Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế hiện nay đến Việt Nam và một số nước đang phát triển dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. Giải pháp của một số nước đang phát triển để ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu:
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, không chỉ các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là các nước phát triển, mà cả những nước đang phát triển cũng tìm mọi biện pháp để giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng mà cuộc khủng hoảng gây ra. Đối với các nước đang phát triển, có thể nguồn tài chính không được dồi dào, bị hạn chế tiếp xúc với các khoản vay, do đó ngoài các biện pháp dùng tài chính, chính phủ các nước này cần phải đưa ra nhiều biện pháp hơn, đó có thể là sử dụng các chính sách tài khoá và tiền tệ, các biện pháp thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, tiêu dùng trong nước, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ về tài chính của các tổ chức tài chính thế giới, thành lập các hiệp hội cùng chung sức đối phó với khủng hoảng. Không chỉ trông chờ vào các biện pháp của Chính phủ, các doanh nghiệp cũng phải tự mình tìm cách để thoát khỏi vòng xoáy của cơn bão khủng hoảng. Để làm rõ những biện pháp này chúng ta tiếp tục đi sâu vào các giải pháp của Trung Quốc và khu vực ASEAN để đưa ra cách ứng phó cho Việt Nam.
1. Giải pháp của Trung Quốc:
1.1. Giải pháp của chính phủ:
1.1.1. Can thiệp đúng mức, đúng lúc vào thị trường:
Phát triển nền kinh tế thị trường phải gắn với vai trò điều tiết của Nhà nước vì học thuyết kinh tế thị trường tự do đã bộc lộ những khuyết tật của nó. Vấn đề đặt ra là Chính phủ cần can thiệp vào những vấn đề gì, lĩnh vực nào và can thiệp đến mức nào để không triệt tiêu vai trò của thị trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
1.1.2. Đưa ra các gói kích cầu để thúc đẩy nền kinh tế: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Các biện pháp mà không chỉ Trung Quốc sử dụng mà các nước trên thế giới đều sử dụng rất nhiều đó là đưa ra các gói kích cầu. Các gói kích cầu của Trung Quốc đã thật sự phát huy tác dụng, điều này được thể hiện rõ nhất qua các con số doanh thu của các nhà sản xuất, kinh doanh. Ngay cả dự đoán mức tăng trưởng GDP của nước này cũng tăng lên 7,5% so với dự đoán ban đầu 6,5%.
Quốc hội Trung Quốc đã phê chuẩn chương trình cả gói của Chính phủ Trung Quốc nhằm đối phó khủng hoảng tài chính quốc tế. Hầu hết số tiền trong kế hoạch kích thích kinh tế sẽ được chi cho các dự án cơ sở hạ tầng, như đường sá và đập nước, vì các dự án đó sẽ nhanh chóng bơm tiền vào nền kinh tế. Ngoài ra, khoản tiền này sẽ kích thích tiêu thụ nội địa, tăng thu nhập cho người dân tại nông thôn, ủng hộ các ngành công nghiệp thép, tự động hóa… Bên cạnh đó, chi tiêu cải thiện mạng lưới an sinh xã hội sẽ tăng 17,6% trong năm nay lên 293 tỷ NDT. Ngân sách cho chăm sóc sức khỏe và y tế tăng 38,2%, lên 118,6 tỷ NDT. Với dự trữ ngoại tệ khổng lồ và một hệ thống ngân hàng vững chắc, Bắc Kinh đang có một nguồn tài chính lớn để dốc tiền đối phó khủng hoảng. Nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này đang sử dụng gói kích cầu trị giá 586 tỷ USD để biến khủng hoảng thành một lợi thế cạnh tranh, bằng cách chú trọng đào tạo các lực lượng lao động và tăng trợ giúp cho nghiên cứu phát triển. Bắc Kinh sẽ chi nhiều hơn cho các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, tăng ngân sách dành cho nghiên cứu phát triển, bên cạnh việc đầu tư vào hạ tầng cơ sở. Trung Quốc đã tài trợ cho những kế hoạch đào tạo quy mô lớn, nhằm đối phó nạn thất nghiệp gia tăng và cung ứng lao động lành nghề. Riêng tại tỉnh Quảng Ðông, chương trình đào tạo được mở rộng gấp bốn lần trong năm 2009, tập hợp bốn triệu công nhân viên trong các khóa học tập kéo dài từ ba đến sáu tháng.
Không những vậy, để kích cầu Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng chính sách khuyến khích nông dân mua ôtô với hy vọng thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm này ở khu vực nông thôn. Chính phủ Trung Quốc bắt đầu giải ngân gói trợ cấp trị giá 5 tỉ NDT (khoảng 732 triệu USD) để giúp nông dân mua ôtô. Tỷ lệ trợ cấp cho nông dân mua ôtô là 10% và cho nông dân mua xe máy là 13. Nhờ chính sách kể trên nên doanh số bán ra của các hãng sản xuất xe tải đã tăng rất nhanh.
Với gói kích thích cầu đầu tư trong nước trị giá 15% GDP (tương đương 4000 tỷ NDT) trong vòng 2 năm(2009-2010), mục tiêu của Trung Quốc là hạn chế những bất lợi của môi trường kinh tế quốc tế. Số vốn khổng lồ này sẽ huy động 1/3 từ đầu tư chính phủ, phần còn lại là huy động từ địa phương, Doanh nghiệp, và toàn xã hội.
Các gói kích cầu của Trung Quốc được đưa ra cho từng lĩnh vực, ngành nghề:
- Đầu tư 42 tỷ Nhân dân tệ để tạo mới việc làm, tập trung ở các ngành dịch vụ, ngành công nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ và khu vực ngoài quốc doanh của nền kinh tế. Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
- Đẩy mạnh đầu tư vào tài sản cố định ở thành thị: Trong hai tháng đầu năm 2009, tổng mức đầu tư vào tài sản cố định ở thành thị của Trung Quốc đã đạt mức 1.207 nghìn tỷ NDT (tương ứng với 150.35 tỷ USD) với tốc độ tăng trưởng đạt 26,5%, cao hơn so với mức 24,3% cùng kỳ năm 2007, và cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng 26,1% trung bình các năm trước. Tuy nhiên, tốc độ tăng thực tế đầu tư bất động sản dường như đang tạm lắng với mức đầu tư đạt 239,8 tỷ NDT, chỉ tăng 1%, thấp hơn so với tốc độ 32,9% đã đạt được đầu năm.
- Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp: Chính phủ dự định dành 716,1 tỷ NDT (tương đương với 104,6 tỷ USD) trong năm 2009 đầu tư cho nông nghiệp, tăng 120,6 tỷ NDT so với ngân sách năm 2008. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ tăng giá thu mua lúa mỳ và gạo lên từ 0,22 NDT đến 0,26 NDT và giữ giá các nông sản khác cố định ở mức hợp lý để khuyến khích người nông dân.
Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc còn áp dụng các gói chính sách hỗ trợ tập trung vào từng ngành sản xuất, cụ thể:
- Ngành dệt may và máy móc thiết bị: Đối với ngành máy móc thiết bị, Chính phủ Trung quốc hướng đến giảm sự phụ thuộc vào các bộ phận máy nhập khẩu từ thị trường nước ngoài. Chính sách đầu tiên mà Trung Quốc đưa ra là hạn chế các ưu đãi thuế nhập khẩu đối với các bộ phận máy móc mà trong nước có thể sản xuất được.
- Đối với ngành dệt may, Chính phủ dự định sẽ áp dụng giảm chi phí xuất khẩu cho các công ty dệt may khoảng 15% thay vì tỷ lệ 14% đang áp dụng từ tháng 11 năm 2008 đến nay. Thêm vào đó, Chính phủ cũng sẽ thiết lập một quỹ nhằm nâng cấp trang thiết bị và kỹ thuật của ngành này.
- Ngành đóng tàu: Dự kiến năm 2009, ngành đóng tàu trong nước của Trung Quốc sẽ chỉ nhận được các hợp đồng với khối lượng 20 – 30 triệu dead- weight tấn, giảm gần một nửa so với khối lượng đã đạt được năm 2008 là 58,18 triệu dead-weight tấn. Để kích thích ngành công nghiệp này, Trung Quốc đã quyết định kéo dài thêm các chính sách hỗ trợ tài chính của mình cho đóng tàu đi biển cho đến năm 2012, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển các kỹ năng đóng tàu có kỹ thuật cao và xúc tiến các ứng dụng công nghệ vào trong công nghiệp đóng tàu.
- Ngành ô tô sắt thép: Nhằm kích thích sự phát triển của ngành ô tô và sắt thép, Trung Quốc đã giảm thuế mua ô tô dưới 1,6 lít từ 10% xuống 5% từ ngày 20 tháng 01 đến 31 tháng 12 năm 2009, cải thiện hệ thống tín dụng đối với các khoản nợ mua xe ô tô.
- Công nghiệp nhẹ và dầu khí: Các chính sách như tăng cường giảm chi phí xuất khẩu, nới rộng các hỗ trợ về tài chính và tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa là các chính sách đầu tiên trong gói kích cầu của Trung Quốc đối với ngành công nghiêp nhẹ. Thêm vào đó, Trung Quốc sẽ tăng tiêu dùng và tăng nguồn cung các sản phẩm của ngành công nghiệp nhẹ đối với thị trường trong nước, duy trì khối lượng hàng công nghiệp nhẹ xuất khẩu, chú trọng phát triển các kỹ thuật then chốt và tiến hành công nghiệp hóa ngành công nghiệp nhẹ. Mặt khác, các doanh nghiệp trong ngành phải tự phát triển thương hiệu và cải thiện chất lượng sản phẩm của chính mình. Chính phủ Trung Quốc đang cố gắng để đẩy mạnh nhu cầu cho các sản phẩm từ dầu thô nhằm duy trì tốc độ phát triển của ngành dầu khí. Chính sách này bao gồm việc đảm bảo nguồn cung cho các sản phẩm nông nghiệp như phân bón, xây dựng các nhà máy lọc dầu, xây dựng chính sách thuế hợp lý và giúp các doanh nghiệp trong ngành tiếp cận với nguồn vốn dễ dàng hơn.
