Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Cảng Nam Hải dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Tình hình sản lượng hàng hóa qua Cảng Nam Hải năm 2013-2014. Thống kê sản lượng xếp dỡ Container

Nhận xét:

Qua bảng trên cho ta thấy trong 2 năm vừa qua công ty có nhiều sự thay đổi trong phương án tác nghiệp, sản lượng năm sau tăng so với năm trước, nguyên nhân của sự biến động này có thể do sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường và sự phát triển không ngừng của các cảng trong khu vực. Cụ thể, năm 2014 tổng sản lượng tăng từ 355.210 teus lên 429.982 teus, cụ thể tăng 74.772 teus, tương ứng với 21,05%. Với sự thay đổi đó đã làm cho doanh thu tăng 24,83% và lợi nhuận cũng tăng lên 25,26% so với năm trước, do đó Doanh Nghiệp cần phải phát huy hơn nữa.

Mặt hàng container là một trong những mặt hàng chính của Cảng, nó mang lại doanh thu lớn nhất trong các mặt hàng mà Cảng phục vụ trong đó xí nghiệp xếp dỡ Nam Hải Đình Vũ là xí nghiệp chuyên xếp dỡ hàng container.

3.2 Phân tích khái quát tình hình hoạt động SXKD của DN năm 2013-2014. Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

3.2.1 Phân tích khái quát bảng báo cáo kết quả hoạt động SXKD.

Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2013-2014 của Cảng Nam Hải ta thấy, lợi nhuận sau thuế năm 2014 tăng so với năm 2013 cụ thể là tăng từ 98.692.237.307 VND lên đến 123.625.645.480 VND tức là tăng24.933408.173VNĐtương ứng với tỷ lệ là 25,26%đã cho ta thấy được năm 2014hiệu quả sản xuất của DN tốt hơn năm trước, điều này cũng phản ánh được 1 phần sự thành công và phát triển của cảng.

Doanh thu bán hàng và cung cấp DV năm 2014 tăng so với năm 2013 cụ thể là tăng từ 293.992.483.188 VND lên 366.991.006.462 VND tức là tăng 24,8% ứng với 72.998.523.274 VND.

Giá vốn bán hàng trong năm 2013 là 162.525.872.797 VND đã tăng lên 195.551.073.482 VNDtức là tăng 33.025.200.685 VNĐtương ứng với tỷ lệ là 20,32%do sản lượng tăng và chi phí đầu vào nguyên vật liệu tăng. Như vậy tốc độ tăng của doanh thu tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của giá vốn, nghĩa là việc kinh doanh của cảng trong năm 2014 đạt hiệu quả, chính vì vậy lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2014 tăng 38.588.597.243 VNĐtương ứng 29,67% so với năm 2013

Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế tăng 24.933408.173VNĐtương ứng với 25,26% đã làm cho lợi nhuận sau thuế tăng 25,26%

Có thể coi năm 2014 là một năm đầy thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cảng Nam Hải do sự phục hồi nền kinh tế và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Quản Trị Doanh Nghiệp

3.2.1 Phân tích khái quát bảng cân đối kế toán Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

Nhận xét:

Tổng tài sản:

Tổng tài sản năm 2104 tăng thêm 34.840.863.887VND tương ứng với 10,53% so với năm 2013, do công ty đã huy động thêm vốn, tăng cường đầu tư mở rộng quy mô sản xuất. Tổng tài sản của công ty tăng là do những nguyên nhân sau:

  • Do sự gia tăng của tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn của công ty tăng 6.867.476.187VND tương ứng với 3,88% so với năm 2013. Trong đó:
  • Tiền và các khoản tương đương tiền tăng 14.667.844.426VND tương ứng với 17,85%
  • Tài sản ngắn hạn khác tăng 2.192.369.881VND tương ứng với 3.57%
  • Do sự gia tăng mạnh mẽ của tài sản dài hạn: tài sản dài hạn tăng 2.793.7387.700VND tương ứng với 18,2% so với năm 2013. Trong đó:

Các khoản phải thu dài hạn, tăng 40.000.000.000 VND tương ứng với 1333,33%

Tài sản dài hạn khác tăng 2 081 504 584VND tương ứng với 15171,69%

Như vậy, trong năm 2014 tổng tài sản của công ty tăng so với năm 2013, trong đó sự gia tăng của TSNH chiếm 19,73%, TSDH chiếm 80,27% trong tổng số 34.804.863.887VND tổng tài sản tăng thêm.

