Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tới ngành dịch vụ du lịch Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ DU LỊCH
1. Cam kết của Việt Nam trong Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kì về dịch vụ du lịch
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kì (BTA) được kí kết ngày 13/07/2000 và có hiệu lực vào ngày 10/12/2001, Hiệp định này được đánh giá là hiệp định thương mại song phương toàn diện nhất mà Việt Nam và Hoa Kì từng đàm phán, quy định các nghĩa vụ toàn diện nhất cho cả 2 bên. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì có hiệu lực đánh dấu một bước phát triển quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và có ảnh hưởng sâu sắc đến các ngành kinh tế của Việt Nam, trong đó có ngành du lịch… Hiệp định này mở ra một triển vọng to lớn cho việc thu hút đầu tư, công nghệ du lịch, cũng như thu hút số du khách nước ngoài (gồm cả khách đi du lịch và khách sang tìm hiểu thị trường, làm kinh tế). Các quy định về mở cửa thị trường dịch vụ du lịch giữa hai bên được quy định ở Chương III (chương về thương mại dịch vụ) và phụ lục F đính kèm theo Hiệp định. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Theo hiệp định này, Việt Nam đã cam kết tương đối thông thoáng trong lĩnh vực dịch vụ du lịch (xem bảng 1). Trong phân ngành khách sạn và nhà hàng, Việt Nam cho phép các công ty Hoa Kì được thành lập liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh với các đối tác Việt Nam hay công ty 100% vốn Hoa Kì. Còn trong phân ngành dịch vụ đại lí và điều phối lữ hành, Việt Nam cho phép các công ty Hoa Kì được lập liên doanh với đối tác Việt Nam, trong đó có phần góp vốn của các công ty Hoa Kì không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh, 3 năm sau khi hiệp định có hiệu lực, hạn chế này sẽ được nâng lên 51% và 5 năm sau khi hiệp định hiệu lực, hạn chế này sẽ được bãi bỏ, với điều kiện các công ty này phải đầu tư xây dựng khách sạn, nhà hàng.
Bảng 1: Cam kết của của Việt Nam về dịch vụ du lịch trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kì
2. Cam kết của Việt Nam trong WTO về dịch vụ du lịch
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới vào ngày 11/01/2007. Chính các cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức này sẽ có những tác động rất lớn đến tất cả các ngành, trong đó có ngành dịch vụ du lịch. Việc đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ trong khuôn khổ đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được tiến hành theo các nguyên tắc của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS).
Về diện cam kết, Việt Nam chỉ cam kết dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ đại lí lữ hành và điều hành tour du lịch, không cam kết dịch vụ hướng dẫn viên du lịch. Theo đánh giá của giới chuyên môn về các cam kết trong WTO về dịch vụ du lịch, Việt Nam mở cửa thị trường du lịch tương đối mạnh mẽ so với một số ngành dịch vụ khác như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm (xem bảng 2).
Việc thực hiện các cam kết gia nhập WTO được áp dụng như các cam kết của GATS. Như vậy trong các cam kết của mình đối với WTO, Việt Nam cam kết không hạn chế đối với phương thức 1 và 2. Đối với phương thức 3, Việt Nam không cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, chi nhánh cung cấp dịch vụ du lịch tại Việt Nam (phù hợp với Điều 51, 42 Luật Du lịch Việt Nam 2005) mà chỉ cam kết cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam; không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh (Luật Du lịch Việt Nam 2005 chưa đề cập đến). Tuy nhiên, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam (inbound) và lữ hành nội địa đối với khách vào du lịch Việt Nam như là một phần của dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam mà không được phép thực hiện các dịch vụ gửi khách trong nước. Công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lí vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lí của công ty phải là người Việt Nam.Tuy nhiên, hướng dẫn viên du lịch trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là người Việt Nam; và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ Inbound và lữ hành nội địa đối với khách vào du lịch Việt Nam như một phần của dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam. Đối với phương thức 4, Việt Nam vẫn không cho phép hướng dẫn viên du lịch nước ngoài hành nghề tại Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
3. Cam kết của Việt Nam trong trong ASEAN về dịch vụ du lịch Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Trong khuôn khổ hợp tác đa phương trong ASEAN, Du lịch Việt Nam đã có quá trình hơn 10 năm tham gia cùng các bộ, ngành vào hoạt động đàm phán để có được những kết quả phân ngành hợp tác rất cụ thể và hiệu quả.
Đến tháng 6/2004, Việt Nam đã cho phép đối tác ASEAN được liên doanh đầu tư về khách sạn, khu nghỉ du lịch tổng hợp. Việt Nam cũng cho phép đối tác ASEAN được tham gia 3 phân ngành là xếp chỗ trong khách sạn, phục vụ ăn trong nhà hàng, phục vụ uống không có chương trình giải trí.
Từ năm 2005, ASEAN đã thực thi một hướng đi mới, phát triển hội nhập khu vực dựa trên sự liên kết của 11 ngành ưu tiên, trong đó ngành dịch vụ du lịch được đẩy nhanh hơn.
Du lịch Việt Nam đã cùng các nước thành viên hoàn thành vòng 3 đàm phán hợp tác dịch vụ ASEAN với việc thống nhất nội dung cam kết dịch vụ lữ hành, góp phần đẩy mạnh luồng khách, vốn đầu tư du lịch trong ASEAN. Trong đó Việt Nam cho phép đối tác nước ngoài có thể liên doanh với đối tác Việt Nam với vốn đóng góp không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh và 05 năm sau khi cam kết có hiệu lực, hạn chế này sẽ là 51%. Hướng dẫn viên du lịch trong liên doanh phải là công dân Việt Nam. Các công ty cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được kinh doanh dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam.
Du lịch Việt Nam cũng chú trọng hợp tác song phương với các nước thành viên ASEAN. Cho tới nay, Việt Nam đã miễn thị thực du lịch cho 09 nước (trừ Myanmar) trên cơ sở có đi có lại, tạo điều kiện cho khách các nước đi du lịch Việt Nam.
Các nước ASEAN đã cam kết mở cửa hoàn toàn ngành dịch vụ vào năm 2015 để tiến tới thực hiện mục tiêu thành lập “Cộng đồng kinh tế ASEAN” có thị trường và cơ sở sản xuất chung vào năm 2020.
II. TÁC ĐỘNG TỚI DỊCH VỤ DU LỊCH VIỆT NAM DO VIỆC THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
1. Tác động tích cực
1.1. Đối với nền kinh tế – xã hội của Việt Nam
1.1.1. Tạo nguồn thu cho Ngân sách
Khách du lịch cũng phải có nghĩa vụ nộp các loại thuế, có thể là thuế trực tiếp như thuế khởi hành (Departure tax) phải trả ở các sân bay, hoặc thuế phòng (bed tax) cộng thêm vào các hoá đơn thanh toán lưu trú tại khách sạn, cũng có thể là thuế gián tiếp như thuế giá trị gia tăng đối với các hàng hoá dịch vụ; hay các loại phí như phí phục vụ trong nhà hàng, khách sạn. Vì du khách là “người mới” đối với cộng đồng nên những khoản thuế họ đóng là nguồn thu thêm cho Nhà nước (vì chúng không từ các công dân của địa phương).
Ngoài ra, du lịch còn cải thiện cán cân thương mại quốc gia. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thường phải chi trả các dịch vụ và hàng hoá bằng ngoại tệ khác nhau. Điều này mang lại hiệu quả giống như một ngành xuất khẩu do đó làm cải thiện cán cân thanh toán thương mại của quốc gia. Du lịch được coi như một loại hàng hoá xuất khẩu (có thể có giá trị hơn vì nó không làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên của đất nước như ngành khai khoáng). Nếu du lịch được duy trì thường xuyên và phù hợp thì có thể coi như là một nhân tố giữ ổn định một khoản thu ngoại tệ. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những nước có các mặt hàng xuất khẩu chính có thể có sự nhạy cảm về giá cả hoặc thị trường của các mặt hàng này có thể bị thu hẹp. Đặc biệt càng có nghĩa đối với các nước bị lệ thuộc vào sản xuất nông nghiệp như Việt Nam sẽ gặp khó khăn về kinh tế nếu mùa màng thất bát do thời tiết không thuận lợi.
Du lịch quốc tế góp phần tăng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam. Việc thiếu ngoại tệ thường gây ra sự hạn chế về nguồn tài chính cho sự phát triển kinh tế. Bất kì một quốc gia nào đều mong muốn cải thiện nền công nghiệp, hệ thống giao thông, nguồn năng lượng…của mình nhưng phải đối mặt với nhu cầu ngoại tệ khổng lồ để chi trả cho việc nhập khẩu công nghệ. Du khách quốc tế có thể giúp cung cấp khoản ngoại tệ cần thiết đó. Môĩ năm thu nhập từ du lịch đạt 56.000 tỉ đồng, trong đó từ ngoại tệ đạt 3 tỉ USD8. Như vậy, du lịch có tác dụng điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự phát triển kinh tế của vùngsâu, vùng xa.
1.1.2. Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động
Du lịch là ngành dịch vụ có nhu cầu lớn về lao động, do vậy xu hướng chung thừa nhận khi du lịch càng phát triển sẽ thu hút số lượng lao động càng lớn vào làm việc trong các lĩnh vực hoạt động của ngành. Luật Du lịch Việt Nam 2005 cũng đã xác định rõ phát triển du lịch có nhiệm vụ giải quyết lao động, việc làm cho nhân dân.
Thực tế phát triển ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua cho thấy lao động sử dụng trong lĩnh vực du lịch đang có xu hướng tăng khá nhanh. Năm 2000 tổng số lao động trong ngành du lịch là 450.000 người, đến năm 2005 tổng số lao động trong ngành đã tăng lên 1.224.096 người9. Hiện nay cả nước có 1.035.000 người làm việc trong ngành du lịch. Theo ước tính của ngành du lịch, từ nay đến năm 2010, dưới sự tác động của các cam kết về mở cửa ngành dịch vụ du lịch, Việt Nam sẽ có cơ hội đón tiếp và phục vụ hơn 5,5 đến 6 triệu lượt khách quốc tế và khoảng 25 đến 26 triệu lượt khách nội địa. Với lượng khách như vậy phải cần khoảng 1,4 triệu lao động, trong đó, lao động trực tiếp khoảng 350 nghìn người; tỉ lệ tăng bình quân mỗi năm là 8,5%, con số tương ứng năm 2015 sẽ là 503.200 người. Riêng lao động nghiệp vụ lễ tân, hướng dẫn viên, nhân viên phục vụ khách sạn chiếm trên 308.000 người vào năm 2010 và hơn 567 nghìn người vào năm 2015. Trong đó, số lượng lao động qua đào tạo cần tăng thêm khoảng 19.000 người/năm10. Đây là cơ hội cho lao động phổ thông tìm kiếm việc làm, đặc biệt là du lịch thu hút nhiều lao động địa phương. Sự phát triển của ngành du lịch giúp chúng ta bảo tồn và phát huy vai trò của các làng nghề truyền thống. Qua đó du lịch tạo cơ hội giúp người dân địa phương xoá đói giảm nghèo, làm giàu trên chính quê hương của mình và phần nào hạn chế luồng lao động di cư từ nông thôn lên thành thị.
Mặt khác, do đặc điểm nghề nghiệp và tính chất công việc, du lịch là một trong những ngành có nhu cầu và điều kiện sử dụng lao động nữ nhiều nhất so với các ngành khác. Như vậy, không những du lịch có khả năng giải quyết khó khăn về việc làm cho xã hội mà còn là ngành tạo nên sự cân đối trong việc sử dụng lao động nữ, góp phần tích cực cho sự nghiệp bình đẳng giới.
1.1.3. Thúc đẩy cải thiện cơ sở hạ tầng du lịch Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Nhờ tăng cường đầu tư từ ngân sách Nhà nước:
Trên cơ sở xác định vị trí “mũi nhọn” của ngành du lịch trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế; thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực du lịch, Nhà nước ta đã liên tục tăng cường đầu tư nhằm phát triển hạ tầng du lịch.
Bảng 3: Vốn ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư hạ tầng du lịch
Năm 2003, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nói chung và vào ngành du lịch nói riêng có xu hướng chững lại, thậm chí suy giảm. Nguyên nhân của sự suy giảm này không chỉ bởi các yếu tố bên ngoài mà còn phải kể đến các yếu tố bên trong của nền kinh tế mặc dù một trong những lợi thế của đầu tư vào ngành du lịch là vòng quay vốn ngắn, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng sinh lãi cao và ít rủi ro. Theo một số nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực cho biết, thị trường đầu tư vào du lịch Việt Nam còn kém hấp dẫn là do một số yếu tố như chi phí điện nước, chi phí cho thuê văn phòng quá cao so với nhiều nước trong khu vực, giải phóng mặt bằng chậm và tốn kém.