1.1.3. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu:
Cắt giảm thuế đối với các mặt hàng xuất khẩu:
Kể từ ngày 1-12-2008, hơn 3.700 loại hàng hóa xuất khẩu – tương đương 27,9% tổng số loại hàng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ được tăng hoàn thuế. Đây là chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp đang bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Mở đường cho doanh nghiệp tìm các thị trường mới: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Mỹ và phương Tây là các thị trường chủ đạo của Trung Quốc, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính nên nhu cầu từ các thị trường này giảm mạnh. Vì vậy, Chính phủ Trung Quốc giúp đỡ các doanh nghiệp tìm kiếm các thị trường mới ổn định hơn và tiềm năng hơn. Đồng thời tìm nguồn cung ổn định cho Trung Quốc.
Trong lúc Mỹ và phương Tây đang bận đối phó với tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã bắt đầu chuyến thăm đến đến Ả-rập Xê-út và bốn nước châu Phi là Mali, Senegal, Tanzania và Mauritius từ ngày 10-18/2/2009. Mục đích xuyên suốt trong các chuyến công du này của các nhà lãnh đạo Trung Quốc là tìm kiếm nguồn cung dầu ổn định cho Trung Quốc. Châu Phi và Trung Đông đều là các nhà cung ứng dầu khí hàng đầu của Trung Quốc. Dầu khí từ Lục địa đen đáp ứng 1/3 nhu cầu dầu khí cho Trung Quốc. Riêng Ả-rập Xê-út đáp ứng 20% tổng lượng dầu khí từ bên ngoài vào Trung Quốc. Trung Quốc luôn tìm cách để giữ được nhịp độ tăng trưởng cao bằng cách đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu đáng tin cậy và đa dạng. Trung Quốc đặt nhiều hy vọng vào việc ký hợp đồng với Nga về việc cung cấp dầu lửa qua đường ống dẫn dầu đang được xây dựng ở Đông Siberi – Thái Bình Dương. Song, lợi ích của Trung Quốc đối với Châu Phi và Trung Đông không chỉ là về dầu khí. Lợi ích kinh tế khác, đặc biệt về xuất khẩu của Trung Quốc vào Trung Đông và Châu Phi ngày càng quan trọng trong bối cảnh nguồn xuất khẩu sang các thị trường Mỹ và Châu Âu đang giảm sút. Vì thế, việc đẩy mạnh tiếp cận thị trường rộng lớn đầy tiềm năng của Trung Đông và Châu Phi sẽ góp phần bù đắp cho sự giảm sút đó. Trong thập kỷ qua, trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và Châu Phi tăng mạnh nhờ nhu cầu ngày càng tăng của Trung Quốc về dầu mỏ và các sản phẩm khai khoáng của Châu Phi, cũng như nhu cầu của châu lục này đối với xe hơi, hàng dệt may, viễn thông và các hàng hóa giá rẻ khác của Trung Quốc. Năm 2008, kim ngạch trao đổi thương mại song phương đạt 106,8 tỷ USD, tăng 45,1% so với năm 2007.
Các nước Trung Đông cũng đều là đối tác thương mại hàng đầu của Trung Quốc với tổng giá trị kim ngạch thương mại rất lớn như Brazil (khoảng 29,7 tỷ USD), Mexico (14,9 tỷ USD), Argentina (9,9 tỷ USD), Venezuela (5,8 tỷ USD), Colombia (3,4 tỷ USD) và Ecuador (1 tỷ USD).
1.1.4. Đưa ra các chính sách giải quyết việc làm: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Để giải quyết việc làm, Quốc vụ viện Trung Quốc đã đề ra chính sách việc làm tích cực hơn với 3 phương án phòng ngừa thất nghiệp:
Một là, cho Doanh nghiệp Nhà nước không cắt giảm nhân công, bao gồm cả chấp nhận giảm lương nhưng không giảm nhân công.
Hai là, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội để hỗ trợ hai nhóm đối tượng có nguy cơ thất nghiệp cao nhất là nông dân từ nông thôn ra thành thị làm công việc đơn giản và sinh viên mới tốt nghiệp.
Nhờ tăng trưởng cao liên tục trong vòng 5 năm, quỹ bảo hiểm xã hội của Trung Quốc đã có khoản ngân sách tương đối lớn. Trong 3 năm, Chính phủ sẽ dùng quỹ để đầu tư đào tạo và bồi dưỡng cho hai nhóm đối tượng này. Với người nông dân ra thành thị, chỉ cần họ mong muốn và sẵn sàng tham gia thì sẽ được đào tạo nghề, từ đó tìm việc làm, tăng thu nhập.
Nhu cầu đội ngũ lao động kỹ thuật cao của Trung Quốc rất lớn. Trong khó khăn kinh tế, nước này sẽ tập trung chuẩn bị lực lượng đáp ứng nhu cầu đó. Nông dân tham gia các khóa đào tạo được miễn học phí và có khoản trợ cấp sinh hoạt nhất định.
Việc này được tiến hành song song với đào tạo theo địa chỉ, theo đơn đặt hàng trên cơ sở điều tra thị trường lao động của Trung Quốc. Lao động sau đào tạo sẽ được phân bổ về các đơn vị có nhu cầu.
Ba là, có chính sách tăng tính tự chủ, sáng tạo của đối tượng có nguy cơ thất nghiệp. Sinh viên mới tốt nghiệp muốn kinh doanh, mở Doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ về thuế, chính sách và cơ chế tiếp cận vốn ngân hàng… Trung Quốc hy vọng với chính sách này, sau 3 năm, nước này sẽ tạo được lớp Doanh nghiệp vừa và nhỏ mới, nhất là ở khu vực nông thôn và khu vực người trẻ.
Mặt khác, Trung Quốc cũng tăng cường chính sách để bảo vệ người lao động. Chính phủ Trung Quốc quy định: Doanh nghiệp muốn cắt giảm từ 20 người trở lên hoặc chưa đến 20 người nhưng chiếm 10% tổng số lao động trở lên thì phải thông báo rõ với toàn thể nhân viên hoặc Công đoàn trước 30 ngày. Sau khi có ý kiến của Công đoàn hoặc toàn thể nhân viên, doanh nghiệp phải báo cáo phương án cắt giảm lao động cho cơ quan phụ trách nhân lực tại địa phương.
1.1.5. Giảm thuế để thúc đẩy tiêu dùng trong nước:
Trung Quốc giảm thuế để thúc đẩy tiêu dùng như một trong các biện pháp mới nhằm đưa nước mình vượt qua cơn bão khủng hoảng tài chính. Theo đó, Chính phủ Trung Quốc trong thời gian tới sẽ thông qua một loạt chính sách, trong đó có biện pháp giảm thuế, tăng lương và bảo hiểm, để thúc đẩy tiêu dùng và đối phó với xu hướng kinh tế suy giảm hiện nay trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu.
1.1.6. Tăng các khoản vay để kích thích nền kinh tế:
Cắt giảm lãi suất ngân hàng và tỉ lệ dự trữ bắt buộc để tăng các khoản cho vay, kích thích nền kinh tế đang khủng hoảng. Trung Quốc cắt giảm lãi suất 5 lần chỉ trong 3 tháng( tính từ tháng 10-12/2008), lãi suất cho vay kỳ hạn 1 năm giảm 0,27% xuống 5,31%. Cùng mức cắt giảm tương tự, lãi suất tiết kiệm còn 2,25
Từ 25/12/2008, tỷ lệ dự trự bắt buộc đối với các Ngân hàng lớn sẽ còn 15,5%, đối với các Ngân hàng nhỏ là 13,5%.
1.1.7. Điều chỉnh cơ cấu kinh tế vĩ mô: Hướng tới các ngành công nghệ cao, ít hao tổn năng lượng, và dịch vụ.
Ban lãnh đạo Bắc Kinh đã nhanh chóng xác định được chiến lược và đối sách đối với tình hình mới, biến thách thức thành thời cơ thúc đẩy cải cách mở cửa vào giai đoạn mới. Ở điều kiện bình thường, với tầng tầng lớp lớp cơ chế từ trung ương xuống địa phương, không dễ dàng thực hiện những thay đổi mạnh mẽ và sâu rộng. Khủng hoảng là thời điểm để đẩy mạnh cải cách, chuyển đổi phương thức phát triển và điều chỉnh có tính chiến lược cơ cấu kinh tế, tạo cơ sở cho quá trình phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo. Đây là bước chuyển biến quan trọng sang xác lập mô hình phát triển mới, với cơ cấu kinh tế phù hợp với thực tiễn mới của tình hình hậu khủng hoảng trong nước và quốc tế. Từ tầm nhìn toàn diện, tiền rót vào cứu trợ nền kinh tế trước mắt, cũng tính tới thực hiện các mục tiêu dài hạn.Từ trong khủng hoảng đã thiết kế chiến lược cho hậu khủng hoảng. Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Về cơ cấu ngành, hiện nay, Trung Quốc đang phát triển nghiêng về các ngành CN, ngành tiêu hao năng lượng lớn. Xu hướng của nước này là hướng tới các ngành công nghệ cao, ít tiêu hao năng lượng và ngành dịch vụ.
Điều chỉnh cơ cấu sản phẩm của Trung Quốc gắn với câu chuyện thời sự hiện nay ở nước này với những chính sách mà Microsoft ở Mỹ đang thực hiện ở Trung Quốc. Nếu máy tính ở Trung Quốc sử dụng sản phẩm của Microsoft không có bản quyền, công ty này sẽ khiến màn hình máy tính đó không hiển thị bất kỳ cái gì. Hành động mạnh tay đó của Microsoft đặt Trung Quốc trước mối lo khác về an ninh khi Doanh nghiệp nước ngoài có khả năng điều chỉnh cả hệ thống máy tính lớn của các ngành của Trung Quốc. Mối lo ngại này khiến Trung Quốc phải quan tâm lớn hơn đến sản phẩm công nghệ cao, lấy công nghệ là hạt nhân để nâng cao trình độ của kinh tế Trung Quốc.
