, tạo thuận lợi nhất cho các đối tượng tham gia và thụ hưởng bảo hiểm xã hội.
Cuối cùng, Nghị quyết 49/2025/QH14 được thông qua vào ngày 13/11/2025 quy định về việc điều chỉnh tăng lương cơ sở từ 1.300.000 đồng/tháng lên 1.390.000 đồng/tháng; điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH, trợ cấp hàng tháng theo quy định (đối tượng do ngân sách nhà nước đảm bảo) và trợ cấp ưu đãi người có công tăng bằng mức tương lương cơ sở. Nghị quyết trên sẽ chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2026. Trong thời điểm hiện tại, tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam đang tăng nhanh, dẫn đến tình trạng mất cân đối trong các chính sách và quỹ bảo hiểm xã hội, việc tăng lương cơ sở cũng sẽ tạo thêm nguồn thu nhập đồng thời cho người lao động và làm tăng nguồn lương hưu cho người đã về hưu.
- Nguyên nhân của những kết quả đạt được Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Thứ nhất, trong những thành tựu đạt được, việc đưa chương BHXH trong Bộ luật Lao động tách thành Luật BHXH vào năm 2014 có một vai trò rất lớn. Việc tách riêng Luật BHXH đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với những vấn đề an sinh xã hội, trong đó quy định thêm chế độ bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm hưu trí tự nguyện, nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội không chỉ có người sử dụng lao động, ngân sách Nhà nước mà còn gồm cả người lao động. Luật BHXH năm 2014 đã khắc phục được những vướng mắc, bất cập cơ bản của các văn bản trước đó về vấn đề bảo hiểm xã hội nói chung, trong đó có bảo hiểm hưu trí.
Thứ hai, các chính sách về tiền lương được Chính phủ đặc biệt quan tâm, cải thiện, mức lương cơ sở tăng lên đồng thời với việc tăng mức hưởng lương hưu ngoài quá trình lao động và làm tăng thu cho quỹ bảo hiểm hưu trí. Các văn bản dưới luật được quy định khá đầy đủ, kịp thời tạo điều kiện tối ưu cho việc thực hiện chế độ hưu trí. Cụ thể tại mục 4 quy định về chế độ hưu trí, hầu hết các điều khoản như Điều 54 về điều kiện hưởng lương hưu, Điều 55 về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động, Điều 56 về mức lương hưu hằng tháng, Điều 57 về điều chỉnh lương hưu, Điều 59 về thời điểm hưởng lương hưu,…và các điều khoản khác đều có các hướng dẫn cụ thể bởi Thông tư, Nghị định. Có thể thấy, vấn đề quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu trí nói riêng đang rất được quan tâm. Điều này dẫn đến những thành tựu về chế độ hưu trí đã nêu ở trên.
Thứ ba, bên cạnh việc ban hành các văn bản pháp luật, thì vấn đề thực thi cũng đã được thực hiện ngày một tốt hơn. Các văn bản hướng dẫn thi hành thực hiện chế độ hưu trí đều được nghiên cứu chặt chẽ và triển khai cụ thể trong từng khâu trong công tác thu, xét duyệt hồ sơ hưởng, quản lý đối tượng hưởng và chi trả chế độ hưu trí. Nhờ có sự phối kết hợp giữa các Bộ, ban, ngành liên quan cùng các đơn vị sử dụng lao động, khiến cho các bước, các khâu thực hiện bảo hiểm xã hội chất lượng và có hiệu quả cao hơn.
