LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển kinh tế luôn là mục tiêu quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển như Viêt Nam. Là một nước đang phát triển với hơn 70% dân số sống ở nông thôn nên vai trò của nông nghiệp trong quá trình phát triển đất nước là rất quan trọng. Trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước của nước ta với đường lối đổi mới, nông nghiệp được xác định là “mặt trận hàng đầu”, với việc tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế nhằm giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn, chuyển nền nông nghiệp từ tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Phát triển và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu, nó có tầm quan trọng trong việc nâng cao và ổn định đời sống của hộ sản xuất nông nghiệp, không ngừng tăng cường và phát triển đời sống mới ở nông thôn. Cần phải chú ý đến nền sản xuất nông nghiệp hiện nay bằng cách trong sản xuất nông nghiệp phải thay đổi cơ cấu và tính chất trong quan hệ sản xuất nông nghiệp, lấy sản xuất hộ nông dân là mặt trận hàng đầu, thông qua việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh việc phát triển trong chăn nuôi gia súc, gắn liền với việc sản xuất hàng hoá tiêu dùng phải đẩy mạnh sản xuất hàng hoá xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại phát triển kinh tế dịch vụ, đẩy mạnh việc mở rộng và phát triển ngành nghề truyền thống. Muốn xây dựng và phát triển được thì phải cần có nguồn vốn , chính vì vậy từ những ngày đầu trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng đã ban hành quy định về chính sách cho hộ cá thể vay vốn để phát triển nông lâm ngư nghiệp và kinh tế nông thôn. Kèm theo nghị định này có những quy định cụ thể về chính sách cho hộ cá thể vay vốn. Mục đích khai thác hết tiềm năng thế mạnh của từng vùng, sức lao động, năng lực trình độ tổ chức sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, nâng cao đời sống của các hộ cá thể hết đói nghèo. Tạo điều kiện cho các hộ cá thể có điều kiện vươn lên làm giầu chính đáng. Nhận thức được tình hình trên, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức triển khai tới toàn ngành, việc đầu tư vốn cho các hộ cá thể có nhu cầu vay vốn để sản xuất – kinh doanh không phân biệt các thành phần kinh tế. Đã tìm ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mình mở rộng mạng lưới trên khắp mọi miền đất nước phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế nông thôn, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chấp nhận khó khăn vì lợi ích kinh tế của đất nước và của ngành đã vượt qua những bước thăng trầm đứng vững lên trong cơ chế thị trường chuyển hướng đầu tư tín dụng về với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Cùng với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, các chi nhánh ở từng địa phương cũng đang làm tốt nhiệm vụ đó, một trong số đó là Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Thủy Nguyên. Với sự quyết tâm của toàn thể cán bộ Ngân hàng, Chi nhánh Thủy Nguyên đã làm rất tốt việc đầu tư giúp các hộ cá thể có vốn để sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế của huyện Thủy Nguyên phát triển, góp phần không nhỏ trong sự nghiệp Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy em mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ cá thể tại NHNo&PTNT – chi nhánh huyện Thủy Nguyên”
Đề tài được chia làm 3 chương:
CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG HỘ CÁ THỂ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ CÁ THỂ TẠI NHNo&PTNT – CHI NHÁNH HUYỆN THỦY NGUYÊN
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HỘ CÁ THỂ TẠI NHNo&PTNT – CHI NHÁNH HUYỆN THỦY NGUYÊN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG HỘ CÁ THỂ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tín dụng hộ cá thể của NHTM. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
1.1.1. Tín dụng của NHTM.
1.1.1.1.Khái niệm tín dụng của NHTM
Tín dụng ngân hàng là một phạm trù kinh tế hàng hoá.Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi. Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như : tina dụng thương mại, tián dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng.
Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng nói chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các ngân hàng, tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ và theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
“ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ mà một bên là ngân hàng một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”. Với tư cách là người đi vay : ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội Với tư cách là người cho vay: Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Với vai trò này, ngân hàng đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn, tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội.Đây là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời.
Sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển và hiện nay ngày càng có nhiều hình thức tín dụng mới ra đời đáp ứng nhu cầu gửi tiền và đi vay của các đối tượng khác nhau.Tín dụng trở thành một hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại.Để quản lý tốt chất lượng các các khoản tín dụng người ta phân loại tín dụng theo nhiều hình thức khác nhau.
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng thương mại
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn. Nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng và thời hạn khác nhau, do đó nó có thể thoả mãn các nhu cầu vốn đa dạng về thời hạn cũng như khối lượng và mục đích sử dụng.
Sự tin tưởng đóng một vai trò quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của quan hệ tín dụng ngân hàng.
1.1.1.2. Phân loại các hình thức tín dụng Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Tín dụng cho vay tồn tại dưới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi.Tuy nhiên, căn cứ vào một số các tiêu thức khác nhau để phân chia tín dụng ngân hàng.Dưới đây là một số cách phân chia mà Ngân hàng thương mại thường sử dụng khi phân tích và đánh giá.
a) Phân loại theo thời hạn tín dụng.