Ngay cả các sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc sẽ dần cải thiện về cơ cấu sản phẩm, từ các sản phẩm giá trị gia tăng thấp, tiêu hao năng lượng, ô nhiễm môi trường sẽ chuyển sang các sản phẩm công nghệ cao. Không chỉ tìm thị trường khó, bản thân việc tìm nơi sản xuất cho dạng sản phẩm này cũng không đơn giản.
Trung Quốc cũng không tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp gia công mà chuyển dịch lĩnh vực gia công sang các nền kinh tế khác như Việt Nam
1.1.8. Ổn định lòng dân: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Tưởng chừng như phương pháp này nằm ngoài các biện pháp để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng thực ra đó lại là một biện pháp hết sức quan trọng. Trong bối cảnh hiện tại, kinh tế bị suy thoái, người dân hết sức hoang mang, nếu tình hình tham nhũng không được kiềm chế thì ắt hẳn người dân sẽ không còn tin tưởng vào Chính phủ, vào các chính sách của Chính phủ nữa. Chính vì thế ban lãnh đạo Bắc Kinh đã đẩy mạnh chống tham nhũng.
Ủy ban Kiểm tra kỷ luật trung ương công bố, năm 2008, xử lý 144.000 sự vụ khác nhau với 151.000 quan chức bị kỷ luật, thu hồi thất thoát kinh tế trên 6 tỷ Nhân dân tệ (tương đương 889,6 triệu USD). Các quan chức liên quan vụ melamine bị xử lý nghiêm khắc trước pháp luật, cho các xí nghiệp phá sản hoặc bồi thường thiệt hại cho nạn nhân vụ sữa bột pha chất độc hại. Để đảm bảo khoản đầu tư( từ gói kích cầu) sử dụng đúng mục đích, Trung Quốc đã thành lập 24 tổ kiểm tra. Các tổ kiểm tra giám sát này có sự tham gia của nhiều cơ quan: Uỷ ban cải cách, các Bộ ngành. Tổ này sẽ đến từng địa phương, từng công trình đầu tư thực tế, kiểm tra tiến độ, đảm bảo không đầu tư lãng phí, tham nhũng và kém hiệu quả.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã xây dựng được hệ thống chống tham nhũng nhiều tầng bậc. Ngoài hệ thống chống tham nhũng theo cơ quan nhà nước còn huy động được các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia chống tham nhũng. Các đơn tố cáo, phát hiện tham nhũng sẽ đăng tải trực tiếp trên các trang thông tin điện tử và tiến độ xử lý các vụ việc đó cũng được cập nhật đầy đủ. Kinh nghiệm cho thấy đây là cách làm hiệu quả.
1.1.9. Tham gia các hội nghị khu vực và thế giới:
Tăng cường trao đổi đầu tư giữa các nước là biện pháp quan trọng thúc đẩy kinh tế toàn cầu. Khủng hoảng tài chính không chỉ tác động đến một nước, mà nó tác động đến toàn cầu. Các nước trên thế giới cùng chung tay đối phó với cuộc khủng hoảng sẽ tạo ra một mạng lưới để bảo vệ nền kinh tế toàn thế giới. Đây chính là lúc các nước giàu thể hiện vai trò tiên phong của mình.
Tích cực thúc đẩy các mối quan hệ song phương và đa phương: Trung Quốc đã ký các hợp đồng trị giá hơn 13 tỷ USD với các nước Anh, Ðức, Thụy Sĩ và Tây Ban Nha sau chuyến thăm và làm việc của đoàn quan chức và 200 doanh nghiệp Trung Quốc tới châu Âu hồi tháng 2/2009. Bên cạnh đó, Bắc Kinh còn “tận dụng” cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ và châu Âu để tìm cách mua lại các doanh nghiệp công nghệ và đầu tư vào các thị trường nước ngoài.
Thành lập các quỹ dự trữ ngoại hối khu vực: Trung Quốc đã cùng với ba đối tác là Hàn Quốc, Nhật Bản và Asean đồng ý thành lập quỹ dự trữ ngoại hối trị giá 120 tỷ đô la, hoạt động dưới dạng gọi là « currency swap ». Về khoản đóng góp của các bên, trên nguyên tắc Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc sẽ đóng góp đến 80% cho quỹ dự trữ ngoại hối. Năm nước phát triển nhất của Asean là Singapor, Malaysia, Inđônêxia, Philippines và Thái Lan, mỗi thành viên này sẽ tham gia khoảng ba tỷ rưỡi đô la. Năm nước nhỏ nhất của Asean (Brunei, Cam Bốt Lào, Miến Điện, Việt Nam) sẽ phải gánh vác sáu tỷ rưỡi cuối cùng trên tổng số 120 tỷ đô la.
Trung Quốc đang chuẩn bị thành lập quỹ hợp tác đầu tư 10 tỷ USD với ASEAN và cho các nước khu vực này vay 15 tỷ USD, trong bối cảnh khu vực đang nỗ lực đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Tuyên bố cũng cho biết Trung Quốc dự định viện trợ cho Campuchia, Lào và Myanmar 39,5 triệu USD và tặng 300.000 tấn gạo cho quỹ dự trữ gạo khẩn cấp Đông Á để tăng cường an ninh lương thực.
1.2. Giải pháp của doanh nghiệp: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
1.2.1: Tăng cường đổi mới công nghệ:
Nhấn mạnh vai trò động lực của khoa học công nghệ và đòi hỏi các nhà khoa học giúp các doanh nghiệp nội địa giải quyết khó khăn, cải tiến quản lý, phát triển sản phẩm mới và tạo ra công nghệ mới. Chủ trương ưu tiên đầu tư và phát triển mọi tiềm lực khoa học công nghệ phục vụ sản xuất là nhằm tạo ra sự phát triển chất lượng của nền kinh tế.
1.2.2. Phát huy mạnh mẽ vai trò các doanh nghiệp tư nhân:
Nhiệm vụ của thành phần kinh tế này là tiếp tục thực hiện chiến lược “vươn ra toàn cầu” và mở rộng thị trường quốc tế, đồng thời chia sẻ trách nhiệm tạo việc làm trong nước và giúp nền kinh tế đạt được sự phát triển lành mạnh. Đây là một phần của cách tiếp cận mới, tiếp thu bài học khủng hoảng hiện nay, nhằm tiếp tục mở cửa và mở rộng thị trường thế giới, nhưng không để bị phụ thuộc quá mức vào thị trường thế giới.
1.2.3. Chú trọng phát triển thị trường nội địa: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Năm 2008, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại do phải đối mặt sức ép lạm phát và giá trị đồng nhân dân tệ tiếp tục tăng so với đồng USD. Ðiều này tác động tiêu cực đến lợi ích của các nhà xuất khẩu Trung Quốc. Hơn nữa, Trung Quốc lớn hơn cả thị trường châu Âu và Mỹ cộng lại. Chính vì vậy thị trường nội địa đang là một thị trường mục tiêu cho các doanh nghiệp của Trung Quốc
1.2.4. Thu hút các nhân tài hồi hương:
Các doanh nghiệp Trung Quốc cố gắng lôi kéo các nhân tài hôì hương: Thành phố Quảng Châu đã thành lập quỹ trị giá 30 triệu USD để thu hút các chuyên gia tài chính nước ngoài. Thậm chí, chính quyền thành phố Thâm Quyến còn lên kế hoạch cử người tới Mỹ mùa hè này tham gia chiến dịch tuyển mộ nhân sự kỹ năng cao.
Sự phát triển kinh tế vượt bậc tại Trung Quốc trong thập niên qua đã là ngọn đèn thắp sáng, “cột mốc” để rất nhiều người từ Mỹ và các nước khác quay lại quê hương. Năm 2008, số sinh viên Trung Quốc theo học ở nước ngoài trở về nước đạt mức kỷ lục: 50.000 người, tăng 6.000 người so với năm 2007 và nhiều gấp đôi năm 2004.
1.2.5. Tìm giải pháp để phát triển kinh tế bền vững:
Trung Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao kỷ lục nhờ vào việc sản xuất những mặt hàng giá rẻ và xuất khẩu sang rất nhiều nước khác.
Tuy nhiên, điều đó đã không còn phù hợp trong thời buổi khủng hoảng kinh tế hiện nay, vì vậy các doanh nghiệp phải tìm cho mình một hướng đi mới đó là nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công tác quản lý để tiến tới một nền kinh tế phát triển bền vững.
2. Giải pháp của khu vực ASEAN: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
2.1. Khuyến khích đầu tư, tiêu dùng và thúc đẩy sản xuất kinh doanh, xuất khẩu:
Chính phủ các nước Đông Nam Á áp dụng chính sách khuyến khích đầu tư và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu. Các nước trong khu vực đều đưa ra các gói kich cầu tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của nước mình. Nền kinh tế lớn nhất ASEAN là Indonesia có kế hoạch bơm 73,3 nghìn tỷ ru-pi-át (khoảng 613 triệu USD) vào thị trường bằng cách cắt giảm thuế. Tháng 11/2008, Chính phủ Singapo tuyên bố kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 2,3 tỷ đô la Singapo (l,5 tỷ USD).
Tháng 3/2009, Malaysia công bố kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 2,7 tỷ USD sau khi đã đưa ra kế hoạch trị giá 2,7 tỷ USD vào tháng 11.2008. Trong ngân sách năm 2009, Chính phủ Philippin đã bổ sung 6,8 tỷ USĐ để tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tăng chi tiêu an sinh xã hội. Các quan chức Chính phủ cho biết, Philippin không chỉ tìm cách tạo thêm công ăn, việc làm mà còn tìm cách đưa công nhân trong nước ra nước ngoài làm việc.
Năm 2009, Chính phủ Campuchia đã tăng gấp đôi ngân sách để đầu từ vào các dự án giao thông và cơ sở hạ tầng.
2.2. Sử dụng chính sách tài chính linh hoạt:
Áp dụng chính sách tài chính linh hoạt, thường xuyên cắt giảm lãi suất và bơm một khối lượng lớn tiền vào hệ thống ngân hàng thương mại. Cơ quan quản lý tiền tệ của Singapore (MAS) lần đầu trong hơn 4 năm( tính từ năm 2005) quyết định cắt giảm lãi suất.
Ngân hàng Trung ương Singapore sẽ phải tiếp tục cắt giảm lãi suất trong thời gian tới. Chính phủ Việt Nam liên tục điều chỉnh lãi suất cơ bản của ngân hàng xuống, từ mức 14% trong nửa cuối năm 2008, xuống 13%, 12% và 11%.
Chính phủ Malaysia bơm 1,4 tỉ USD vào thị trường chứng khoán và cắt giảm mức tăng trưởng GDP năm 2009 từ 5,4% xuống còn 3,4%.
Thái Lan thông qua 6 biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính cho các ngành kinh tế, trong đó ưu tiên lĩnh vực xuất khẩu và du lịch, các dự án vĩ mô… nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 4% (2009) so với 5,1% (2007).
Inđonesia cũng sẽ tung ra 5 tỉ USD trợ giúp tài chính, ngân hàng khắc phục khủng hoảng và kích thích kinh tế phát triển.
2.3. Đảm bảo an sinh xã hội và trợ cấp, khuyến khích phát triển nông nghiệp và giải quyết đời sống người thu nhập thấp: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Indonesia đẩy nhanh tốc độ giải ngân 25,9 nghìn tỉ rupi trong khoản ngân sách 290 nghìn tỉ rupi dành cho mạng lưới an sinh xã hội và khuyến khích phát triển trong ngân sách năm 2008 để làm dịu tình hình thanh toán bằng tiền mặt.
Singapore và Thái Lan có chính sách hỗ trợ người dân có thu nhập thấp do ảnh hưởng của giá lương thực, thực phẩm tăng cao. Thái Lan khuyến khích nông dân gieo trồng lúa vụ 3 trong năm trên diện tích đất canh tác có thể thực hiện được. Các biện pháp hỗ trợ người nghèo của chính phủ Inđônêsia gồm: hỗ trợ hoạt động của các địa phương với mức kinh phí cho mỗi xã là 3 tỉ rupi, cho phép mỗi cá nhân được vay vốn ngân hàng không phải ký quỹ tới 5 triệu rupi và phân phát tiền mặt trực tiếp tới mỗi hộ gia đình nghèo 100.000 rupi/tháng trong vòng 18 tháng.
Philippin đầu tư một khoản kinh phí lớn để cải thiện hệ thống thủy lợi, nâng cao năng suất lúa và đưa 300.000 ha đất không sử dụng được trước đây vào canh tác. Ngoài ra, chính phủ Philippin còn chi một khoản kinh phí 120,5 triệu USD đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo và khuyến nông.
Chính phủ Malaysia đưa ra kế hoạch đầu tư 1,9 tỉ USD để mở rộng diện tích trồng lúa nước, đầu tư thâm canh tăng năng suất lúa gạo.
2.4. Củng cố mối quan hệ, hợp tác khu vực:
Tăng cường hợp tác, tự cường khu vực; tăng cường phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô, đi đôi với áp dụng giải pháp kích thích kinh tế thông qua công cụ ngân sách, nới lỏng tín dụng tiền tệ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận tín dụng, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thắt chặt hơn quan hệ các nước trong khối, trong lúc khó khăn này hơn lúc nào hết các nước Đông Nam Á cần sự ổn định và chung sức chung lòng thực hiện những biện pháp đã thoả thuận ở cấp cao để vượt qua khủng hoảng kinh tế.
Thành lập quỹ tài chính khu vực: Để đối phó với cơn bão tài chính, ASEAN thống nhất thành lập một “Quỹ dự phòng khẩn cấp”để giúp đỡ các nước cần tiền mặt. Quỹ này sẽ được sử dụng để mua các tài sản xấu và hỗ trợ về vốn đối với các tổ chức tài chính cũng như các công ty tư nhân. Ngân hàng thế giới (WB) sẽ giúp 10 tỉ USD cho quỹ này.
ASEAN cũng sẽ phối hợp cùng với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc (ASEAN+3) thành lập một quỹ dự trữ ngoại hối chung. Quỹ gồm 17 thỏa thuận với quy mô trị giá 120 tỉ USD do các thành viên đóng góp nhằm hỗ trợ tài chính cho những tổ chức gặp khó khăn. trong đó có việc mở rộng các thỏa thuận hoán đổi ngoại tệ. Trong đó, 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ đóng góp 80% và số còn lại sẽ do các nước ASEAN đóng góp. Hiện tại, ngành dệt may các nước ASEAN đều hoạt động độc lập, tuy nhiên về lâu dài mọi người cũng đã nghĩ đến việc nắm tay nhau để cùng vận hành một cỗ máy chung.
2.5. Thành lập công xưởng sản xuất chung các mặt hàng chủ đạo: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Việc hướng đến thành lập công xưởng sản xuất chung là hết sức cần thiết. điều này sẽ tạo thành một chuỗi liên kết sản xuất và cung ứng. Khi đó sẽ tiết kiệm được chi phí, khi bán ra thị trường thế giới sẽ không bị ép giá, hơn nữa không những tạo được thương hiệu cho cả khối mà còn cho từng nước trong khu vực. Ngành dệt may có lẽ sẽ là ngành đầu tiên cần được sản xuất đi theo hướng này.
Trong cuộc tọa đàm về sự hợp tác của ngành dệt may trong Hiệp hội Dệt may khu vực Đông Nam Á (AFTEX) gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Singapore, Thái Lan và Việt Nam, cùng 4 nước ngoài hiệp hội là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc và đại diện Hiệp hội Thời trang Châu (AFF) diễn ra tại Tp.HCM, đại diện của các hiệp hội dệt may và thời trang của các nước đều nhận định rằng tình hình sản xuất dệt may đang rất khó khăn, tùy theo tình hình điều kiện riêng của từng nước nhưng nhìn chung ngành dệt may các nước đang đối mặt với hoạt động xuất khẩu sụt giảm, nhiều người lao động trong ngành bị mất việc làm, giá đơn hàng thấp, giá trị đơn hàng thu nhỏ lại, hoạt động thanh toán chậm chạp…
Trong quý 1/2009, Singapore có tỷ lệ sụt giảm đơn hàng gia công ở mức từ 30-40%. Ở Thái Lan, xuất khẩu dệt may giảm đến 40%, quy mô các đơn hàng nhỏ lẻ, giá cả sụt giảm và thị trường tiêu thụ nội địa cũng giảm từ 20%-30% so với cùng kỳ. Đối với Việt Nam, quý 1/2009 kim ngạch xuất khẩu của dệt may cũng giảm so với cùng kỳ năm trước với giá trị xuất khẩu chỉ đạt 1,9 tỷ USD.
Ngành dệt may các nước ASEAN đang đặt ra mục tiêu tiến tới biến khu vực thành phân xưởng sản xuất dệt may của thế giới. Sự hợp tác của ngành dệt may các thành viên không chỉ giúp ngành dệt may khu vực phục hồi nhanh chóng mà còn đạt được sự tăng trưởng thương mại trong vùng lên gấp đôi vào năm 2015 so với hiện nay.
Dệt may là ngành kinh tế tiềm năng của ASEAN. Mỗi quốc gia trong khu vực đều có lợi thế riêng biệt. Thái Lan và Indonesia có lợi thế về nguồn nguyên liệu trong khi Việt Nam, Campuchia và Lào lại rất mạnh trong lĩnh vực lắp ráp và may mặc. Nếu các thành viên trong khối phối hợp lại thì không chỉ xây dựng được thương hiệu riêng cho bản thân từng quốc gia mà còn tạo nên được giá trị chung cho ngành sản xuất của cả khu vực.
Vì vậy, các nước có thể bàn bạc để hình thành chuỗi liên kết cung ứng và sản xuất, khi đó Thái Lan và Indonesia cung cấp nguyên liệu cho Việt Nam, Campuchia và Lào để các nước này tạo ra sản phẩm và bán cho cả thế giới. Nếu doanh nghiệp dệt may các nước trong khối hợp tác với nhau thì giá trị của sản phẩm sẽ không còn bị ép giá thấp như hiện nay.
2.6. Xây dựng một cộng đồng ASEAN theo kiểu Liên minh châu Âu (EU) trong tương lai:
Cuộc khủng hoảng cũng giúp các nước ASEAN nhận thức được rằng, khu vực phải tăng cường khả năng độc lập về tài chính để giảm thiểu những tác dụng mà cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra. Vì vậy, việc hướng tới xây dựng một cộng đồng ASEAN theo kiểu liên minh châu Âu là hết sức đúng đắn và cần thiết.
II. Giải pháp của Việt Nam để ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Dựa trên những giải pháp của các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế, chính trị tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc và khu vực Asean, em xin trình bày các biện pháp mà Chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp đã và đang sử dụng, đồng thời kiến nghị một số giải pháp sau.
1. Giải pháp của chính phủ:
1.1. Đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và xuất khẩu.
Đẩy mạnh sản xuất kinh doanh là giải pháp cơ bản nhất bởi vì muốn tăng trưởng kinh tế thì phải đẩy mạnh sản xuất, phát triển dịch vụ.
Tăng kim nghạch xuất khẩu sẽ góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng cao và nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Muốn vậy nhất thiết cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay cần phải được thay đổi theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, sản phẩm có hàm lượng công nghệ, chất xám cao, giảm dần tỉ trọng xuất khẩu hàng thô; đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ. Cần tìm tòi và phát hiện những sản phẩm mà Việt Nam có lợi thế so sánh để chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu. Khi xem xét về lợi thế so sánh, điều quan trọng là ngoài lợi thế tĩnh hiện có, còn phải xem xét những lợi thế động, là lợi thế có tiềm năng và sẽ suất hiện khi có điều kiện nhằm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu Việt Nam. Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, chúng ta phải có những biện pháp cụ thể, đồng bộ.