Thứ tư, khi nhìn vào các số liệu được nêu, có thể thấy vấn đề chế độ hưu trí đang được quan tâm và thực hiện ngày một tốt hơn trong những năm gần đây. Và để có được những bước thành công đó, không thể không kể đến một trong những nguyên nhân quan trọng và cốt lõi, đó chính là công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội tại các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động. Điều này giúp làm tăng sự hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và của người lao động. Khi biết được các quyền của mình, người lao động mới dễ dàng sử dụng quyền một cách đầy đủ và tối ưu nhất, hạn chế được tình trạng vì thiếu hiểu biết mà làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng được hưởng của bản thân. Công tác tuyên truyền có thể kể đến thông qua các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng rộng rãi, đặc biệt là trên báo, đài, thông tin điện tử,…
2.3.2. Những hạn chế trong việc thực hiện chế độ hưu trí Về quy định pháp luật Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Thứ nhất, tốc độ già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay đang tăng nhanh, từ năm 2019 dân số Việt Nam đã bắt đầu già khi tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm 7% tổng dân số. Theo dự báo của Liên Hợp quốc (LHQ), đến năm 2030, tỷ lệ dân số trên 65 tuổi của Việt Nam sẽ vào khoảng 12,9% và năm 2050 là 23%. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến quỹ BHXH, do tỷ số giữa số người đóng BHXH trên số người hưởng lương hưu ngày càng giảm đi, dẫn đến nguồn thu của quỹ BHXH có xu hướng giảm và nguồn chi có xu hướng tăng. Khi đó, khả năng chi trả và an toàn của quỹ sẽ mất cân đối, nếu không có sự điều chỉnh kịp thời về chính sách hoặc sự hỗ trợ của Nhà nước [27]
Thứ hai, cùng với vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam, có thể thấy quy định về tuổi đời hưởng lương hưu còn khá nhiều bất cập. Hiện nay, có khoảng 60% người nghỉ hưu trước tuổi quy định, trong đó phần lớn nghỉ hưu do suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên. Điều này cho thấy, tuổi nghỉ hưu được quy định trong pháp luật hiện hành và tuổi nghỉ hưu thực tế còn chênh lệch khá nhiều. Tuổi nghỉ hưu thực tế là 54,17 tuổi, trong đó nam là 55,61 tuổi và nữ là 52,56 tuổi. Tuổi thọ của Việt Nam tăng, nhưng tuổi nghỉ hưu lại giảm dẫn đến việc mất cân đối của quỹ hưu trí. Theo dự báo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), với nền chính sách hiện hành, quỹ hưu trí đến năm 2021 thu trong năm đủ chi trong năm, để đảm bảo khả năng chi trả của quỹ phải lấy nguồn kết dư của quỹ. Đến năm 2034, quỹ hưu trí hoàn toàn cạn kiệt và mất khả năng chi trả. Đây là một dấu hiệu báo động cho chế độ hưu trí tại Việt Nam hiện nay [28].
Liên quan đến vấn đề tuổi nghỉ hưu, có rất nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề tuổi nghỉ hưu của nữ giới thấp hơn nam giới 05 năm. Trên thực tế, cùng với sự hội nhập quốc tế và sự đề cao bình đẳng giới, quãng thời gian này đã tạo nên sự thiếu công bằng và chưa hợp lý dành cho những lao động nữ muốn tiếp tục cống hiến sức lao động của mình.
Thứ ba, quy định về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả nặng lao động cũng đang thể hiện sự bất cập. Những người bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên sẽ có điều kiện hưởng lương riêng biệt so với những nhóm đối tượng khác. Về cơ bản, quy định này tạo ra những ưu đãi nhất định cho những người bị suy giảm khả năng lao động, tuy nhiên thực tế khiến cho nhiều người lao động nghỉ hưu sớm hoặc có những trường hợp người lao động sau khi đã nghỉ hưu lại tiếp tục tham gia lao động do vẫn còn sức lao động, ngoài lương hưu họ còn được hưởng lương do việc tham gia lao động của mình. Điều này cũng phần nào nhằm lộ rõ khuyết điểm của quy định pháp luật, tạo nên khe hở để người lao động lợi dụng quy định để hưởng lương hưu. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Thứ tư, chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta thực hiện theo nguyên tắc đóng – hưởng. Việc quy định mức hưởng lương hưu tối đa là 75% sẽ gây nên sự mất cân đối. Bởi một người lao động đóng bảo hiểm xã hội trong suốt 20 năm thì số tiền đóng góp của người đó cũng chỉ đủ chi lương hưu cho người đó trong khoảng 6-8 năm sau khi nghỉ hưu. Trong khi hiện nay, như đã nói ở trên, tình trạng nghỉ hưu trước tuổi quy định tăng đồng thời với tuổi thọ trung bình tăng tạo nên sức ép đối với quỹ hưu trí vì tỷ lệ hưởng lương hưu cao hơn nhiều so với mức đóng góp.