Theo cách này tín dụng ngân hàng thương mại được phân làm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, nó có thể được vay cho những sinh hoạt cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-3 năm. loại tín dụng này thường dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và biến đổi kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dung có thời gian từ 3 năm trở lên. Loại tín dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản như: Đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần bổ sung cho vốn lưu động.
b) Phân loại theo đối tượng tín dụng
Theo tiêu thức này thì tín dụng được chia làm 2 loại
- Tín dụng lưu động: loại nào được cấp phát để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như cho vay để dự trữ hàng hoá đối với xí nghiệp, thương nghiệp, bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Loại này được chia làm 2 loại:
- Cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất.
- Cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu, với thời hạn cho vay là ngắn hạn.
Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được cấp phát để hình thành tài sản cố định. Loại này thường được đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình mới.Thời hạn cho vay đối với loại này là trung và dài hạn.
c) Phân loại theo mục đích:
Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được phân chia rất đa dạng và phong phú:
- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp thương mại và dịch vụ.
- Cho vay công nghiệp và thương mại: là cho vay ngắn hạn để bổ xung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
- Cho vay Nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, con giống, lao động, ..
- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay Ngân hàng còn cho vay để trang trải các khoản chi phí thông thường của đời sống thông dụng dưới tên gọi là tín dụng tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ – Thuê mua và các loại tín dụng khác.
- Phân loại theo thành phần kinh tế.
- Tín dụng đối với doanh nghiệp.
- Tín dụng đối với hộ cá thể.
1.1.2. Tín dụng hộ cá thể của NHTM. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
1.1.2.1. Khái niệm tín dụng hộ cá thể
Tín dụng hộ cá thể hay còn gọi là tín dụng cá nhân là một hình thức tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ Ngân hàng đến khách hàng là các cá nhân trong thời gian nhất định với một khoảng chi phi nhất định. Tín dụng cá nhân là một hình thức của tín dụng ngân hàng, có bản chất, vai trò và phân loại như tín dụng ngân hàng.
Đặc điểm chung của tín dụng hộ cá thể
Đặc điểm về khách hàng: Khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân, hộ gia đình, chủ trang trại, tổ hợp tác, được các NHTM áp dụng phương thức cho vay theo quy trình và thủ tục của cho vay khách hàng cá nhân
Đặc điểm về khoản vay: các khoản cho vay đối với khách hàng cá nhân thường là các khoản có giá trị nhỏ, có tính không thường xuyên và không ổn định, nhưng số lượng các khoản vay là rất lớn
Đặc điểm về chất lượng các khoản vay: chất lượng của các khoản cho vay này thường là tốt nêu không có những biến cố khách quan khó lường trước như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh, hỏa hoạn… và một phần từ phía khách hàng.
Đặc trưng về thời hạn các khoản vay: thường là ngắn hạn, một ít là trung hạn và rất ít là dài hạn
1.1.2.2. Vai trò của tín dụng đối với hộ cá thể Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Trong nền kinh tế hàng hoá các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu không có vốn.Đặc biệt là trong điều kiện nước ta hiện nay, thiếu vốn là hiện tượng thường xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với nhưng hộ kinh doanh cá thể.Vì vậy vốn tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, nó trở thành “bà đỡ” trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Nhờ có vốn tín dụng, các đơn vị kinh tế không những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật mới đảm bảo thắng lợi trong cạnh tranh.Riêng đối với hộ cá thể, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộ cá thể.
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các hộ cá thể để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
Sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả có ý nghĩa quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế. Nếu như vốn tham gia vào quá trình đầu tư không đem lại hiệu quả sẽ không có sự tăng trưởng thậm chí còn gây sức ép tới lạm phát, tạo ra kết cục trái ngược. Thực tế cho thấy, quá trình sản xuất luôn trải qua những giai đoạn khác nhau, vì vậy các doanh nghiệp nói chung và hộ cá thể nói riêng có lúc thừa vốn có lúc thiếu vốn. Việc vay bổ sung vốn lưu động sẽ giúp cho quá trình sản xuất được liên tục. Mặt khác, vốn đầu tư từ bên ngoài vào còn giúp cho các thành phần kinh tế tham gia vào quá trình đổi mới công nghệ nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước như nước ta hiện nay.
Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ cá thể với sự chuyên môn hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ cá thể chưa thu hoạch sản xuất, chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiềnđể trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác. Trong những lúc này các hộ cá thể cần có sự hỗ trợ giúp đỡ của tín dụng ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ cá thể có thể sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tình thần cho mọi người.
Như vậy có thể khẳng định rằng tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ cá thể ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.Nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất là cần thiết và rất lớn, khu vực nông thôn trở thành một thị trường to lớn của tín dụng ngân hàng.cũng vì thế mà thị phần của các hộ cá thể trong dư nợ của ngân hàng nông nghiệp càng tăng.
Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trungvốn và tập trung sản xuất.
Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vố tập trung sản xuất của tín dụng ngân hàng đã được thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ. Hiệu quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng phải đảm bảo được độ an toàn và có lợi nhuận, tránh rủi ro trong cho vay.
Bằng cách tập trung vốn vào các doanh nghiệp, các hộ cá thể kinh doanh có hiệu quả, có nghĩa là vốn đã được bổ sung vào đúng chỗ còn thiếu, giúp cho các hộ cá thể càng có điều kiện để mở rộng sản xuất có hiệu quả hơn, đóng góp cho xã hội nhiều sản phẩm với chất lượng cao thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời ngân hàng cũng đảm bảo tránh được rủi ro tín dụng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, ngân hàng phải quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ cá thể vay.Vì vậy ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông.trên cơ sở đó hộ cá thể phải tập trng vốn như thế nào để sản xuất, góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới giải quyết việc làm cho người lao động.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có nhiều làng nghề truyền thốg, nhưng chưa được quan tâm đến các ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả kinh tế đặc biệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ. Và tín dụng ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút được số lao động nhàn rỗi giải quyết việc làm cho người lao động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông – lâm – thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở các thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Do đó tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề này phát triển một cách nhịp nghành và đồng bộ. Như vậy, bằng động tác gián tiếp ngân hàng đã kích thích các hộ cá thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phải hoạch định kinh doanh để tính toán có hiệu quả, giảm cho phí sản xuất hàng hoá, góp phần vào phát triển kinh tế hộ nói riêng và nền kinh tế cả nước nói chung.
Vai trò của tín dụng ngân hàng về mặt chính trị – xã hội:
Tín dụng ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội.
Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ cá thể đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta. Có việc làm, người lao động có thu nhập sẽ hạn chế được tiêu cực xã hội. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế những luồng di dân vào thành phố. Thực hiện được vấn đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân, đời sống văn hoá, kinh tế xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thi càng nhích lại gần nhau, hạn chế bớt sự phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữa vững an ninh chính trị.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng thực hiện tốt các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo.Tín dụng ngân hàng thúc đẩy các hộ cá thể phát triển nhanh, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở nên khá hơn, hộ khá trở nên hộ giàu. Chính vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần dần được xoá bỏ như: rượu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan, nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượng kinh doanh. Qua đây, chúng ta thấy được vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc củng cố lòng tin của nông dân nói chung và hộ cá thể nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
1.2. Chất lượng tín dụng hộ cá thể của ngân hàng thương mại. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
1.2.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ hoạt động hiệu quả của ngân hàng, sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển.
Tín dụng là một trong những hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho ngân hàng.Chính vì vậy các ngân hàng luôn chú trọng đến chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng có thể được hiểu là ngân hàng đáp ứng được kịp thời, đầy đủ vốn cho khách hàng, được khách hàng sử dụng đúng mục đích và tạo ra số tiền lớn hơn số tiền bỏ ra ban đầu, đảm bảo khách hàng trả nợ vay cả gốc và lãi đúng thời hạn theo thỏa thuận, đảm bảo thu nhập cho cả ngân hàng và khách hàng.
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng của ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ gốc đúng hạn và có lãi. Chất lượng tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày một tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn, trung, dài hạn trong nền kinh tế.
Chất lượng tín dụng vừa cụ thể, vừa trừu tượng và có quan hệ đến nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau.Có thể nói chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, thể hiện năng lực của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường khắc nghiệt.
1.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng hộ cá thể. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
1.2.2.1. Các chỉ tiêu định lượng
Đánh giá hoạt động tín dụng xét ở góc độ của ngân hàng.
Các khoản tín dụng của ngân hàng có chất lượng tốt khi hiệu quả sử dụng vốn cao, an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ thể sử dụng đồng thời mang lại một mức lợi nhuận cho ngân hàng. Vì vậy để đánh giá chất lượng tín dụng ngoài các chỉ tiêu định tính phải dựa vào các chỉ tiêu định lượng cụ thể như sau: Doanh số cho vay
Là chỉ tiêu phản ánh tổng số tiền mà Ngân hàng đã giải ngân cho vay trong một thời gian nào đó, thường được xác định theo tháng, quí hay năm. Doanh số cho vay phản ánh kết quả về việc phát triển, mở rộng hoạt động cho vay và tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng. Nếu như các nhân tố khác cố định thì doanh số cho vay càng cao phản ánh việc mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng càng tốt, ngược lại doanh số cho vay của ngân hàng mà giảm trong khi cố định các yếu tố khác thì chứng tỏ hoạt động của ngân hàng là không tốt
Doanh số thu nợ
Là tổng số tiền mà ngân hàng thu về từ các khoản cho vay, kể cả những khoản vay của năm nay và những năm trước đó
Dư nợ cho vay
Là khoản tiền mà ngân hàng đã giải ngân nhưng chưa thu hồi về tại một thời điểm xác định. Dư nợ được xác định như sau:
Dư nợ cuối kì = Dư nợ đầu kì + doanh số cho vay trong kì – doanh số thu nợ trong kì
Tổng dư nợ cho vay cao và tăng trưởng nhìn chung phản ánh một phần hiệu quả hoạt động tín dụng tốt và ngược lại tổng dư nợ tín dụng thấp, ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay hay mở rộng thị phần, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém. Tuy nhiên tổng dư nợ cao chưa hẳn đã phản ánh hiệu quả tín dụng của ngân hàng cao vì đôi khi nó là biểu hiện cho sự tăng trưởng nóng của hoạt động tín dụng, vượt quá khả năng về vốn cũng như khả năng kiểm soát rủi ro của ngân hàng, hoặc mức dư nợ cao, hoặc tốc độ tăng trưởng nhanh do mức lãi suất cho vay của ngân hàng thấp hơn so với thị trường dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm.
Nợ xấu
Nợ xấu ngày càng cao thì đó chính là biểu hiện của rủi ro tín dụng. Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và quyết định sửa đổi bổ sung số 18/2007/QĐ – NHNN, việc phân loại nợ và nợ xấu được xác định như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn;
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định (Khoản 2 Điều 6 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN).
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu);
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định (Khoản 2 Điều 6 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN).
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2;
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định (Khoản 3 Điều 6 Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN).
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: – Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; Nợ xấu là những khoản nợ không hiệu quả, nó bao gồm tất cả các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5.
Vòng quay vốn tín dụng (vòng)
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, thời gian thu hồi nợ nhanh hay chậm trong thời kỳ nhất định. Vòng quay cao thì nguồn vốn không ổn định do thời hạn cho vay thường là ngắn hạn, tính rủi ro thấp nhưng chi phí quản lí bỏ ra cao nên lợi nhuận thấp. Ngược lại, khi vòng quay thấp, các khoản cho vay thường là trung và dài hạn tính rủi ro sẽ cao nhưng chi phí bỏ ra thấp nên lợi nhuận mang lại cũng cao hơn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Vốn huy động trên dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng dư nợ có bao nhiêu đồng vốn huy động tham gia.Chỉ tiêu này còn phản ánh được vốn huy động được có đảm bảo khả năng cho vay của Ngân hàng hay không. ốn hủy động trên dư nợ = Vốn huy động Dư nợ
Chỉ tiêu > 1: thể hiện lượng vốn huy động được dồi dào, ngoài đáp ứng được nhu cầu cho vay của Ngân hàng còn có thể phục vụ cho những hoạt động khác như
Chỉ tiêu = 1: lượng vốn huy động được tại địa bàn chỉ đảm bảo được khả năng cho vay của Ngân hàng, không sử dụng cho mục đích khác.
Chỉ tiêu < 1: khả năng huy động vốn trên địa bàn kém, nguồn vốn huy động tham gia vào nghiệp vụ tín dụng thấp. Ngân hàng phải bổ sung bằng nguồn vốn khác.
Hệ số thu nợ (%)
Chỉ số này đánh giá công tác thu hồi nợ cho vay của một ngân hàng, đánh giá khả năng thu hồi nợ của các khoản tín dụng đã cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu
Nợ xấu là nợ quá hạn thuộc nhóm 3,4,5 trong phân loại nhóm nợ. Hệ số cho thấy mực độ nguy hiểm mà NHTM phải đối mặt và do đó phải có biện pháp giải quyết nếu không muốn ngân hàng gặp tổn thất.
Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng dưới góc độ khách hàng.
Khách hàng là người trực tiếp quản lý, sử dụng vốn tín dụng. Đối với khách hàng thì 1 khoản tín dụng tốt được biểu hiện ở 1 số chỉ tiêu sau:
- Doanh thu tăng từ dự án sử dụng vốn tín dụng;
- Lợi nhuận tăng từ dự án;
- Lao động tăng từ dự án.
Có thể nói, một khoản tín dụng tốt đối với ngân hàng cũng chính là tín dụng tốt đối với khách hàng. Từ nguồn vốn vay ngân hàng mà khách hàng có thể mở rộng hoạt động sản xuất, làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Vì thế, từ mục tiêu của khách hàng, tín dụng ngân hàng tạo cơ sở cho sự phát triển nền kinh tế.Khách hàng làm ăn có hiệu quả, có lãi tiếp tục đầu tư vào dự án mới, lại xuất hiện nhu cầu tín dụng mới.
Như vậy, khi đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng, ta không thể căn cứ vào một chỉ tiêu cụ thể mà phải xem xét một hệ thống các chỉ tiêu ở trên để phân tích cả hai mặt định lượng và định tính, cả về lợi nhuận thuần túy và lợi ích xã hội, cả trên quan điểm của khách hàng và quan điểm của ngân hàng. Có như vậy việc đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng mới thực sự khách quan, chính xác phản ánh đúng thực trạng để từ đó phân tích nguyên nhân, tìm ra giải pháp tháo gỡ khó khăn một cách hiệu quả.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu định tính. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Ngoài các chỉ tiêu định lượng, hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng còn được phản ánh thông qua các chỉ tiêu định tính – những chỉ tiêu hết sức quan trọng có tính chất quyết định đối với chất lượng và độ an toàn, hiệu quả của tín dụng ngân hàng.
Xét trên góc độ ngân hàng:
- Thủ tục và quy chế cho vay vốn: Đây là khâu tiếp xúc đầu tiên của khách hàng với ngân hàng. Thủ tục làm việc tinh thần thái độ phục vụ khách hàng của các cán bộ tín dụng sẽ gây ấn tượng mạnh cho khách hàng. Yêu cầu về các thủ tục giấy tờ thời gian làm việc đơn giản không gây phiền hà kết hợp tinh thần thái độ phục vụ chu đáo nhiệt tình của cán bộ tín dụng sẽ tạo cho khách hàng một tâm lý thoải mái tạo niềm tin và hình ảnh tốt trong mỗi khách hàng. Phục vụ tốt nhất cho khách hàng nhưng phải đảm bảo đúng quy chế cho vay vốn tín dụng. Thực hiện tuần tự, chuẩn xác trong công tác thẩm định về dự án, khả năng tài chính, năng lực pháp lý của khách hàng, về tài sản đảm bảo… nhằm đưa ra được quyết định hợp lý nhất vừa phục vụ khách hàng vừa phòng ngừa rủi ro. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
- Xét duyệt cho vay: Khách hàng đến với ngân hàng mong muốn được vay vốn phù hợp với thời gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Nâng cao chất lượng tín dụng trên cơ sở phục vụ khách hàng tốt nhất nhưng cũng phải đảm bảo an toàn tín dụng. Hiện nay quy định thời hạn xét duyệt cho vay tối đa 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn xin vay vốn. Trong khoảng thời gian này ngân hàng phải làm rất nhiều công việc. Với những khách hàng quen thuộc thì công tác thẩm định tốn ít thời gian và chi phí hơn, thời gian xét duyệt cho vay ngắn hơn. Với một khách hàng mới thì chi phí và thời gian cho thẩm định là cao hơn, việc tiếp xúc giữa khách hàng và ngân hàng có nhiều thủ tục phiền phức hơn. Giai đoạn này yêu cầu phải có những cán bộ tín dụng giỏi, có chuyên môn tốt để đưa ra những quyết định chính xác trong khoản vay đó thì mới đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Tinh thần thái độ phục vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng: Khi cho vay, nếu cán bộ tín dụng có tinh thần thái độ, đạo đức nghề nghiệp tốt thì trong quá trình tiếp cận phục vụ khách hàng sẽ tạo cho khách hàng niềm tin và tạo một hình ảnh tốt trong mỗi khách hàng. Năng lực trình độ chuyên môn, kinh nghiêm của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng các món vay. Với nâng lực trình độ chuyên môn và kinh nghiêm cao thì khi thẩm định cho vay sẽ đưa ra được những quyết định đúng đắn, có hiệu quả, rủi ro thấp.
- Cơ sở vật chất, công nghệ hiện đại của ngân hàng cũng ảnh hưởng tích cực đến chất lượng tín dụng. Một cơ sở tốt có ảnh hưởng tốt tới tâm lý khách hàng, phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng một cách chính xác và nhanh nhất, một cơ sở vật chất tốt sẽ tạo được hứng khởi cho chính cán bộ tín dụng thực hiện tốt công việc của mình.
Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại giúp cho ngân hàng có thể tiếp cận được những thông tin phục vụ cho công tác thẩm định tốt nhất trên các mặt thông tin về khách hàng, thông tin về dự án (tính hiệu quả của dự án, xu hướng phát triển đối với sản phẩm của dự án, giá cả, cạnh tranh…), thông tin về thị trường một cách nhanh chóng và chuẩn xác nhất, thông tin quản lý đối với các khách hàng lớn vay vốn của nhiều tổ chức tín dụng. Độ tin cậy của các thông tin này là yếu tố trước tiên để cán bộ tín dụng ra quyết định cho vay và ảnh hưởng rất lớn đến độ an toàn của món vay.
Xét trên góc độ khách hàng:
- Quy trình, thủ tục: khi đến ngân hàng, khách hàng phải tuân thủ những quy trình thủ tục theo quy định của ngân hàng.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng đối với khách hàng: điều này cũng ảnh hưởng không ít đến cái nhìn về quy mô, uy tín và tiềm lực tài chính và từ đó ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngân hàng của khách hàng.
- Chi phí cấp tín dụng: bao gồm lãi vay và các loại phí khác mà khách hàng phải chịu, đây là yếu tố mà khách hàng chú ý nhất về một ngân hàng. Nó biểu hiện khả năng cạnh tranh, là sự ưu đãi lớn với khách hàng khi tham gia giao dịch.Và chi phí này cũng có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của khách hàng.
- Tài sản đảm bảo: điều kiện về tài sản đảm bảo là cần thiết, nhưng quá khắt khe cũng không thể nói là hoạt động tín dụng có chất lượng được. Vì trong trường hợp này quan hệ tín dụng khó xảy ra vì khách hàng khó có khả năng đáp ứng.
Các hỗ trợ khác: trong điều kiện ngày nay, bên cạnh vốn thì các hỗ trợkhác cũng đóng vai trò rất quan trọng như các dịch vụ thanh toán, mở tài khoản. thẻ tín dụng, tư vấn tài chính cho khách hàng và đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, tư vấn kĩ thuật là điều rất khuyến khích khách hàng.
Dự án sử dụng vốn của ngân hàng có đủ cơ sở pháp lý, kinh nghiệm, kỹ thuật để có thể thực hiện được.
Vốn vay được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, đảm bảo khả năng trả ngân hàng nợ gốc và lãi, trang trải các chi phí khác và vẫn mang lại cho doanh nghiệp một khoản thu nhập.
1.2.3. Sự cần thiết nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đối với hộ cá thể Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Đối vơi ngân hàng
Thứ nhất: Nâng cao chất lượng tín dụng góp phần mở rộng quy mô tín dụng và tăng thị phần cho ngân hàng
Thứ hai: Nâng cao chất lượng tín dụng có thể đồng thời hạn chế được những rủi ro và tăng thêm thu nhập cho ngân hàng.
Thứ ba: chất lượng tín dụng được nâng cao sẽ giúp ngân hàng thực hiện và suy trì được tình hình tài chính lành mạnh.
Thứ tư: chất lượng tín dụng được chú trọng là cơ sở để ngân hàng tạo cho mình những khách hàng trung thành
Đối với khách hàng ( hộ cá thể)
Hộ cá thể được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, được Nhà nước giao đất quản lý và sử dụng vào sản xuất kinh doanh và được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực do Nhà nước quy định. Như chúng ta đã biết, dân số nước ta có khoảng 85 triệu dân ( theo ước tính của Cục thống kê) trong đó gồm 70% và hơn 60% lao động sống ở nông thôn và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm hiện đại hoá nông thôn. Trong thực tế các hộ cá thể với kinh tế tự chủ được giao đất quản lý và sử dụng, được phép kinh doanh và tự chủ trong sản xuất kinh doanh, đa dạng các mặt hàng kinh doanh ( trừ những mặt hàng Nhà nước nghiêm cấm). Với sức lao động sẵn có trong mỗi gia đình các hộ cá thể họ được phép kinh doanh, được chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên diện tích họ được giao. Để thực hiện được những mục đích trên họ phải cần vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, trồng những cây có giá trị cao, những con có giá trị lớn để tăng thêm thu nhập, tạo công ăn việc làm cho chính bản thân gia đình họ. Đồng thời đầu tư ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Do vậy, họ cần Ngân hàng thương mại hỗ trợ về vốn để họ thực hịên những phương án trồng trọt – chăn nuôi hay kinh doanh dịch vụ ngay trên quê hương họ. Thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về cho vay vốn đáp ứng nhu cầu vốn đối với nông nghiệp – nông thôn.Ngân hàng thương mại đã cho vay tới tận hộ cá thể, đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết để phát triển kinh tế.Xuất phát từ chức năng của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay cho nên vốn cho vay phải hoàn trả đúng hạn gốc + lãi.Có như vậy Ngân hàng mới đảm bảo sự hoạt động bình thường.Đáp ứng được nhu cầu vốn đối với hộ cá thể cũng như nền kinh tế. Vì vậy cần phải nâng cao hiệu quả cho vay đối với hộ cá thể, có nâng cao hiệu quả cho vay mới giúp hộ cá thể có vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả, tăng thêm thu nhập cho gia đình họ, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tạo công ăn việc làm cho chính bản thân gia đình họ. Phát huy được mọi nguồn lực ở nông thôn, từ đó khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, mở rộng và phát triển tiểu thủ công nghiệp đáp ứng và phù hợp với nhu cầu của thị trường.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng hộ cá thể .
Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngân hàng đối khách hàng nói chung hộ cá thể nói riêng ta phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng để từ đó phát huy những ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực. Mặt khác cả ngân hàng và khách hàng phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với quy định của Nhà nước trong hoạt động tín dụng.Có như thế thì cả ngân hàngvà khách hàng mới để ra các biện pháp đúng đắn, cụ thể, linh hoạt để đạt được mục tiêu hoạt động của mình một cách tốt nhất.Sau đây chúng ta lần lượt nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng thuộc về ngân hàng và khách hàng.
1.3.1. Nhân tố từ phía ngân hàng Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Thứ nhất: Chính sách tín dụng của Ngân hàng.
Có thể nói đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quy mô của hoạt động tín dụng nói chung và của tín dụng ngắn hạn nói riêng. Bởi chính sách tín dụng chính là đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi vào đúng quỹ đạo liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một Ngân hàng.