Để đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu thì vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Trong tình hình hiện nay, Nhà nước cần làm tốt công việc sau đây:
1.1.1. Nâng cấp kết cấu hạ tầng thương mại: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Nhà nước cần ưu tiên và dành nguồn vốn để tập trung đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng thương mại, đặc biệt là tại các cửa khẩu, cũng như đường bộ đường sắt dẫn tới biên giới, cảng biển, cảng sông và các phương tiện liên quan. Trong đó cần chú ý đến một số cửa khẩu lớn giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia…từ đó nối với Thái Lan, Myanmar… để khai thác tốt hơn những thoả thuận về thương mại trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông. Các cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường áp dụng các quy trình quản lý chất lượng công việc và chất lượng các thủ tục hành chính công, thường xuyên giám sát, quản lý hiệu quả chất lượng của các thủ tục hành chính cũng như dịch vụ công.
1.1.2. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại:
Nhà nước cần quan tâm đúng mức những hoạt động và hiệu quả công tác xúc tiến thương mại, đặc biệt là hoạt động nghiên cứu tựi trường, đẩy mạnh xúc tiến thương mại ở cấp chính phủ, phát triển thương mại điện tử để giảm chi phí tíêp thị. Nhà nước và các bộ máy liên quan sớm thay đổi cơ bản các chương trình xuất khẩu theo hướng thiết kế các chương trình theo hướng chuyên nghành đối với từng mặt hàng mới ( hoặc mặt hàng cần hỗ trợ ), tập trung vào một số thị trường mới ( hoặc thị trường cụ thể cần ưu tiên phát triển); triển khai thực hiện các chương trình để quản bá hình ảnh quốc gia, các sản phẩm của Việt Nam trên các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài; nâng cao vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao và đại diện thương mại của Việt Nam ở nước ngoài, để làm cầu nối giúp doanh nghiệp trong nước tìm hiểu thông tin, thâm nhập thị truờng.
1.1.3. Cởi mở hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài:
Nhà nước cần có chính sách cởi mở hơn đối với đầu tư nước ngoài để tăng cường thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực mà các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế về năng lực thực hiện; phải đổi mới cơ chế, chính sách tín dụng liên quan đến xuất khẩu theo hướng tạo điều kiện cấp tín dụng cho đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, hướng tới các dịch vụ tín dụng phục vụ người mua, thay vì chỉ phục vụ nhà xuất khẩu trong nước; khuyến khích sự tham gia của các ngân hàng thương mại vào hoạt động hàng hoá xuất khẩu, chuyển từ hình thức cho vay thương mại sang tài trợ các dự án sản xuất vì mục đích xuất khẩu. Nghiên cứu việc xây dựng và ban hành các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp của người Việt Nam ở nước ngoài để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá vào nước sở tại; đồng thời có các chính sách phù hợp để khuyến khích các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam tiêu thụ sản phẩm qua mạng lưới thị trường sãn có của các công ty này;
1.1.4. Nghiên cứu các cơ chế giải quyết tranh chấp: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Chủ động nghiên cứu các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ ASEAN, WTO để có thể vận dụng hiệu qủa ngay khi xảy ra tranh chấp quốc tế liên quan đến quyền lợi quốc gia, và đến quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam; thực hiện khẩn trương và đồng bộ các chính sách và biện pháp nhằm đa dạng hoá các hình thức đào tạo nghề theo chủ trương xã hội hoá giáo dục, đào tạo. Đơn giản hoá những quy định về thủ tục và điều kiện tham gia kinh doanh dịch vụ giáo dục, để đẩy nhanh một bước chất lượng của công tác nghề và kiến thức kinh doanh vốn đang còn nhiều hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam; đẩy mạnh quá trình ra quyết định chính sách thông qua cơ chế tăng cường mối liên hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như giữa các bộ nghành với nhau.
Tiếp tục phổ biến sâu rộng lộ trình và những cam kết của Việt Nam trong WTO cho các nghành, các doang nghiệp và mọi tầng lớp dân cư nhằm nâng cao nhận thưc về hội nhập kinh tế quốc tế, về WTO, qua đó chủ động hơn và nâng cao hiệu quả trong hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại và dịch vụ , nhất là chinh sách xuất, nhập khẩu cho phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, vừa đảm bảo hộ trợ được cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa không vi phạm các quy định của WTO.
1.1.5. Hoàn thiện hệ thống chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất- xuất khẩu:
Tạo mọi điều kiện thuận lợi để có môi trường hấp dẫn nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, vì vậy đây là con đường ngắn nhất có thể tăng sức cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của chúng ta. Tiếp theo cần đẩy mạnh sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân theo hình thức dọc- ngang, trong đó liên kết hàng dọc là cung cấp bộ phận linh kiện cho các công ty có vồn đầu tư nước ngoài và liên kết ngang là hợp tác với các công ty đa quốc gia trên nhiều lĩnh vực để sản xuất và xuất khẩu. Có thể lúc đầu dưới dạng thương hiệu của nước ngoài, theo mạng lưới của họ, dần dần tiến tới tự mình chế tạo, thiết kế sản phẩm và tiến đến xây dựng thương hiệu, làm chủ hoàn toàn sản phẩm của mình.
Nhanh chóng đổi mới đồng bộ các chính sách tài chính, đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ. Bên cạnh đó cần đào tạo, phát triển nguồn lao động có chất lượng cao, nhất là phải có đội ngũ kĩ sư, chế tạo giỏi các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, cải cách thủ tục hải quan cho các hàng hoá xuất, nhập khẩu nhằm tiếp tục khuyến khích xuất khẩu và tạo niềm tin cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu
Bên canh đó, Nhà nước cần phải dành sự quan tâm thích đáng đến việc xuất khẩu dịch vụ. Xu hướng chung của nền kinh tế thế giới là dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP và thương mại dịch vụ là một trong những nội dung cơ bản của thương mại hiện đại thao quy định của WTO. Ở nước ta việc xuất khẩu dịch vụ thời gian quan chưa thực sự được chú trọng, mà chúng ta còn khá nhiều tiềm năng để phát triển, chính vì vậy chú trọng phát triển dịch vụ xuất khẩu có thể góp phần làm tăng tổng kim nghạch xuất khẩu, đem lại thu nhập và tạo nhiều công ăn việc làm.
1.1.6. Tập trung hỗ trợ sản xuất cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi tạo ra nhiều việc làm và cũng là khu vực gặp nhiều khó khăn nhất. Ngoài việc hỗ trợ lãi suất ngân hàng, thuế cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì vấn đề quan trọng là phải bảo lãnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư xuất khẩu. Hỗ trợ về vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu, các doanh nghiệp thu mua hàng nông, lâm sản phục vụ xuất khẩu trong bối cảnh giá thế giới giảm mạnh do nhu cầu tạm thời xuống thấp.
1.1.7. Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng chủ đạo:
Xuất khẩu chiếm khoảng 70% GDP của Việt Nam và tạo ra hàng chục triệu việc làm mỗi năm. Xuất khẩu suy giảm đã tác động lớn đến tăng trưởng, đến đời sống và việc làm của người lao động. . Vì vậy, cần đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn, có khả năng tăng trưởng cao, có cơ hội phát triển thị trường đồng thời rà soát các mặt hàng có khả năng sản xuất nhưng chưa bị hạn chế về thị trường để tranh thủ xuất khẩu.
Đối với ngành lương thực, phải giữ vững sản lượng để đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ xuất khẩu 4,5-5 triệu tấn gạo; ngành chăn nuôi, thủy sản cần tận dụng cơ hội giá nguyên liệu đầu vào giảm để thúc đẩy sản xuất, chiếm lĩnh thị trường trước khả năng thực phẩm nhập khẩu sẽ “đổ bộ” ồ ạt vào Việt Nam với giá rẻ. Công tác thông tin, dự báo thị trường phải được cải thiện mạnh mẽ để có thể tận dụng những cơ hội thuận lợi trên thị trường đảm bảo người nông dân có thể ứng phó linh hoạt hơn. Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Đặc biệt, thị trường trong nước vẫn chưa được chú ý đến khi các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của chúng ta như cà phê, hạt điều, chè đều hướng ngoại tới 80-90% sản lượng. Vì vậy cần phải chiếm lĩnh lại thị trường này bằng nâng cao chất lượng, công nghệ chế biến, tăng kích cầu nội địa, đồng thời xây dựng hàng rào kỹ thuật quản lý chất lượng nông sản nhập khẩu, cải thiện hệ thống lưu kho, phân phối nông sản trong nước.
1.2. Bảo hộ các nghành sản xuất trong nước không vi phạm quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế:
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, xuất khẩu nhiều nước chịu ảnh hưởng nặng nề, vì vậy các nước này luôn cố đẩy các mặt hàng chủ đạo của nước mình sang các nước khác bằng bất cứ con đường nào có thể. Do đó, để đối phó với thực trạng này, đòi hỏi Nhà nước phải đưa ra những chính sách hết sức khôn khéo và không vi pham quy định chung của các tổ chức quốc tế như tăng thuế nhập khẩu, rào cản kỹ thuật thương mại…Ví dụ điển hình cho vấn đền này chính là ngành thép của Việt Nam.
Thời gian vừa qua nhằm ứng phó trước mắt với tình hình thép ngoại đang bán phá giá vào Việt Nam, Bộ Tài chính vừa có Thông tư số 58/2009/TT-BTC điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng sắt thép trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo hướng tăng thuế nhập khẩu phôi thép và một số loại thép thành phẩm. Theo quyết định này, sắt hoặc thép không hợp kim ở dạng bán thành phẩm có hàm lượng carbon dưới 0,25% tính theo trọng lượng và các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim được cán phẳng, có chiều rộng từ 600mm trở lên, cán nguội (ép nguội), chưa dát phủ, mạ hoặc tráng sẽ được điều chỉnh từ 5% lên 8%. Các loại thép dạng cuộn cuốn không đều, được cán nóng; sắt hoặc thép không hợp kim ở dạng thanh và que khác, mới chỉ qua rèn, cán nóng, kéo nóng, kể cả công đoạn xoắn sau khi cán… áp dụng thuế suất 15%. Mức thuế 7% được áp dụng với các sản phẩm sắt hoặc thép không hợp kim được cán phẳng, có chiều rộng từ 600 mm trở lên đã phủ, mạ hoặc tráng trong khi mức thuế 10% và 13% được áp dụng với một số loại sản phẩm đặc thù như: Dây sắt hoặc thép không hợp kim…
Trước đó, ngày 12/3/2009, Hiệp hội Thép đã có văn bản kiến nghị nâng thuế suất thuế nhập khẩu phôi thép (mã số 7207) từ 5% lên 15%; nâng thuế suất nhập khẩu thép cuộn đường kính 6-10mm và thép thanh xây dựng từ 12 lên 22%; thép cuộn cán nguội (mã số HS 7209) đề nghị nâng thuế suất nhập khẩu từ 7 lên 8% và các sản phẩm tráng kim loại và sơn phủ màu cũng tăng thêm 1%.
Bộ Công Thương cũng đã có văn bản đề nghị Bộ Tài chính tăng thuế nhập khẩu thép và phôi thép nhằm ứng phó trước mắt với tình hình thép ngoại đang bán phá giá vào Việt Nam.
Các biện pháp tăng thuế không thể thực hiện trong dài hạn. Do đó, về lâu dài Chính phủ cần phải xây dựng các hàng rào kĩ thuât đối với các hàng hoá nhập khẩu.
1.3. Giải pháp chấn chỉnh cơ cấu nhập khẩu, chống nhập siêu quá lớn và sử dụng hàng nhập có hiệu quả Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Cán cân thương mại thâm hụt ngày càng lớn là một dấu hiệu không thuận lợi cho nền kinh tế; nó chứng tỏ khả năng sản xuất và hàng hoá trong nước còn yếu. Việc cố gắng giảm dần nhập siêu, tiến tới xuất siêu cần được đặt ra cụ thể và ngay từ bây giờ, vì hiện nay nhập siêu của Việt Nam không được tài trợ từ nội lực của nền kinh tế chủ yếu từ nguồn lực bên ngoài. Điều này chứa đựng nhiều rủi ro ( rủi ro về thanh toán, rủi ro về tỉ giá ). Nhập siêu tăng như hiện nay chỉ được phép tồn tại trong ngắn hạn và trong giới hạn kiểm soát được. Để kỉêm soát tốt tình hình nhập khẩu, qua đó giảm nhập siêu, chúng ta cần đổi mới công tác quản lý nhập khẩu nhằm cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam trong thời gian tới. Vấn đề trước mặt là phải cần điều chỉnh lại danh mục hàng hoá nhập khẩu. Về cơ bản chỉ cho phép nhập khẩu hàng hoá mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu, không cho phép hoặc hạn chế tối đa nhập các loại hàng hoá trong nước có khả năng sản xuất. Bên cạnh đó thúc đẩy các doanh nghiệp nhập khẩu sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các hàng hoá nhập khẩu. Với các nguyên phụ kiện nhập khẩu để làm hàng gia công, cần rà soát lại lượng tối thiểu cần nhập khẩu. Với các thiết bị máy móc, cần xác định tiến độ nhập khẩu phù hợp với tiến độ xây lắp các công trình, đảm bảo công trình được xây dựng nhanh chóng phát huy hiệu quả từ thiết bị nhập khẩu
Các biện pháp trên nếu được áp dụng một cách quyết liệt, mạnh mẽ có thể giảm được nhập siêu.
1.4. Khuyến khích hoạt động đầu tư và tiêu dùng:
Tăng trưởng kinh tế suy giảm do 2 yếu tố chủ yếu: vốn đầu tư (đầu vào) và tiêu dùng sản phẩm (đầu ra). Vốn đầu tư đóng góp chủ lực trong tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tốc độ tăng vốn đầu tư hàng năm đều lớn hơn tốc độ tăng GDP và tỉ lệ vốn đầu tư/GDP có xu hướng tăng liên tục (xấp xỉ 40%) trong thập kỷ qua (đây là tỉ lệ đầu tư cao so với các nước trên thế giớ)i. Đầu tư tư nhân – gần bằng ½ tổng vốn đầu tư trong nước – cũng đang có xu hướng ngày càng tăng. Tuy nhiên tăng vốn đầu tư sẽ tăng sản phẩm sản xuất. Nếu sản phẩm sản xuất không tiêu thụ được sẽ dẫn đến sự tồn đọng. Vì vậy, cùng với khuyến khích đầu tư thì cần khuyến khích cả hoạt động tiêu dùng. Trong điều kiện xuất khẩu bị sụt giảm, thì tiêu dùng trong nước càng trở thành “cứu cánh”. Khuyến khích hoạt động đầu tư và tiêu dùng có ý nghĩa lớn nhằm tạo động lực tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Để hoạt động kích cầu đầu tư và tiêu dùng đạt hiệu quả cần chú ý đến những vấn đề chính sau: Một là, tập trung kích cầu đầu tư vào các dự án sắp hoàn thành, đưa nhanh vào sử dụng, các dự án có dung lượng và triển vọng thị trường tiêu thụ tốt, các dự án góp phần trực tiếp duy trì và mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh cần thiết của doanh nghiệp và nền kinh tế. Ưu tiên các dự án có khả năng tạo được thị trường tiêu thụ, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án kết hợp phát triển kinh tế – xã hội – môi trường. Hai là, để kích cầu tiêu dùng cần giảm giá hàng tiêu dùng, giảm lãi suất, điều chỉnh tăng lương, giảm thuế thu nhập cá nhân và doanh nghiệp, tăng cho vay tiêu dùng, đồng thời giãn, khoanh nợ và tăng hỗ trợ an sinh xã hội. Hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo, người có thu nhập thấp, đồng bào dân tộc thiểu số, các vùng núi khó khăn, thiên tai, bệnh dịch… Đơn giản hóa các thủ tục trợ cấp cho người nghèo.
Trong hoạt động kích cầu đầu tư, cần khuyến khích các thành phần kinh tế, doanh nghiệp cùng tham gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đầu tư vào các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, kho cảng, sân bay, đường bộ, điện, xi măng…Bên cạnh đó là đầu tư vào nhà ở, đặc biệt là nhà ở cho người thu nhập thấp. Kích cầu đầu tư đúng thì sẽ kích cầu được tiêu dùng. Giảm thuế, giảm lãi suất, doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận nhiều hơn, tiền chi trả cho người lao động sẽ cao hơn. Khi có thu nhập người lao động sẽ chi tiêu. Mục tiêu kích cầu tiêu dùng sẽ đạt được. Mỹ cũng là một trong những quốc gia đang áp dụng giải pháp kích cầu tiêu dùng. Ngân hàng nhà nước Việt Nam gián tiếp cho vay tiêu dùng bằng việc không áp dụng lãi suất trần cho vay tiêu dùng.
Gói kích thích kinh tế thứ nhất được Chính phủ công bố hôm 23/1/2009. Trong đó hỗ trợ lãi xuất 4% đối với các tổ chức, cá nhân vay vốn ngân hàng trong thời gian tối đa là 8 tháng, kết thúc vào ngày 31/12/2009. Vốn vay này nhằm giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh, và tạo công ăn việc làm trong điều kiện nền kinh tế bị tác động bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Đầu tháng 3/2009 , Thủ tướng đã quyết định bổ sung đối tượng được thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất là các công ty tài chính.
Gói kích thích kinh tế thứ hai được Chính phủ công bố ngày 4/4/2009. Gói kích thích kinh tế này nhằm cung cấp bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp, song hướng vào các nguồn vốn trung và dài hạn trong khoảng thời gian tối đa 24 tháng. Việc hỗ trợ lãi suất này được thực hiện từ ngày 1/4/2009 đến hết ngày 31/12/2011. Đối tượng áp dụng vẫn là các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển Việt Nam, công ty tài chính thực hiện hỗ trợ lãi suất theo quy định của Thủ tướng trước đây về việc cho vay hỗ trợ lãi suất từ đầu tháng 1/2/2009 tới hết ngày 31/12/2009.
1.5. Bảo đảm an sinh xã hội và đẩy mạnh xóa đói giảm nghèo. Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Trước nguy cơ suy giảm tăng trưởng kinh tế, tác động tiêu cực đến việc làm và thu nhập của người lao động thì vấn đề bảo đảm an sinh xã hội và đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo phải được xem là giải pháp cấp bách. Tăng cường dự trữ quốc gia để triển khai thực hiện các chính sách an sinh xã hội đã ban hành như chương trình nhà ở cho người nghèo, nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp tập trung, nhà ở và tín dụng ưu đãi cho sinh viên… Thực hiện các giải pháp đầu tư để giảm nghèo nhanh và bền vững cho 61 huyện có tỉ lệ nghèo cao nhất, bảo đảm đến năm 2020 các huyện này sẽ có mức phát triển ngang bằng với trình độ chung của cả nước. Tổ chức triển khai chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội. Chính phủ đã thông qua Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg, các doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế trong năm 2009 chưa có khả năng thanh toán tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội và tiền trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định cho người lao động bị mất việc làm thì được Nhà nước cho vay để thanh toán. Cụ thể, đối tượng vay là các doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế mà phải giảm số lao động hiện có từ 30% trở lên hoặc từ 100 lao động trở lên (không kể lao động thời vụ có thời hạn dưới 3 tháng) và sau khi đã sử dụng các nguồn của doanh nghiệp mà vẫn chưa có khả năng thanh toán tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội và tiền trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc cho số lao động đã giảm. Mức vay tối đa của doanh nghiệp bằng số kinh phí để thanh toán số nợ tiền lương và các khoản khác phải trả cho người lao động bị mất việc làm. Lãi suất vay là 0%, thời hạn vay tối đa là 12 tháng.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam là cơ quan thực hiện việc cho vay này đối với các doanh nghiệp.