Thứ năm, việc xác định mức hưởng lương hưu hàng tháng có quy định về mức lương hưu thấp nhất bằng mức lương cơ sở tạo nên sự lạm dụng của chủ sử dụng lao động, chỉ đóng bảo hiểm xã hội ở mức tiền lương, tiền công thấp. Điều này mang lại lợi ích trước mắt cho quá trình lao động, bởi tỷ lệ đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội không cao, tuy nhiên lại gây bất lợi cho người lao động sau khi nghỉ hưu, do mức tiền lương hưu dựa trên mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.
Cuối cùng, theo quy định về mức lương hưu hàng tháng tại Điều 56 Luật bảo hiểm xã hội 2022 đã gây nhiều tranh cãi trong thời gian vừa qua. Theo đó, mứ lương hưu hàng tháng tình từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 có sự thay đổi về việc áp dụng lộ trình điều chỉnh cách tính lương hưu đối với lao động nữ trong 05 năm như sau: 15 năm đầu đóng BHXH tính bằng 45%, sau đó nếu lao động nữ nghỉ hưu từ năm 2026, 8 năm tiếp theo mỗi năm tính thêm 3%, sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa là 75%. Nếu lao động nữ nghỉ hưu năm 2019, 6 năm tiếp theo, mỗi năm tính thêm 3%, sau đó cứ mỗi năm cộng thêm 3%, sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa là 75%. Nếu lao động nữ nghỉ hưu năm 2020, 4 năm tiếp theo, mỗi năm cộng 3%, sau đó cứ mỗi năm tính thêm 2%, tối đa 75%. Nếu lao động nữa nghỉ hưu từ năm 2022 trở đi, các năm tiếp theo mỗi năm tính thêm 2%, tối đa là 75%. Theo quy định này, để đạt được tỷ lệ lương hưu ở mức tối đa là 75% thì lao động nữ nghỉ hưu trong năm 2026 phải có 26 năm đóng BHXH; nghỉ hưu trong năm 2019 phải có 27 năm; năm 2020 là 28 năm; năm 2021 là 29 năm; từ năm 2022 trở đi là 30 năm.
Nếu theo như quy định trên, để được hưởng 75% lương hưu thì lao động nữ phải đóng 30 năm BHXH trong khi vào thời điểm trước ngày 01 tháng 01 năm 2026, lao động nữ chỉ cần đóng 25 năm. Mức hưởng lương hưu mới này còn ảnh hưởng tới cả hai giới lao động do cần thêm 5 năm làm việc, người lao động mới nhận được mức lương tối đa là 75% lương bình quân trước khi nghỉ hưu. Điều này tạo nên tâm lý lo ngại cho người tham gia lao động và dẫn đến tình trạng số người nghỉ hưu trước tuổi vào năm 2025 đã cao hơn khoảng 10% so với năm 2024. Không bàn đến quy định pháp luật này đã thực sự phù hợp hay chưa, tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại khi áp dụng quy định này, lao động nữ sẽ bị thiệt thòi và mức nhiều nhất là lên đến 10% lương hưu. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
- Trong công tác thực hiện
Thứ nhất, từ việc triển khai thực hiện đến thực tế vẫn còn một số bất cập, nhất là đối với những người lao động ở vùng sâu vùng xa, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Trên thực tế còn nhiều người lao động chưa được tham gia bảo hiểm xã hội và được hưởng quyền lợi từ chế độ hưu trí.