Chính sách tín dụng của Ngân hàng ảnh hưởng đến quy mô của tín dụng ở rất nhiều khía cạnh khác nhau song trực tiếp là ở 3 yếu tố đó là: lãi suất cạnh tranh, phương thức cho vay và các tài sản bảo đảm tiền vay Thứ hai: Là công tác tổ chức của Ngân hàng.
Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng giữa các cán bộ, nhân viên, các phòng ban trong Ngân hàng, giữa các Ngân hàng với nhau trong toàn bộ hệ thống cũng như với các cơ quan khác liên quan đảm bảo cho Ngân hàng hoạt động nhịp nhàng, thống nhất có hiệu quả, qua đó sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu khách hàng, theo dõi quản lý chặt chẽ sát sao khoản vốn huy động cũng như các khoản cho vay, từ đó nâng cao hiệu quả tín dụng.
Thứ ba: Chất lượng đội ngũ cán bộ Ngân hàng.
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng nói riêng và hoạt động quản lý ngân hàng nói chung. Kinh tế càng phát triển, các quan hệ kinh tế càng phức tạp, cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi trình độ của người lao động ngày càng cao.
Thứ tư: Là nhân tố thuộc về cơ sở vật chất của Ngân hàng.
Trang thiết bị đầy đủ và hiện đại giúp cho ngân hàng có thể phục vụ tốt nhất các nhu cầu của khách hàng về các nghiệp vụ thực hiện cũng như các dịch vụ bổ trợ, tạo lòng tin, sự tín nhiệm của khách hàng đối với Ngân hàng và do đó thu hút khách hàng đến giao dịch với Ngân hàng.
1.3.2. Nhân tố từ phía khách hàng.
Nhu cầu tín dụng của khách hàng: phụ thuộc chủ yếu vào tình hình chung của nền kinh tế và chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhìn chung đối với các doanh nghệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân đều có nhu cầu vay vốn vốn để đổi mới công nghệ cải tiến mặt hàng, mở rộng sản xuất nhằm tăng cười sức cạnh tranh, chiêm lĩnh thị trường.
Năng lực của khách hàng: được hiểu là khả năng của người đi vay trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn đối với từng loại hình tín dụng, Điều kiện tín dụng đứa ra nhằm tiêu chuẩn hóa các đối tượng vay vốn, đồng thời thuận tiện cho quá trình quản lý tín dụng và nhằm đảm bảo khả năng thu hồi vốn của ngân hàng. Khả năng này đáp ứng các điều kiện tín dụng ở những mặt sau:
Năng lực sản xuất của khách hàng: trước hết khách hàng vay vốn phải có tư ách pháp nhân và sau đó phải có năng lực thực hiện dự án đó nhằm đame bảo ngân hàng có thê thu hồi cả vốn lẫn lãi. Năng lực sản xuất thể hiện ở giá trị, máy móc thiết bị có sẵn, cụ thể là quá trình sản xuất sản phẩm, công nghệ sản xuất vốn có. Nghiên cứu năng lực sản xuất kinh doanh ngân hàng có thể xác định được nội dung sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như quy mô tính chất cuat hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Ngoài năng lực sản xuất còn thể hiện ở trình độ người quán lỳ cũng như bộ máy thừa hành.Tất cả những điều đó tạo nên khả năng tìm kiếm lợi nhuận. Để có được một khoản tín dụng tốt đòi hỏi khách hàng phải sản xuất ổn định, kinh doanh có lãi, có trình độ sản xuất và quản lý đảm bảo cho dự án tín dụng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Năng lực thị trường của sản phẩm: thể hiện ở các mặt như khối lượng sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm số lượng khach hàng quen biết, sản lượng tiềm năng, vị thế của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời cũng thể hiện ở quá trình phát triển và mở rộng sản xuất của doanh nghiệp, hệ thống mạng lưới tiêu thụ và các bạn hàng uy tín. Năng lực thị trường được lượng hóa qua sự gia tăng của doanh số tiêu thụ sản phẩm, từ đó có thể biết được tính khả thi hay không của dự án đầu tư tín dụng.
Năng lực tài chính của khách hàng: tình hình tài chính của khách hàng là một phận quan trọng cần phân tich khi ra quyết định tín dụng. Ngân hàng cần xem xét đến những khía cạnh căn bản: chất lượng tài sản có, bản chất các khoản nợ, vốn tự có và khả năng tự chủ về tài chính. Dấu hiệu tốt nhất cho cho việc dảm bảo về chất lượng một khoản tín dụng là hộ kinh doanh tạo ra lợi nhuận ổn định . Tỉ lệ số vốn dành cho sản xuất kinh doanh để tạo ra thu nhập trong tổng tài sản có càng cao càng tốt, sự đánh giá của ngân hang phải là thực tế, ngoài ra phải xét đến tổng số nợ và mối quan hệ cuẩ nó với tài sản có. Việc phụ thuộc năng nề vào tín dụng hay tài trợ chứng tỏ năng lực của hộ kinh doanh là không cao và sẽ không phải một khách hàng lý tường đối với khoản tín dụng.