Nguyên nhân chủ yếu là do sự tăng lên của các khoản phải thu dài hạn và tài sản dài hạn khác. Các khoản phải thu thực chất là đồng vốn mà DN bị đối tác chiếm dụng, vì thế về nguyên tắc quy mô các khoản phải thu càng nhỏ càng tốt, quy mô các khoản phải thu của Cảng tăng lên chứng tỏ hoạt động kinh doanh của Cảng càng mở rộng.

Tổng nguồn vốn:

Tổng nguồn vốn của công ty cũng có cùng tốc độ gia tăng với tổng tài sản là 34.804.863.887VND tương ứng với 10,53% so với năm 2013. Trong đó, nợ phải trả của công ty chiếm tỷ trọng là 73,88% số lượng vốn tăng lên ( nợ phải trả/nguồn vốn. 73,88% = 25.714.802.348/ 34.804.863.887) còn lại 26,12% là sự gia tăng của phần vốn chủ sở hữu. Điều này cho thấy uy tín của công ty trên thị trường ngày càng tăng, khả năng huy động vốn ngày càng lớn, tuy nhiên với cơ cấu vốn như vậy đòi hỏi công ty phải chú trọng đến vẫn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hệ số nợ cao cũng đồng nghĩa với áp lực về tài chính của DN là không nhỏ. Vì vậy trong quá trình hoạt động Công ty phải đưa ra các giải pháp quản lý và sử dụng vốn một cách hợp lý để có đucợ hiệu quả cao nhất.

3.3. Phân tích hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

3.3.1. Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí

Chi phí là một phạm trù kinh tế quan trọng gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa. Đó là những hao phí lao đọng xã hội thể hiện bằng tiền trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chi phí của doanh nghiệp là tất cả những chi phí gắn liền với doanh nghiệp trong quá trình hình thành, tồn tại và hoạt động từ khâu mua nguyên vật liệu, tạo ra sản phẩm cho đến khi tiêu thụ sản phẩm.

Chi phí hoạt động kinh doanh bao gồm tất cả chi phí có liên quan đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí giá vốn hàng bán, chi phí hoạt động tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Bảng các chỉ tiêu chi phí

Nhận xét:

Dựa vào bảng trên ta có thể thấy:

  • Giá vốn hàng bán của DN năm 2013 là 162.525.872.797 VND đã tăng lên 195.551.073.482 VNDtức là tăng 330.252.200.685 VNĐ tương ứng với tỷ lệ là 20,3%. Giá vốn hàng bán tăng là do những nguyên nhân sau: + Chi phí nguyên vật liệu đầu vào trong kỳ tăng.
  • Sản lượng đầu ra tăng lên.
  • Lương của các cán bộ công nhân viên tăng.
  • Tuy giá vốn bán hàng tăng nhưng DN cũng đã cố gắng giảm đi chi phí tài chính từ 14.493.486.112 VND năm 2013 xuống còn 10.291.465.763 VND năm 2014, tức là giảm 4.202.020.349 VNDtương ứng với tỷ lệ là 28,99%. Điều này chứng tỏ trong kỳ DN đã có những biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí. Do đó, DN cần phát huy hơn nữa trong kỳ tới.
  • Tuy nhiên, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2014 tăng so với năm 2013. Cụ thể chi phí bán hàng tăng 2.496.115.340 VNĐtương ứng với tỷ lệ là 755,76%và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng1.456.684.375 VNĐtương ứng với tỷ lệ là 84,09%. Đây là con số tương đối lớn.Chính vì vậy DN cần phải có những biện pháp cụ thể để giảm thiểu chi phí phát sinh hơn nữa.
  • Tổng doanh thu của DN năm 2014 tăng70.491.556.626VNĐtương ứng với tỷ lệ là 23,97%so với năm 2013. Hiệu suất sử dụng chi phí của DN tăng từ 1,5 lên 1,51. Như vậy, với doanh thu thu được và chi phí bỏ ra của doanh nghiệp thì hiệu suất sử dụng chi phí của doanh nghiệp đã tăng lên 0,01 tức là năm 2013 cứ 1 đồng chi phí doanh nghiệp bỏ vào hoạt động sản xuất kinh koanh thì thu về 1,5 đồng doanh thu, và sang năm 2014 tăng lên là 1,51 đồng.
  • Lợi nhuận sau thuế năm 2014 tăng 24.933.408.173 VNĐtương ứng với tỷ lệ là 25,26%so với năm 2013. Điều này chứng tỏ hoạt động kinh doanh của DN rất tốt. Đây chính là nguyên nhân làm cho hiệu quả sử dụng chi phí của doanh nghiệp năm 2014 cao hơn năm 2013. Cụ thể năm 2013 cứ 1 đồng chi phí bỏ vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì thu về 0,5 đồng lợi nhuận, và sang năm 2014 thì tăng lên 0,51 đồng.

Như vậy cả hiệu suất sử dụng chi phí và hiệu quả chi phí của doanh nghiệp năm 2014 đều tăng so với năm 2013, điều này chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp cần phát huy trong kỳ kinh doanh tới.

3.3.2. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định. Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

Nhận xét:

Qua bảng chỉ tiêu ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản cố định năm 2013 là 1,94 và năm 2014 là 2,67 như vậy hiệu suất sử dụng TSCĐ năm 2014 đã tăng 0,73 so với năm 2013. Có nghĩa là nếu năm 2013 cứ bỏ 100 đồng TSCĐ vào sản xuất kinh doanh thì thu về 194 đồng doanh thu, tương tự năm 2014 cũng bỏ ra 100 đồng TSCĐ thì thu về được 267 đồng doanh thu. Mặc dù trong năm 2014 DN đầu tư về mặt TSCĐ ít hơn năm 2013 nhưng về mặt hiệu suất của DN vẫn tăng. Đây là kết quả đáng mừng cho doanh nghiệp trong việc tận dụng hiệu suất của TSCĐ.

Hiệu quả sử dụng TSCĐ của năm 2014 tăng 0,25 so với năm 2013. Có nghĩa là năm 2014 doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng TSCĐ thì thu về được 90 đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 25 đồng so với năm 2013..Nguyên nhân là do lợi nhuận sau thuế tăng lên 25,26% nên hiệu quả sử dụng TSCĐ cũng tăng theo. Trên thực tế, Công ty vẫn tiếp tục đầu tư tài sản cố định qua các năm, nhưng mức độ đầu tư tài sản cố định năm 2014 không lớn, và do khấu hao tài sản cố định tăng lên nên xét cả về tuyệt đối và tương đối, tài sản cố định của Công ty giảm.

3.3.3. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động.

Qua bảng chỉ tiêu ta thấy hiệu suất sử dụng tài sản lưu động năm 2013 là 1,65 và năm 2014 là 1,98 như vậy hiệu suất sử dụng TSLĐ năm 2014 đã tăng 0,33 lần so với năm 2013. Có nghĩa là nếu năm 2013 cứ bỏ 100 đồng TSLĐ vào sản xuất kinh doanh thì thu về 165 đồng doanh thu, tương tự năm 2014 cũng bỏ ra 100 đồng TSLĐ thì thu về được 198 đồng doanh thu. Tỷ lệ tăng doanh thu cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ tăng TSLĐ. Đây là kết quả đáng mừng cho doanh nghiệp trong việc tận dụng hiệu suất của TSLĐ.