Thứ hai, mặc dù hiện nay, tỉ lệ tham gia bảo hiểm xã hội đã tăng nhưng vẫn còn thấp, số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng chiếm một số lượng không nhiều so với tỉ lệ người tham gia lao động.
Thứ ba, việc quản lý đối tượng chưa chặt chẽ, chủ yếu là đối tượng thuộc nguồn NSNN đảm bảo, công tác tạm trú tạm vắng của các xã, thị trấn thực hiện chưa đồng bộ, hiện tượng cắt giảm đối tượng chết, hết hạn hưởng chậm làm cho công tác chi trả thiếu chính xác, mất thời gian thu hồi khi phát hiển chi trả sai hoặc làm thất thoát quỹ.
Thứ tư, công tác thực hiện khó khăn ở một số tỉnh thành trên phạm vi cả nước do còn lạc hậu, trình độ phát triển kinh tế chưa cao. Điều này dẫn đến công tác quản lý các đối tượng hưởng lương hưu hàng tháng còn gặp khó khăn do một số đối tượng sinh sống ở các địa bàn các xã vùng sâu vùng xa, gây ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tăng giảm các đối tượng, lập và in danh sách chi trả.
Thứ năm, tình trạng nợ đọng quỹ bảo hiểm xã hội vẫn còn tồn tại ở nhiều thành phố. Đây cũng được coi là một khó khăn trong công tác thu, ảnh hưởng đến tiên độ thu và thực hiện chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội trong cả nước nói chung.
- Nguyên nhân của hạn chế
Một là, như những bất cập nêu ở trên, có thể thấy quỹ bảo hiểm xã hội chưa bảo đảm cân đối dài hạn. Nguyên nhân của tình trạng này là do các quy định về quyền lợi hưởng và trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội của người lao động chưa hợp lý. Pháp luật quy định về tuổi nghỉ hưu là nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi, song do thực hiện một số chính sách xã hội như tinh giảm biên chế, giảm tuổi nghỉ hưu cho một số đối tượng lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, nơi có nhiều khó khăn; sắp xếp tổ chức trong khu vực hành chính sự nghiệp, sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước đã làm giảm nguồn thu và tăng chi trả từ quỹ BHXH.
Hai là, một trong những nguyên nhân quan trọng không thể không nhắc tới, đó chính là yếu tố nhận thức của người lao động. Nhiều người lao động đã không quan tâm tới Luật pháp và những quy định của Nhà nước, mặc dù những quy định đó có liên quan trực tiếp tới quyền lợi của họ. Điều này gây khó khăn cho cơ quan BHXH khi giải thích, hướng dẫn thủ tục hồ sở để hưởng lương hưu, BHXH 1 lần cho người lao động. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
Ba là, việc sửa đổi và bổ sung, ban hành các văn bản pháp luật thường xuyên cũng gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Điều này gây cản trở đặc biệt đến người lao động khi họ không biết xác định các văn bản đó còn hiệu lực hay không. Đồng thời, sự tràn lan các thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo đài cũng phần nào gây tâm lý hoang mang cho người sử dụng lao động và người lao động khi họ không biết nên sử dụng nguồn tin nào.
Bốn là, số lượng người được hưởng chế độ hưu trí ngày càng đông, cùng với sự thay đổi các quy định của pháp luật trong thời gian gần đây nên khối lượng công việc nhiều trong khi số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn không cao, đặc biệt là các vùng kinh tế còn kém phát triển. Vấn đề này sẽ gây ra sự chậm trễ trong công tác xét duyệt và chi trả cho các đối tượng.
Năm là, tình trạng trốn đóng, nợ đọng của một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chưa có tiền đóng bảo hiểm xã hội, hoặc đã thu bảo hiểm xã hội của người lao động nhưng đã sử dụng số tiền đó vào mục đích khác. Ngoài ra, việc tăng mức đóng bảo hiểm cũng khiến nhiều đơn vị sử dụng lao động gặp nhiều khó khăn, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, có ít vốn đầu tư. Khóa luận: Thực trạng pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luận về chế độ hưu trí ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội