Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Liên Doanh VID Public chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng LD VID Public – Chi nhánh Hải Phòng

2.2.1 Quy mô và phát triển quy mô tín dụng

2.2.1.1 Tổng dư nợ, doanh số cho vay và doanh số thu nợ

  • Tổng dư nợ: Dư nợ cho vay của VID PUBLIC BANK HP liên tục tăng trong 3 năm 2011 – 2013. Năm 2012 dư nợ đạt 204,02 tỷ đồng, tăng ở mức 8 % so với năm 2011 do nền kinh tế bất ổn,tình trạng các DN sản xuất kinh doanh bị đọng hàng tồn kho, CN đã áp dụng nhiều chính sách thông thoáng nhằm đẩy cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có chính sách áp dụng lãi suất cho vay linh hoạt đối với các thành phần kinh tế. Tổng dư nợ năm 2013 của VID PUBLIC BANK HP tăng 1,5 % so với thời điểm 31/12/2012, VID Pubic Hải Phòng là một trong những ngân hàng có mức tăng trưởng dư nợ tốt so với các ngân hàng trên địa bàn Hải Phòng mặc dù tăng trưởng tín dụng bị chậm lại khá nhiều.

Chi tiết quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn như sau:

Bảng 2.5 Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Qua bảng 2.5 do năm 2011 kinh tế bất ổn định, cơ chế có sự thay đổi. Ta có thể thấy ở năm 2011 tổng dư nợ đạt 188,72 tỷ đồng thì đến năm 2012 đạt mức 204,02 tỷ đồng, tăng 15,3 tỷ đồng tương đương 8,1%. Hai năm 2012 và năm 2013 quy mô tín dụng có phần tăng trưởng phục hồi trở lại. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Biểu đồ 2.3 Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thời hạn của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Nền kinh tế thế giới và trong nước các năm gần đây có nhiều biến động, bất ổn và có rất nhiều điều chỉnh trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của Chính phủ Việt Nam dẫn đến hoạt đông sản xuất kinh doanh, nguồn vốn lưu động của các thành phần kinh tế thiếu hụt. Trong khi đó, nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu cho doanh nghiệp là nguồn tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng. Vì vậy dư nợ cho vay ngắn hạn đạt được ở mức cao tại chi nhánh.

Trong khi đó tỉ lệ cho vay trung và dài hạn ở mức thấp dưới 30% trong 3 năm gần. Do các khoản tín dụng cho vay trung và dài hạn mục đích chính là đầu tư vào tài sản cố định và thực hiện các dự án đầu tư lớn. Do đó mà thời gian thu hồi vốn dài, vòng quay chậm. Điều này không phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay đang bất ổn làm cho các doanh nghiệp kinh doanh, đầu tư rất khó. Cho nên tỉ lệ cho vay vốn trung và dài hạn ở mức thấp.

Chi tiết quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế như sau:

Bảng 2.6 Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Với chính sách tín dụng hướng đến các khách hàng chủ đạo là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nên trong những năm vừa qua, VID PUBLIC BANK HP đã chú trọng nhiều đến việc mở rộng cho vay đối với các công ty cổ phần, công ty TNHH.Và năm gần đây doanh nghiệp làm ăn hiệu quả được chinh nhánh chú trọng việc cấp vốn.

Biểu đồ 2.4 Cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Qua bảng 2.6 ta thấy doanh số cho vay đối với các doanh nghiệp nhà nước có chiều hướng tăng nhẹ, cụ thể năm 2011 doanh số cho vay đạt 20,53 tỷ đồng đến năm 2012 đạt ở mức 22,09 tỷ đồng, tăng 1,56 tỷ đồng tương đương với 7,5%. Mảng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có chiều hướng tăng giảm nhẹ do ảnh hưởng kinh tế bất ổn, chính sách nhà nước thay đổi. Cụ thể doanh số cho vay đối với Công ty CP, TNHH năm 2011 đạt 96,3 tỷ đồng đến năm 2012 đạt mức 103,19 tỷ đồng, tăng 6,89 tỷ đồng tương đương 7,1%, nhưng đến năm 2013 giảm 1,43 tỷ đồng tương đương với 1,38%. Thực hiện các hình thức tín dụng đa dạng, cùng với chính sách lãi suất linh hoạt Ngân hàng thu hút được một lượng các công ty ngoài quốc doanh tiếp cận nguồn vốn. Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhà nước làm hiệu quả, Ngân hàng kiểm duyệt kĩ càng hồ sơ vay vốn cũng như khả năng trả cũng được chi nhánh cung cấp vốn để hoạt động kinh doanh.

Biểu đồ 2.5 Cơ cấu dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế năm 2013 của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Đối với các doanh nghiệp Nhà nước những năm gần đây hoạt động kinh doanh ổn định, VID PUBLIC BANK HP mạnh dạng tiếp cận cung cấp tín dụng cho nhóm doanh nghiệp này. Do đó mà dư nợ cho vay doanh nghiệp Nhà nước của chi nhánh chỉ chiếm 10,95 % đến thời điểm 31/12/2013.

Dư nợ thể nhân chiếm tới 12 % tổng dư nợ của VID PUBLIC BANK HP là do trong các năm gần đây qua chi nhánh đã phát triển một số sản phẩm,chính sách cho vay tiêu dùng…, thực hiện chọn lọc khách hàng cho vay theo hướng tập trung vào các khách hàng thể nhân có thu nhập khá, có cơ sở sản xuất kinh doanh hiệu quả và ổn định. Việc mở rộng cho các khách hàng thể nhân vay vốn đã giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng mà biểu hiện chủ yếu ở hiệu quả khá cao do lãi suất cho vay cao và phân tán rủi ro tín dụng ngân hàng, ngoài ra còn có tác dụng giới thiệu và quảng cáo ngân hàng một cách hiệu quả và nhanh chóng tới các khách hàng tiềm năng của chi nhánh.

Cơ cấu dư nợ cho vay theo loại tiền của chi nhánh cũng đang thay đổi với tỷ trọng dư nợ ngoại tệ đã tăng lên liên tục trong các năm qua. Chi tiết như sau:

Bảng 2.7: Quy mô và cơ cấu dư nợ cho vay theo loại tiền của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Qua bảng 2.7 ta thấy, tỷ trọng cho vay bằng nội tệ và ngoại tệ của chi nhánh khá cao. Tỷ trọng cho vay bằng nội tệ chiếm ở mức trên 80% trong giai đoạn 2011-2013. Trong khi đó, theo bảng 2.2, tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ của VID PUBLIC BANK HP tại các thời điểm 31/12/2012 và 31/12/2013 lần lượt là 92,95% và 94,53%. Có thế nói trong 2 năm 2012 và 2013 thì lượng vốn huy động tiền nội tệ của chi nhánh đủ để cho vay các khách hàng tín dụng. Mặt khác để chủ đông an toàn hoạt động tín dụng chi nhánh dành một phần cho dự trữ bắt buộc, tiền mặt để chi trả cho khách hàng, tiền gửi tại NHNN và các NHTM khác. Trong giai đoạn 2011 – 2013, dư nợ cho vay ngoại tệ của chi nhánh luôn có xu hướng giảm so với các năm mức chấp nhận được. Tuy nhiên, cần có hướng đi đúng đắn kịp thời hiệu quả cho vay bằng ngoại tệ của chi nhánh. Bởi vì VID PUBLIC BANK HP có các lợi thế về nguồn ngoại tệ tốt, lợi thế nằm trong khu vực có các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.

Doanh số cho vay và doanh số thu nợ của VID PUBLIC BANK HP là khá lớn so với dư nợ tín dụng và tập trung ở các nhóm khách hàng mục tiêu, chủ đạo đã phản ánh hoạt động tín dụng đang diễn ra theo chiều hướng khá tích cực. Cụ thể như sau:

Bảng 2.8: Doanh số cho vay và doanh số thu nợ của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2013

Doanh số cho vay: Trong những năm qua, doanh số cho vay của VID PUBLIC BANK HP đã có sự tăng trưởng đáng kể. Năm 2011, doanh số cho vay của chi nhánh là 256,45 tỷ đồng. Con số này giảm xuống còn 7,3% trong năm 2012. Năm 2013 là một một năm đầy biến động cho kinh tế thế giới và cả trong nước đã gây không ít khó khăn, bất lợi đến tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay chi nhánh vẫn đạt doanh số cho vay là 224,98 tỷ đồng. Doanh số cho vay của VID PUBLIC BANK HP giảm qua các năm là kinh tế đất nước đang trong giai đoạn khủng hoảng đang dần phục hồi,sự nguội lạnh trong sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp,tình trạng ứ đọng hàng hóa vẫn còn. Chi nhánh đã áp dụng nhiều chính sách phù hợp và thông thoáng nhằm phục hồi và duy trì cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh. Đồng thời, chi nhánh cũng áp dụng đa dạng phương thức cho vay với lãi suất cho vay linh hoạt đối với các thành phần kinh tế. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Doanh số thu nợ: Song song với việc tăng trưởng doanh số cho vay, doanh số thu nợ của chi nhánh cũng có chiều hướng tích cực. Trong đó đáng chú là năm 2012 doanh số thu nợ đạt 246,08 tỷ đồng, tăng đến 17,98% so với năm 2011. Nguyên nhân là trong năm 2012 chi nhánh đã thu nợ khá tốt, trong đó thu nợ ngắn hạn chiếm tới 25,11% tổng doanh số. Đối tượng thu nợ chủ yếu là các công ty cổ phần, công ty TNHH trong nước, các cá nhân trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Qua bảng 2.8 kể trên, chúng ta thấy rằng, doanh số cho vay có xu hướng giảm và doanh số thu nợ chỉ tăng ở năm 2012 nhưng năm 2011 và năm 2013 vẫn giảm điều này làm dư nợ cho vay của chi nhánh luôn đạt ở mức chấp nhận được và giảm nhẹ qua các năm. Sự tăng trưởng của doanh số cho vay và doanh số thu nợ phản ánh khoảng thời gian kinh doanh ản đạm của ngành Ngân hàng nói chung và Chi nhánh nói riêng, khả năng thu hồi nợ chư hiệu quá, sinh lợi ít cho ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.1.2 Thị phần

Mặc dù được thành lập từ khá sớm (05/1996) ở Hải Phòng nhưng tổng dư nợ cho vay của VID PUBLIC BANK HP cho đến nay vẫn còn rất nhỏ, chỉ chiếm thị phần là 0,64% tổng dư nợ tín dụng của các TCTD tại Hải Phòng.

So sánh ngay trong hệ thống Ngân hàng LD VID Public, Chi nhánh Hải Phòng thành lập trước chi nhánh Bình Dương 11 năm, song đến cuối năm 2013 thì nay dư nợ của chi nhánh Bình Dương đã gấp 2,27 lần dư nợ của Chi nhánh Hải Phòng. Chi nhánh Chợ Lớn thành lập năm 2006 nhưng đến nay dư nợ của chi nhánh này cũng gấp 1,37 lần so với chi nhánh Hải Phòng. Chi nhánh Đồng Nai được thành lập gần đây nhất vào tháng 03/2008 nhưng cũng đã đạt số dư nợ tín dụng gấp 1,4 lần chi nhánh Hải Phòng. Như vậy, có thể thấy rằng chi nhánh Hải Phòng là một trong các chi nhánh có tăng trưởng dư nợ tín dụng chậm nhất hệ thống VID Public Bank.

2.2.1.3 Số lượng khách hàng vay vốn của VID PUBLIC BANK HP Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam nói chung và kinh tế thành phố Hải Phòng nói riêng, các doanh nghiệp Hải Phòng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và hàng năm có doanh nghiệp mới được thành lập. Đời sống dân cư cũng được cải thiện đáng kể trong các năm qua và có nhiều thay đổi trong thói quen tiêu dùng, thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàng. Trong năm gần đây kinh thế ảm đạm,đang trong giai đoạn phục hồi Những yếu tố trên đã ảnh hưỏng nhu cầu tín dụng ngân hàng trong năm gần đây.

Không nằm ngoài xu thế chung của các ngân hàng trên địa bàn, VID PUBLIC BANK HP đã đẩy mạnh,đưa ra các hoạt động tín dụng mới,thu hút số lượng khách hàng vay vốn tại CN. Số liệu cụ thể về số lượng khách hàng vay vốn được thể hiện trong bảng sau.

Bảng 2.9: Số lượng khách hàng vay vốn tại Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Khách hàng vay vốn của VID PUBLIC BANK HP chủ yếu là các công ty cổ phần và công ty TNHH. Năm 2013 đối tượng này là 184 khách hàng, chiếm 55,75% tổng số khách hàng. Các khách hàng này không chỉ vay vốn tại VID PUBLIC BANK HP mà còn sử dụng rất nhiều các dịch vụ khác của VID PUBLIC BANK HP như gửi tiền, thanh toán trong nước và quốc tế, mua bán ngoại tệ, bảo lãnh, … nên đã đóng góp vào tăng doanh thu và hiệu quả kinh doanh của chi nhánh. Điều đó đã phản ánh định hướng đúng đắn trong chính sách tập trung cho vay của VID PUBLIC BANK HP cho đối tượng khách hàng này.

Tuy nhiên, cũng qua bảng số liệu kể trên thì ta thấy đối tượng khách hàng vay vốn là các công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và khách hàng cá nhân đang bị giảm liên tục trong 3 năm qua. Nguyên nhân là do VID PUBLIC BANK HP đã rà soát lại, chọn lọc và giảm một số khách hàng nhỏ, hay để nợ quá hạn, năng lực tài chính và năng lực quản lý yếu kém. Số lượng khách hàng tín dụng có giảm theo đó dư nợ của VID PUBLIC BANK HP có phần giảm đi trong các năm qua. Các khách hàng vay vốn cá nhân của VID PUBLIC BANK HP hiện nay thực hiện nghĩa vụ trả nợ của họ đang khó khăn xin gia hạn. Các khách hàng tín dụng chủ yếu của ngân hàng vẫn chủ yếu là các công ty cổ phần, TNHH và cá nhân với giá trị món vay còn ở quy mô vừa và nhỏ, VID PUBLIC BANK HP chưa thu hút được nhiều các khách hàng lớn vay vốn nên tổng dư nợ tín dụng còn thấp.

2.2.2 Mức độ rủi ro tín dụng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

2.2.2.1 Nợ các nhóm

Bảng 2.10: Các nhóm nợ của CN NHLD VID Public Hải Phòng

Qua bảng 2.10 ta có thể thấy nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trên 90% trong tổng dư nợ. Nợ nhóm 1 năm 2011 chiếm tỷ trọng 94,83% tương đương 204,51 tỷ đồng, năm 2011 giảm còn 92,8% tương đương 192,25 tỷ đồng. Đến năm 2013 tiếp tục giảm 92,22% tương đương với 188,14 tỷ đồng. Qua thông tin ở bảng trên nợ nhóm 1 chiếm tỷ trọng cao nhưng đã xuất hiện nhóm nợ xấu tại ngân hàng.

Đi sâu vào nhóm nợ xấu tại Ngân hàng (nợ nhóm 3 đến nợ nhóm 5) ta có thể thấy nợ nhóm 3 và nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng khá cao ở năm 2013. Nợ nhóm ( nợ dưới tiêu chuẩn) chiếm 1,05% tổng dư nợ tương ứng với 2,14 tỷ đồng tăng 43,62% so với năm 2012 và tăng 970% so với năm 2011. Cụ thể năm 2013 nợ nhóm 5 ở mức 1,96 tỷ đồng tương đương 0,97% cao nhất trong 3 năm. Điều đó nói lên các doanh nghiệp đang gặp khó trong hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn đến không đủ khả năng trả lãi theo đúng thời hạn của hợp đồng tín dụng, gây ra rủi ro hoạt động tín dụng tại ngân hàng. Nợ xấu xuất hiện ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro lớn có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận nhưng có thể giảm được rủi ro cho hoạt động tín dụng VID PUBLIC BANK HP đã duy trì tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu ở mức khá thấp trong các năm qua. Chi tiết như sau:

Bảng 2.11: Tình hình nợ quá hạn của Ngân hàng LD VID Public – Chi nhánh Hải Phòng

Trong giai đoạn 2011 – 2013 VID PUBLIC BANK HP xuất hiện nợ xấu và có xu hướng tăng. Tại thời điểm 31/12/2013, tỷ lệ nợ quá hạn và xấu là 4,76% và 3,02% tương ứng. Tỷ lệ nợ xấu theo quy định ở mức dưới 3% được coi là an toàn nhưng tỷ lệ nợ xấu ở mức 3,02% tại chi nhánh là con số đang báo động cần phải có biện pháp xư lý tìm hiểu nguyên do dẫn đến tình trạng trên. Tỷ nợ quá hạn ở năm 2013 giảm xuống còn 4,76% tuy nhiên ở năm 2012 ở mức 5,08% con số này khá cao ngân hàng chú ý đến đều này.

Nguyên nhân chính làm phát sinh nợ xấu và nợ quá hạn tại VID PUBLIC BANK HP bắt đầu từ năm 2011 là do suy thoái kinh tế thế giới cùng những khó khăn kinh tế trong nước đã làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và khả năng trả nợ của các doanh nghiệp, các cá nhân vay vốn ngân hàng nói riêng. Điều này chứng khả năng thu hồi vốn của ngân hàng ngày càng khó khăn, nguồn vốn của ngân hàng lúc này không phải là rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn trắng. Tỷ lệ ngày càng tăng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng ngày một xấu dẫn đến hoạt động kinh doanh không được hiểu quả. Ngân hàng cần đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng nợ xấu.

2.2.2.2 Trích lập và sử dụng dự phòng tín dụng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo và tỷ lệ trích lập dự phòng đối với từng nhóm nợ được Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kì. Dựa trên những quy định của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng VID Public – chi nhánh Hải Phòng có bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như sau:

Bảng 2.12: Bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với các khoản tín dụng của Ngân hàng. Dựa theo bảng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, chi nhánh có tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng như sau:

Bảng 2.13 Tỷ lệ trích lập rủi ro tín dụng

Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng giai đoạn 2011 – 2013 ngày càng tăng. Năm 2011, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng là 1,15%, năm 2012 là 1,71% và đến năm 2013 là 2,6% (tăng 1,45% so với năm 2011). Con số nói lên các năm trở lại đây Ngân hàng nhiều rủi ro về tín dụng làm cho chất lượng tín dụng giảm. Tuy nhiên, Ngân hàng VID Public Hải Phòng luôn chấp hành theo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro theo phân loại nợ, trích lập dự phòng theo đúng số dư tín dụng đã cấp, không vì lợi nhuận cao trước mắt nên có thể phần nào hạn chế được rủi ro.

Trong hoạt động kinh doanh luôn tồn tại những rủi ro thường trực do vậy các Doanh nghiệp có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào và nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và sẽ ảnh hưởng đến việc trả nợ của doanh nghiệp từ đó sẽ gây bất lợi cho Ngân hàng. Chính vì vậy Ngân hàng phải luôn theo dõi sát sao các khoản nợ và đưa ra được các giải pháp đúng đắn và kịp thời nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng.

2.2.3 Mức độ sinh lời

Mức độ đóng góp của hoạt động cho vay vào tổng nguồn thu của NHLD VID Public Hải Phòng cụ thể như sau:

Bảng 2.14: Thu lãi từ hoạt động cho vay trong tổng doanh thu của Ngân hàng LD VID Public – CN Hải Phòng

Tỷ trọng doanh thu từ hoạt động cho vay trong tổng doanh thu của VID PUBLIC BANK HP có xu hướng giảm trong giai đoạn 2011 – 2013. Nếu như tỷ trọng này đạt 77,55% vào năm 2011 thì con số này đã giảm xuống còn 70% năm 2012 và đến năm 2013 giảm ở mức 45,86% tổng doanh thu của chi nhánh, Hoạt động cho vay là nguồn thu lãi chủ yếu của ngân hàng nhưng trong vài năm gần đây nhưng nó có xu hướng giảm nguyên nhân do nền kinh tế không ổn định, chính sách kinh tế bất hợp lý. Trong thời gian tới VID PUBLIC BANK HP cần phải nỗ lực hơn nữa để tăng cường huy động vốn cũng như đẩy mạnh hoạt động tín dụng song song với việc tăng trưởng các mảng dịch vụ khác tại chi nhánh.

2.3 Đánh giá chất lượng tín dụng của CN NHLD VID Public Hải Phòng

2.3.1 Kết quả đạt được Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Sau 18 năm hoạt động, VID PUBLIC BANK HP đã đạt được những thành tựu và thành công nhất định trong hoạt động tín dụng, cụ thể như sau:

  • Dư nợ cho vay tại VID PUBLIC BANK HP 3 năm trở lại đây dư nợ cho vay có giảm nhưng chấp nhận được, góp phần đáp ứng nhu cầu về vốn vay của các doanh nghiệp, cá nhân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của thành phố Hải Phòng, của cả nước cũng như thúc đẩy hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu qủa kinh doanh chung của bản thân CN NHLD VID Public Hải Phòng.
  • Công tác huy động vốn tại ngân hàng ở mức tăng trưởng tốt nhưng không được ổn định trong 3 năm gần đây. Năm 2012 nguồn vốn huy động đạt mức 236,4 tỷ đồng, tăng 13,2 tỷ tương đương với 6% so với năm 2011, đến năm 2013 nguồn vốn huy có giảm do ảnh hưởng nền kinh tế ngân hàng trích lập dự phòng rủi để kiểm soát chất lượng tín dụng tại chi nhánh.
  • Hồ sơ, thủ tục cho vay đã dần dần được đơn giản hoá cùng với những cải tiến trong quy trình tín dụng nên ngày càng linh hoạt, rút ngắn thời gian giải quyết một hồ sơ vay vốn và tạo điều kiện thuận tiện cho việc vay vốn của khách hàng. Hiện nay, những hồ sơ vay vốn thuộc quyền phán quyết của CN được giải quyết trong vòng từ 1 đến 3 ngày nếu hồ sơ đó đáp ứng đủ điều kiện vay vốn của ngân hàng. Đối với các hồ sơ vay vốn CN phải trình lên Hội sở chính xét duyệt, thời gian xem xét phê duyệt cho vay khoảng từ 1 đến 2 tuần tùy theo tính chất khoản vay và hồ sơ vay vốn cụ thể khách hàng nộp cho ngân hàng.
  • Phương thức cho vay đa dạng, linh hoạt về lãi suất và phương thức trả nợ thuận tiện, phù hợp với mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng như hình thức cho vay tín dụng luân chuyển, hạn mức tín dụng kết hợp, chiết khấu chứng từ, cho vay mua xe ôtô, cho vay tài trợ các dự án đầu tư, cho vay bảo đảm bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay… Vì vậy, doanh số cho vay, dư nợ tín dụng tăng trưởng được.

Có được những kết quả, những thành công trên đây chủ yếu là do VID PUBLIC BANK HP đã có những định hướng, quan điểm, chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp với định hướng phát triển của ngành ngân hàng, của thành phố Hải Phòng và của đất nước, phù hợp với đặc điểm, với khả năng và các điều kiện thực tế của ngân hàng song song với việc chú trọng và không ngừng nâng cao chất lượng các khoản tín dụng, đảm bảo phòng ngừa và hạn chế tối đa nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh cũng như triển khai thực hiện công tác thu hồi nợ vay hiệu quả. Một nguyên nhân cũng rất quan trọng đóng góp vào những kết quả, thành tích kể trên là nỗ lực làm việc hết mình, tác phong chuyên nghiệp, tinh thần phấn đấu và phục vụ khách hàng chu đáo của toàn thể đội ngũ cán bộ, nhân viên của chi nhánh.

Tuy nhiên, những kết quả trên vẫn chưa tương xứng với bề dày thời gian 18 năm hoạt động trên địa bàn Hải Phòng và tiềm năng của CN NHLD VID Public Hải Phòng. Hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng của CN vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục để có thể phát huy tốt nhất tiềm năng, làm cho chất lượng tín dụng được nâng cao hơn nữa, làm cho hoạt động kinh doanh của VID PUBLIC BANK HP ngày càng phát triển hiệu quả và bền vững.

2.3.2 Hạn chế về chất lượng tín dụng tại VID Public Bank HP

2.3.2.1 Dư nợ cho vay ,chất lượng cán bộ tín dụng chưa tốt Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Mặc dù được thành lập từ khá sớm nhưng quy mô tín dụng của CN VID Public Hải Phòng đến nay vẫn còn rất nhỏ. Tổng dư nợ cho vay của VID PUBLIC BANK HP cho đến nay vẫn còn rất khiêm tốn ( năm 2012, 2014 tương ứng 52,4% và 53% trên tổng tài sản)

Trong hệ thống Ngân hàng LD VID Public, Hải Phòng là chi nhánh thành lập thứ 4, song nhiều chi nhánh khác của VID Public Bank thành lập sau rất nhiều năm nhưng dư nợ tín dụng đến nay đã vượt khá xa chi nhánh Hải Phòng. Từ đó có thể đáng giá VID PUBLIC BANK HP là một trong các chi nhánh có tăng trưởng dư nợ tín dụng chậm trong hệ thống VID Public Bank.

Trình độ của cán bộ chuyên môn còn nhiều thiếu thấp: tuy có trình độ đại học,có sự năng động, nhiệt tình nhưng còn thiếu về kinh nghiệm không lường trước được hết các rủi trong hoạt động tín dụng tại thời điểm nền kinh tế có nhiều bất ổn định. Các khâu kiểm soát kiểm tra nội bộ vẫn chưa đúng mức vẫn còn phụ thuộc vào Hội sở chính.

2.3.2.2 Cơ cấu nợ chưa hợp lý

Cơ cấu cho vay bằng nội tệ và ngoại tệ chưa cân đối: Qua bảng 2.7 ta thấy, tỷ trọng cho vay bằng nội tệ vẫn chiếm gần như tuyệt đối, luôn ở mức trên 80% trong giai đoạn 2011 – 2013 trong khi tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ của CN tại các thời điểm 31/12/2012 và 31/12/2013 lần lượt là 13% và 12%. Ngân hàng cần phải điều chỉnh phù hợp nâng cao tỉ trọng cho vay bằng ngoại tệ vì với ưu thế là ngân hàng liên doanh, ngân hàng có khả năng điều kiện thu hút người ngoại tệ.

Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu đang có xu hướng tăng cao

Trong suốt thời gian 2011 – 2013 VID PUBLIC BANK HP thông qua việc đánh giá tình hình các khoản nợ quá hạn và nợ xấu tại ngân hàng, nhận thấy các khoản nợ có chiều hướng tăng dần qua các năm. Từ năm 2011 đến nay, nợ xấu có xu hướng gia tăng trong thời gian vừa qua tại CN NHLD VID Public Hải Phòng. Mặc dù các tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của VID PUBLIC BANK HP ở mức trung bình so với các chi nhánh trong cùng hệ thống ngân hàng VID Public, so với nhiều ngân hàng khác trên cùng địa bàn và trong ngưỡng cần chú ý, nhưng đây cũng là dấu hiệu cảnh báo chất lượng tín dụng của VID PUBLIC BANK HP bắt đầu có những vấn đề bất ổn. Việc tập trung quá nhiều vào đẩy mạnh dư nợ tín dụng trong khi đó nhiều khi công tác thẩm định cũng như công tác kiểm tra, giám sát sau phát vay của VID PUBLIC BANK HP còn đôi lúc chưa được thực sự sát sao, chặt chẽ làm cho hoạt động tín dụng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể gây nên nhiều nợ quá hạn, nợ xấu và có thể mất vốn cho CN NHLD VID Public Hải Phòng.

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan

Công tác thẩm định còn chưa thực sự tốt

Cán bộ tín dụng của VID PUBLIC BANK HP phải thực hiện khá nhiều phần việc, nhiều nghiệp vụ liên quan đến tín dụng nên khó tránh khỏi yếu kém, hạn chế ở một số chuyên môn nhất định. Bên cạnh đó, cho đến nay VID PUBLIC BANK HP hầu như chưa có sự thẩm định chéo dưới hình thức nhiều người cùng đề xuất cấp tín dụng hoặc Ban xét duyệt tín dụng, dẫn đến việc công tác thẩm định đề xuất cấp tín dụng hầu như chỉ đứng trên quan điểm chủ quan của cán bộ tín dụng phụ trách khoản vay, điều này gây ra rủi ro cho hoạt động tín dụng và chất lượng tín dụng sẽ bị giảm sút.

Mặt khác, trong nhiều trường hợp VID PUBLIC BANK HP vẫn có những hạn chế trong việc thu thập và phân tích thông tin về khách hàng. Thông tin mà ngân hàng ngân hàng có được chủ yếu là nguồn thông tin do khách hàng cung cấp và hạn chế về nhân sự qua công tác kiểm tra phân tích thông tin khách hàng một các xác thực. Vì thế, công tác thẩm định trong các trường hợp sẽ thiếu yếu tố khách quan, chính xác sẽ tạo nhiều sơ hở có thể mang đến những rủi ro. Vì vậy ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong hoạt động tín dụng gặp phải khách hàng cá nhân lẫn doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, xuất hiện tình trạng nợ quá hạn thậm chí dẫn đến nợ xấu gây rất nhiều khó khăn vướng mắc cho ngân hàng. Hoặc tình trạng do dự thể quyết định cấp tín dụng cho khách hàng vay vì thiếu thông tin làm cơ sở cho việc ra quyết định, làm mất cơ hội cho vay đến với nhiều khách hàng tiềm năng.

Công tác kiểm tra, kiểm soát còn nhiều sơ hở, lỏng lẻo

Hiện nay Ngân hàng LD VID Public chỉ có bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ tập trung ở Hội sở. Tuy nhiên, việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ cũng chưa thực sự sâu sát vì tần suất kiểm tra còn thấp (khoảng 2 năm mới kiểm tra 1 lần), thời gian mỗi lần kiểm tra còn ít (2 – 3 người kiểm tra trong 2 tuần cho tất cả các nghiệp vụ và hồ sơ liên quan của chi nhánh). Chính vì vậy, việc phát hiện những sai sót trong quy trình tín dụng, trong các nghiệp vụ cụ thể, trong các hồ sơ tín dụng để có những chấn chỉnh, điều chỉnh, sửa chữa và khắc phục còn chưa kịp thời và đầy đủ. Công tác giám sát tín dụng, đặc biệt là giám sát sau khi giải ngân của VID PUBLIC BANK HP còn chưa được thực hiện nhiều. Việc xem xét, đánh giá lại các khoản vay định kỳ dù được thực hiện nhưng vẫn còn mang tính hình thức nhiều. Có thể nói rằng khâu kiểm tra, kiểm soát nói chung và của mảng tín dụng nói riêng của VID PUBLIC BANK HP vẫn chưa được thực hiện đúng mức, vẫn chưa có cán bộ chuyên làm công tác kiểm tra, kiểm soát và giám sát tín dụng nên các món vay còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Số lượng cán bộ còn ít, năng lực cán bộ ngân hàng còn hạn chế

Hiện nay rất nhiều các NHTM thực hiện việc chuyên môn hóa sâu trong các hoạt động tín dụng của họ bằng việc phân tách ra các khâu như bộ phận thẩm định tài sản, bộ phận tín dụng, bộ phận pháp lý chứng từ, bộ phận quản lý rủi ro, bộ phận đôn đốc và thu hồi công nợ,… Việc phân tách như vậy có tác dụng làm cho chuyên môn nghiệp vụ của từng bộ phận là rất sâu, rất vững và hạn chế tối đa các rủi ro tín dụng do không nắm vững nghiệp vụ, do đánh giá chủ quan hoặc rủi ro đạo đức. Tuy nhiên, là một NHLD nên yêu cầu công việc đối với các nhân viên và cán bộ tín dụng của Ngân hàng LD VID Public nói chung và phòng tín dụng của VID PUBLIC BANK HP nói riêng là khá cao, các cán bộ và nhân viên tín dụng phải có khả năng và thực hiện toàn bộ các khâu công việc liên quan đến tín dụng như kể trên. Ngân hàng LD VID Public đòi hỏi người cán bộ tín dụng không những giỏi về nghiệp vụ tín dụng mà còn phải am hiểu về nhiều lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh doanh mà ngân hàng cho vay, cập nhật thường xuyên các thông tin kinh tế trong nước, ngoài nước và phải nắm vững, các quy định của của các cơ quan quản lý Nhà nước để có thể phân tích, tổng hợp, đánh giá và tham mưu cho lãnh đạo VID PUBLIC BANK HP trong các quyết định cấp tín dụng một cách đúng đắn và hiệu quả nhất. Có thể nói đây là yêu cầu rất khó, yêu cầu mỗi cán bộ tín dụng phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nắm bắt và cập nhật các kiến thức, các thông tin có liên quan đến hoạt động cho vay

Hiện tại VID PUBLIC BANK HP chỉ có 7 cán bộ tín dụng trong khi Hội sở chính duyệt chỉ tiêu cán bộ tín dụng của CN là 10 người. Mặt khác, trong những năm gần đây VID PUBLIC BANK HP đẩy mạnh cấp tín dụng và có một số cán bộ tín dụng chuyển công tác sang các đơn vị khác nên chi nhánh phải tuyển thêm nhiều cán bộ tín dụng mới. Đa phần các nhân viên tín dụng mới tuyển còn rất trẻ nên trình độ cũng như kinh nghiệm thực tế của họ còn hạn chế. Mặc dù tất cả nhân viên, cán bộ tín dụng đều có trình độ đại học trở lên nhưng người có thâm niên lâu nhất mới là 7 năm, đa phần số còn lại thời gian công tác chỉ từ 1 đến 3 năm. Vì vậy, phần lớn cán bộ tín dụng còn thiếu kinh nghiệm công tác nên cũng ảnh hưởng đến đến tăng trưởng và chất lượng tín dụng của CN NHLD VID Public Hải Phòng. Với khối lượng công việc khá nhiều và yêu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ vừa đảm bảo tăng trưởng dư nợ tín dụng theo chỉ tiêu Hội sở giao cho gặp phải sai sót như bỏ bớt các khâu cấp tín dụng nhằm đẩy nhanh tiến độ đạt chỉ tiêu được giao, k tránh khỏi tình trạng nợ quá hạn, xảy ra khiến chất lượng tín dụng của Chi nhánh không được tốt. Qua đó nó là thiểu sót của Chi nhánh cần phải được khắc phục kịp thời.

2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng chưa hoàn chỉnh và đồng bộ

Trong nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, khung pháp lý được đánh giá là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng và cũng là một trong những yếu tố có khả năng gây rủi ro cho hoạt động ngân hàng xuất phát từ các quyền đối với tài sản và luật pháp về hợp đồng không rõ ràng, không có khả năng thực thi trên thực tế, không đảm bảo được khả năng thực thi các cam kết và nắm giữ tài sản trên thực tế. Do đó, việc xây dựng khung pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, rõ ràng và đảm bảo khả năng “cưỡng chế” thu hồi nợ cho các TCTD rất cần thiết. Mặt khác, nước ta cần phải khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật để phù hợp với xu thế và bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng ở nước ta đến nay còn nhiều chỗ chưa đồng bộ và đầy đủ, tính ổn định thấp, còn nhiều điểm chồng chéo, thiếu rõ ràng. Số lượng các văn bản pháp luật thì nhiều nhưng các quy định pháp luật, các văn bản pháp quy thường xuyên thay đổi cũng như hiệu lực thực thi của nhiều văn bản pháp quy tương đối thấp đã gây tác động không tốt tới hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động động tín dụng của ngân hàng nói riêng.

