Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Công ty Cổ Phần Thương Mại – Dịch Vụ Trung Thực đến năm 2023 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2 Thực trạng kinh doanh dịch vụ logistics của Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực
2.2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam
2.2.1.1 Vị trí của Việt Nam trên bản đồ logistics thế giới
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng, nhất là sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO năm 2007, ta bắt đầu quen với các bảng xếp hạng vị thế của từng quốc gia theo nhiều tiêu chí khác nhau, chẳng hạn như Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu (do Diễn đàn kinh tế thế giới – WEF công bố) hay Báo cáo về độ hấp dẫn của các thị trường bán lẻ (do công ty tư vấn A.T Kearney công bố). Những báo cáo này, tuy chưa hẳn hoàn toàn chính xác, nhưng vẫn cho ta một bức tranh tương đối về vị thế của Việt Nam so với các nước trên thế giới theo từng tiêu chí riêng, để từ đó các nhà hoạch định chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp nhận thức rõ cơ hội và thách thức ở quy mô toàn cầu, nhằm nghiên cứu giải pháp phù hợp để ngày càng nâng cao vị thế quốc gia trên tầm thế giới. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Năm 2007, trùng hợp với thời điểm Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, lần đầu tiên Ngân hàng thế giới – WB (The World Bank) công bố báo cáo về chỉ số LPI (Logistics performance index – chỉ số năng lực logistics) của các quốc gia trên thế giới. Báo cáo mang tên “Kết nối để cạnh tranh: ngành logist ics trong nền kinh tế toàn cầu” (Connecting to compete: trade logistics in the global economy) được thực hiện bằng cách khảo sát ý kiến của những người trực tiếp tham gia vào hoạt động logistics tại hơn 150 quốc gia trên toàn thế giới theo chu kỳ 2 năm/lần. Theo nghiên cứu này, chỉ số LPI của một quốc gia được đo trên 6 tiêu chí chính hình thành nên môi trường dịch vụ logistics:
- Customs: Độ hiệu quả của quy trình thông quan (custom clearance)
- Infrastructure: Chất lượng cơ sở hạ tầng
- Shipments International: Khả năng chuyển hàng đi với giá cả cạnh tranh
- Comp etence logistics: Chất lượng dịch vụ logistics
- Tracking and tracing: Khả năng theo dõi tình trạng hàng hóa sau khi gửi
- Timeliness: Thời gian thông quan và dịch vụ
Điểm số cho chỉ số LPI là từ 1.00 đến 5.00. Dịch vụ logistics tại Việt Nam được hình thành và phát triển chậm hơn so với các nước khác trên thế giới. Đến năm 1997, định nghĩa về hoạt động logistics lần đầu tiên được đề cập đến trong Luật Thương Mại Việt Nam và phải cho đến tám năm sau Việt Nam mới có văn bản pháp luật chính thức định nghĩa và quy định về dịch vụ logistics trong Luật Thương Mại năm 2005 điều 233. Tuy nhiên, không vì lý do đó mà vị trí của Việt Nam trên bản đồ logistics thế giới không cao. Bằng chứng là qua 2 kỳ báo cáo, Việt Nam tiếp tục giữ vững vị trí 53/155 quốc gia về năng lực logistics trong năm 2009 so với báo cáo đầu tiên được N gân hàng thế giới công bố năm 2007. Điểm nổi bật là Việt Nam là một trong số 10 quốc gia cùng với Trung Quốc, Bangladesh, Congo, Ấn Độ, Philippine, Madagascar, Nam Phi, Thái lan, U ganda có chỉ số logistics ấn tượng nhất trong năm 2009 và vẫn là nước đứng đầu về LPI trong nhóm các nước thu nhập thấp trong cả hai kỳ báo cáo, thậm chí LPI của nước ta còn cao hơn cả một số quốc gia có mức thu nhập trung bình như Indonesia, Tunisia, Honduras…
Bảng 2.1 Vị trí của Việt Nam trên bảng xếp hạng năng lực logistics các quốc gia trên thế giới năm 2009
Bảng 2.2 Điểm số cụ thể cho từng tiêu chí đánh giá trong chỉ số LPI của Việt Nam năm 2009
Bảng 2.3 Bảng thể hiện chỉ số năng lực logistics của Việt Nam năm 2007 và năm 2009
Nhìn chung, qua hai năm, chỉ số về năng lực logistics quốc gia của Việt Nam đều ở mức trên trung bình (>2.5/5) ở tất cả các tiêu chí và có xu hướng cải thiện ngày càng tốt hơn, ngoại trừ tiêu chí về năng lực thông quan có giảm. Về chất lượng cơ sở hạ tầng điểm số có tăng nhưng không đáng kể từ mức 2.50 năm 2007 lên 2.56 năm 2009 và nếu xét riêng điểm số chất lượng cơ sở hạ tầng Việt Nam ở vị trí thứ 66/155, đây là một vị trí thấp so với thứ hạng 53/ 155 của chỉ số LPI. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng vấn đề cơ sở hạ tầng ở Việt Nam còn rất kém và cần phải được xem xét đầu tư, nhiều hơn nữa.
Xét về khả năng vận tải với giá cước cạnh tranh, sau 2 năm điểm số của Việt Nam không cải thiện được nhiều, khi điểm số này chỉ tăng nhẹ từ 3.00 lên 3.04 và vẫn xếp vị trí thứ 58/155 quốc gia. Điều này cũng không quá khó hiểu khi mà chất lượng cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn chưa cao dẫn đến sự gia tăng các chi phí liên quan trong quá trình vận chuy ển, điều đó tác động trực tiếp đến giá cả hay cước phí vận chuyển.