Đối với người lao động bị mất việc làm tại doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp bỏ trốn trong năm 2009 thì UBND cấp tỉnh ứng ngân sách địa phương trả cho người lao động có trong danh sách trả lương của doanh nghiệp khoản tiền lương mà doanh nghiệp đó còn nợ người lao động. Nguồn tạm ứng từ ngân sách địa phương được hoàn trả từ nguồn thu khi thực hiện xử lý tài sản của doanh nghiệp theo quy định hiện hành. Nếu nguồn tài chính của địa phương không đủ để xử lý thì địa phương có báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Ngoài ra, người lao động bị mất việc làm trong các trường hợp trên, kể cả người lao động đi làm việc tại nước ngoài phải về nước trước thời hạn do doanh nghiệp nước sở tại gặp khó khăn sẽ được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để học nghề trong thời gian 12 tháng, kể từ ngày người lao động bị mất việc làm hoặc ngày lao động phải về nước.
Thực hiện tăng thêm dự trữ quốc gia về lương thực để chủ động cứu trợ cho người dân ở các vùng bị lũ, lụt. Tiếp tục thực hiện trợ cấp khó khăn cho người hưởng lương từ ngân sách nhà nước có đời sống khó khăn thu nhập thấp. Đặc biệt quan tâm bảo đảm y tế, giáo dục, nhất là đối tượng chính sách và các khu vực còn nhiều khó khăn.
1.6. Ổn định hệ thống tài chính: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Mặc dù hệ thống tài chính Việt Nam chưa hội nhập sâu với hệ thống tài chính toàn cầu, chúng ta chỉ mới mở cửa tài khoản vốn vào mà hầu như chưa mở cửa dòng ra, do vậy lượng tiền Việt Nam đầu tư ra bên ngoài dường như không đáng kể và dòng vốn gián tiếp đổ vào Việt Nam chưa nhiều nên hệ thống tài chính của Việt nam sẽ không chịu nhiều tác động từ cuộc khủng hoảng này so với các nước có mức độ hội nhập tài chính sâu rộng. Nhưng điều này không có nghĩa là hệ thống tài chính của chúng ta không bị ảnh hưởng. Do đó, Nhà nước cần có những chính sách để ổn định hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng trước khi có những ảnh hưởng nghiêm trọng.
Ngân hàng hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính chỉ đạo và yêu cầu các ngân hàng thương mại, các tập đoàn kinh tế rà soát ngay các khoản tiền gửi và đầu tư tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính nước ngoài cũng như các khoản vay của các tổ chức này. Từ đó thực hiện biện pháp cần thiết thích hợp để giảm thiểu nguy cơ mất vốn hoặc tăng chi phí, đồng thời, rà soát hoạt động đầu tư, kinh doanh của các ngân hàng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Thủ tướng chỉ đạo, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần đảm bảo ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần có biện pháp giám sát chặt chẽ và chỉ đạo các ngân hàng thương mại rà soát lại các khoản cho vay đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao (bất động sản, chứng khoán, đầu tư đa ngành…), tăng cường hơn nữa kiểm soát và phòng ngừa rủi ro đối với hoạt động cho vay bất động sản.
Nghiên cứu hoàn thiện quy chế mua bán nợ và thiết lập tổ chức mua bán, xử lý nợ khó đòi cho hệ thống ngân hàng thương mại. Sớm xây dựng trình Chính phủ ban hành quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại, phá sản những ngân hàng gặp vấn đề. Trên cơ sở đó để có căn cứ pháp lý thực hiện chủ trương về cơ cấu lại những ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng yếu kém, bảo đảm lành mạnh, an toàn của hệ thống.
Bộ Tài chính cần chỉ đạo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo dõi, giám sát chặt chẽ luồng vốn ra, vào của nhà đầu tư nước ngoài; đồng thời, xử lý những vướng mắc về thủ tục hành chính trong hoạt động chứng khoán để đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư từ thị trường này và phát triển thị trường bền vững. Thực hiện rà soát ngay hoạt động của các tổ chức tài chính, các quỹ đầu tư tài chính để đánh giá và xác định tình trạng tài chính hiện nay của từng quỹ và toàn bộ hệ thống; sửa đổi, bổ sung, xây dựng các tiêu chí, điều kiện về cấp phép thành lập và hoạt động đối với các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm và công ty quản lý quỹ cho phù hợp với tình hình mới.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, cùng với Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo rà soát tình hình thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài, đầu tư trong nước để sớm đưa công trình vào sử dụng hoặc đình hoãn đối với những dự án, công trình xét thấy chưa thật cần thiết.
1.7. Thực hiện chính sách tài chính – tiền tệ tích cực và hiệu quả:
Chính sách tài chính tiền tệ chủ yếu tập trung vào những mục tiêu sau: Một là, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xuất khẩu; Hai là, phân phối kinh phí hợp lý, tăng cường chăm lo cho đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai; Ba là, đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp, duy trì và củng cố lại các doanh nghiệp nhà nước. Sau khi đã tạo ra được mặt bằng lãi suất hợp lý thì chính sách tiền tệ cần tập trung vào giữ ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhưng linh hoạt trong điều hành. Chính sách tài chính (thuế, thu chi ngân sách…) phải nhằm khuyến khích phát triển sản xuất, tăng đầu tư cho những dự án có hiệu quả để duy trì tăng trưởng, loại bỏ những dự án chưa thực sự cần thiết, kém hiệu quả. Tiếp tục hỗ trợ vốn, công nghệ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp làm ăn hiệu quả vì các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới là động lực chính của phát triển nền kinh tế. Trong số gần 350.000 doanh nghiệp ở Việt Nam, có tới 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo ra hơn 50% việc làm cho lao động. Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Với lợi thế tạo được nhiều việc làm và thu nhập, phát triển được ở mọi vùng, miền ngành kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm cho nền kinh tế trở nên linh hoạt, dễ thích ứng với những biến động của nền kinh tế toàn cầu.
Tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, thực hiện cơ cấu lại thời hạn vay nợ, giãn nợ vay vốn ngân hàng đối với nông dân bị thiệt hại do thiên tai và các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Điều chỉnh linh hoạt tỉ giá ngoại tệ theo hướng khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, bảo đảm cán cân thanh toán quốc tế không bị thâm hụt.
Những giải pháp trên đều nhằm đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ sản xuất, giữ vững thị trường nội địa, phát huy lợi thế xuất khẩu, giữ vững và thu hút thêm FDI mới. Mọi nỗ lực giải pháp để ngăn chặn phải được thực hiện linh hoạt phù hợp.
Cùng với quá trình cải cách, đổi mới quản lý hệ thống tài chính – tiền tệ; đổi mới thủ tục cho vay dễ dàng hơn; thì Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phải tăng cường khâu quản lý, kiểm tra, giám sát các tổ chức tài chính – tiền tệ phù hợp với tình hình thực tiễn.
Trong năm 2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tạm thời chưa nên cấp giấy phép hoạt động cho các ngân hàng mới.
Trong thanh toán quốc tế, ngoài việc thanh toán bằng đô la Mỹ cũng cần tăng nhanh tỷ lệ thanh toán bằng các đồng tiền khác như Euro, bảng Anh, Yên Nhật, Nhân dân tệ và một số ngoại tệ mạnh khác.
Ngoài dự trữ ngoại tệ bằng đô la Mỹ thì cũng cần tăng thêm dự trữ bằng đồng Euro, bảng Anh, Yên Nhật và Nhân dân tệ. Thực tế chỉ ra rằng nếu thời gian qua tăng dự trữ bằng đồng Euro thì rất có lợi vì đồng Euro đã lên giá rất mạnh từ năm 2002 – 2008 (Năm 2002: 1 Euro = 0,8 USD thì năm 2008: 1 Euro = 1,5 USD).
1.8. Tăng cường đẩy mạnh quan hệ hợp tác song phương, đa phương khu vực và quốc tế:
Phối hợp với các nước trong khu vực để thực hiện các biện pháp đối phó với khủng hoảng tài chính một cách có hiệu quả. Đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ về tài chính của các quỹ tài chính thế giới như World Bank( WB), tổ chức tài chính quốc tế (IFC)…
2. Giải pháp của các doanh nghiệp: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Doanh nghiệp là một nhân tố hết sức quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Một điều quan trọng là phải tập trung mọi nỗ lực để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đây là nhiệm vụ mà tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, các nghành, các cấp, các tổ chức và các doanh nghiệp cần phải cùng nhau thực hiện. Về phía các doanh nghiệp cần phải chú ý thực hiện các biện pháp sau:
2.1. Nâng cao chất lượng nhân lực, hàng hoá, dịch vụ:
Doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhân lực theo hướng chuyên nghiệp hoá và công nghiệp hoá, nâng cao năng suất lao động, qua đó gián tiếp giảm chi phí hoạt động, có chương trình cụ thể về đào tạo và tuyển dụng, sử dụng và thường xuyên đào tạo lại nguồn nhân lực; nhanh chóng tiếp cận và tiếp thu, áp dụng những kĩ năng quản lý và sử dụng nguồn nhân lực; nhanh chónh hợp lý hoá các quá trình sản xuất-kinh doanh, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động. Tăng cường triển khai các hệ thống quản lý sản xuất- kinh doanh nhằm giảm rủi ro, giảm tỷ lệ sản phẩm kém chất lượng, tiết kiệm chi phí; khai thác hiệu quả những tiện ích của công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử, nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp cần đẩy mạnh mối liên kết giữa người sản xuất – cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào với doanh nghiệp và các cơ quan nghiên cứu khoa học, tổ chức hiệu quả chuỗi cung ứng từ khâu xuất nguyên liệu, vật liệu đầu vào đến khâu tổ chức sản xuất hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại như tìm hiểu thị trường, quảng bá sản phẩm, kí kết hợp đồng với đối tác nước ngoài…Đối với nghành nghề liên quan đến thị hiếu, tính sáng tạo, cần tập trung cải thịên kĩ năng thiết kế sáng tạo mẫu mã sản phẩm cho đẹp và cho phù hợp với nhu cầu phong phú của người tiêu dùng. Vấn đề này cần học tập kinh nghiệm của các nước khác. Trong nông nghiệp cần tăng cường xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến, có chất lượng cao, các mặt hàng có giá trị gia tăng cao; nghiên cứu đưa ra thị trường những sản phẩm mới lạ, dựa trên viêc áp dụng khoa học – kĩ thuật; tiếp tục khai thác thị trường truyền thống, đồng thời không ngừng phát triển xuất khẩu sang thị trường mới, chú ý tập áp dụng khoa hoc – công nghệ tiến bộ trong nông nghiệp, tập trung vào khâu giống, phương pháp nuôi, trồng, đẩy mạnh đầu tư trang thiết bị, công nghệ trong khâu chế biến, thu hoạch sản phẩm; phát triển mạnh công nghiệp chế biến để hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao và giảm bớt những thịêt hại cho nông dân. Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và dự báo nhu cầu thi trường từ phía các doanh nghiệp để các doanh nghiệp luôn chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu hàng hoá, đồng thời có quyết sách phù hợp với cơ hội và thách thức mang lại từ hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2. Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm của doanh nghiệp: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Một vấn đề hết sức quan trọng đối với hàng hoá xuất khẩu nói riêng và của Việt Nam nói chung đó là vấn đề thương hiệu. Hầu hết các sản phẩm của Việt Nam hiện nay hầu hết đều chưa được đăng kí thương hiệu, sản phẩm được tiêu thụ dưới nhãn mác của các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Việc không có thương hiệu hàng hoá đã ảnh hưởng không nhỏ đến xuất khẩu sản phẩm và lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất – xuất khẩu. Do vậy bên cạnh các hoạt động nói trên, các doanh nghiệp cần chú ý xây dựng cho mình một thương hiệu riêng, một đặc trưng riêng.