Cải cách hành chính còn chậm chạp

Mặc dù nước ta đang đẩy mạnh việc cải cách hành chính nhưng công cuộc này đang diễn ra rất chậm, thiếu đồng bộ nên gây không ít khó khăn cho các khách hàng và ngân hàng khi cần sự hỗ trợ hoặc thực hiện các giao dịch với các cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, với những lĩnh vực, những vấn đề phải phối hợp giữa các cơ quan trung ương và địa phương, các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực thì việc xử lý rất chậm và kém hiệu quả. Theo quy định trong toàn hệ thống, VID PUBLIC BANK HP chỉ nhận thế chấp bất động sản đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và/hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Theo Luật Đất Đai 2003 thì từ tháng 1/2007, cơ quan công chứng chỉ thực hiện chứng thực các giao dịch liên quan đến bất động sản đối với những tài sản đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong khi đó, tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói riêng và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất nói chung trên địa bàn thành phố Hải Phòng và cả các tỉnh khác ở miền Bắc trong thời gian qua còn rất chậm. Đặc biệt là việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các doanh nghiệp trong các khu chế xuất và khu công nghiệp ở Hải Phòng và các tỉnh phía Bắc (bao gồm cả Hà Nội) vẫn còn rất chậm. Trong khi đó, các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ như TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Phước,… việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khá đơn giản và nhanh chóng. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp vì họ không thể dùng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất để thế chấp cho các TCTD để vay vốn đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.

Ảnh hưởng của suy thoái kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

Trong giai đoạn 2011 – 2013, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước ta như giảm nhu cầu hàng hóa từ Việt Nam, giảm nhu cầu vay vốn ngân hàng để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng và phát triển tín dụng của các NHTM nói chung và của VID PUBLIC BANK HP nói riêng. Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới và những khó khăn của kinh tế trong nước đã làm cho giá cả các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất tăng lên trong đó có lãi suất vay vốn tăng rất cao khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp càng trở nên khó khăn hơn, hàng hóa khó tiêu thụ, thậm chí nhiều doanh nghiệp thua lỗ nặng, dẫn đến tình trạng có rất nhiều khách hàng tín dụng không có đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng, điều này làm cho nợ quá hạn và nợ xấu có xu hướng tăng, chất lượng tín dụng của ngân hàng bị ảnh hưởng.

Cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng – tài chính

Hải Phòng là thành phố lớn, là một trung tâm kinh tế thương mại của cả nước nên sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng tài chính ngày càng gay gắt với 51 CN ngân NHTM và 173 phòng giao dịch. VID PUBLIC BANK HP kém cạnh tranh hơn so với các NHTM quốc doanh về mặt lãi suất vì các ngân hàng này thường có ưu thế về vốn, quy mô, nhiều khách hàng truyền thống và có ưu thế về lãi suất, sự hỗ trợ từ Chính phủ.

Thông tin mà khách hàng cung cấp không đầy đủ, chính xác

Hiện nay đa số các khách hàng doanh nghiệp hay các hộ kinh doanh cá thể không chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về kế toán thống kê, kiểm toán và tìm mọi cách để giảm tối đa số thuế phải nộp cho nhà nước. Vì vậy, các số liệu trong các báo cáo thuế, báo cáo tài chính của họ không phản ánh hết và chính xác thực trạng tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của họ. Mỗi khi có nhu cầu vay vốn họ lập phương án sản xuất kinh doanh thường rất sơ sài, thiếu nhiều thông tin cơ bản nên ít có cơ sở để ngân hàng đánh giá tính khả thi và hiệu quả của dự án vay vốn. Do vậy, trong nhiều trường hợp VID PUBLIC BANK HP phải xử lý hồ sơ, thẩm định mất rất nhiều thời gian mới quyết định cấp tín dụng được. Nhiều khách hàng tín dụng còn ngụy tạo báo cáo tài chính sai lệch không đúng với thực tế, ngụy tạo hồ sơ để đạt mục tiêu vay được tiền vốn của ngân hàng. Chính những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thẩm định của ngân hàng, dẫn đến đánh giá sai lệch về khách hàng vay, làm giảm chất lượng tín dụng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

Ý thức trả nợ của khách hàng còn kém

Thức trả nợ của khách hàng là một trong những yếu tố mang tính quyết định khi xem xét cho vay đối với khách hàng, nó đặc biệt có ý nghĩa khi ngân hàng buộc phải thu hồi và xử lý nợ quá hạn. Trong thực tế hoạt động của VID PUBLIC BANK HP đã có rất nhiều khách hàng tín dụng rất thiếu ý thức, kém hiểu biết về pháp luật nên đã chây lỳ không trả nợ cho chi nhánh, để nợ quá hạn kéo dài nhiều năm trời. Trường hợp điển hình của dạng này là Công ty TNHH, khách hàng này luôn hứa hẹn trả nợ, lảng tránh khi ngân hàng đến đòi nợ. Kể cả khi VID PUBLIC BANK HP mời văn phòng luật sư can thiệp để tăng tiến độ xử lý và thu hồi khoản vay này thì khách hàng này vẫn không thiện chí hợp tác với luật sư và ngân hàng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ vay cho ngân hàng. Một số khách hàng của VID PUBLIC BANK HP hoàn toàn có khả năng tài chính và nguồn trả nhưng vẫn cố tình chây lỳ, khất lần và không thiện chí trả nợ khiến công tác thu hồi nợ của VID PUBLIC BANK HP gặp rất nhiều khó khăn.