Tình hình cầm cố, thê chấp tài sản của khách hàng cùng như người bảo lãnh: Đây là vẫn đề quyết định đảm bảo cho khoản vay của ngân hàng. Khách hàng phải có chứng nhận về quyền sở hữu với tài sản gắn liền với năng lực pháp luật của khách hàng và có khả năng sử dụng tài sản đó để thực hiện các biện pháp tín dụng. Quyền sở hữu và giá trị tài sản phải được đảm bảo cho đến kì đáo hạn của khoản tín dụng.Đối vời người bảo lãnh ngoài tư cách pháp nhân cũng phải có tài sản thế chấp và quyền sở hữ về tài sản như đối vời người đi vay. Đặc biệt đối với khoản thế chấp, cầm cố thương được điều chỉnh thấp xuống giá trị bán được và số tiền ròng thu được từ tài sản thế chấp thường ít hơn khi một khoản vay nợ trở thành một vụ thu hồi nợ. Điều này nhằm đảm bảo an toàn số vốn tín dụng của ngân hàng bỏ ra.
Tư cách đạo đức của khách hàng: Phẩm chất đầu tiên đoig hỏi ở người đi vay là phải hoàn toàn trung thực. Khi ngân hàng có nghi ngờ về cư cách đạo đức hoặc định của người đi vay thì ngân hàng không nên tiến hành cho vay nhằm đảm bảo an toàn tín dụng. Chính vì vậy đối vời mỗi khách hàng . Những lừa dối đạo đức thường xảy ra do nhưng hành vi sau của người đi vay: tạo ra chứng cứ giả đề có thể vay được tiền, cố tình chiếm đoạt phần vốn từ người cho vay, hay những người vay vốn sử dụng không đúng mục đích … Trong thực tế, nhất là khi có nhiều hình thức tín dụng như hiện nay thì chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào đạo đức khách hàng.
Với điều kiện nên kinh tế mới phát triển chưa hoàn chình về mọi mặt cũng như tình trạng thành lập ồ ạt các doanh nghiệp tư nhân như hiện nay, vấn đề quản lý tín dụng đặt ra cho ngân hàng là rất khó khăn . Trong khi chờ đợi một cơ chế pháp lý hoàn thiện, nghiêm ngặt hơn, chất lượng tín dụng chu được đảm bảo nếu ngân hàng lựa chọn đúng khách hàng có đầy đủ năng lực và tư cách đao đức, tức là khách hàng phải có đầy đủ thông tin chính xác để tránh được sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro về đạo đức.
1.3.3. Các nhân tố khách quan khác. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn nhiều nhân tố khách quan mà tác động của nó cũng không nhỏ đến chất lượng của các khoản tín dụng ngân hàng.
Tác động của môi trường kinh tế.
Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay hay nói rõ hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động kinh doanh của hộ cá thể gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng đo đó ảnh hưởng đến chất lượng của khỏan tín dụng đó của ngân hàng. Ngược lại nếu môi trường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ cá thể thuận lợi, thu hồi được vốn nhanh đồng thời lợi nhuận thu được sẽ cao và từ đó khả năng trả nợ của khách hàng, khỏan vay sẽ được trả đúng hạn, khoản tín dụng ngân hàng sẽ có chất lượng tốt.
Tác động của môi trường pháp lý:
Ngân hàng là một doanh nghiệp luôn phải hoạt động trong hành lang pháp lý hẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào. Vì vậy, một hệ thống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ thì sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động của ngân hàng, của các hộ cá thể và đảm bảo đựơc chất lượng tín dụng của các hộ cá thể đó với ngân hàng. Còn nếu môi trường pháp lý không hoàn chỉnh, có nhiểu lỗ hổng thì kết quả sẽ ngược lại cho cả ngân hàng và các hộ cá thể từ đó làm cho chất lượng của các khỏan tín dụng ngân hàng đối với hộ cá thể sẽ xấu và khó có thể thu hồi.
Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước bao gồm các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách đối ngoại… có vai trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động của các ngân hàng, các hộ cá thể nói riêng. Chính sách kinh tế trong hoàn cảnh này thì có tác dụng cho cả ngân hàng và hộ cá thể nhưng trong hoàn cảnh khác thì lại ngược lại. Các chính sách này nhằm ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngành nào đó để đảm bảo cân đối cho nền kinh tế. Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà nước phải đúng đắn thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng.
Các yếu tố thiên tai gây lên.
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của hộ cá thể nhiều khi mang tín thời vụ. Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có thành phần kinh tế Nhà nước, trong đó doanh nghiệp trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ thì yếu tố này rất quan trọng. Khi thiên tai xẩy ra như: lũ lụt, hạn hán, mưa bão, hỏa hoạn,… làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ cá thể bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặc không thể, làm cho chất lượng của các khoản tín dụng bị giảm sút. Khóa luận: Chất lượng tín dụng hộ cá thể tại Agribank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Khái quát về tín dụng hộ cá thể tại Agribank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp nâng cao tín dụng hộ cá thể tại Agribank