Nhưng đến năm 2007, Việt Nam đã bùng nổ các dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch nhất là xây dựng các khách sạn cao sao. Chính bởi sự hấp dẫn của du lịch Việt Nam, cộng với cơ chế cởi mở nên đã tăng sức hút vào du lịch đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Nếu như năm 2006 chỉ có 17 dự án đầu tư vào du lịch, với số vốn chưa đầy 600 triệu USD thì năm 2007, số dự án đầu tư đã tăng lên dự án, tăng gần 2,5 lần và số vốn đăng kí đầu tư cũng đạt trên 1,8 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với năm 2006, bằng 1/3 tổng số vốn FDI cả nước11. Các địa phương thu hút được nhiều dự án và vốn FDI nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Khánh Hoà, Đà Nẵng. Các nước dẫn đầu về số vốn FDI đầu tư vào các dự án du lịch là Singapore với 2 dự án và tổng số vốn đăng kí gần 1,3 tỷ USD, Đài Loan có 15 dự án với 784 triệu USD, Hồng Kông có dự án với 642 triệu USD, tiếp đến là các nước Trung Quốc, Malaysia, Pháp, Nhật Bản12.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến tháng 4/2008, đã có 8.737 dự án với tổng số vốn 104 tỷ USD đầu tư vào Việt Nam. Riêng đầu tư vào ngành du lịch đạt 10,8 tỷ USD chiếm hơn 10% tổng số vốn đăng kí.
Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, nhiều tập đoàn kinh doanh khách sạn nước ngoài coi Việt Nam là địa bàn hấp dẫn để triển khai các dự án xây dựng khách sạn cao cấp, nhằm đáp ứng nhu cầu của dòng khách du lịch đang đổ vào Việt Nam ngày càng đông.
Một số tập đoàn lớn đã lên những kế hoạch cụ thể để chuẩn bị đầu tư vào Việt Nam. Trước hết phải kể đến Tập đoàn Starwood đã đầu tư vào Việt Nam từ năm 2003 và đang điều hành hai khách sạn Sheraton tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã lên kế hoạch để chuẩn bị đầu tư tiếp; Tập đoàn Hyatt đã khai trương khách sạn đầu tiên tạo thành phố Hồ Chí Minh vào năm ngoái và hiện đang lên kế hoạch chuẩn bị đầu tư xây dựng các khách sạn tiếp theo. Tập đoàn quản lí khách sạn lớn nhất thế giới Inter Continential Hotels Groups đã công bố sẽ xây dựng khách sạn đầu tiên này tại Việt Nam đầu năm 2009; Tập đoàn quốc tế Millenium (Millenium International Group) phát triển dự án khu du lịch 5 sao tại quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng với tổng vốn đầu tư dự kiến là 80 triệu USD; Công ty MH Golden Sands (Hoa Kì) đầu tư khu du lịch phức hợp tiêu chuẩn 6 sao tại huyện Côn Đảo…
1.2. Đối với ngành du lịch Việt Nam Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
1.2.1. Số khách du lịch đến Việt Nam ngày càng gia tăng
Với việc cam kết không hạn chế trong phương thức (2) – phương thức cung cấp dịch vụ tiêu dùng ngoài lãnh thổ, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam có nhiều cơ hội trong việc thu hút và đón nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ của dòng khách du lịch quốc tế vào Việt Nam.
Trong những năm qua, lượng khách du lịch nước ngoài đến nước ta tăng nhanh qua các năm, du lịch Việt Nam được đánh giá là đạt mức tăng trưởng khá cao so với các nước trong khu vực. Từ năm 2000 cho đến nay, năm nào nước ta cũng đón hơn 2 triệu lượt khách du lịch quốc tế. Năm 2001, tốc độ thu hút khách du lịch nước ngoài đạt 8,9%, Việt Nam đã được PATA xếp thứ 2 về tốc độ tăng trưởng du lịch trong khối ASEAN, và được WTO trao danh hiệu “Điểm du lịch thân thiện nhất”. Riêng năm 2003, do chiến tranh Iraq và đại dịch SARS xảy ra, lượng khách quốc tế đến nước ta đã giảm 7,6% so với năm 2002. Song từ năm 2004, ngành du lịch đã lấy lại đà tăng trưởng. Năm 2005 là năm cuối của Chương trình hành động quốc gia về du lịch, cả nước đã đón được 3,47 triệu lượt khách nước ngoài. So với mục tiêu của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2010: năm 2005 đã đạt 3,2 – 3,5 triệu lượt khách số lượng quốc tế thì mục tiêu này gần như đạt được.
Năm 2007 là một năm thành công của ngành Du lịch Việt Nam bởi nhiều điểm nổi bật, trong đó ấn tượng nhất là lượng khách quốc tế tới Việt Nam đã vượt con số 4 triệu lượt và tăng 18% so với năm 2006. Đây là lần đầu tiên du lịch Việt Nam đạt kỉ lục tăng trưởng về lượng khách quốc tế: một năm tăng được 600.000 khách đến. Hàng chục năm trước trước đây, con số này đều ổn định ở mức 300.000 lượt khách. Năm cao nhất cũng không quá 500.000 lượt khách (xem biểu đồ 1).
Khách du lịch đến Việt Nam thời gian qua đã thể hiện sự chuyển đổi một cơ cấu khác. Nếu trước đây lượng khách đường bộ và lượng khách chi trả thấp rất cao (có những năm lượng khách đường bộ và chi trả thấp chiếm đến hơn 30%), thì từ năm 2007, tỉ lệ nhóm khách này đã giảm đáng kể trong tổng số khách đến. Điều này chứng tỏ Việt Nam đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn đối với những người có khả năng chi trả cao và đi dài ngày hơn. Một trong những tín hiệu tốt đối với ngành du lịch là khách đến với mục đích du lịch thuần tuý đã tăng lên 26%, khách thương mại tăng 16%, khách thăm thân nhân tăng 9%, khách đến với mục đích giảm xuống 10%15. Trong năm 2007, tỉ lệ tăng trưởng khách đến cao nhất từ các nước khối ASEAN đã chứng minh cho sự thành công của chiến lược chuyển hướng thị trường lấy ASEAN là trọng tâm. Hàng loạt các ưu đãi trong chính sách xuất nhập cảnh của Việt Nam dành cho các nước ASEAN, việc thực hiện các cam kết về mở cửa du lịch đã tạo điều kiện thu hút du khách trong khu vực.
1.2.2. Tạo điều kiện thuận lợi để ngành du lịch Việt Nam nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Đáp ứng yêu cầu của hội nhập, ngành du lịch Việt Nam đang nỗ lực đa dạng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh.
Từ năm 2000, triển khai kế hoạch nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, Tổng Cục Du lịch đã tổ chức hàng chục đoàn khảo sát các tuyến điểm du lịch trong và nước ngoài. Được sự phối hợp của các bộ ngành liên quan và các địa phương, ngành du lịch đã lựa chọn, hỗ trợ khôi phục và tổ chức 20 lễ hội tiêu biểu mỗi năm, gắn với việc tuyên truyền quảng bá nâng cao nhận thức du lịch trong nhân dân với việc hình thành các tours du lịch văn hoá phục vụ khách trong và ngoài nước. Các lễ hội truyền thống được ngành du lịch hỗ trợ khôi phục, tổ chức được duy trì hàng năm gắn với việc tuyên truyền thu hút khách, tạo điều kiện cho các hãng lữ hành xây dựng thành tour bán cho khách như: Chử Đồng Tử – Hưng Yên, Nguyễn Bỉnh Khiêm – Hải Phòng, Cồng chiêng – Hoà Bình và Tây nguyên, Lồng Tồng – Thái Nguyên, đền Hùng – Phú Thọ, Ponaga – Khánh Hoà, Ooc Om Booc – Sóc Trăng, làng Sen – Nghệ An, cầu Ngư – Huế, phủ Dầy – Nam Định…
Ngành du lịch đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp 34 tour ở các địa phương trong cả nước, từ văn hoá – lịch sử, sinh thái, làng nghề, thể thao – mạo hiểm. Các doanh nghiệp lữ hành quốc tế, từ các tours cơ bản này đã vận dụng xây dựng thành các chương trình đa dạng, phù hợp thị hiếu khách, tổ chức xúc tiến, quảng cáo rộng rãi trên thị trường ngoài nước và đưa vào khai thác. Bên cạnh việc hỗ trợ các chuyến khảo sát xây dựng sản phẩm mới, trong 3 năm qua, Tổng Cục Du lịch đã hỗ trợ cho 45 làng bản, mời nhân dân huấn luyện để thiết lập những đội văn nghệ tại các bản làng dân tộc ít người hoặc những làng xã có các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống hấp dẫn, thu hút khách. Việc định hướng và hỗ trợ các hoạt động văn nghệ văn hoá dân gian tại trên 40 điểm du lịch đông khách đã góp phần nâng cao tính đa dạng và chất lượng của sản phẩm, nhân rộng hoạt động này trên toàn quốc. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Sản phẩm du lịch Việt Nam, từ chỗ chủ yếu được hình thành thụ động, dịch vụ thiếu chuyên nghiệp, nay đã cải thiện rõ rệt về chất lượng và số lượng. 20 điểm du lịch đông khách được khảo sát và có kế hoạch đầu tư nâng cấp đã góp phần tạo nét mới và tăng tính đa dạng của sản phẩm, ngành du lịch đã hỗ trợ kinh phí và phối hợp thiết lập được 5 tour du lịch liên hoàn trong nước (tour liên vùng như con đường huyền thoại đường Hồ Chí Minh dọc theo dải Trường Sơn, hành trình di sản miền Trung, hành trình 1000 năm những kinh đô Việt Nam, hướng về cội nguồn tại Yên Bái – Lào Cai – Phú Thọ, con đường xanh Tây Nguyên) và nâng cấp 2 tours liên quốc gia (tour Việt – Lào – Thái và tour dọc sông Mekong từ Việt Nam – Campuchia). Việc hỗ trợ khôi phục và tổ chức các lễ hội truyền thống, các sự kiện văn hoá – lịch sử truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Festival Huế 2 năm một lần, Đêm rằm Phố cổ Hội An, hội đua ghe Ngo – Lễ cúng trăng ở Sóc Trăng, lễ hội Ka tê ở Ninh Thuận,… đã trở thành sản phẩm độc đáo thu hút du khách quốc tế và trong nước.
1.2.3. Chất lượng nguồn nhân lực của toàn ngành du lịch ngày càng được cải thiện
Hiện tại, lao động trực tiếp ở các ngành nghề chuyên sâu (lễ tân, phục vụ buồng, bar, bàn hướng dẫn, nấu ăn,…) trong ngành du lịch ngày càng tăng, chiếm 75% lao động toàn ngành. Tuy nhiên, trong số này chỉ có 42,5% lao động được đào tạo về nghiệp vụ du lịch16. Ngành du lịch đã hỗ trợ tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện ngắn hạn về nghiệp vụ du lịch cho các đối tượng này theo phương thức: địa phương chủ động tập hợp nhu cầu, chiêu sinh mở lớp và lo về địa điểm, trang thiết bị giảng dạy; doanh nghiệp đóng góp một phần (chủ yếu cho thực hành) và Tổng Cục Du lịch hỗ trợ nhu cầu về nội dung giáo trình, giáo viên. Với hình thức đó, ngành đã tổ chức được trên 200 lớp học bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ du lịch và ngoại ngữ cho hàng nghìn lượt lao động du lịch ở 47 địa phương nhằm góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và phục vụ.
Trong các năm qua, các hội thi chuyên ngành được tổ chức từ cấp địa phương, vùng đến toàn quốc là dịp cọ sát, cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo khí thế thi đua trong toàn ngành, tăng sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Tổng Cục Du lịch Việt Nam đã tổ các hội thi toàn quốc về hướng dẫn viên du lịch, về lễ tân, ẩm thực. Đồng thời, hàng năm đều tổ chức bình chọn các doanh nghiệp du lịch (lữ hành và khách sạn) và trao giải cho 10 doanh nghiệp lữ hành, 10 khách sạn hàng đầu của ngành. Việc tổ chức bình chọn và trao giải cho 10 doanh nghiệp lữ hành, 10 khách sạn hàng đầu của ngành hàng năm, các hội thi chuyên ngành được tổ chức từ cấp địa phương, vùng đến toàn quốc là dịp cọ sát, thúc đẩy cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo khí thế thi đua trong toàn ngành, tăng sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Các đơn vị tham gia có những thành tựu đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả chất lượng phục vụ.
Hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu. Trong quá trình hội nhập, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lí thông thoáng và thuận lợi, còn thành công hay không lại phục thuộc vào sức cạnh tranh, vào sự năng động của doanh nghiệp. Do vậy, đã đến lúc các doanh nghiệp không thể trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước mà phải bắt tay vào cuộc, thật sự tự thân nỗ lực. Việc hội nhập ngày càng sâu hơn với nền kinh tế thế giới đã có những tác động đáng mừng cho ngành du lịch Việt Nam. Trước những vận hội mới, với nỗ lực chung, du lịch Việt Nam sẽ vững bước tiến và sớm đạt được mục tiêu chung trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế chung của đất nước; tham gia hiệu quả trong sân chơi chung của WTO.