Nguyên nhân từ chính sách tín dụng và quy trình tín dụng của Ngân hàng LD VID Public

Trước năm 2006, quan điểm, chính sách tín dụng của toàn hệ thống Ngân hàng liên doanh VID Public là hết sức thận trọng. Theo thỏa thuận trong hợp đồng liên doanh giữa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Public Bank Berhad thì phía Public Bank Berhad nắm quyền điều hành các hoạt động của ngân hàng với Tổng giám đốc từ khi thành lập đến nay luôn là người Malaysia. Vì vậy, do ảnh hưởng bởi chính sách cho vay rất thận trọng của ngân hàng mẹ bên Malaysia và chưa thực sự quen với các đặc thù, các điều kiện của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện môi trường kinh tế cũng như môi trường pháp luật ở Việt Nam còn chưa ổn định, thiếu đồng bộ và còn nhiều bất cập nên Hội sở chính và tất cả các CN của VID PUBLIC BANK hầu như chưa chú trọng và quan tâm đúng mức đến các hoạt động tín dụng, không chủ động tiếp cận và đẩy mạnh các hoạt động tín dụng đối với khách hàng.

Trong thời gian đầu, quyền phê duyệt cho vay của CN còn rất thấp (chỉ tối đa là 50.000 USD) nên rất nhiều khoản vay phải trình lên Hội sở chính, thậm chí có những khoản vay giá trị không lớn tại thời điểm đó nhưng phải trình sang cả hai ngân hàng mẹ là Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam và Public Bank Berhad của Malaysia để phê duyệt cho vay.

Các điều kiện cho vay cũng rất khắt khe đối với các khách hàng vay vốn, đặc biệt là yêu cầu về tài sản bảo đảm cho khoản vay. Về mặt lý thuyết thì các biện pháp bảo đảm tiền vay chỉ là biện pháp phòng ngừa, để hạn chế, khắc phục tổn thất một khi các rủi ro tín dụng phát sinh và các khách hàng không có khả năng trả nợ và không muốn trả nợ cho ngân hàng. Trong khi đó, các yếu tố quan trọng mang tính quyết định khi xem xét, quyết định cho vay hay không phải là khả năng trả nợ của khách hàng, là tính khả thi của dự án vay vốn và ý thức thực hiện nghĩa vụ tài chính của khách hàng vay vốn, TSBĐ chỉ là điều kiện bổ sung để ràng buộc và tăng trách nhiệm của khách hàng với khoản vay ngân hàng. Tuy nhiên, trong các năm đầu triển khai hoạt động tín dụng, khi xem xét và đánh giá hồ sơ vay vốn của khách hàng thì Ngân hàng LD VID Public đã quá coi trọng tài sản đảm bảo nhất là đối với các khách hàng lần đầu tiên có quan hệ vay vốn với ngân hàng. Căn cứ theo định hướng của cấp trên, VID PUBLIC BANK HP thông thường chỉ chấp nhận TSBĐ là bất động sản, nhà xưởng với đầy đủ giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, hạn chế nhận máy móc thiết bị làm TSBĐ. Cho đến nay, VID PUBLIC BANK HP không nhận TSBĐ là các máy móc thiết bị đã quá 5 năm kể từ ngày xuất xưởng và vẫn chưa có trường hợp cho vay nào mà bảo đảm bằng hàng tồn kho luân chuyển hoặc quyền đòi nợ. Việc quy định khắt khe đối với TSBĐ tiền vay như vậy đã khiến cho VID PUBLIC BANK HP mất khá nhiều cơ hội cho vay đối với các khách hàng có năng lực và tiềm năng thực sự, có khả năng kinh doanh hiệu quả chỉ vì họ không có đủ TSBĐ theo yêu cầu cho món vay.

Chính vì các lý do trên đã khiến cho trong nhiều trường hợp VID PUBLIC BANK HP đã bỏ qua rất nhiều khách hàng có tiềm năng thực sự và hoạt động tín dụng của VID PUBLIC BANK HP phát triển còn chậm chạp trong nhiều năm.

Mạng lưới chi nhánh của VID Public Bank còn nhỏ hẹp

Sau gần 18 năm hoạt động, đến nay toàn hệ thống VID Public Bank mới có 8 chi nhánh, chưa có phòng giao dịch nào. Đây là con số rất thấp so với các NHTM khác. Tại Hải Phòng, Ngân hàng LD VID Public cũng chỉ có một địa chỉ giao dịch duy nhất tại số Số 22,Khu B1,Lô 7B,Lê Hồng Phong. Trong khi đó các NHTM khác đã mở nhiều chi nhánh và phòng giao dịch trên các tuyến đường phố chính, các khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt động, các khu đông dân cư, các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, các siêu thị, các trung tâm thương mại nhằm quảng bá thương hiệu, thu hút khách hàng thông qua sự tiện lợi, tiết kiệm, gần gũi khách hàng.

Quy mô mạng lưới hoạt động của VID PUBLIC BANK HP nói riêng và của cả hệ thống VID Public Bank nói chung còn rất nhỏ bé, thương hiệu chưa được quảng bá rộng rãi, ít các dịch vụ và tiện ích nên đã khiến cho một bộ phận khá lớn doanh nghiệp và người dân tại Hải Phòng vẫn chưa biết đến ngân hàng, thậm chí nhầm lẫn với một số NHTM khác như VP Bank, VIBank,.. hoặc có biết đến nhưng cũng còn dè dặt hoặc không thực sự muốn đặt quan hệ tín dụng với chi nhánh vì cho rằng năng lực tài chính của ngân hàng có khả năng chỉ ở mức trung bình thấp nên mới không có nhiều chi nhánh (cũng đồng nghĩa với việc khó vay vốn, mức vay thấp, lãi suất cao,…). Ít địa điểm giao dịch chắc chắn sẽ không thuận tiện cho các giao dịch của khách hàng, đặc biệt là các khách hàng doanh nghiệp có bạn hàng ở nhiều tỉnh và thành phố thì họ và khách hàng của họ thường giao dịch với ngân hàng cùng hệ thống thì sẽ nhanh chóng và tiết kiệm phí giao dịch hơn.

Như đã nêu ở trên, chúng ta có thể thấy rằng có nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại CN NHLD VID Public Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại PBVN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng PBVN

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về Ngân hàng Liên Doanh VID Public

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464