Tương tự với chất lượng cơ sở hạ tầng cũng như khả năng vận tải thì điểm số của chất lượng dịch vụ logistics cũng không có nhiều thay đổi sau hai kỳ báo cáo. Cụ thể năm 2007 điểm số cho chất lượng dịch vụ logistics là 2.80 đến năm 2009 con số này là 2.89 và chất lượng dịch vụ logistics xếp vị trí 51/155, đây là một vị trí tương đối tốt.
Có nhiều sự thay đổi tích cực trong điểm số của kỳ báo cáo thứ hai là về khả năng theo dõi hàng hóa sau khi được gửi với điểm số 3.10 ở vị trí thứ 55 so với điểm số 2.90 vào năm 2007. Sở dĩ có được điều này là do sự chú trọng đầu tư, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin tại Việt Nam trong những năm gần đây, trong các kỳ báo cáo tới chắc chắn điểm số này sẽ còn nhiều thay đổi theo hướng tích cực hơn.
Cuối cùng là điểm số của thời gian thông quan và dịch vụ đã có sự thay đổi tích cực từ 3.22 lên 3.44 sau 2 năm. Tuy nhiên, đây là một tiêu chí xem xét mà Việt Nam có vị trí rất thấp là 76/155. Điều này đòi hỏi Việt Nam cần phải thay đổi nhiều hơn nữa trong quá trình thông quan hàng hóa. Cũng thật khó để nói chính xác nguy ên nhân các nhà dịch vụ logistics đánh giá tiêu chí thông quan giảm sút so với năm 2007, tuy nhiên, những định hướng cho ngành hải quan Việt Nam cho ta niềm tin rằng chỉ số này sẽ được cải thiện đáng kể.
Vào cuối năm 2009, ngay sau khi việc Ngân hàng thế giới chính thức xác nhận Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình thì cuộc cạnh tranh về LPI trong tương lai sẽ gay gắt hơn khi Việt Nam được xếp chung với những nước láng giềng mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Land, Philippine, Indonesia…
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.2.1.2 Đặc điểm thị trường dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện nay: Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Mặc dù logistics đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới , nhưng ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, cho đến nay, thị trường logistics Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn đầu phát triển với những đặc điểm sau:
Thị trường logistics Việt Nam là m ột thị trường có quy mô không lớn nhưng đầy tiềm năng và hấp dẫn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của Việt Nam luôn ở mức cao ngay cả sau thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế. Đặc biệt, chi phí logistics so với GDP của Việt Nam còn chiếm một tỷ trọng rất cao.
Hình 2.2 Tỷ trọng chi phí logistics so với GDP của một số nước
Nền kinh tế phát triển như Mỹ là 7,7%; các nước EU là 10%; Nhật Bản là 11%, hay các nước trong khu vực như Singapore tỷ lệ chi phí logistics so với GDP là 8%; của Thái Lan là 19%, và nước láng giềng Trung Quốc là 18%. Trong khi đó chi phí logistics so với GDP của Việt Nam lại chiếm đến 25%, trong đó chủ yếu là chi phí hàng tồn kho, một tỷ lệ quá cao. Ước tính GDP năm 2009 của Việt Nam là 94,6 tỷ USD, vậy chi phí logistics khoảng 23,6 tỷ USD. Có thể thấy rằng so với các nước lớn, con số này tương đối nhỏ, nhưng với đất nước chúng ta, con số này thật sự có ý nghĩa, chỉ cần tiết kiệm được 1% chi phí logistics thì đất nước đã có con số hàng trăm triệu USD.
Hạ tầng cơ sở đóng vai trò rất quan trọng trong logistics bao gồm: Hệ thống cảng biển, sân bay, đường sắt, đường ôtô, đường sông và các công trình, trang thiết bị khác như hệ thống kho bãi, phương tiện xếp dỡ, hệ thống thông tin liên lạc… những bộ phận này có vai trò cấu thành hoạt động cung ứng dịch vụ logist ics. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở hạ tầng logistics tại Việt Nam hiện nay còn nghèo nàn, quy mô nhỏ, bố trí bất hợp lý.
Hệ thống giao thông của Việt Nam đến năm 2009 gồm trên 17,000km đường nhựa, hơn 32,00km đường sắt, 42,000km đường thủy, 266 cảng biển và 32 sân bay. Tuy nhiên, chất lượng của hệ thống này không đồng đều, có nhiều công trình không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có một số ít cảng biển có thể tham gia vào việc vận chuyển hàng hóa quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa, nhưng chưa được trang bị các thiết bị hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong việc điều hành xếp dỡ container, nên chỉ có thể tiếp nhận các tàu nhỏ. Năng suất bốc xếp bình quân của các cảng tổng hợp quốc gia chỉ đạt khoảng 2.500 tấn/m cầu tàu/năm. Cảng đạt năng suất bốc xếp cao là cảng Sài Gòn 3.500 tấn/m, còn các cảng địa phương chỉ đạt 1.000 tấn/m.
Đường hàng không hiện cũng không đủ phương tiện chở hàng vào mùa cao điểm. Các cụm cảng hàng không khu vực được hình thành trên 3 miền Bắc – Trung – Nam với 3 sân bay quốc tế: Nội Bài – Đà Nẵng – Tân Sơn Nhất là trung tâm của từng miền và hệ thống các sân bay vệ tinh cho ba sân bay quốc tế như: Miền Bắc có Cát Bi, Nà Sỏm, Mường Thanh, sân bay Vinh. Miền Trung có sân bay Phú Bài, Phú Cát, sân bay Cam Ranh (mới khôi phục lại đưa vào khai thác T5/2004 thay cho sân bay Nha Trang), sân bay Pleiku. Miền Nam có Buôn Mê Thuột, Liên Khương, Phú Quốc, Rạch Giá và Cần Thơ. Tuy nhiên, trong số đó chỉ có sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất mới có đường băng hạ – cất cánh cũng như các trang thiết bị có thể phục vụ nhu cầu chuy ên chở hàng hoá của các máy bay chở hàng lớn.
Vận tải đường bộ và đường sắt cũng còn nhiều bất cập, cụ thể Việt Nam có 256,684km đường bộ, trong đó quốc lộ 17,228km, t ỉnh lộ 23,530km, đường cấp huyện 49,823km, đường đô thị 8,492km, đường chuyên dùng 6,434km và trên 150,187km đường cấp xã. Về chất lượng, chỉ tính riêng đường quốc lộ thì chỉ có 47% là chất lượng cao và chất lượng trung bình, còn 53% là đường chất lượng thấp. Nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Đường sắt Việt Nam vẫn đang đồng thời sử dụng hai khổ đường ray khác nhau (1m và 1,435m) với tải trọng thấp. Đường sắt Việt Nam cũng chỉ mới chú trọng đến vận chuyển hành khách, vẫn còn hiện tượng tàu chạy không có hàng. Hệ thống kho bãi cũng rất thiếu về lượng và yếu về chất.
Theo thống kê ở Việt Nam hiện nay có khoảng 1.200 công ty và 25 tập đoàn hàng đầu thế giới tham gia kinh doanh lĩnh vực logistics dưới nhiều hình thức, tương ứng khoảng 18% là công ty nhà nước, 70% là công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân, số còn lại là công ty logistics do nước ngoài đầu tư vốn. Đa số các công ty Việt Nam đang hoạt động hiện nay đều có quy mô nhỏ và vừa: vốn đăng ký bình quân 1,5 tỷ đồng. Trong 4 cấp cung cấp, số đông doanh nghiệp là những nhà đầu tư nhỏ, kinh doanh manh mún mới ở cấp độ 1,2. Chỉ có một vài công ty nhà nước có quy mô lớn như: Vietrans, Vinatrans, Viconship… Sau đây là cơ sở phân chia 4 cấp độ xét về độ phát triển của các công ty hoạt động logistics:
Cấp độ 1: Các đại lý hoạt động logistics truyền thống – các công ty chỉ thuần túy cung cấp các dịch vụ do khách hàng yêu cầu. Thông thường, các dịch vụ đó là: vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ, thay mặt chủ hàng làm thủ tục hải quan, làm các chứng từ, lưu kho bãi, giao nhận. Ở cấp độ này, gần 80% các công ty kinh doanh logistics Việt Nam phải thuê lại kho và dịch vụ vận tải.
Cấp độ 2: Các công ty logistics đóng vai trò người gom hàng và cấp House B/L. Nguy ên tắc hoạt động của những người này là phải có đại lý độc quy ền tại các cảng lớn để thực hiện việc đóng hàng/nhận hàng xuất nhập khẩu. Hiện nay, khoảng 10% các công ty logistics Việt Nam có khả năng cung cấp các dịch vụ này.
Cấp độ 3: Công ty kinh doanh logistics đóng vai trò là nhà vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Organizations). Trong vai trò này, một số công ty đã phối hợp với công ty nước ngoài tại các cảng dỡ hàng bằng một hợp đồng phụ để tự động thu xếp vận tải hàng hóa tới điểm cuối cùng theo vận đơn. Tính đến nay, đã có hơn 50% các công ty logistics ở Việt Nam hoạt động như đại lý MTO nối với mạng lưới đại lý ở khắp các nước trên thế giới.
Cấp độ 4: Công ty kinh doanh các dịch vụ liên quan đến logistics. Tại thị trường Việt Nam hiện nay, đó là các tập đoàn lớn với mạng lưới toàn cầu như: Schenker, APL, TNT, NYK, Maersk logistics…
Theo nghiên cứu của Viện Nomura (Nhật Bản), các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu của t hị trường dịch vụ logistics. Phần lớn nhà kinh doanh Việt xuất khẩu hàng hóa theo điều kiện FOB. Tập quán mua CIF bán FOB dẫn đến doanh nghiệp trong nước chỉ khai thác vận tải và bảo hiểm được từ 10% đến 18% lượng hàng xuất nhập khẩu. Giai đoạn 2006-2010, mặc dù thị trường logitics phát triển nhanh, song trên 70% giá trị tạo ra lại thuộc các công ty nước ngoài.
Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ Logi stics
Do phát triển nóng nên nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistics tại Việt Nam hiện nay trở nên thiếu hụt trầm trọng. Tại các cơ sở đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng. Theo đánh giá của VIFFAS chương trình đào tạo về logist ics còn yếu và nhỏ lẻ (khoảng 15-20 tiết học trong môn vận tải và bảo hiểm ngoại thương), chủ yếu đào tạo nghiên về vận tải biển và giao nhận đường biển. Tại các trường đại học Kinh tế, trong chương trình quản trị sản xuất (operation management-OM) có trình bày sơ lược về quản trị dây chuyền cung ứng (supply chain management-SCM) và quản trị vật tư, như mộ. N ghiệp vụ logistics trong giao nhận hàng không chưa được xây dựng thành môn học, chưa có trường đại học nào đào tạo hay mở những lớp bồi dưỡng ngắn hạn. Với thời lượng môn học như vậy, bài giảng chỉ tập trung giới thiệu những công việc trong giao nhận, quy trình và các thao tác thực hiện qua các công đoạn. Chương trình tương đối lạc hậu, giảng dạy theo nghiệp vụ giao nhận truyền thống là chủ yếu. Các kỹ thuật giao nhận hiện đại ít được cập nhật hóa như vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị dây chuyền chuỗi cung ứng, các khái niệm mới như “one stop shopping”, Just in time (JIT-Kanban)… Tính thực tiễn của chương trình giảng dạy không cao, làm cho người học chưa thấy hết vai trò và sự đóng góp của logist ics, giao nhận vận tải trong nền kinh tế. Trong thời gian qua VIFFAS đã và đang kết hợp với các hiệp hội giao nhận các nước ASEAN, các chương trình của Bộ Giao thông vận tải, tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ giao nhận, gom hàng đường biển. Hiện nay, chương trình này vẫn không tiến triển do tính không chính thức, số lượng người tham gia hạn chế, chỉ mang tính nội bộ và chưa có tổ chức bài bản trong chương trình đào tạo của hiệp hội. Hiện nay, mỗi năm VIFFAS tổ chức đư ợc 1-2 khóa nghiệp vụ, quy mô này là chưa tương xứng với nhu cầu hiện tại và tương lai của các hội viên và ngoài hội viên. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Môi trường pháp l ý
Ngày nay, hoạt động của các doanh nghiệp hiện đại đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ và chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho họ trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Các quy định về thương mại, giao nhận, vận tải, hải quan… đều phải được hệ thống hoá bằng pháp luật. Nếu không có hoặc không rõ ràng trong hệ thống pháp luật, các hoạt động của doanh nghiệp khó đạt được hiệu quả như mong muốn.
Chỉ trong một thời gian ngắn, một loạt các hoạt động trong xã hội đã được thể chế hoá bằng luật như: Luật Hàng hải, Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Luật Bảo hiểm, Luật Hải quan, Luật Giao thông đường bộ… Bên cạnh các bộ luật chuy ên ngành còn có các văn bản dưới Luật như Pháp lệnh, Quy chế, Quy định… liên quan bổ sung, hướng dẫn trong quá trình thực thi pháp luật hiện hành. Trên đây có thể thấy hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa đầy đủ và còn nhiều bất cập, Việt Nam cần một môi trường pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có hoạt động của Logistics.
Tình hình phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử ở Việt Nam
Một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của logistics chính là công nghệ thông tin và thương mại điện tử. Điều này đã được chứng minh rõ nét bằng thực tế phát triển dịch vụ Logistics ở nhiều quốc gia trên thế giới. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin và sự ra đời của thương mại điện tử đã mở ra cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics có khả năng tinh giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của mình trên thị trường.
Việt Nam hiện nay, công nghệ thông tin và thương mại điện tử tuy còn mới mẻ nhưng có tốc độ phát triển rất nhanh so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Số người dân sử dụng máy vi tính và kết nối mạng internet ngày càng tăng, đặc biệt các chương trình đào tạo từ tiểu học đến đại học đều có đề cập đến kiến thức tin học với những cấp độ khác nhau. Các đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh đều ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin trong việc quản lý mọi hoạt động của đơn vị mình. Bước đầu đã có một số doanh nghiệp áp dụng thương mại điện tử trong các lĩnh vực như marketing, kí kết hợp đồng mua bán, giao nhận vận tải hàng hoá, bảo hiểm, thanh toán… Với hiện trạng và xu hướng phát triển công nghệ thông tin, thương mại điện tử của Việt Nam sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển dịch vụ logistics trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tóm lại, đánh giá khả năng phát triển Logistics – một công nghệ kinh doanh mới, tiên tiến đòi hỏi phải dựa vào nhiều tiêu chí. Qua phân tích trên đây cả về khách quan cũng như chủ quan, những yêu cầu đặt ra với hoạt động của Logistics, chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng Việt Nam có đầy đủ điều kiện và cơ hội đi sâu vào khai thác Logistics – “Lục địa đen của nền kinh tế” – lĩnh vực hứa hẹn nhiều thành công.
2.2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ l ogistics tại Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
2.2.2.1 Phân tích doanh thu theo loại hình dịch vụ logistics của công ty năm 2009 – 2010
Nhìn chung, công ty đã đạt được những kết quả khả quan về doanh thu, lợi nhuận, điều đó có thể thấy được qua sự gia tăng về doanh thu và lợi nhuận trong năm 2009 – 2010, cụ thể qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.4 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 – 2010
Như vậy, qua 2 năm đầu đi vào hoạt động, công ty PROBITY đã đạt được kết quả khá tốt khi tỷ lệ tăng trưởng doanh thu năm 2010 so với năm 2009 đạt mức 64,80%. Tuy nhiên chi phí về giá vốn hàng bán cũng tăng khá cao, từ 1,998,990,000 VND năm 2009 lên đến 3,596,480,000 VND vào năm 2010 tương đương tăng 79.91%. Sở dĩ có sự gia tăng như trên là do việc tăng giá của các nguyên nhiên liệu dẫn đến các hãng tàu lớn đồng loạt tăng cước vận chuyển.
Năm 2009 là năm đầu tiên công ty đi vào hoạt động với doanh thu 3,799,369,000 VND, sau khi trừ các khoản chi phí, lợi nhuận đạt được là 885,467,000VND. Trong năm 2009, chi phí hoạt động kinh doanh của công ty chủ yếu là các khoản chi phí về nhân viên chiếm đến 69.51% trong tổng chi phí kinh doanh, tiếp theo là chi phí bán hàng chiếm 15.89%, và do là năm đầu tiên đi vào hoạt động nên các khoản chi phí cho quảng cáo, tiếp thị chiếm tỷ trọng khá cao, chiếm đến 6.79% tổng chi phí hoạt động kinh doanh của công ty, phần còn lại là các chi phí về vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế và dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
Năm 2010 so với năm 2009, doanh thu của công ty đạt 6,261,447,000 VND so với mức 3,799,369,000 VND, đạt tỷ lệ tăng trưởng hơn 60%. Trong khi đó chi phí kinh doanh có tăng nhưng không đáng kể, điều đó dẫn đến lợi nhuận công ty đạt 1,352,972,000 VND. Khoản chi phí trong năm 2010 tăng nhiều nhất là chi phí về nhân viên, năm 2009 chi phí về nhân viên của công ty là 430,789,000 VND chiếm 69.51% trong tổng chi phí. Chỉ một năm sau con số này lên đến 649,138,000 VND chiếm đến 75.39% tổng chi phí hoạt động kinh doanh năm 2010. Nguyên nhân là do trong năm 2010 công ty đã mở rộng quy mô hoạt động với việc tăng thêm số lượng lớn nhân viên ở các bộ phận bán hàng và bộ phận chứng từ. Bên cạnh đó công ty cũng đã thực hiện nhiều chính sách tăng lương cho nhân viên có thành tích tốt và tăng tiền thưởng trong các dịp lễ tết. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Trong năm 2010, chi phí bán hàng tiếp tục là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn thứ hai sau chi phí nhân viên. So với 98,450,000VND năm 2009 thì năm 2010 chi phí bán hàng của công ty là 106,230,000VND tăng tương đương 7.9%. Tuy nhiên, con số này chỉ chiếm tỷ trọng 12.34% trong năm 2010, năm 2009 chi phí bán hàng chiếm đến 15.89% chi phí hoạt động kinh doanh.
Chi phí cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị năm 2010 là 52,020,000VND chiếm 6.04% chi phí hoạt động kinh doanh của công ty, có giảm nhẹ so với tỷ trọng 6.79% năm 2009.
Các chi phí khác như chi phí vật liệu quản lý, đồ dùng văn phòng, các dịch vụ mua ngoài, các khoản thuế, phí, lệ phí và chi phí bằng tiền khác năm 2010 đều có tỷ trọng giảm so với năm 2009 nhưng không đáng kể.
Tóm lại, tuy chỉ mới thành lập, nhưng hoạt động kinh doanh của công ty trong 2 năm 2009 và 2010 đã đạt được kết quả khá tốt, và có xu hướng phát triển tốt trong tương lai.
Bảng 2.5 Doanh thu theo từng loại hình dịch vụ của Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực năm 2009 – 2010:
Qua bảng và biểu đồ doanh thu theo từ ng loại hình dịch vụ của Công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực năm 2009 – 2010, ta thấy sau 2 năm thành lập hoạt động chủ yếu của công ty chỉ tập trung vào cung cấp dịch vụ đại lý vận tải và khai thuê hải quan mà trong đó dịch vụ đại lý vận tải là dịch vụ kinh doanh chủ yếu. Năm 2009 doanh thu từ dịch vụ đại lý vận tải chiếm đến 85% tổng doanh thu cung cấp dịch vụ của công ty với số tiền 3,228,122,000 VNĐ, còn lại doanh thu từ dịch vụ khai thuê hải quan là 569,668,000 VNĐ tương đương 15%. Đến năm 2010, công ty vẫn chỉ tập trung cung cấp dịch vụ đại lý vận tải và khai thuê hải quan, tuy nhiên doanh thu đã gia tăng đáng kể so với năm 2009. Cụ thể doanh thu từ kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải 5,007,120,000 VNĐ chiếm 80%, 1,251,780,000 VNĐ là doanh thu từ kinh doanh dịch vụ khai thuê hải quan. Trong năm 2011 công ty bắt đầu kinh doanh thêm dịch vụ Trucking và dịch vụ đóng gói hàng hóa, tiến dần đến việc cung cấp đầy đủ các loại hình dịch vụ logist ics trong tương lai.
2.2.2.2 Công ty đang tập trung vào hoạt động giao nhận truyền thống chưa thực sự hoạt động logistics: Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Thực tế hiện nay các Công ty giao nhận Việt Nam nói chung và Công ty Cổ phần TM –DV Trung Thực nói riêng vẫn chưa thực sự cung cấp dịch vụ logist ics mà chủ yếu cung cấp một hoặc một vài dịch vụ đơn lẻ nằm trong chuỗi dịch vụ logistics. Dịch vụ đại lý vận tải và khai thuê hải quan là hai trong số các dịch vụ logistics mà Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực đang kinh doanh hiện nay.
Thực trạng hoạt động kinh doanh đại lý vận tải
Hoạt động kinh doanh đại lý vận tải là hoạt động chính mà hầu hết các công ty giao nhận Việt nam đều thực hiện. Hiện nay, Công ty Cổ Phần TM –DV Trung Thực đang làm đại lý vận tải cho một số hãng tàu lớn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: STX Pan Ocean, Gemadept, Emirates Shipping Line…Do công ty có lợi thế về sự am hiểu thị trường, có mối quan hệ tốt với các hãng kinh doanh vận tải nên công ty thường lấy được giá cước rẻ hơn so với khách hàng trực tiếp lấy. Mặt khác, các hãng kinh doanh dịch vụ vận tải thường coi công ty như đại lý bán hàng cho mình nên có phần ưu ái về giá hơn.Sự chênh lệch về giá khi mua bán cước chính là nguồn lợi nhuận của công ty.
Khách hàng chủ yếu của công ty Cổ Phần TM – DV Trung Thực là các công ty chế biến xuất khẩu thủy hải sản quy mô nhỏ tại các tỉnh miền Tây cùng với một số ít các công ty xuất khẩu các loại trái cây rau quả ở vùng Ninh Thuận – Bình Thuận.
Thị trường mà các công ty khách hàng xuất khẩu chủ yếu là Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông.
Một lợi thế của Công ty cổ phần TM – DV Trung Thực khi kinh doanh đại lý vận tải là cơ cấu bộ máy tổ chức gọn nhẹ giảm thiểu được chi phí nên đưa ra giá cước thấp cạnh tranh được với nhiều công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh đại lý vận tải của công ty vẫn còn tồn tại nhiều khuyết điểm. Trước hết, các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay như M ỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực vẫn chưa tìm được khách hàng hoặc còn rất ít không đáng kể. Thứ hai, công ty chưa xây dựng được hệ thống công nghệ thông tin đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Việc đặt hàng chủ yếu thực hiện qua hệ điện thoại, fax, chưa sử dụng nhiều email hay hệ thống booking trực tuyến. Website của công ty chủ yếu chỉ có thông tin giới thiệu về công ty, khách hàng không thể booking qua mạng internet, cũng không thể theo dõi hành trình chuyến hàng của mình, chỉ khi hàng đến cảng bên kia khách hàng mới nhận được thông báo bằng điện thoại.
Thực trạng hoạt động khai thuê hải quan
Hoat động kinh doanh khai thuê hải quan chỉ như một dịch vụ hỗ trợ cho dịch vụ đại lý vận tải, vẫn chưa đư ợc công ty chú trọng đầu tư phát triển nhiều. Khách hàng sử dụng dịch vụ khai thuê hải quan chính là một trong số những khách hàng sử dụng dịch vụ đại lý vận tải.
Hiện nay, công ty không có nhân viên chuy ên về thủ tục hải quan tại các cảng lớn, khi khách hàng có nhu cầu nhân viên chứng từ cũng là người lo việc thông quan. Giá cả dịch vụ thông quan chưa có tính cạnh tranh cao, chất lượng của dịch vụ này cũng chưa thật sự tốt vì thời gian thực hiện còn kéo dài. Quy trình cụ thể đối với việc thông quan hàng nhập và hàng xuất như sau:
Đối với hàng xuất:
Khách hàng của Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực chủ y ếu là các công ty sản xuất xuất khẩu nên việc thông quan hàng xuất cũng là hoạt động chủ yếu trong việc kinh doanh dịch vụ khai thuê hải quan của công ty. Để thực hiện việc thông quan hàng xuất Nhân viên chứng từ Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực dựa trên những chứng từ mà khách hàng cung cấp cũng như những thông tin về hàng hóa mà công ty có được, dùng phần mềm khai báo hải quan điện tử để truyền số liệu lên tờ khai qua mạng. Nếu truy ền thành công hệ thống mạng của hải quan tự động báo số tiếp nhận hồ sơ, số tờ khai và phân luồng hàng hóa. . Luồng hàng hóa có 3 luồng: luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ. Nhờ bước cải tiến này m à thời gian làm thủ tục nhanh hơn so với thủ công trước đây vì nhân viên hải quan không phải nhập lại số liệu trên tờ khai vào máy. Tuy nhiên, vì Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực không được trang bị đầy đủ máy móc thiết bị nên khi gặp sự cố về điện như cúp điện đột xuất hoặc sự cố về mạng Internet thì công ty không có các thiết bị thay thế để thực hiện quá trình thông quan điện tử, kết quả là quá trình này bị chậm trễ, làm mất thời gian của khách hàng. Sau khi khai báo trên hải quan điện tử nhân viên giao nhận sẽ in ra và lên hải quan làm thủ tục sau: Mở tờ khai xuất khẩu à Kiểm hóa hàng xuất ( nếu hàng thuộc luồng đỏ) à Trả tờ khai àThanh lý hải quan bãi àVào sổ tàu hàng xuất.
Đối với hàng nhập:
Nhân viên chứng từ dùng phần mềm khai báo hải quan điện tử để truy ền số liệu lên tờ khai qua mạng. Nếu truyền thành công hệ thống mạng của hải quan tự động báo số tiếp nhận hồ sơ, số tờ khai và phân luồng hàng hóa. Luồng hàng hóa có 3 luồng: luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ.( giống như hàng xuất khẩu). Sau khi khai báo trên hải quan điện tử nhân viên giao nhận sẽ in ra và lên hải quan làm thủ tục sau: Mở tờ khai hải quan à Tính giá thuế à Kiểm hóa hàng (nếu hàng thuộc luồng đỏ) à Trả tờ khai. Nếu công ty chỉ nhận làm hải quan thì sau khi đã khai báo hải quan Nhân viên chứng từ đem đến cho khách hàng bộ lệnh ngay sau khi nhận được thanh toán.
2.2.2.3 Hệ thống mạng lưới đại lý và chi nhánh trên thế giới chưa được đầu tư, mở rộng: Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Để hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics, một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng đó là Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực cần phải có một hệ thống các đại lý và chi nhánh trên toàn thế giới. Hiện nay, Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực cũng giống như hầu hết các công ty giao nhận Việt Nam khi đã giao hàng lên phương tiện vận tải thì giao công việc tiếp theo cho người chuyên chở và đại lý vận tải của mình. Tại nơi đến, việc khai hải quan được thực hiện thông qua việc thuê lại dịch vụ của đại lý ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc thiết lập đại lý còn gặp nhiều khó khăn và bất cập.
Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực hiện đang có mối quan hệ đại lý trên 20 quốc gia trên thế giới. Nhưng trong số đó chỉ có một vài đại lý ở Hồng Kông và Singapore là có quan hệ đại lý thực sự và có sự liên hệ thường xuyên, còn lại đa số thực chất đây là những mối quan hệ đại lý hết sức hời hợt. Thậm chí ngay cả ở Hàn Quốc là thị trường chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động giao nhận của công ty thì việc có một đại lý coa mối quan hệ liên kết thực sự của công ty ở đây vẫn chưa thực hiện được. Các mối quan hệ có được thông qua sự giới thiệu qua lại lẫn nhau giữa các đại lý của công ty giao nhận khác ở nước ngoài. Sự ràng buộc là bởi các hợp đồng đại lý thông qua email hoặc fax, nhiều đại lý còn không có hợp đồng mà chỉ là một sự thỏa thuận. Phần lớn các đại lý này đóng vai trò là đại lý giao hàng. Chính vì vậy, Công ty Cổ phần TM-DV Trung Thực ít có thể tác động các hoạt động của mình lên đại lý, chất lượng của hoạt động logistics ở nước ngoài phụ thuộc hoàn toàn vào các đại lý này. Người đại diện cho Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực ở các đại lý nước ngoài vẫn chưa có, và việc thiết lập các chi nhánh văn phòng của công ty tại nước ngoài cũng hoàn toàn chưa có khả năng thực hiện. Đây là một trong những sự cản trở rất lớn đối với công ty trong việc hoàn thiện và phát triển hệ thống dịch vụ logistics toàn cầu.
2.2.2.4 Việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics chưa được đầu tư đúng mức
Công nghệ thông tin là một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động của dịch vụ logistics. Việc áp dụng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại vào quá trình hoạt động giúp công ty rút ngắn được thời gian cũng như chi phí. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Tuy nhiên, hiện nay việc đầu tư cho hệ thống công nghệ thông tin trong công ty còn rất ít, dẫn đến tình trạng thiếu thốn máy móc thiết bị. Công ty vẫn chưa trang bị đầy đủ máy tính cho tất cả nhân viên, một số nhân viên phải tự mang máy tính xách tay của mình đến làm việc, hoặc nếu không có khi làm việc mà cần sử dụng thì phải mượn của nhân viên khác.
Bên cạnh vấn đề trang bị máy vi tính thì việc sử dụng máy vi tính một cách hiệu quả nhất vẫn chưa được chú trọng. Ngoài việc sử dụng máy tính nối mạng để nhận và gửi email, phần lớn nhân viên của công ty chỉ sử dụng máy tính như máy đánh chữ, việc lưu trữ sắp xếp dữ liệu một cách hợp lý vẫn chưa thực hiện được. Công ty cũng chưa có bất cứ phần mềm riêng nào để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Việc đầu tư để thiết kế một chương trình phần mềm phục vụ cho hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics là rất cần thiết tuy nhiên còn găp nhiều khó khăn. Thứ nhất, nếu thuê các kỹ sư chuyên gia thiết kế phần mềm thì họ có khả năng tốt về thiết kế nhưng sự am hiểu về lĩnh vực vận tải hay logist ics lại rất thiếu, ngược lại những người am hiểu về vận tải và logistics thì lại không có khả năng viết phần mềm . Thứ hai, để có một chương trình hoàn hảo thì cần một thiết kế của chuyên gia nước ngoài, nhưng khoản tiền bỏ ra để thuê các công ty chuyên nghiệp nước ngoài không phải là nhỏ. Mặt khác, việc áp dụng chương trình đòi hỏi cả Ban Giám đốc lẫn toàn thể nhân viên trong công ty phải có quyết tâm học hỏi và thích nghi với những sự thay đổi.
Hiện nay, công ty chỉ dừng lại ở việc có một website do chính nhân viên trong công ty thiết kế. Trang web được thiết kế còn rất sơ sài, chủ yếu cung cấp một số thông tin giới thiệu về công ty, cách liên hệ bằng điện thoại, email. Việc thực hiện booking trên mạng như một số công ty giao nhận Việt Nam mới triển khai gần đây thì Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực vẫn còn chưa thực hiện được. Công ty cũng không có người chăm sóc, cập nhật thường xuyên các thông tin trên trang web, thậm chí cả Giám đốc công ty cũng ít khi nào truy cập vào trang web của mình. Các nhân viên hầu hết đều biết công ty có trang web nhưng có rất ít người từng truy cập vào. Chính vì điều này đã dẫn đến một trong những điểm yếu không chỉ của riêng Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực mà của hầu hết các công ty giao nhận Việt Nam đó là một khi hàng hóa đã giao lên tàu, khách hàng không thể t heo dõi được hành trình cũng như tình trạng hàng hóa, chỉ khi hàng đến nơi hoặc có vấn đề gì mới được thông báo.
Tóm lại, việc đầu tư để phát triển hệ thống công nghệ thông tin là một trong những vấn đề cấp thiết đối với Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực.
2.2.2.5 Hoạt động marketing chưa đủ mạnh để thu hút khách hàng Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Việc cung ứng dịch vụ logistics không chỉ cần công ty đầu tư đầy đủ về trang thiết bị mà còn phụ thuộc một phần lớn vào sự sẵn sàng hợp tác từ phía khách hàng. Đa số khách hàng hiện nay của Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực là các khách hàng quen, thường chỉ sử dụng một hoặc một vài dịch vụ đơn lẻ trong cả chuỗi logistics. Các công ty khách hàng này thường chia nhỏ các dịch vụ trong chuỗi logistics và sử dụng nhiều công ty giao nhận để cung ứng dịch vụ cho họ.
Sở dĩ số lượng khách hàng của công ty còn ít như vậy là do hoạt động marketing của công ty còn quá yếu, hầu như chưa được đầu tư chú trọng. Trước hết là sự thiếu đa dạng trong các loại hình dịch vụ logistics của công ty, khi khách hàng có nhu cầu về dịch vụ giao nhận door to door thì thường công ty không đáp ứng được hoặc đáp ứng được nhưng chất lượng lại không tốt do phải thuê ngoài nhiều dịch vụ từ các công ty giao nhận khác. Tiếp đến là vấn đề giá cả, giá của các dịch vụ do công ty cung cấp thường có rẻ hơn chút ít so với một số đại lý vận tải khác tuy nhiên chất lượng lại chưa phải là tốt nhất vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng hoãn chuyến, làm ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng của khách. Còn giá cả của các dịch vụ khác như kho bãi, đóng gói hàng hóa… thì giá cả thường đắt hơn vì công ty phải đi thuê lại. Vấn đề tìm kiếm khách hàng cũng như chăm sóc khách hàng cũng là một trong những điểm yếu hiện nay của Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực, đến thời điểm hiện tại công ty vẫn chưa có những nhân viên chuyên trách về bán hàng hay làm công việc chăm sóc khách hàng thật sự. Những nhân viên kinh doanh trong công ty không chỉ làm việc bán hàng mà còn làm chứng từ hay khai hải quan, ngược lại nhân viên chứng từ hay nhân viên hải quan cũng làm nhiệm vụ bán hàng. Chính vì những sự phân công chưa rõ ràng nên phần nào khiến cho công việc tìm kiếm và chăm sóc khách hàng của công ty chưa đạt được kết quả mong muốn.
2.2.2.6 Chưa có chính sách đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên
Công ty Cổ phần TM-DV Trung Thực cũng giống như các công ty giao nhận khác tại Việt Nam hiện nay, đó là chưa có chương trình đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên. Chủ yếu nhân viên tích lũy kinh nghiệm qua quá trình họ làm việc, mà như vậy họ chỉ có sự am hiểu ở mảng mà họ chuyên trách còn sự hiểu biết cũng như kinh nghiệm ở các mảng khác lại hầu như không có. Điều này làm giảm sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các phòng ban trong công ty dẫn đến sự ảnh hưởng tới kết quả công việc. Một trong những vấn đề lớn còn tồn tại trong các công ty giao nhận hiện nay là khả năng giao tiếp, trình độ tiếng Anh của các nhân viên còn nhiều hạn chế. Với đặc điểm của dịch vụ logistics toàn cầu là kết nối giữa nhiều quốc gia thường sử dụng ngôn ngữ chung là tiếng Anh, nên khả năng giao tiếp tiếng Anh hạn chế gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển hoạt động kinh doanh logistics của công ty.
2.2.3 Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Công ty Cổ Phần TM-DV Trung Thực Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
Điểm mạnh (Strength-S):
- Uy tín công ty: công ty luôn đặt uy tín lên hàng đầu nên đã tạo được lòng tin từ phía khách hàng.
- Lãnh đạo: ban lãnh đạo có năng lực giỏi, kinh nghiệm kinh doanh điều hành doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
- Nguồn nhân lực: nhân viên trong công ty là một lực lượng những người trẻ tự tin, năng động, luôn sẵn sàng và nhanh chóng tiếp thu những điều mới, hoàn thành tốt công việc.
- Phát tri ển thị trường: công ty đã bắt đầu đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, phát triển thêm thị trường mới.
Điểm yếu (Weakness-W):
- Nguồn vốn: hiện nay nguồn vốn của công ty chưa thật sự dồi dào, vẫn còn khá khiêm tốn so với nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực này. Quy mô công ty còn nhỏ, sức cạnh tranh chưa mạnh.
- Vật lực: trang thiết bị của công ty vẫn còn thiếu thốn, chưa đầy đủ.
- Nguồn nhân lực: Đội ngũ nhân viên trẻ chưa thật sự có nhiều kinh nghiệm .
- R & D: Hệ thống nghiên cứu và phát triển của công ty chưa được đầu tư tốt.
- Thị trường hoạt động còn nhỏ hẹp, chủ y ếu chỉ ở khu vực Châu Á.
- Lĩnh vực hoạt động của công ty chưa đa dạng, các dịch vụ chủ yếu về giao nhận hàng hóa đường biển. Các dịch vụ chưa phong phú: chủ yếu là Booking và khai hải quan. Dịch vụ Trucking cũng như cho thuê kho bãi chưa đem lại hiệu quả cao.
Cơ hội (Opportunity- O):
- Sự gia tăng về khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây đã kéo theo sự gia tăng về nhu cầu đối với các dịch vụ giao nhận, vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu. Đây chính là cơ hội để công ty phát triển và mở rộng thị trường. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
- Chính sách khuy ến khích xuất khẩu của Nhà nước cũng làm gia tăng đáng kể khối lượng hàng xuất khẩu, cũng như sự thuận lợi và dễ dàng hơn trong việc làm thủ tục hải quan, thông quan hàng hóa.
- Sự phát triển của các hãng tàu trong và ngoài nước cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công ty thực hiện các hợp đồng giao nhận.
Thách thức (Threat – T):
- Hiện nay, các công ty kinh doanh logistics và đại lý hãng tàu tại Việt Nam không ngừng gia tăng về số lượng, phát triển về quy mô và hoàn thiện về chất lượng, đó thật sự là một thách thức lớn trong việc cạnh tranh đối với một công ty mới đi vào hoạt động như Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực.
- Đến năm 2014, các công ty 100% vốn nước ngoài được phép đầu tư vào lĩnh vực logistics tại Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Nhìn vào vị trí của Việt Nam trên bản đồ logistics thế giới chúng ta có thể thấy rằng dịch vụ logistics tại Việt Nam hiện nay đang phát triển ngày càng nhanh, từng bước hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, nguồn lợi chủ yếu từ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này chủ yếu rơi vào tay các công ty nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam với những hoạt động giao nhận truy ền thống, chưa có chiến lược đầu tư phát triển logistics cho riêng mình đang gặp phải sự cạnh tranh hết sức khốc liệt. Công ty Cổ Phần TM-DV Trung Thực cũng là một trong những công ty Việt Nam với sụ hạn chế về tài chính, chưa phát triển được hệ thống đại lý, chi nhánh, đội ngũ nhân viên chưa vững về chuyên môn, yếu trong kinh doanh quốc tế và đặc biệt việc áp dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh logistics chưa được đầu tư. Trong tương lai không xa, Công ty Cổ phần TM -DV Trung Thực nói riêng và các công ty giao nhận Việt Nam nói chung cần có những điều chỉnh đúng đắn, kịp thời mới có thể tiếp tục phát triển. Trong chương 3 sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những điểm mạnh đồng thời khắc phục những điểm yếu của Công ty Cổ Phần TM -DV Trung Thực nhằm tăng sức cạnh tranh, mở rộng quy mô hoạt động trong tương lai. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ logistics của Cty Trung Thực
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Biện pháp NC hoạt động logistics của Cty Trung Thực

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan về Cty Thương Mại Dịch Vụ Trung Thực