2.3. Đa dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất khẩu.
Các doanh nghiệp cần phải giảm sự phụ thuộc vào thị trường truyền thống và mở thêm các thị trường mới. Cụ thể tăng xuất khẩu vào các thị trường thuộc khu vực mậu dịch tự do ASEAN, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Hàn Quốc… và các thị trường ít bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong đó, châu Phi và Trung Đông nổi lên là những thị trường xuất khẩu đầy triển vọng trong tương lai.
Trong bối cảnh khó khăn, bên cạnh việc chú trọng khai thác thị trường nội địa, thì tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu là giải pháp được nhiều Doanh nghiệp dệt may triển khai. Tập đoàn đã chỉ đạo các Doanh nghiệp thành viên bám sát thị trường, khách hàng xuất khẩu hiện có, làm tốt công tác chăm sóc khách hàng để giữ vững những thị trường xuất khẩu truyền thống. Tập trung khai thác thế mạnh làm hàng chất lượng cao để tăng giá trị gia tăng, giao hàng đúng hạn, đáp ứng cả những đơn hàng số lượng ít và nhất là đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn môi trường, quan hệ lao động hài hòa… là những lợi thế để doanh nghiệp dệt may giữ chân khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng mới. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần tìm mọi cách giảm giá thành để có được giá bán phù hợp thị trường nhưng vẫn duy trì được lao động, thu nhập. Trong giai đoạn khó khăn hiện nay, sự liên kết, hỗ trợ giữa các doanh nghiệp là rất quan trọng. Các doanh nghiệp lớn có thể hỗ trợ, giúp đỡ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các địa phương, các đơn vị liên kết của tập đoàn để có đơn hàng ổn định.
Ngoài các thị trường truyền thống, các doanh nghiệp cũng cần năng động tìm kiếm thị trường ngách mà Việt Nam có lợi thế, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến nghiên cứu thị trường ngoài nước và đặc biệt quan tâm tổ chức mời khách hàng tiềm năng vào thương lượng tại Việt Nam. Có chiến lược tiếp cận với thị trường Nhật Bản để khai thác tốt Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản, đồng thời khai thác thị trường mới đầy tiềm năng tại Trung Ðông, Nam Phi, Nga. Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Với sự nỗ lực của nhiều doanh nghiệp, ngay từ những tháng đầu năm nay, nhiều doanh nghiệp trong nước đã ký được những hợp đồng xuất khẩu mặt hàng sợi cao cấp, sợi trung bình sang thị trường Trung Ðông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ma-lai-xi-a, Phi-li-pin, Trung Quốc… Các mặt hàng áo giắc-két, măng-tô, vét-xtông, khăn các loại, vải cao cấp đã có thêm hợp đồng mới tại thị trường EU, Trung Ðông, Nhật Bản… Tỷ trọng sản xuất hàng FOB tăng do nhiều doanh nghiệp đã đáp ứng yêu cầu về chất lượng, nguyên phụ liệu. Sản phẩm vải 100% cốt-tông cao cấp của Công ty Pang-rim, do Hàn Quốc đầu tư 100% vốn, đã được khách hàng Nhật Bản, Hàn Quốc, EU chấp nhận làm nguyên liệu đặt hàng may mặc xuất khẩu; vải lụa, tơ tằm của Công ty dệt Thái Tuấn được xuất khẩu sang thị trường Trung Ðông; khăn cao cấp của TCT Phong Phú xuất khẩu sang Nhật Bản, EU. TCT cổ phần may Việt Tiến đã đầu tư 11 nhà máy sản xuất các sản phẩm cho hệ thống của NIKE, xuất khẩu không chỉ sang thị trường Mỹ, EU mà năm nay còn mở thêm thị trường châu Á.
Doanh nghiệp hợp tác với khách hàng, lựa chọn nguyên liệu trong nước sản xuất đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm, cho nên công ty có đơn hàng sản xuất cho nhiều khách hàng có thương hiệu lớn như Mango, Zaza, Banala, Lafema, Millet của Tây Ban Nha, CHLB Ðức, Anh, Mỹ, Nhật Bản. Các công ty dệt may nên thu hút khách hàng từ các thị trường mới khai thác bằng những sản phẩm riêng biệt, ít bị cạnh tranh như quần áo trượt tuyết, quần lót nam, nữ.
2.4. Chú trọng vào thị trường nội địa:
Các doanh nghiệp nên sản xuất kinh doanh chú trọng hơn vào thị trường nội địa, bởi vì thứ nhất, tốc độ tăng trưởng về qui mô của thị trường nội địa cao hơn nhiều so với thị trường xuất khẩu. Năm 2008, nguồn thu từ xuất khẩu đạt 62 tỉ USD, trong khi nguồn thu từ tiêu dùng nội địa cũng đạt hơn 980.000 tỷ đồng (xấp xỉ 60 tỉ USD). Với sức mua của hơn 87 triệu dân nên thị trường tiêu dùng nội địa khá mạnh, vì vậy cần phải kích thích và tăng sức mua của thị trường trong nước, giảm sự phụ thuộc vào các thị trường bên ngoài. Thứ hai, mức tăng trưởng của thị trường nội địa cao và khá ổn định, trong khi xuất khẩu có thể gặp nhiều rủi ro, bất bênh. Vì vậy, bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu thì cần phải tập trung vào thị trường nội địa.
2.5. Cắt giảm chi phí và tìm giải pháp để thu hút người tiêu dùng:
Các doanh nghiệp cố gắng tiết kiệm tất cả những chi phí có thể như: điện, giấy in, chi phí marketing…Đồng thời, củng cố lại đội ngũ nhân sự của mình, chọn ra những nhân viên làm việc hiệu quả nhất. Hơn nữa tìm mọi cách để tìm kiếm, thu hút khách hàng. Nhiều doanh nghiệp thu hút người tiêu dùng bằng các hình thức khuyến mãi, bốc thăm trúng thưởng, đổi quà…Đây là một biện pháp cũng hết sức hiệu quả.
2.6. Đánh giá chính xác khả năng tài chính, năng lực sản xuất của mình: Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
Các doanh nghiệp cần phải chủ động tiến hành khảo sát, đánh giá thị trường, năng lực tài chính, năng lực sản xuất của mình; chú ý tận dụng hiệu quả chính sách khuyến khích của Nhà nước đối với những sản phẩm, nghành hàng nằm trong định hướng phát triển của nhà nước trong giai đọan tới để xác định cho mình chiến lược phát triển mặt hàng xuất khẩu trọng điểm, chiến lược phát triển xuất khẩu các mặt hàng mới và chương trình cụ thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu trọng điểm, tiềm năng. Các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược mở rộng liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm hợp lý hoá chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất trên cơ sở thế mạnh của mỗi doanh nghiệp, mở rộng sản xuất, giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Cân nhắc kĩ các khoản đầu tư vào giai đoạn này để tránh bị tổn thất tài chính. Các doanh nghiệp trong thời gian này thường chọn những kế hoạch đầu tư sinh lợi nhuận trong thời gian ngắn thay vì dài hạn.
KẾT LUẬN
Trên đây là cái nhìn toàn cảnh về cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay và những ảnh hưởng của nó đến Việt Nam và một số nước đang phát triển khác. Khủng hoảng tài chính đã dẫn đến một loạt những hệ luỵ của nó, từ đó gây nên khủng hoảng cho cả các lĩnh vực khác. Vậy làm thế nào để thế giới nhanh chóng chấm dứt được khủng hoảng. Đó không chỉ là câu hỏi đặt ra với ban lãnh đạo của các nước, mà chính những doanh nghiệp tư nhân cho đến những người dân, tất cả đều phải chung tay để đối phó với khủng hoảng. Qua bài viết em hi vọng đã đóng góp một phần kiến thức nhỏ bé của mình để giúp thầy cô và các bạn có cái nhìn tổng quan về cuộc khủng hoảng tài chính và hiểu được sự ảnh hưởng nghiêm trọng của nó đến toàn cầu như thế nào. Khóa luận: Giải pháp ứng phó với khủng khoảng kinh tế
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Thực trạng khủng khủng kinh tế ảnh hướng đến VN