Hiệu quả sử dụng TSLĐ của năm 2014 tăng 0,11 so với năm 2013. Có nghĩa là năm 2014 doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng TSLĐ thì thu về được 67 đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 11 đồng so với năm 2013. Nguyên nhân là do lợi nhuận sau thuế tăng lên 25,26% , tốc độ tăng của lợi sau thuế tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của TSLĐ nên hiệu quả sử dụng TSLĐ cũng tăng theo, do đó DN cần phải phát huy hơn nữa trong thời gian tới.Có thể thấy hiệu quả sử dụng TSCĐ và TSLĐ của doanh nghiệp trong năm 2014 đều tăng, doanh nghiệp cần phải có kế hoạch tốt để phát huy hơn nữa để tương xứng với những gì DN đã đầu tư.

3.3.4. Phân tích hiệu quả sử dụng tổng tài sản. Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

Qua bảng chỉ tiêu ta thấy hiệu suất sử dụng tổng tài sản năm 2013 là 0,89 và năm 2014 là 0,99 như vậy hiệu suất sử dụng tổng tài sản năm 2014 đã tăng 0,1 so với năm 2013. Có nghĩa là nếu năm 2013 cứ bỏ 100 đồng tổng tài sản vào sản xuất kinh doanh thì thu về 89 đồng doanh thu, tương tự năm 2014 cũng bỏ ra đồng tổng tài sản thì thu về được 99 đồng doanh thu. Tỷ lệ tăng doanh thu cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ tăng tổng tài sản. Đây là kết quả đáng mừng cho doanh nghiệp trong việc tận dụng hiệu suất của tổng tài sản.

Hiệu quả sử dụng tổng tài sản của năm 2014 tăng 0,09 so với năm 2013. Có nghĩa là năm 2014 doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng tổng tài sản thì thu về được đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 9 đồng so với năm 2013. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của lợi nhuận tăng nhanh gần gấp 3 lần so với tốc độ tăng của tổng tài sản, nên hiệu quả sử dụng tổng tài sản cũng tăng theo, do đó DN cần phải phát huy hơn nữa trong thời gian tới để có thể phát triển 1 cách tối ưu.

3.3.5 Phân tích hiệu quả sử dụng lao động.

Nhìn vào bảng trên ta thấy số lượng công nhân viên của doanh nghiệp không thay đổi nhiều. Bên cạnh đó ta có thể thấy hiệu suất sử dụng lao động của Cảng tăng từ 680.474.798,040 VND (năm 2013) lên 838.160.275,510 VND (năm 2014), tức là tăng 157.685.477,470 VND. Điều này chứng tỏ Cảng đã chú trọng nâng cao trình độ tay nghề của công nhân viên làm cho năng lực của công nhân viên ngày một tăng lên, đây là một chính sách đúng đắn của Cảng, cần tiếp tục phát huy trong thời gian tới.

Hiệu suất sử dụng lao động của Cảng là rất tốt và trong năm qua mức sinh lời của 1 lao động cũng tăng theo, cụ thể: Mức sinh lời của 1 lao động trong năm 2013 là 229.516.830,950 VND, tăng 54.680.055,210 VND so với năm 2013, nguyên nhân là do lợi nhuận sau thuế trong năm qua của Cảng tăng lên trong khi số công nhân viên của Cảng hầu như không thay đổi nhiều.