1.3. Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch của Việt Nam Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
1.3.1. Cơ hội để các doanh nghiệp vươn lên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực du lịch đã thúc đẩy Du lịch Việt Nam tập trung minh bạch hoá chính sách liên quan đến thương mại dịch vụ, thực hiện điều chỉnh, hoàn thiện khuôn khổ pháp lí cho phù hợp với nội dung các cam kết đã đưa ra. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật sẽ là định hướng để các doanh nghiệp du lịch chuẩn bị thực thi nội dung các cam kết. Đưa ra các chính sách mở cửa thị trường cho phù hợp với cam kết, cho phép các đối tác trên thế giới tham gia cung cấp dịch vụ du lịch ở Việt Nam đã tạo ra sức ép nhất định đối với doanh nghiệp trong nước, buộc các doanh nghiệp này muốn tồn tại và phát triển thì phải tự mình vươn lên, hoặc tìm đối tác để liên doanh liên kết, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đây cũng là cơ sở để các doanh nghiệp lữ hành mở rộng quan hệ và thâm nhập sâu hơn vào thị trường cung cấp dịch vụ du lịch cả trong và ngoài nước.
1.3.2. Doanh nghiệp du lịch Việt Nam đã tạo được lòng tin đối với khách du lịch nước ngoài
Cam kết trong phương thức cung cấp dịch vụ (3) – hiện diện thương mại còn cho thấy doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lữ hành quốc tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép đưa khách vào du lịch Việt Nam sẽ là một phần của dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam. Các doanh nghiệp sở hữu nước ngoài không được phép thực hiện các dịch vụ gửi khách trong nước, điều đó đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp du lịch trong nước vẫn còn có nhiều cơ hội để giữ sân nhà. Hơn nữa, trong cam kết phương thức cung cấp dịch vụ (4) – hiện diện thể nhân, Việt Nam chưa cho phép hướng dẫn viên nước ngoài hành nghề tại Việt Nam. Do đó, hạn chế này tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp du lịch trong nước. Mặt khác, việc không cho phép sử dụng hướng dẫn viên du lịch nước ngoài tại Việt Nam sẽ góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, hạn chế sự tiếp nhận lệch lạc về truyền thống của Việt Nam trong con mắt quốc tế. Không những thế, với thế mạnh của kinh nghiệm nhiều năm khai thác trên sân nhà, lại mang bản sắc văn hoá bản địa cùng với sự cải tiến chất lượng dịch vụ nên doanh nghiệp du lịch trong nước dễ dàng được khách du lịch nội địa tin cậy và lựa chọn.
Các thành công trong việc thu hút khách du lịch quốc tế khẳng định sức cạnh tranh của các doanh nghiệp lữ hành Việt Nam có những bước tiến bộ nhất định. Sự độc đáo, hấp dẫn của các sản phẩm du lịch là yếu tố quan trọng quyết định việc khách du lịch có đến hay không. Hơn nữa, gia nhập WTO là chính là môi trường để các doanh nghiệp vươn lên để tự hoàn thiện mình, nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh nếu muốn tồn tại trên thị trường. Và đối với những doanh nghiệp đã khẳng định được tên tuổi và thương hiệu thì đây chính là cơ hội tốt nhất để họ nâng cao vị thế của mình.
1.3.3 Dịch vụ do các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cung cấp ngày càng phong phú, đa dạng Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Mạng lưới doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ phục vụ du lịch quốc tế ở nước ta hiện nay phát triển tương đối đầy đủ, đã có thể tạo thành một chương trình du lịch khép kín cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau cho du khách như dịch vụ lữ hành, đưa đón khách, làm thủ tục xuất nhập cảnh, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, mua sắm và các dịch vụ bổ sung khác. Sự đa dạng hoá các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch là một tất yếu khi số lượng du khách đên Việt Nam ngày càng đông.
Với nội dung cam kết trong phương thức cung cấp dịch vụ (3) – hiện diện thương mại, Việt Nam cam kết xoá bỏ việc hạn chế vốn sở hữu nước ngoài đối với doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức liên doanh, liên kết trong hoạt động đại lí du lịch, kinh doanh lữ hành quốc tế. Như vậy, các doanh nghiệp trong nước sẽ có cơ hội tốt trong việc tăng vốn đầu tư kinh doanh nhằm hạn chế khó khăn về tài chính bằng hình thức liên doanh, liên kết với nước ngoài. Sự tăng trưởng vốn kinh doanh sẽ là tiền đề để doanh nghiệp du lịch trong nước phát triển với ý tưởng kinh doanh mới, đa dạng hoá và cá biệt hoá sản phẩm du lịch, tăng cường việc chiếm lĩnh thị trường du lịch trong và ngoài nước.
Dịch vụ lữ hành quốc tế
Tổng Cục Du lịch cho biết năm 2007, du lịch đã có thêm 100 doanh nghiệp lữ hành quốc tế mới ra đời, nâng tổng số lên 605 doanh nghiệp lữ hành quốc tế. Trong số trên 600 doanh nghiệp lữ hành quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam, có 87 doanh nghiệp Nhà nước, 157 công ty cổ phần, 12 công ty liên doanh, 345 công ty trách nhiệm hữu hạn và 4 doanh nghiệp tư nhân17. Số lượng các doanh nghiệp lữ hành quốc tế tại Việt Nam ngày càng tăng về số lượng và đã có những biến chuyển về chất lượng. Trong thời gian qua, các công ty lữ hành quốc tế đã từng bước nghiên cứu thị trường, xây dựng hướng đi riêng cho mình, cố gắng hoàn chỉnh các tour du lịch với nhiều loại hình du lịch nhằm thu hút ngày càng nhiều khách nước ngoài. Một số công ty đã bước đầu đầu tư ra nước ngoài, mở văn phòng đại diện và chi nhánh tại nước ngoài nhằm tăng cường mạng lưới phục vụ khách quốc tế: Saigon Tourist, Viettravel, Công ty du lịch Bến Thành…
Dịch vụ vận chuyển
Mạng lưới giao thông vận tải tại nước ta đã và đang dần được hiện đại hoá, hỗ trợ tích cực cho hoạt động du lịch, đặc biệt phải kể đến ở đây là ngành hàng không. Hiện nay, thị trường hàng không nước ta rất sôi động, bên cạnh hai doanh nghiệp hàng không trong nước là Vietnam Airline và Pacific Airline còn có sự tham gia của khoảng 30 hãng hàng không lớn trong khu vực cũng như trên thế giới. Chất lượng phục vụ của các hãng hàng không ngày càng được cải thiện với nhiều thủ tục đã được giảm gọn đáng kể, dịch vụ phục vụ trên máy bay ngày càng tiện nghi, đã thu hút được nhiều khách du lịch lựa chọn phương tiện này.
Bên cạnh đó, vận tải đường bộ, đường sắt và đường biển cũng đang phát triển mạnh mẽ. Các tuyến đường sắt dọc hành lang Đông Tây, tuyến đường bộ nối các tỉnh miền Trung với các tuyến, điểm du lịch của Lào, Thái Lan, Campuchia đã được thiết lập, tạo điều kiện thuận lợi để đón khách vào Việt Nam. Các doanh nghiệp nước ta cũng đang củng cố khả năng đóng tàu, hình thành các vận tải chuyên nghiệp và hiệu quả. Trong mấy năm gần đây, nước ta là điểm đến lôi cuốn của du khách đường biển với hàng chục chuyến tàu du lịch chở theo hàng nghìn du khách cập cảng Hạ Long, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Phú Quốc.
Dịch vụ lưu trú
Những năm qua, ngành khách sạn nước ta đã có những bước thay đổi sâu sắc cả về lượng và chất, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch có thể đón tiếp và phục vụ nhiều sự kiện lớn.
Năm 1998, cả nước chỉ có 3.000 cơ sở lưu trú với trên 5.000 buồng phục vụ khách du lịch, đến nay, tổng số cơ sở lưu trú của du lịch Việt Nam đạt con số khoảng 9.000 với 180.051 buồng. Trong đó, 4.283 cơ sở lưu trú được xếp hạng đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 5 sao chiếm 49,4%. Với tình hình đầu tư vào khách sạn, nhà hàng như hiện nay, sự kiến trong vòng 3 năm tới cả nước sẽ có thêm 28.000 phòng, tức là vào năm 2010 tổng số phòng sẽ đạt đến con số 170.000. Điều đáng mừng là phần nhiều trong số phòng mới đều có chất lượng cao, có khả năng đáp ứng đủ cho lượng khách như dự kiến18.
Các cơ sở lưu trú du lịch không những ngày càng tăng về số lượng mà còn được nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng đặc biệt là các sự kiện của quốc gia, những khách du lịch có khả năng chi trả cao. Hầu hết các cơ sở lưu trú đều nâng cao, cải tạo cơ sở vật chất kĩ thuật, đổi mới trang thiết bị, đa dạng hoá dịch vụ và đặc biệt rất chú trọng tới công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho đội ngũ lao động. Nhiều khách sạn đã đạt tiêu chuẩn trên thế giới: khách sạn Caravelle – khách sạn tổ chức sự kiện tốt nhất do Hiệp hội khách sạn thế giới bình chọn, khách sạn Caravelle và khách sạn Sofitel được giới doanh nhân nước ngoài bầu chọn là khẳng định tốt nhất của Việt Nam và châu Á, khu resort Furama Đà Nẵng được giải thưởng “Sự lựa chọn của các thành viên” xuất sắc của châu Âu. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Dịch vụ ăn uống
Nghệ thuật ẩm thực của Việt Nam từ lâu đã được khách du lịch từ các nước phương Tây coi như “Thiên đường của thức ăn” có sự tao nhã của cả hai nền ẩm thực Đông – Tây. Dịch vụ ăn uống ngày càng được mở rộng tại hàng trăm siêu thị, ngoài ra còn có hàng vạn nhà hàng của tư nhân tại các thành phố lớn. Các món ăn từ đơn giản, dân dã đến những món cầu kì, đặc sản của ba miền Bắc – Trung – Nam với hương vị, màu sắc phong phú, giá cả cũng rất đa dạng đã làm hài lòng ngay cả những khách hàng khó tính nhất về ẩm thực. Các quán ăn cũng ngày càng chú trọng đến cách bài trí để tạo cho khách cảm giác trong lành, yên ả. Ngành du lịch hiện đang cố gắng tổ chức nhiều lễ hội ẩm thực như liên hoan du lịch quốc tế, liên hoan nghệ thuật ẩm thực… một mặt nhằm giới thiệu văn hoá nước ta với bạn bè quốc tế, mặt khác nhằm phát triển các loại hình ẩm thực của dân tộc.
Hơn nữa, các cam kết mở cửa trong phân ngành hàng, khách sạn đã thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam với tư thế thân thiện và dễ thích nghi. Không phải khách nước ngoài nào cũng thích nghi hết được các món ăn dân tộc của Việt Nam. Chính những khách sạn hay những dịch vụ và quán ăn kết hợp giữa tính hiện đại của nước ngoài với tính cổt truyền của Việt Nam đã làm cho dịch vụ ăn uống, môi trường du lịch tại Việt Nam đa dạng hơn, đáp ứng tối đa mọi nhu cầu của khách du lịch.
Dịch vụ vui chơi giải trí
Các dịch vụ thuộc nhóm này đang từng bước được quan tâm, đầu tư phát triển. Hiện tại, tại địa bàn mỗi tỉnh, thành phố đã được tổ chức được 3-4 khu vui chơi giải trí, tham quan gắn với các điều kiện tự nhiên như tắm biển, vượt thác, đua thuyền,… hoặc dựa trên cơ sở khai thác các khu vui chơi giải trí công cộng: vườn bách thú, vườn bách thảo, công viên. Bên cạnh đó, nhiều khu vui chơi giải trí nhân tạo từ vốn tư nhân và nước ngoài cũng đã được xây dựng, đang thu hút nhiều khách số lượng nhất hiện nay là các khu chơi golf. Trên cả nước hiện nay có 12 sân golf đã và đang đi vào hoạt động, cùng lúc đó hàng chục dự án khác đang trong quá trình triển khai. Nhiều khu vui chơi giải trí khác đã được nâng cấp để có thể đón được trên 1 triệu khách/năm: Công viên văn hoá Đầm Sen, khu du lịch Suối Tiên, địa đạo Củ Chi…Cả nước đang xây dựng và triển khai nhiều dự án lớn theo hướng gắn dịch vụ vui chơi, giải trí, tham quan với thiên nhiên, lịch sử: dự án du lịch bán đảo Bình Quới, Thanh Đa, dự án số lượng Bắc Bình Chánh, Cần Giờ, Đền Bến Dược… với nhiều dịch vụ vui chơi giải trí khác nhau hiện nay ngành du lịch hy vọng sẽ đón và lưu giữ được nhiều khách quốc tế hơn nữa.
Việc số lượng các doanh nghiệp du lịch ngày càng gia tăng không chỉ khẳng định ngành du lịch đang dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam mà còn cho thấy tính đa dạng, phong phú của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch.
1.3.4. Các doanh nghiệp du lịch Việt Nam có điều kiện học hỏi được kinh nghiệm quản lí
Hội nhập trong lĩnh vực du lịch sẽ tạo cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch của Việt Nam cơ hội mở rộng quan hệ hợp tác, đầu tư chuyển giao công nghệ quản lí với đối tác nước ngoài; cung cấp cho doanh nghiệp những kĩ năng kinh doanh, kinh nghiệm quản lí.
Trong nội dung cam kết (3) – hiện diện thương mại, Việt Nam hạn chế doanh nghiệp du lịch nước ngoài tuy đưa cán bộ quản lí vào làm việc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20 cán bộ quản lí của công ty phải là người Việt Nam. Đây là cơ hội tốt để cán bộ quản lí du lịch trong nước có điều kiện tiếp cận với môi trường quản lí nơi tư duy quản lí hoạt động, phương pháp quản lí tiên tiến và công nghiệp. Từ đó nâng cao trình độ, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp du lịch trong nước hoàn thiện mình hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn mới và đội ngũ quản lí người Việt Nam sẽ là lực lượng quản lí nguồn cho ngành du lịch Việt Nam và doanh nghiệp du lịch trong nước.
1.4. Đối với người dân Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
1.4.1. Được hưởng dịch vụ du lịch có chất lượng tốt hơn
Khi ngành du lịch hội nhập với ngành du lịch thế giới, các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam sẽ được hưởng các dịch vụ chất lượng hơn, phong phú hơn, rẻ hơn nhờ đó chi phí kinh doanh hạ hơn, mức sống người lao động gia tăng.
Trên thị trường du lịch, với một số lượng ít các nhà cung cấp cũng như loại hình cung cấp, một số người dân có nhu cầu với một số loại hình nhất định có thể sẽ không được thoả mãn nhu cầu ở mức cao nhất, và phải tiêu thụ loại hình du lịch không phải loại mình thích nhất. Với việc thị trường du lịch được mở cửa rộng hơn, cạnh tranh giữa các nhà cung cấp sẽ tăng lên, và một kết quả là môi trường tốt khuyến khích các nhà cung cấp đưa ra những loại hình dịch vụ mới, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân. Từ đó, lượng khách du lịch nội địa của Việt Nam gia tăng.
Bảng 5: Lượng khách du lịch nội địa của Việt Nam từ 2000 – 2007
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2007, lượt du khách nội địa tăng đều qua các năm. Nếu năm 2000, du lịch người Việt Nam đi du lịch chỉ đạt 11,2 triệu lượt thì đến năm 2007, con số đó đã là 19,2 triệu lượt, hoàn thành các chỉ tiêu đề ra trong mỗi năm (xem bảng 5).
Lượng khách du lịch nội địa tăng nhanh qua các năm thể hiện sự cải thiện trong đời sống của người dân. Mức sống cao hơn cho phép người dân chi tiêu nhiều hơn cho du lịch. Không chỉ số lượng mà thu nhập từ khách du lịch nội địa cũng tăng cao. Trước đây người dân Việt Nam thường đi du lịch với quãng đường ngắn, thời gian ít, thậm chí du lịch trong ngày, thêm vào đó họ thường chuẩn bị sẵn những đồ cần thiết như đồ ăn, thức uống… nên việc tiêu thụ các dịch vụ du lịch là rất ít. Nhưng nay thói quen đó đã thay đổi, người Việt Nam có xu hướng đi du lịch dài ngày và chi dùng các dịch vụ du lịch cao cấp. Theo điều tra của Tổng Cục Thống kê, chi tiêu trung bình cho một chuyến đi của khách du lịch nội địa vào khoảng 2 triệu đồng và thời gian chuyến đi trung bình 4 – 5 ngày, cao hơn nhiều so với trước đây, đây là tín hiệu tốt cho kinh doanh du lịch nội địa. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Để phát triển một cách vững chắc, ngành du lịch Việt Nam phải đồng thời phát triển du lịch quốc tế và du lịch trong nước. Khách du lịch trong nước đang tăng lên về số lượng hàng năm và mở rộng đối với thế giới do điều kiện kinh tế phát triển, sự ổn định chính trị và trình độ dân trí được nâng cao.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của ngành du lịch Việt Nam đang ngày một rõ nét. Các dịch vụ du lịch trong nước ngày một phổ biến, chất lượng và đảm bảo mang lại cho khách du lịch Việt Nam sự thoải mái và tiện lợi.
1.4.2. Có thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần cải thiện cuộc sống của người dân
Điều quan trọng hơn cả là du lịch đã góp phần phát triển yếu tố con người trong công cuộc đổi mới. Hoạt động du lịch đã tạo ra trên 80 vạn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho các tầng lớp dân cư, góp phần nâng cao dân trí, đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong cả nước và với nước ngoài; đã thực hiện tốt vai trò ngoại giao nhân dân với chức năng “sứ giả” của hòa bình, góp phần hình thành, củng cố môi trường cho nền kinh tế mở, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Du lịch tạo ra một loạt các ngành nghề mới làm thay đổi quan hệ giữa các thành viên trong gia đình tại các dân tộc thiểu số. Trong gia đình hạt nhân, việc cày nương chỉ có người chồng đảm nhiệm nên người chồng được đề cao. Nhưng hiện nay, phụ nữ tham gia vào hoạt động dịch vụ du lịch khá đông. Thu nhập của họ khá cao. Phụ nữ tham gia dẫn khách du lịch có mức thu nhập từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng/ tháng; phụ nữ tham gia sản xuất thổ cẩm, bán hàng rong cũng thu nhập từ 400.000 đến 600.000 đồng/tháng. Một người phụ nữ tham gia dịch vụ du lịch có thu nhập bằng hoặc hơn cả gia đình sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, vai trò của phụ nữ trong gia đình được nâng cao.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực du lịch không chỉ ở những thành phố lớn, những đô thị hiện đại, mà nó còn len lỏi đến tận các bản làng xa xôi, hẻo lánh, những vùng dân tộc ít người. Hội nhập trong du lịch thúc đẩy du lịch tại các vùng kinh tế còn yếu kém; đời sống vật chất người dân còn thiếu thốn, khó khăn; các phong tục, tập quán còn hủ lậu, mê tín chập chững phát triển. Du lịch đem lại cho đồng bào của chúng ta miếng cơm, manh áo, sự ổn định về kinh tế và thậm chí những thay đổi lớn trong thiết chế xã hội, những quan niệm về người phụ nữ, người chủ gia đình. Du lịch đã góp phần hạn chế được sự bất bình đẳng giới.
2. Những ảnh hưởng tiêu cực Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
2.1. Ở phạm vi quốc gia
2.1.1. Phát triển du lịch một cách thụ động, quá tải có thể dẫn đến mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Khách du lịch mang ngoại tệ vào nước đến, làm tăng ngoại tệ cho nước đó; ngược lại, phần chi ngoại tệ sẽ tăng tại nước có nhiều công dân ra nước ngoài du lịch. Trường hợp đầu cán cân thanh toán sẽ nghiêng về nước đón khách, trường hợp sau Nhà nước phải xuất ra một lượng ngoại tệ lớn để gửi khách.
Bên cạnh đó, lượng khách Việt Nam đi số lượng nước ngoài ngày một tăng. Vào năm 2000, số lượng công dân Việt Nam đi nước ngoài là 230.000 lượt, gấp 10 lần so với năm 1994. Từ năm 2003, số lượng người Việt Nam đi du lịch nước ngoài tiếp tục tăng ở mức khá cao, hàng năm tăng trên 20%. Năm 2007, gần 1.500.000 lượt người Việt đi du lịch nước ngoài. Mức tăng bình quân lượng khách Việt đi du lịch nước ngoài trong giai đoạn 2000-2007 đạt 19,4%. Nguyên nhân chủ yếu cho sự gia tăng trong năm này là đồng tiền các nước lân cận bị “mất giá” so với đồng tiền nước ta. Hơn nữa, các cải cách về thủ tục xuất cảnh và giải quyết vấn đề người Việt Nam đã xuất cảnh nhưng không về nước đúng hạn, cho phép công dân Việt Nam ra nước ngoài qua các cửa khẩu quốc tế đều không thị thực xuất cảnh.
Hiện nay, việc đi lại giữa các nước trở nên thuận tiện, ngày càng có nhiều hãng hàng không giá rẻ, các hãng du lịch ở các nước Đông Nam Á đang đua nhau giảm giá tour…sẽ là những yếu tố góp phần thúc đẩy nhiều người Việt Nam ra nước ngoài du lịch trong thời gian tới. Nhưng đây là một loại hình du lịch quốc tế thụ động, không đem lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, cho nên vẫn chưa được quan tâm, khuyến khích trong thời gian qua. Hơn nữa, nếu lượng khách du lịch người Việt ra nước ngoài quá lớn sẽ dẫn đến tình trạng thụ động, ảnh hưởng không tốt đến cán cân thanh toán quốc tế. Vì lí do trên mà một số nước trên thế giới đã dùng các biện pháp ngăn chặn như hạn chế các chuyến du lịch ra nước ngoài của người dân (chẳng hạn như Malaysia quy định mỗi công dân một năm chỉ được đi du lịch ra nước ngoài một lần, trong mỗi lần ra nước ngoài chỉ được mang một lượng nội tệ nhất định).
2.1.2. Gia tăng một số tệ nạn xã hội Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Du lịch còn có thế gây ra một số tệ nạn xã hội và tác hại sâu xa trong đời sống tinh thần mỗi dân tộc.
Tại một số điểm du lịch, cơ quan công an đã phát hiện những tệ nạn xã hội như : ma tuý, trộm cắp, xuất hiện các hành vi phi văn hoá như xây dựng chùa, động giả để thu lợi bất chính, các hiện tượng ép khách, ép giá tại các chùa chiền, những hành động xâm hại di tích quốc gia; phụ nữ, trẻ em tham gia hướng dẫn nghiệp dư tạo tâm lí khó chịu cho du khách. Ngoài ra, có những hành vi khó kiểm soát được như : tổ chức các lễ hội truyền thống một cách tuỳ tiện, sử dụng các hình thức biểu diễn dân gian như là một công cụ kinh tế mà không tính đến tính truyền thống và giá trị tinh thần thiêng liêng của dân tộc, đặc biệt tại các điểm mật độ khách du lịch cao, những hiện tượng như ăn xin, chèo kéo khách, môi giới mại dâm tại các khách sạn; bán các dịch vụ thiếu chất lượng hoặc với giá quá cao đã làm mất dần hình ảnh đẹp của điểm và để lại hệ quả xấu trong xã hội khó có thể khắc phục được trong thời gian ngắn.
Một số bộ phận xã hội, đặc biệt lớp trẻ luôn chạy theo phong cách lối sống phương Tây, tổ chức làng xã đặc trưng của vùng quê dần bị phá vỡ. Vì vậy, tính truyền thống của nền văn hoá địa phương dần dần bị tha hoá và mất đi bản sắc riêng. Tại một số làng nghề thủ công truyền thốn thay vì đón tiếp khách với tấm lòng hiếu khách thực sự của người dân Việt Nam lại là mục đích kiếm được càng nhiều tiền càng tốt từ du khách. Thiện cảm của du khách dành cho điểm đến giảm xuống rất nhiều dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng về số lượng khách quay trở lại.
2.1.3. Phát sinh vấn đề diễn biến hoà bình thông qua du lịch
Ngày nay, khi du lịch phát triển thì việc mở cửa đón tiếp khách quốc tế với tinh thần thân thiện, hiếu khách là điều tất yếu. Các cải cách hành chính trong thủ tục xuất nhập cảnh, gia hạn thời gian lưu trú cho khách du lịch tạo thuận lợi cho du khách đến tham quan, khám phá vùng đất mới bao nhiêu thì đồng thời cũng tạo những kẽ hở cho phần tử phản động du nhập vào nước ta bấy nhiêu. Các thành phần phản cách mạng, khủng bố xâm nhập vào nước ta qua con đường du lịch, đóng giả những vị khách đáng kính để thực hiện hành vi sai trái, gây rối xã hội, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, an ninh quốc gia và chế độ chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang dầy công xây dựng.
Các văn bản phản động kích động nhân dân, chống phá cách mạng sẽ ảnh hưởng tiêu cực và nhanh chóng đến một số người không được học tập chủ nghĩa Mác – Lênin một cách hệ thống, không nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của lí luận này hoặc không vững vàng về tư tưởng, tỏ ra hoang mang, dao động, giảm niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin, vào lí tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Bộ phận nhân dân này sẽ lôi kéo những người khác tham gia chống đối chính phủ, rải truyền đơn, tổ chức hội họp chống phá Nhà nước; ảnh hưởng đến cục diện chính trị, sản xuất và đời sống.
2.2. Đối với ngành du lịch Việt Nam Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
2.2.1. Bất lợi do những biến động thị trường
Gia nhập nền kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu. Tuy nhiên, các tác động của nền kinh tế thế giới cũng nhanh chóng ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành du lịch Việt Nam nói riêng. Những biến động của tỉ giá đồng USD và EUR hay biến động trong giá dầu lửa đang có tác động xấu đến du lịch Việt Nam.
Người đi du lịch đang đắn đo chọn tour vì du lịch nội địa thì tăng giá thêm, tour du lịch châu Âu thì quá đắt do giá EUR đã có lúc leo lên mức kỉ lục 25.000đồng/EUR. Chỉ có tour đi Hoa Kì thì nhẹ hơn do USD đang mất giá so với VND. Các công ty du lịch đang đau đầu vì tình trạng giá cả tăng, đặc biệt là tình trạng tỉ giá tăng giảm thất thường. Các công ty cung cấp tour cho du khách nước ngoài cũng “khóc ròng” vì không thể thuyết phục đối tác chi thêm khoản giá tăng. Không chỉ với các tour đi châu Âu, những tour đi châu Á cũng lấn cấn chuyện giá cả do giá đồng tiền của các nước này cũng tăng mạnh so với USD làm ảnh hưởng đến giá tour. Nhiều công ty kinh doanh nội địa dang gặp khó khăn vì đang bước vào mùa du lịch từ tháng tư đến tháng 7 hàng năm. Khách hàng thường là các doanh nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp… Tuy nhiên do tình hình làm ăn khó khăn hơn trước nên nhiều kế hoạch du lịch trong dịp hè đã tạm gác. Biến động của tỉ giá tác động đến cầu du lịch của du khách. Đây là ảnh hưởng tiêu cực khi hội nhập mà du lịch Việt Nam phải chấp nhận.
Hơn nữa, ngành du lịch chưa bao giờ lại gặp nhiều khó khăn như hiện nay, bởi giá phòng, vận chuyển, dịch vụ tăng chóng mặt, trong khi giá tour khó có thể tăng giá theo thị trường. Sau khi Bộ Tài chính cho phép từ ngày 24/1 tăng giá vé máy bay từ 1,5 triệu đồng lên 1,7 triệu đồng với các tuyến bay nội địa khiến cho ngành du lịch trong nước lại phải đối mặt với chuyện tăng giá. Chưa kịp khắc phục khó khăn này thì khó khăn khác đã xuất hiện, các công ty du lịch phải đối mặt với chuyện xăng dầu và phòng khách sạn tăng giá. Từ đầu năm 2008, giá phòng khách sạn cao cấp tăng vọt, có nơi tới 50-70%. Giá phòng trung bình tại Sofitel Plaza Hà Nội tăng từ 90USD lên 160USD, Bảo Sơn từ 70USD lên 100USD, Nikko Hà Nội tăng từ 130USD lên 170USD, Sofitel Đà Lạt từ 120USD lên 210USD. lí giải chuyện tăng giá mạnh do lượng khách đến Việt Nam tăng đột biến khiến cung câu chênh lệch. Ngoài ra, các chi phí như xăng dầu, điện nước, nhân công cũng tăng khiến giá phòng tăng theo. Việc giá phòng, cước vận chuyển và các dịch vụ khác tăng giá khiến các công ty du lịch phải tăng giá tour tới 30%. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến năng lực cạnh tranh về giá của du lịch Việt Nam.
Các công ty du lịch cho biết gặp nhiều khó khăn khi thuyết phục doanh nghiệp mua tour cho nhân viên công ty đi nghỉ do doanh nghiệp đang đánh vật với những khó khăn do chi phí sản xuất tăng, xuất khẩu lời ít hơn trước. Theo Phòng du lịch nội địa Công ty du lịch Saigontourist cho biết nhiều tour đã lên chương trình hoàn chỉnh với đối tác từ tháng 2/2008, nhưng đến nay một số doanh nghiệp thông báo huỷ bỏ. Chi phí vận chuyển dưới tác động của giá xăng leo thang đã tăng 20% so với cùng kì năm ngoái.
2.2.2. Nhân lực du lịch không theo kịp hội nhập
Đứng trước yêu cầu của hội nhập, nguồn nhân lực ngành du lịch vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về trình độ chuyên môn đã ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của toàn ngành. Vấn đề nguồn nhân lực cho ngành du lịch vừa được đưa ra bàn định với sự tham gia của nhiều bộ, ngành, công ty liên quan.
Trong những năm gần đây, số lượng sinh viên đại học tốt nghiệp hàng năm ngày càng tăng. Nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực du lịch cũng vậy. Lực lượng lao động được đào tạo chuyên ngành du lịch, bậc đại học trong các doanh nghiệp cũng đa dạng, song chiếm tỉ lệ không cao. Vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng đang là thách thức đối với ngành du lịch trước yêu cầu của thị trường lao động hiện nay. Hiện cả nước có 1.035.000 người làm việc trong ngành du lịch, chỉ có khoảng 20% trong số này qua đào tạo từ trình độ sơ cấp trở lên, trong đó có bằng đại học đúng ngành nghề chỉ chiếm 3,11%.
Hiện nay, hầu hết các khách sạn cao cấp như Dewoo, Melia, Fortuna… đều vấp phải một khó khăn trong việc tìm kiếm nhân viên đã qua đào tạo một cách bài bản, giỏi ngoại ngữ, đặc biệt là nhân viên giỏi tiếng Anh. Hiện hầu hết các sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành du lịch của các trường đại học khi được nhận vào làm tại các khách sạn vẫn phải qua một khoá đào tạo ngắn hạn của khách sạn. Theo thống kê, chỉ xét riêng về trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Pháp, Nhật, Đức… số hướng dẫn viên thông thạo chỉ chiếm khoảng 5-12% trong tổng số trên 5.000 hướng dẫn viên đã được cấp thẻ. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Một số lượng lớn nhân viên thị trường làm việc phụ thuộc vào thông tin và kinh nghiệm của một số ít người trong doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận thị trường nhưng thiếu năng động trong công tác khai thác thị trường. Nhiều cán bộ điều hành thiếu thông tin cập nhật về các dịch vụ du lịch tại các địa phương, thiếu thông tin về tuyến điểm và ít tạo được mối liên hệ mật thiết với các cơ sở dịch vụ này nên hiệu quả làm việc bị hạn chế.
Trên thực tế, thói quen hợp tác và làm việc theo nhóm tại các công ty du lịch Việt Nam còn yếu. Việc liên kết giữa các cá nhân, giữa các bộ phận trong doanh nghiệp không phải lúc nào cũng ổn thoả. Có nhiều lí do như phân công công việc không rõ ràng, do nhu cầu tự thể hiện minh của một số cá nhân trong tập thể và cả lí do kinh tế đã làm giảm sự gắn kết giữa các cá nhân hoặc giữa các bộ phận trong kinh doanh.
Các nhà quản lí doanh nghiệp du lịch luôn trong tâm trạng e ngại khả năng chảy máu chất xám. Do vậy, nhiều nhà quản lí ít khi tạo điều kiện hoặc đầu tư đồng đều cho mọi nhân viên phát triển khả năng của mình. Đa số doanh nghiệp du lịch đều chỉ khai thác đóng góp của các cá nhân người lao động, chưa chú trọng đến công tác đào tạo họ. Hiện tượng chảy máu chất xám trước đã diễn ra thì nay, lại càng phổ biến khi các doanh nghiệp du lịch nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh, chính sách đãi ngộ nhân viên tốt đang lôi kéo nhân lực giỏi nghiệp vụ của Việt Nam.
Khả năng đáp ứng nhân lực cho hoạt động lữ hành quốc tế cũng góp phần làm tăng hoặc giảm chất lượng làm việc của nguồn nhân lực, dẫn đến giảm sút năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực này. Trong những năm gần đây, một số thị trường inbound của Việt Nam như khách Hàn Quốc, Nhật Bản và cả khách Thái Lan có biểu hiện phát triển “nóng”, nhưng chúng ta không chuẩn bị đủ nguồn nhân lực làm thị trường và dịch vụ là hướng dẫn viên các thứ tiếng đó.
Sức ép cạnh tranh nguồn nhân lực gia tăng sau khi Việt Nam gia nhập WTO tạo điều kiện cho các tập đoàn du lịch nước ngoài thành lập công ty tại Việt Nam. Các công ty mới hình thành tìm mọi cách thu hút nhân lực có kinh nghiệm từ các công ty khác, gây xáo trộn không nhỏ tới tính ổn định nhân lực trong các doanh nghiệp. Từ thực tế trên có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam là chưa chuyên nghiệp do tỉ lệ đào tạo có bài bản chưa cao, thiếu cập nhập thông tin thị trường nên hiệu quả làm viẹc bị hạn chế, phương pháp làm viẹc của số đông lao động còn thụ động, thiếu động lực làm việc một cách mạnh mẽ, năng động và sáng tạo, thiếu thói quen hợp tác và làm việc theo nhóm; môi trường làm việc của đội ngũ cán bộ nhân viên chưa thuận lợi; nguồn nhân lực luôn trong tình trạng có nguy cơ bị xáo trộn. Từ những đặc điểm này cho thấy những hạn chế cơ bản của nguồn nhân lực phát huy tác dụng chưa thuận lợi, dẫn đến việc giảm sút năng lực cạnh tranh trong và ngoài nước.
2.3. Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch của Việt Nam Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
2.3.1. Áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt
Theo các doanh nghiệp lữ hành nội địa, việc Việt Nam gia nhập WTO là hình thức quảng bá tự nhiên, hiệu quả, giúp khách nươc ngoài chủ động tìm đến và không phải vất vả tìm kiếm thị trường như trước. Tuy nhiên, họ sẽ chấp nhận cạnh tranh sinh tử với các đại gia quốc tế. nước, đứng sau Singapore xếp thứ 8, Malaysia xếp thứ 31 và Thái Lan xếp thứ 43. Mặc dù đã có nhiều cố gắng và đã được một số kết quả nhất định, nhưng ngành du lịch vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn. Đó là sự yếu kém về cơ sở hạ tầng và sự thiếu thốn về cơ sở vật chất kĩ thuật.
Các khách sạn cao cấp 4, 5 sao tại các thành phố lớn hiện tại cũng vẫn không đủ đáp ứng nỗi cầu. Các khách sạn cao cấp ở các trung tâm du lịch lớn đều hoạt động hết công suất, thậm chí nhiều khách sạn đã hết chỗ đến tận tháng 12 năm 2008. Với tình trạng này, dù các biện pháp thu hút khách được thực hiện tốt thế nào đi nữa thì cũng không thể đón được nhiều khách. Tuy nhiên, với các khch sạn nhỏ, công suất hiện tại chỉ đạt 50 – 60%, trong khi ở các nước Đông Nam Á khác đạt con số khoảng 75%. Hiện nay, mỗi khách du lịch nước ngoài chi trả trung bình ở Việt Nam là 800USD/tour, trong khi đó họ chi 1.200 USD khi ở Thái Lan và 2.200 USD
Thời gian lưu trú của khách ngắn, số tiền trả thấp khiến doanh thu năm 2007 của Việt Nam chỉ đạt khoảng 3 tỷ USD. Trong khi đó, con số này của Malaysia là 17 tỷ USD, Thái Lan là 13 tỷ USD. Mục tiêu của chúng ta đến năm 2010 đạt doanh thu 6 tỷ USD, song các nước xung quanh đã tăng lên hơn 20 tỷ USD. Do vậy, Việt Nam vẫn không thể đuổi kịp các nước khu vực. Chi phí các dịch vụ cơ bản ở Việt Nam như đi lại, lưu trú, ăn uống… cũng không rẻ hơn các đối thủ cạnh tranh, tỉ lệ quay lại của du khách là 30% thấp hơn nhiều so với con số hơn 50% cuả các nước cùng khu vực. Đây là một biểu hiện cho thấy khả năng cạnh tranh thấp của du lịch Việt Nam trong việc thu hút khách du lịch quốc tế. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Sản phẩm du lịch chưa phong phú là nhận xét của nhiều khách tham quan trong cuộc điều tra về du lịch của Tổng Cục Du lịch tiến hành trong năm 2007. thực tế cho thấy, các khu du lịch nghỉ quanh quẩn chỉ một vài dịch vụ, nhiều nơi vẫn chừng ấy dịch vụ diễn ra hết năm này qua năm khác tạo ra sự nhàm chán cho du khách.
Bên cạnh đó, đại diện các đơn vị lữ hành trong nước không khỏi e ngại vì nguy cơ cạnh tranh khắc nghiệt sẽ diễn ra trong thời gian gần. Không lâu sau khi tìm hiểu thị trường Việt Nam, các tập đoàn nước ngoài có thể đặt đại diện và tự tổ chức tour cho người dân nước họ tới (khách inbound). Yếu thế hơn về ngoại ngữ, sản phẩm dịch vụ và khả năng điều hành tour, các doanh nghiệp Việt Nam rất dễ mất đi nguồn khách nay. Nhờ ưu thế điều hành tour, các đơn vị nước ngoài có thể thu hút khách nội địa vào tour của họ. Các doanh nghiệp du lịch nước ngoài có cách thức tổ chức điều hành chuyên nghiệp, hạn chế được những chi phí phát sinh nên có thể hạ giá tour. Chúng ta không loại trừ khả năng họ sẽ chinh phục khách nội địa, khi đã thông thạo thị trường, địa hình Việt Nam, nghĩa là không chỉ mất khách từ xứ bạn mà ta còn có khả năng bị chảy máu chất xám, nếu không có sách lược rõ ràng bởi đối tác đến Việt Nam khai thác du lịch rất có thể là những tập đoàn có tiềm lực tài chính mạnh và trình độ quản lí hơn hẳn đơn vị đồng ngành nội địa. Do vậy, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam không những có nguy cơ đầu hàng sân khách mà còn thua ngay trên sân nhà.
Mức tăng trưởng về lượng khách du lịch nội địa chưa cao. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp du lịch do năng lực tự thân nên chỉ khai thác thị trường du lịch nội địa, cả từ khách đến chương trình du lịch, sản phẩm du lịch nội địa. Số lượng các doanh nghiệp du lịch nội địa nhiều hơn so với số lượng quốc tế. Song do chỉ chú ý đến chương trình tham quan nên hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng. Mặt khác, đội ngũ cán bộ công chức lao động trong các hoạt động du lịch trong nước còn chắp vá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực thường thua kém so với đội ngũ hoạt động trong các doanh nghiệp du lịch quốc tế. Các hoạt động tiếp thị, khuyếch trương cho du lịch trong nước cũng thiếu kế hoạch, thiếu đồng bộ giữa các địa phương, giữa các doanh nghiệp du lịch trong cả nước. Ngay cả một bộ phận dân cư tham gia vào các dịch vụ du lịch cũng ít mặn mà với khách nội địa mà thường chú ý đến khách quốc tế, gọi nôm na là khách “Tây”. Và cũng là một thực tế, trong quy hoạch tổng thể về du lịch Việt Nam và quy hoạch du lịch ở các địa phương, định hướng phát triển các khu du lịch, các điểm du lịch thường được hoạch định cho khách quốc tế hơn là khách trong nước. Một loạt các vấn đề liên quan tới du lịch trong nước như nhu cầu, thị hiếu khách trong nước, giá cả doanh nghiệp du lịch, thiết kế các chương trình du lịch, xây dựng và phát triển các loại hình du lịch cho hấp dẫn khách trong nước… chưa được đầu tư cả về trí tuệ, sức lực cho đúng mức để phát triển. Tình trạng đơn giản hoá các dịch vụ du lịch phục vụ khách trong nước cũng khá phổ biến trong các cơ sở dịch vụ, các doanh nghiệp du lịch.
2.3.3. Môi trường pháp lí cho hoạt động du lịch còn yếu kém Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Đặc biệt, hầu hết các đơn vị lữ hành nội địa đều chưa quan tâm đúng mức đến việc tìm hiểu luật pháp trong nước và thông lệ quốc tế liên quan. Đây là điểm yếu khi các đơn vị hoạt động trong khuôn khổ pháp lí chung của WTO. Các doanh nghiệp du lịch nội địa cần có thời gian để thích ứng và nâng cao sức cạnh tranh của mình, vì từ trước đến nay, các đơn vị ít nhiều được bảo hộ bởi cơ chế quản lí của Nhà nước. Khi Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế của một nước thành viên WTO, những bảo hộ này sẽ dần dỡ bỏ, đến bỏ hoàn toàn. Vào một sân chơi lớn mà không am tường luật chơi thì rất dễ va chạm, rủi ro. Đại diện các đơn vị lữ hành cũng nhìn nhận, đội ngũ nhân sự của họ phần lớn mới được đào tạo trong nước, chưa tiếp cận mặt bằng công nghệ điều hành chung, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu hợp tác và chuẩn hoá của các tập đoàn du lịch lớn. Nếu không chủ động tìm hiểu và thâm nhập thị trường quốc tế, không đổi mới cải cách quản lí thì doanh nghiệp du lịch trong nước sẽ không tồn tại.
Trên thực tế, theo các cam kết của Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kì hay các cam kết hợp tác trong ASEAN, Việt Nam đã cho phép các hãng nước ngoài vào kinh doanh trong những lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, lữ hành. Tuy nhiên các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh trong lĩnh vực này chỉ được phép thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam. Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ mở cửa hơn nữa dịch vụ du lịch, cho phép các công ty lữ hành nước ngoài được thành lập tại Việt Nam theo hình thức 100% vốn nước ngoài, và trong giai đoạn đầu các công ty này chỉ được phép khai thác thị trường đưa khách vào Việt Nam (thị trường inbound).
Mặc dù bị giới hạn ở thị trường inbound song nguy cơ cạnh tranh từ các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là rất lớn. Ngay trước khi mở cửa, cuộc cạnh tranh đã diễn ra khá gay gắt, các lữ hành nước ngoài tồn tại dưới hình thức liên doanh gần như điều hành toàn bộ hoạt động của công ty liên doanh, đặc biệt là thị trường inbound. Vì vậy, trong thời gian tới, khi sân chơi được mở rộng hơn nữa cho nhiều đối tượng tham gia, cạnh tranh sẽ càng nặng nề hơn. Với nguồn vốn lớn, thương hiệu mạnh, công nghệ du lịch cao, kinh nghiệm quản lí tiên tiến, có mạng lưới đại lí toàn cầu.. các hãng lữ hành nước ngoài sẽ có khả năng làm chủ thị trường khách quốc tế Việt Nam. Còn các doanh nghiệp lữ hành quá trình trong nước với khả năng cạnh tranh yếu kém, cụng nghệ điều hành du lịch chưa chuyên nghiệp, công tác tiếp thị yếu, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành sản phẩm (khách sạn, nhà hàng, phương tiện vận chuyển…) chưa ổn định, chắc chắn sẽ bị điêu đứng. Trong số các doanh nghiệp lữ hành quốc tế của ta, đa phần là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp này có nguy cơ sẽ phải rút khỏi thị trường nếu không sáp nhập với các doanh nghiệp lớn. Các đơn vị quốc doanh cũng sẽ bị cạnh tranh ráo riết, và gặp không ít khó khăn do bộ máy quản lí còn cồng kềnh, khả năng thích nghi kém, hoạt động không hiệu quả… Hơn nữa, việc cam kết không hạn chế trong phương thức cung cấp dịch vụ (1) và (2) là một thách thức. Các doanh nghiệp du lịch nước ngoài mạnh về thương mại điện tử có thể tổ chức chương trình du lịch quốc tế hấp dẫn, đặc sắc nên việc duy trì thị trường du lịch nội địa và giữ sân nhà là điều khó khăn cho doanh nghiệp du lịch trong nước.
Như vậy, trong ba mảng kinh doanh lữ hành: đưa khách quốc tế vào Việt Nam (inbound), đưa khách Việt Nam đi nước ngoài (outbound), và du lịch nội địa, thì các doanh nghiệp lữ hành trong nước sẽ rất có thể chỉ khai thác được mảng khách du lịch nội địa và một phần khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Đây là một tương lai không mấy khả quan cho các doanh nghiệp du lịch Việt Nam.
Sức ép cạnh tranh được dự báo là không chỉ diễn ra tại thị trường du lịch quốc tế mà ngay cả tại thị trường nội địa, khi mà nhiều công ty lữ hành mất thị trường inbound sẽ nhảy vào thị trường nội địa, tạo sức ép cạnh tranh với các công ty chuyên về du lịch trong nước. Với nội dung cam kết trong phương thức (3), việc xoá bỏ hạn chế vốn trong các liên doanh tạo nguy cơ thôn tính của doanh nghiệp nước ngoài đối với doanh nghiệp du lịch trong nước. Nếu không nỗ lực phấn đấu và khẳng định vị thế của mình trong quan hệ liên doanh, liên kết, doanh nghiệp du lịch trong nước sẽ trở thành người làm thuê cho doanh nghiệp du lịch nước ngoài ngay trên sân nhà.
Mở cửa là điều không thể tránh khỏi trong quá trình phát triển kinh tế nói chung. Do đó, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cần nhanh chóng nhận thức về năng lực cạnh tranh của đơn vị mình và sớm có những động thái thay đổi tư duy, nâng cao khả năng phục vụ của doanh nghiệp mình.
2.4. Các ảnh hưởng tiêu cực tới người dân Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
2.4.1. Cảnh quan môi trường bị tàn phá
Môi trường sinh thái nói chung, môi trường du lịch nói riêng đang và còn là vấn đề không chỉ trong phạm vi mỗi địa phương – mỗi ngành mà còn là vấn đề của quốc gia, của thế giới. Môi trường du lịch Việt Nam được đề cập từ nhiều năm qua cùng với quá trình hội nhập và phát triển của du lịch Việt Nam.
Trước hết là về môi trường tự nhiên liên quan đến hoạt động kinh doanh du lịch, khai thác tiềm năng du lịch cũng như tổ chức dịch vụ du lịch còn những vấn đề tồn tại. Rác thải được coi là vấn nạn tại các điểm tham quan du lịch, kể cả những nơi có cảnh quan đẹp như các bãi biển, cảnh núi non hùng vĩ hay những nơi thể hiện tâm linh trang trọng cũng đều có hiện tượng xả rác bừa bãi. Không chỉ có khách du lịch xả rác mà tham gia vào đó còn có những người bán hàng đủ loại, những cơ sở kinh doanh dịch vụ cũng góp phần làm tổn hại môi trường. Rác thải khó phân hủy, mùi khó chịu, thiếu mĩ quan đô thị, làm ô nhiễm nguồn nước không chỉ tác động đến sự phát triển của du lịch mà hơn nữa, nó trực tiếp gây hại cho đời sống người dân địa phương. nhiều địa điểm du lịch, do tình trạng tập trung thường xuyên quá nhiều người đã khiến thiên nhiên không kịp phục hồi và đi đến chỗ bị huỷ hoại. Ngày nay khi đến vườn quốc gia Cúc Phương, du khách hầu như hiếm khi nhìn thấy các loài thú đặc trưng như voọc, khỉ… Tình trạng thảm sát các loài động vật làm đặc sản phục vụ du khách diễn ra thường xuyên, tràn lan ở nhiều khu du lịch khiến nguy cơ nhiều loài có khả năng bị tuyệt chủng. Nhũ đá trong các hang động như Tam Cốc, Ninh Bình, Cát Bà… bị mất vẻ đẹp nguyên sơ, trở nên nhẵn nhụi, hay bị phủ một lớp khói đen do việc đốt đuốc, hương của khách du lịch. Việc mua bán, lấy đi tiêu bản tự nhiên để làm kỉ niệm như phong lan, nhũ đá… còn khá phổ biến, không được các cơ quan chức năng quản lí.
Thứ hai là môi trường văn hoá xã hội trong du lịch. Hiện tại vẫn đang diễn ra và ngày càng phổ biến các lễ hội đông nghẹt người. Các lễ hội còn tình trạng nặng về phần lễ, phần hội còn ít, thiếu các trò chơi dân gian. Vẫn còn hiện tượng nhiều du khách với những y phục xa lạ, thiếu nghiêm túc đến những nơi uy nghiêm như đền chùa. Ngành du lịch càng hội nhập sâu, càng đón được nhiều khách du lịch, cơ hội làm giàu từ du lịch càng tăng lên thì nguy cơ tha hoá về mặt đạo đức, sự mất gốc, lai căng, thay đổi về bản sắc văn hoá dân tộc càng gia tăng. Có đau xót không khi cảnh người dân địa phương bỏ qua tinh thần hiếu khách, bỏ qua chữ “tín” trong kinh doanh để nài kéo,“chém đẹp” khách Tây; hay khi lên đến Sapa, những đứa con lai không biết cha chúng là ai ngày càng nhiều và rất nhiều khách du lịch nước ngoài thốt lên “Sapa là một Chiêng Mai thu nhỏ của Thái Lan trên đất Việt Nam ”…
Du lịch đem lại nguồn thu nhập, công ăn việc làm cho người dân địa phương nhưng đôi khi chính nó đã khiến văn hoá truyền thống của dân tộc bị mai một, bị thoái hoá, biến chất. Quả thực, cùng với những tác động tích cực, toàn cầu hoá cũng gây ra những hệ quả tiêu cực đối với nền văn hoá Việt Nam, như một số bộ phận giới trẻ có dấu hiệu xa rời giá trị văn hoá truyền thống. Một số giá trị văn hoá truyền thống không được bảo quản, gìn giữ, thậm chí đem ra mua bán để trục lợi; có những giá trị tinh thần bị biến dạng hoặc bị mai một. Không ít gia đình, phá bỏ quan hệ truyền thống tốt đẹp, bị quan niệm sống thực dụng, tuỳ thích làm cho hạnh phúc gia đình và sự ràng buộc trách nhiệm tan vỡ, rạn nứt. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Đặc biệt, các tiềm năng du lịch cũng như các di sản thế giới tại Việt Nam đang lâm vào tình trạng chung: bị xuống cấp nhanh chóng, khó tái tạo. Tổng giám đốc UNESCO đã phải kêu lên rằng: “Huế cần được cứu vãn vì Huế là bộ phận cấu thành di sản văn hoá của loài người”. Hay như tại bãi đá cổ tại Sapa, những phiến đá cổ được phát hiện có những kí tự quá giống với các kí tự trên đá ở châu Âu và châu Hoa Kì. Việc lưu lại tên, kỉ niệm của con người, những đôi lứa yêu nhau trên thân cây đã có từ ngàn năm trước nhưng với việc khắc bậy bạ, tràn lan trên những phiến đá cổ như hiện nay đang đóng dần cánh cửa khám phá thế giới con người xưa kia. Các phiến đá cổ hiện đã được rào lại nhưng vẫn không cản được trẻ em lọt vào, hoặc rào chắn bị bẻ gãy khiến tình trạng hư hại của bãi đá ngày càng trở nên nghiêm trọng. Thời gian có thể tàn phá những phiến đá đó nhưng chúng vẫn tồn tại đến ngày nay, nhưng sự phá hoại của con người lại thực sự khủng khiếp. Thời gian 10, 20 năm nữa không dài cho việc nghiên cứu ý nghĩa những văn tự trên đá nhưng sẽ rất dài nếu chúng ta tiếp tục thờ ơ với hành vi phá hoại của con người. Huế hay Sapa chỉ là một trong rất nhiều ví dụ của việc các khu di tích, điểm du lịch bị khai thác bừa bãi, bị phá hoại nghiêm trọng. Việc phát triển du lịch một cách bừa bãi, một cách chụp giật, không có quy hoạch cụ thể đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Các địa điểm du lịch không chỉ có ý nghĩa là tiềm năng du lịch mà còn là môi trường sống của con người; nhưng chính con người nơi đây, khai thác nó không biết trân trọng, giữ gìn nó, và nghiêm trọng hơn, người Việt Nam hiện tại và các thế hệ sau này đang có đứng trước nguy cơ đánh mất các di sản văn hoá, đánh mất văn hoá, truyền thống nghìn năm tuổi.
Môi trường tự nhiên và xã hội chính là những thông số đầu vào cho du lịch, nếu môi trường du lịch bị phá huỷ, các hoạt động du lịch cũng không thể được thực hiện. Bên cạnh đó, môi trường sinh thái bị phá hoại còn ảnh hưởng đến đời sống của thảm động thực vật và con người. Chính vì vậy cần phải phát triển hoạt động du lịch một cách bền vững, lâu dài, tiến hành các hoạt động du lịch phải đi đôi với bảo vệ tôn tạo các tiềm năng du lịch sẵn có của quốc gia.
2.4.2. Thiếu sự quan tâm của gia đình kinh doanh du lịch tới trẻ em
Du lịch tạo ra một loạt ngành nghề mới làm thay đổi mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Quan hệ bố mẹ và con cái trong gia đình cũng có sự biến đổi ở gia đình ba thế hệ, nếu bố mẹ bận sản xuất thì còn ông bà chăm sóc dạy bảo con cháu. Nhưng hiện nay, khi gia đình ba thế hệ này giảm nhanh chóng, bố mẹ khó có điều kiện chăm sóc con cái. Càng khó có điều kiện hơn khi người mẹ bên cạnh việc nương rẫy phải mua và bán hàng lưu niệm. Ở Cát Cát, một bản người Hmông ở Sapa, người mẹ bán hàng rong phải đi từ sáng sớm đến tối khuya mới về, thậm chí ở lại trị trấn hàng tuần mới về nhà một lần. Vì vậy, trẻ em ít được bố mẹ quản lí. Các trẻ em bận làm nhiều việc nhà, tham gia dịch vụ du lịch (từ chiều thứ 6 đến thứ 2 các em không về nhà mà lang thang trên phố bán hàng rong). Do đó, chất lượng học tập của các em rất thấp, nhiều em học đến lớp 3, lớp 4 vẫn chưa đọc thông, viết thạo. Hiện nay, Sapa có từ 200 đến 250 em (chủ yếu là trẻ em gái) lang thang bán hàng rong trên phố. Trong số đó có hơn 100 em sớm bỏ học. Khi đã học hết tiểu học, trẻ em bỏ học rất cao. Nguyên nhân bỏ học để có thời gian tham gia các hoạt động du lịch chiếm tỉ lệ khá cao chiếm 51,7%. Riêng ở Cát Cát có 63,33% số học sinh bỏ học do tham gia dịch vụ du lịch. Không chỉ ở Sapa, mà tại các điểm du lịch khác, trẻ em tham gia dịch vụ du lịch không có thời gian học hành, nghỉ ngơi và vui chơi trở nên khá phổ biến. Các em sớm tiếp xúc với đồng tiền, sớm phải lao động nên dễ dàng học những thói hư tật xấu từ người lớn, bỏ học sớm khiến tương lai các em bị đe doạ….
Từ thực tiễn ở các số làng du lịch Sapa đặt ra hàng loạt vấn đề thiết chế xã hội. Du lịch có mặt tích cực tạo ra nguồn thu nhập mới, ngành nghề mới, tổ chức mới, nâng cao đời sống người dân, nhưng du lịch cũng có một số tác động tiêu cực về xã hội như việc trẻ em lang thang bỏ học nhiều, việc thiếu điều kiện giáo dục chăm sóc con cái trong các gia đình dân tộc thiểu số. Đặc biệt kết cấu làng truyền thống thay đổi, cần xây dựng một số chính sách, biện pháp mới trong quản lí xã hội vùng cao.
3. Nguyên nhân của các ảnh hưởng tiêu cực Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
3.1. Về phía Nhà nước
3.1.1. Quản lí Nhà nước về du lịch còn yếu kém
Bộ máy quản lí Nhà nước về du lịch chưa tương xứng với chức năng của một ngành kinh tế mũi nhọn. Quy mô tổ chức cán bộ quản lí ở cấp trung ương và sở du lịch ở các địa phương chưa tương xứng với nhiệm vụ hiện nay.
Xét về môi trường pháp lí, hiện nay, hoạt động du lịch của Việt Nam được chi phối bởi hàng loạt các văn bản luật và dưới luật. Nhiều văn bản pháp quy vẫn chưa quy định rõ ràng, đầy đủ, chưa kịp thời, đồng bộ gây khó khăn cho việc triển khai hoạt động du lịch. Về Luật doanh nghiệp, trong thực tế thi hành Luật doanh nghiệp và các văn bản dưới Luật vẫn còn những khó khăn như một số điều khoản trong Luật và các thông tư hướng dẫn không rõ ràng, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế sau khi có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh là tiến hành kinh doanh ngay mà không làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lữ hành quốc tế. Luật Du lịch Việt Nam được công bó tháng 6/2005 và có hiệu lực từ 01/01/2006. Luật Du lịch ra đời đề cập đến nhiều nội dung mới, thực sự đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch. Tuy nhiên, những văn bản luật chuyên ngành vẫn còn chậm khiến doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch khó phát triển.
Khi đã có chính sách thì lại chậm triển khai, như việc làm thủ tục để chuyển các nhà khách, nhà nghỉ sang kinh doanh du lịch, quy chế quản lí Karaoke, vũ trường, massage, xông hơi, các tệ nạn ăn xin, trộm cắp, bán hàng rong ở các nơi du lịch, nhiều hiện tượng không phù hợp với yêu cầu văn minh du lịch vẫn còn tồn tại. Đó là hậu quả của sự thiếu đồng bộ trong việc phối hợp hành động giữa du lịch và các ngành nội vụ, văn hoá thông tin và chính quyền các cấp. Tình trạng lộn xộn trong hoạt động quản lí du lịch, kinh doanh lữ hành, khách sạn vẫn chưa được chấm dứt. Việc bảo vệ môi trường nhằm phát triển lâu dài du lịch “xanh” và “sạch” ở nước ta còn nhiều vấn đề cấp thiết đặt ra, cần phải giải quyết nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động du lịch.
Tựu chung lại, môi trường pháp lí cho hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch được cải thiện trong thời gian qua nhưng vẫn còn chưa thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp.
3.1.2. Chính sách Nhà nước chưa mang tính đột phá trong việc phát triển du lịch Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp với nhiều loại phí, lệ phí tăng thêm, đặc biệt là việc chi thêm ở các cửa hàng hành chính khiến các nhà đầu tư nước ngoài vẫn phải cần tới đối tác Việt Nam để hoạt động một cách suôn sẻ. Bên cạnh đó, các thông tin chính thức, đáng tin cậy về thị trường du lịch tại Việt Nam, giá đất, các thủ tục xin phép đầu tư cần thiết…còn thiếu. Việc quản lí đầu tư, kinh doanh và khai thác tại các khu du lịch còn chồng chéo. Thực hiện quản lí đầu tư xây dựng theo quy định của luật pháp về đầu tư xây dựng, quản lí mở rộng theo pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lí kinh doanh, khai thác phục vụ hoạt động du lịch theo Nghị định 39 và một số văn bản pháp luật khác. Trong công tác quy hoạch, các yếu tố về thị trường khách, sản phẩm, tài nguyên du lịch, tình hình xã hội… chưa được phân tích, đánh giá thấu đáo khiến nhiều dự án quy hoạch, đầu tư bị kéo dài, gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư và địa phương có dự án đầu tư. Việc thanh tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước đối với các dự án, công trình phát triển các khu du lịch chưa hiệu quả.
Những ưu đãi cho hoạt động lữ hành quốc tế chưa rõ ràng, thậm chí hầu hết văn bản luật đưa ra các quy định khó khăn nhất, thí dụ: đối với lữ hành quốc tế, thuế suất VAT là 10% chưa có tính cạnh tranh với du lịch một số nước trong khu vực. Thái Lan được coi là thiên đường mua sắm do hàng hoá, dịch vụ đa dạng và rẻ, thuế suất VAT là 7%. Vấn đề thuế VAT cho khách quốc tế mang hàng hoá mua sắm trong tour du lịch ra khỏi lãnh thổ Việt Nam chưa được áp dụng. Thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu quá cao. Giá điện nước áp dụng cho du lịch luôn ở mức cao nhất, gấp nhiều lần mức sinh hoạt và sản xuất. Các quy định về hạn chế tốc độ xe còn bất hợp lí, gây tình trạng kéo dài thời gian đi lại và ức chế cho lái xe và hành khách.
Hơn nữa, việc quản lí các thủ tục xuất nhập cảnh cho khách du lịch quốc tế và hàng hoá của họ ra vào Việt Nam còn chậm chạp, gây nhiều khó khăn cho du khách. Làm visa còn mất nhiều thời gian và tốn kém. Tại Pháp, làm visa vào Việt Nam mất 3 – 4 tiếng xếp hàng ở Đại Sứ quán, chờ tới 10 ngày mới được cấp, lệ phí làm visa còn cao khoảng 100 euro.
3.1.3. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập
Phương tiện vận tải
Hiện còn thiếu các sân bay quốc tế, tồn tại nhiều đường bay phải qua sân bay trung chuyển, chất lượng dịch vụ chưa đảm bảo (mỗi năm có khoảng 700 chuyến bay bị trễ, hoãn). Tại Phú Quốc, hòn đảo được dự kiến xây dựng thành khu du lịch chuẩn của quốc gia nhưng kế hoạch này đến nay vẫn chưa được thực hiện do chưa xây dựng được một sân bay quốc tế tại đây.
Phương tiện vận chuyển chủ yếu là thuê của nước ngoài, các phương tiện đường bộ, đường thuỷ hầu hết là phục chế nên thường gặp tai nạn trên đường. Số lượng cầu cảng đủ lớn để đón tiếp khách du lịch quốc tế chưa nhiều, các tàu chở khách quốc tế chủ yếu cập cảng tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều chuyến đường bộ chưa được nâng cấp cải tạo, gây khó khăn trong việc đi lại, ách tắc giao thông thường xuyên xảy ra. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Khách sạn:
Cả nước hiện có 18 khách sạn 5 sao, 4 khách sạn 4 sao nhưng chủ yếu tập trung tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh và Khánh Hoà. Mặc dù các khách sạn và khu nghỉ mát 5 sao mọc lên liên tục tại các thành phố và khu du lịch lớn như Nha Trang và Đà Nẵng, tỉ lệ phòng được thuê vẫn còn thấp hơn so với các khách sạn cùng loại tại Bali (Indonesia) và Phuket (Thái Lan). Hiện tại, ở các khu du lịch nóng như Vịnh Hạ Long, Hội An, Huế, Phan Thiết đều không có một khách sạn hay khu nghỉ mát nào 5 sao cả. Như vậy, một thị trường du lịch dành cho khách du lịch giàu, có khả năng chi trả cao vẫn chưa hình thành ở Việt Nam va cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ là một cản trở để thu hút tầng lớp này.
Số lượng khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 – 5 sao chiếm chưa đầy 3% tổng số khách sạn được xếp hạng. Ngành du lịch đang thúc đẩy việc xây dựng hàng loạt khách sạn cao cấp. Tuy nhiên, tốc độ xây dựng khách sạn cao cấp hiện nay rất chậm chạp, mặc dù các nhà đầu tư đã sẵn sàng, nguyên nhân vì chưa có đất sạch cho các nhà đầu tư triển khai dự án. Nhiều dự án đã chọn được địa điểm nhưng việc đàm phán đền bù giải toả, di dời rất khó khăn.
Trong những năm qua, nước ta được xem như một điểm đến đến đầy tiềm năng của du lịch MICE. Khách nước ngoài đến Việt Nam không chỉ qua đường du lịch mà kết hợp với các chương trình xúc tiến thương mại, triển lãm rất đông. Nhu cầu này hiện nay rất lớn. Nhưng để phát triển loại hình du lịch cũng còn nhiều khó khăn: Việt Nam còn thiếu các khách sạn, các trung tâm hội nghị, hội thảo, đặc biệt là các trung tâm triển lãm quy mô lớn, đạt tiêu chuẩn quốc tế, được lắp đặt hệ thống trang thiết bị hiện đại.
- Thông tin liên lạc: Giá cả viễn thông rất cao, hơn thế nữa mạng lưới liên lạc không sẵn và bao phủ đồng đều, thường chỉ tập trung tại các thành phố lớn, còn các khu du lịch thì chỉ ở các khách sạn lớn thì mạng liên lạc mới có nhưng cước rất đắt.