3.4. Phân tích tài chính. Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

3.4.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính tại cảng Nam Hải

Qua bảng trên ta có thể thấy vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp năm 2014 là 220.603.081.111VNĐ tăng lên 9.090.061.540 VNĐ so với năm 2013 tức là tăng 4,3%. Nhưng tốc độ tăng của nguồn vốn lại nhanh hơn so với tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu. cụ thể tổng nguồn vốn của doanh nghiệp đã tăng lên 34.840.863.887VNĐ tương ứng với tỷ lệ là 10,53%. Do vậy đã làm cho hệ số tài trợ đã giảm từ 0,64 xuống còn 0,6 ( giảm 0,04 tương đương với 5,63%). Từ đó ta có thể thấy được khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp đã giảm đi một phần tương đối và số vốn chiếm dụng để hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên đáng kể.

Tổng nợ của DN năm 2014 tăng 34.804.863.887 VND tương ứng với 21,61% trong khi tổng tài sản của DN tăng 34.804.863.887 tương ứng với 10,53%. Như vậy tốc độ tăng của tổng nợ tăng nhanh gấp đôi so với tốc độ tăng của tổng tài sản. Năm 2014 muốn sử dụng 100 đồng vốn thì công ty phải vay nợ bên ngoài 40 đồng, hệ số này tăng lên 0.1 % so với năm 2013. DN mở rộng quy mô hoạt động tuy nhiên thì tình hình tài chính ngày càng phụ thuộc vào bên ngoài, mặc dù vậy nhưng hệ số này vẫn ở mức thấp nên chưa đáng lo ngại.

3.4.2 Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

Qua bảng hệ số thanh toán ta thấy tất cả các chỉ số về khả năng thanh toán của Cảng trong 2 năm 2013 và 2014 đều lớn hơn 1, chứng tỏ khả năng thanh toán của Cảng là rất tốt. Cụ thể:

  • Năm 2013 cứ 1 đồng đi vay thì có 2,78 đồng tài sản đảm bảo và đến năm 2014 tỷ lệ này giảm đi, cứ 1 đồng đi vay thì chỉ còn 2,52 đồng tài sản đảm bảo. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã tận dụng tốt cơ hội chiếm dụng vốn và hệ số đảm bảo nợ như vậy là hợp lý.
  • Khả năng thanh toán tạm thời của Cảngnăm 2013 cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì có 3,17 đồng vốn lưu động đảm bảo, sang năm 2014 thì hệ số này đã giảm đi 39% tức là cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thi có 1,94 đồng vốn lưu động đảm bảo, tức là giảm 1,23 đồng.
  • Hệ số khả năng thanh toán nhanhcho thấy khả năng đáp ứng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạncủa Cảng năm 2014 giảm so với năm 2013, cụ thể giảm 0.54 đồng tương đương với 35%. Tuy nhiên DN không gặp khó khăn nếu cần phải thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn vì hệ số này đều lớn hơn 1.
  • Hệ số thanh toán lãi vay năm sau lại tăng so với năm trước. Nói cách khác, năm 2013 thu nhập của doanh nghiệp cao gấp 9.43 lần so với chi phí trả lãi và đến năm 2014 con số này tăng lên là 13,24 lần,tăng 40%. Nguyên nhân là do lợi nhuận trước thuế năm 2014 tăng so với năm 2013, cụ thể tăng 25,26%, tăng 24.933.408.173 VND và do lãi vay phải trả trong kỳ của năm 2014 ít hơn so với năm 2013.

3.4.3 Đánh giá khả năng hoạt động Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

Nhận xét:

Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân:

Năm 2014 vòng quay các khoản phải thu là 15,56 vòng/năm trong khi đó năm 2013 là 10,3 vòng/năm như vậy số vòng quay đã tăng lên 5,26 vòng tương ứng với tỷ lệ tăng 51,03% vì thế làm cho kỳ thu tiền bình quân giảm từ 34,94 ngày/vòng xuống còn 23,13 ngày/vòng tức là giảm đi 11,8 ngày, các khoản phải thu của năm 2014 giảm 4.992.738.120 VND tương ứng với 17,58% so với năm 2013.Số vòng quay tăng lên chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp nhanh hơn, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao hơn, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất.