- Khu vui chơi giải trí: Cơ sở hạ tầng, vui chơi giải trí tại các điểm du lịch còn hạn chế ngay cả tại các khu du lịch biển chủ chốt như Nha Trang, Đà Nẵng và Phan Thiết. Mua sắm, thể thao, giải trí là những yếu tố quan trọng để thoả mãn nhu cầu du khách. Nếu chúng ta muốn du khách ở lại lâu và sử dụng nhiều các dịch vụ du lịch cũng như là các dịch vụ đi kèm thì chúng ta phải tìm cách thoả mãn nhu cầu của họ. Các khu vui chơi giải trí, bảo tàng, khu du lịch sinh thái còn ít, lại mang tính sao chép sẵn từ nước ngoài nên chỉ hợp với người Việt, không hấp dẫn với khách quốc tế.
Cả nước có 1.864 máy ATM được lắp đặt còn quá ít so với số thẻ phát hành và so với nhu cầu hiện nay, các ngân hàng phát hành thẻ chưa liên kết với nhau thành một hệ thống đã gây không ít trở ngại cho việc thanh toán. Cơ sở hạ tầng thấp kém là những nguyên nhân lớn khiến lượng khách du lịch quốc tế cũng như các dự án đầu tư cho du lịch tại Việt Nam hiện nay còn ít.
3.2. Về phía ngành du lịch Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
3.2.1. Hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch còn yếu
Công chúng đã quá quen với điệp khúc “chúng ta giầu tiềm năng, chúng ta đang có cơ hội vượt lên”. Nhưng tiếc thay mọi sự cho đến nay vẫn dường như đang dạng tiềm năng phát triển trong khi du lịch các nước xung quanh đang tiến lên như vũ bão. Một trong những nguyên nhân cho sự phát triển được nhiều người cho là tính thiếu chuyên nghiệp trong công tác quảng bá du lịch.
Chúng ta cần lấy sự độc đáo của văn hoá Việt Nam là điểm nhấn trong các hoạt động quảng bá, Tổng Cục Du lịch kết hợp với các địa phương tổ chức nhiều lễ hội văn hoá – du lịch trong cả nước. Tiếp theo là phải nâng cao tính hiệu quả của công tác tuyên truyền. Năm 2006, Việt Nam tham gia 15 hội chợ du lịch quốc tế nhưng dường như cũng không mang lại kết quả mấy khả quan. Lí do quảng bá dàn trải, đơn điệu thậm chí là cẩu thả, không có sự sáng tạo, gian trưng bày triển lãm không mấy đặc sắc và riêng biệt do vậy không thu hút sự chú ý của người dân các nước, hơn nữa , chỉ quảng bá chung chung không đưa ra các thông tin cụ thể về từng điểm du lịch, giới thiệu từng loại hình du lịch, các công ty lữ hành.
Một trong các kênh quan trọng trong công tác quảng bá trong thời đại hiện nay là Internet. Tuy nhiên kết quả tìm kiếm cụm từ “Vietnam Tourism” từ các website có nguồn gốc từ Việt Nam trên thanh công cụ tìm kiếm hữu hiệu nhất google.com thì kết quả khá khiêm tốn la 26.000 kết quả trong khi đó cụm từ Singapore Tourism cho ra 383.000 kết quả, hơn nữa việc cập nhật thông tin cũng rất chậm. Trừ các trang chính thức của Tổng Cục Du lịch, các web có tham gia quảng bá du lịch Việt Nam thường quá chú trọng đến kinh doanh hoặc chỉ đề cập đến du lịch như một thông tin chứ chưa thực sự chú trọng tới khâu trau chuốt nội dung, giới thiệu và quảng bá những đặc điểm riêng của du lịch Việt Nam cũng như những đặc điểm cụ thể của mỗi điểm du lịch để khách quốc tế có nhu cầu tới Việt Nam du lịch có thể lựa chọn hoặc tự thiết kế những tour phù hợp với sở thích cá nhân.
3.2.2. Chưa chú trọng đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho toàn ngành Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Từ lâu nay, việc đào tạo nhân lực cho hoạt động kinh doanh du lịch là vấn đề vừa cấp thiết, vừa cơ bản nhằm có nguồn lực luôn luôn có đủ tri thức và năng lực đáp ứng đòi hỏi sự phát triển, sự đổi mới của du lịch cùng với thời gian cả trên bình diện quốc gia và quốc tế.
Hiện tại, cả nước có khoảng 30 cơ sở đào tạo hệ nghề và trung cấp du lịch và cơ sở hệ đại học, cao đẳng. Mạng lưới các cơ sở đào tạo chưa được phân bổ hợp lí, tạo các khu vực như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long có lượng khách du lịch lớn song lại thiếu các trường đào tạo ngay tại địa phương. Tất cả những cơ sở đào tạo hiện đều nằm trong tình trạng chung: cơ sở vật chất trang thiết bị hỗ trợ việc giảng dạy còn thiếu; chương trình đào tạo nặng về lí thuyết, chưa tạo nhiều cơ hội cho sinh viên được thực hành, nội dung đào tạo chưa cập nhập được thực tiễn kinh doanh du lịch trong nước và thế giới, chưa tiếp cận được với các chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy ở cấp quốc tế, đào tạo ngoại ngữ chưa được đánh giá cao, đội ngũ giáo viên đào tạo du lịch còn chưa đáp ứng được cả về lượng và chất. Ngoài ra, sinh viên du lịch còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm các sách tham khảo, hướng dẫn do giáo viên không có kinh phí để phát hành sách, giáo trình có nội dung còn chung chung, lại chủ yếu là sách lưu hành nội bộ.
Nguồn nhân lực trong du lịch đang và cần được đào tạo vừa cơ bản, chính quy theo môn học, theo thời gian pháp quy trên giảng đường, theo giáo trình và bài giảng của giảng viên. Nhưng mặt khác, do nguồn nhân lực đang được chuẩn bị này còn cần phải có tri thức thực tiễn qua hoạt động kinh doanh của cá doanh nghiệp. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân, có những doanh nghiệp luôn từ chối nhận sinh viên tới thực tập dù điều đó hoàn toàn không gây trở ngại tới hoạt động khai thác tài nguyên du lịch hoặc hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch. Hơn nữa, ở nhiều diểm du lịch, các ban quản lí, lãnh đạo của các cơ sở dịch vụ du lịch cũng chưa nhiệt tình đón nhận và cho phép sinh viên đến thực tập, nghiên cứu, bổ sung các kiến thức thực tế cần thiết.
3.3. Về phía doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
3.3.1. Dịch vụ du lịch chưa bứt phá
Hiện tại, tỉ lệ quay lại của du khách là 30% thấp hơn nhiều con số hơn 50% của các nước cùng khu vực. Đây là những biểu hiện cho thấy khả năng cạnh tranh thấp của du lịch Việt Nam. Sản phẩm du lịch chưa phong phú, độc đáo, giá cả chưa tương xứng với chất lượng khả năng cạnh tranh yếu. Thực tế cho thấy, các khu du lịch chỉ quanh quẩn một vài dịch vụ, nhiều nơi vẫn chừng đó dịch vụ diễn ra hết năm này đến năm khác tạo ra sự nhàm chán cho du khách. Hầu hết các khu du lịch, điểm du lịch khai thác ở dạng tự nhiên, chưa đầu tư tôn tạo. chương trình du lịch còn nghèo nàn, trùng lắp. các khu du lịch, cơ sở vui chơi giải trí còn ít. Hàng lưu niệm chưa phong phú và đáp ứng thị hiếu. Việc mở các loại hình du lịch mới, tuy đã được chú ý, song còn nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăn. giá cả các chương trình du lịch còn cao so với chất lượng dịch vụ và so với một số nước trong vùng.
Hiện tượng “lừa” khách còn khá phổ biến ở các công ty lữ hành. Các công ty này thường xuyên cắt xén hoặc thay đổi lịch trình, phương tiện du lịch và các chế độ phục vụ trái với hợp đồng đã kí, ví dụ như theo hợp đồng là ở khách sạn 3 sao nhưng thực tế chỉ ở khách sạn 1, 2 sao. Người chịu thiệt thòi vẫn là du khách bởi chưa có cơ quan chức năng nào giải quyết vấn đề này cả.
Việt Nam cũng chưa tạo dựng được những khu du lịch có thương hiệu quốc tế để nhắc tới du lịch Việt Nam là nhớ ngay đến những khu du lịch. Ta có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp và có bãi biển được xếp hạng tầm cỡ quốc tế, nhưng trên phạm vi cả nước, chưa có được một khu du lịch tầm cỡ và có tên tuổi như Pataya, Phuket (Thái Lan), Sentosa (Singapore), Bali (Indonesia) hay Genting, Langkawi (Malaysia). Đặc điểm này đã ảnh hưởng đến việc thu hút sự chú ý của khách du lịch, không kéo dàu được thời gian nghỉ ngơi của khách tại Việt Nam, không tạo cơ hội để tăng chi tiêu của khách quốc tế tại Việt Nam.
3.3.2. Mạng lưới dịch vụ du lịch thiếu tính liên kết
Các công ty cung cấp dịch vụ du lịch thường xuyên tranh giành khách, cạnh tranh không lành mạnh. Công cụ cạnh tranh duy nhất là giảm giá tour, nhưng việc giảm giá lại rất tuỳ tiện, giá giảm kéo theo chất lượng dịch vụ cũng giảm. Lợi dụng tình trạng khan hiếm phòng, nhiều khách sạn đã ép giá, buộc nhiều hãng lữ hành phải huỷ tour hoặc thay đổi lịch trình của khách. Việc mua vé còn khó khăn, đặc biệt là vé máy bay: một đoàn khách quốc tế trên 30 người dù đã đăng kí trước cả tháng cũng khó mua vé, nếu có thì lại bị chia thành nhiều chuyến bay với giờ bay khác nhau, làm hỏng kế hoạch tham quan. Các món ăn có xu hướng bị lai tạp; phố ẩm thực Việt Nam tại Hà Nội kinh doanh chủ yếu các món ăn Tàu; tại nhiều nhà hàng sang trọng, các món ăn Âu, á nhiều hơn các món ăn Việt Nam. Bảo hiểm cho khách du lịch quốc tế không được quan tâm đúng mức, các doanh nghiệp không mua bảo hiểm do sợ giá tour tăng, làm mất tính cạnh tranh. Mối liên hệ giữa doanh nghiệp du lịch – đơn vị cung cấp hàng hoá trong nước còn nhiều hạn chế khiến nhiều khi khách muốn tiêu tiền nhưng không biết mua sắm ở đâu. Ngay tại thành phố Hồ Chí Minh, công việc cung cấp toàn bộ hàng hoá cho tàu khi cập cảng đều do một công ty của Singapore đảm nhận, trong khi công ty này mua hàng hoá ngay tại Việt Nam.
3.3.3. Trình độ ứng dụng công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
Trừ những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp Nhà nước, còn lại các doanh nghiệp quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng máy tính như công cụ quản lí nội bộ, chưa có suy nghĩ nghiêm túc đầu tư toàn diện cho vi tính hoá. Theo điều tra khảo sát đầu năm 2006 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam tiến hành trên 225 đơn vị đại diện cho hơn 1.500 khách sạn, nhà hàng, công ty du lịch, hơn 90% đơn vị khảo sát sử dụng phần cứng như máy tính, máy in, máy fax, trong khi chưa đến 25% sử dụng sản phẩm phần mềm quản lí,chỉ có 20-30% cam kết đầu tư cho phần mềm. Việc ứng dụng phần mềm quản lí chủ yếu ở mức sơ khai. Theo điều tra năm 2005 của trung tâm công nghiệp thông tin của Tổng Cục Du lịch, trong 1.511 khách sạn chỉ có 495 khách sạn có địa chỉ e-mail và website có hỗ trợ đặt hàng, thanh toán trực tuyến hầu như không đáng kể. Bên cạnh đó, số lượng phần mềm quản lí du lịch ở trong nước còn ít, giá cao, chất lượng kém. Phần mềm do nước ngoài cung cấp có đa dạng hơn, chất lượng tốt hơn song giá cũng còn cao hơn rất nhiều.
Chặng đường hội nhập du lịch trong WTO còn rất dài, khó khăn nhưng là cơ hội tốt cho cả trước mắt và lâu dài. Toàn ngành cần chuẩn bị tốt về mọi mặt để kịp thời hành động khi thời cơ đến nhanh như hiện nay, không bỏ lỡ cơ hội và vượt qua thách thức mới nảy sinh để phát triển. Chỉ chủ động tiếp cận với thị trường du lịch thế giới đầy tiềm năng, cả trong và ngoài WTO, khi toàn ngành nhận thức đầy đủ và vào cuộc một cách thực sự. Với nỗ lực phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn ngành để hợp tác quốc tế, trong đó ưu tiên cho hội nhập du lịch trong WTO, chắc chắn du lịch Việt Nam sẽ đẩy mạnh chủ động hội nhập du lịch khu vực và thế giới, tranh thủ ngày càng nhiều kinh nghiệm, công nghệ, vốn và nguồn khách, góp phần phát huy vai trò đầy đủ của một ngành kinh tế mũi nhọn và khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Khóa luận: Thực trạng ngành dịch vụ du lịch tại Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển ngành du lịch tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Hội nhập quốc tế tới ngành dịch vụ du lịch Việt Nam