Vòng quay toàn bộ vốn :

Ta thấy, số vòng quay toàn bộ vốn tăng lên, năm 2013 vòng quay toàn bộ vốn của doanh nghiệp là 0,89 vòng, sang năm 2014 đã tăng lên 0,99 vòng, tăng 0,1 vòng, tương ứng với tỷ lệ tăng 11,23%, do tốc độ tăng của doanh thu thuần lớn hơn tốc độ tăng của tổng vốn, cụ thể : năm 2014 tốc độ tăng doanh thu thuần là 24,47% so với năm 2013 (từ 292.604.163.156 VNĐ lên 364.217.961.084VNĐ) trong khi đó tốc độ tăng của tổng vốn là 10,53%(từ 330.507.568.540VNĐ lên 365.312.432.427VNĐ). Đây là biểu hiện tốt chứng tỏ trong năm 2014 DN đã sử dụng nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn, tạo điều kiện để công ty phát triển trong thời gian tới. Do đó công ty cần phát huy hơn nữa.

Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn :

Năm 2013 nếu doanh nghiệp bỏ ra 100 đồng vốn cố định vào sản xuất kinh doanh thì thu về được 194 đồng doanh thu thuần sang năm 2014 thì cũng với 100 đồng vốn cố định bỏ ra thì doanh thu thuần mà doanh nghiệp thu là 267 đồng tức là đã tăng lên 73 đồng đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 37,97%, nguyên nhân là do tỷ lệ của doanh thu thuần tăng lên, còn tỷ lệ của vốn cố định lại giảm, cụ thể: năm 2014 doanh thu thuần tăng 71.613.797.928 VNĐ (từ 292.604.163.156VNĐ lên 364.217.961.084 VNĐ) tương ứng với tỷ lệ tăng 24,47% trong khi đó vốn cố định lại giảm từ 150.429.722.568 VNĐ xuống136.348.605.684 VNĐ tương ứng với tỷ lệ giảm 9,4%. Như vậy chỉ số hiệu quả sử dụng vốn năm 2014 của Cảng tương đối cao cho nên doanh nghiệp cần phải phát huy hơn nữa.

3.4.2. Đánh giá khả năng sinh lời

Qua bảng chỉ số sinh lời trên ta thấy các chỉ số sinh lời đều lớn hơn 0 và chỉ số sinh lời năm 2014 đều lớn hơn năm 2013. Cụ thể:

  • Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu của năm 2014 tăng 0,01 tương đương với 3% so với năm 2013. Nếu năm 2013 cứ bỏ 100 đồng doanh thu từ hoạt động kinh doanh thì có 33 đồng lợi nhuận sau thuế và sang đến năm 2014 thì lợi nhuận tăng thêm 1 đồng, tưc là cứ bỏ 100 đồng doanh thu thì thu về 34 đồng lợi nhuận.
  • Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản của năm 2014 tăng lên 0,04 tương đương với 13,33% so với năm 2013. Tỷ lệ tăng ít hơn một chút so với tỷ lệ tổng tài sản.
  • Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu năm 2014 lăng lên 0,09 tương đương với 20,1%. Cụ thể năm 2014 doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng vốn chủ sở hữu thì lại thu về 56 đồng lợi nhuận. Trong khi đó năm 2013 doanh nghiệp cứ bỏ ra 100 đồng vốn chủ sở hữu thì thu về được 47 đồng lợi nhuận như vậy là tăng thêm 9 đồng.

Những con số này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp tốt, các tỷ số của năm 2014 đều tăng so với năm 2013 cho thấy DN trong năm 2014 làm ăn đạt hiệu quả hơn so với năm 2013.Do vậy, Cảng cần có biện pháp để duy trì và phát huy hơn nữa. Khóa luận: Thực trạng hoạt động SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao SXKD tại Cty Cảng Nam Hải

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464