Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2.1 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh

Chỉ tiêu chỉ số sinh lời

Để phân tích và đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh tổng hợp của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh, sử dụng các kết quả tổng hợp của các chỉ tiêu đã đề cập chương 1, các số liệu được tính toán trong bảng sau :

Bảng 2.3: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá HQKD của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh giai đoạn 2018 – 2020

Về tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): Tỷ suất sinh lời của tài sản có xu hướng tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2018 – 2019, nguyên nhân chỉ số này tăng mạnh là vì lợi nhuận và tài sản của doanh nghiệp trong năm 2019 đều có xu hướng tăng. Tuy nhiên,có sự sụt giảm trong giai đoạn 2019 -2020. Cụ thể, năm 2018, ROA của Công ty là 3,53%, tức là cứ 1 đồng tài sản tạo ra được 0,0353 đồng lợi nhuận, nhưng đến năm 2019, tỷ suất này đã tăng lên 12,92% chạm mức 16,45%. Đến năm 2020, chỉ tiêu ROA có dấu hiệu giảm xuống chỉ còn 12,35%, giảm đi 4,1% so với năm 2019. Nguyên nhân là do năm 2020 lợi nhuận của Công ty có xu hướng giảm còn tăng về tài sản. Tỷ suất sinh lời của tài sản cho biết hiệu quả của vốn đầu tư của doanh nghiệp có thể đem lại bao nhiêu phần lợi nhuận. Tỷ lệ này tăng trong giai đoạn 2018 – 2019 cho thấy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đang rất thuận lợi. Tuy nhiên, tỷ lệ ROA giảm trong giai đoạn 2019 – 2020 báo hiệu việc tăng thêm vốn của doanh nghiệp đang được sử dụng không hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

Về tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE): Năm 2018, chỉ số ROE của Công ty là 4,15%, có nghĩa là cứ 1 đồng vốn chủ sở hữu thì tạo ra được 0,0415 đồng lợi nhuận. Đến năm 2019, chỉ tiêu này tăng lên 14,84% đạt 18,99%. Năm 2020 giảm xuống còn 15,67%, tức là lúc này 1 đồng vốn chủ sở hữu chỉ tạo ra 0,1567 đồng lợi nhuận. Nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng giảm của tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu là do vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng: năm 2019, vốn chủ sở hữu có mức tăng là 14,42% và năm 2020 là 11,02%. Nhìn vào các số liệu trên ta có thể thấy tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu của Công ty là khá cao. Điều này nói lên rằng hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng tương đối tốt tuy nhiên chưa có tính ổn định

Đối với chỉ tiêu tỷ suất sinh lời doanh thu (ROS): Tính tổng năm 2018, chỉ tiêu này của Công ty là 2,42%, phản ánh cứ 1 đồng doanh thu thì tạo ra được 0,0242 đồng lợi nhuận. Tổng kết năm 2019, chỉ tiêu ROS tăng lên 8,23% đạt 10,65%, chứng tỏ hiệu quả doanh thu của Công ty tăng so với năm 2018, hay hiệu quả kinh doanh của Công ty tăng. Đến năm 2020, chỉ tiêu ROS của Công ty tiếp tục được tăng lên ,cụ thể tăng thêm 3,38%, lên mức 14,03%. Tuy con số chênh lệch này chưa quá cao nhưng đã thấy được sự cố gắng phát triển của Công ty trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Biểu đồ 2.2: Tỷ suất sinh lời của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh giai đoạn 2018 – 2020

Sang đến năm 2020, mức tăng doanh thu có dấu hiệu giảm xuống, doanh thu đạt được giảm so năm 2019 là 56.129,25 triệu đồng tương đương với tỷ lệ giảm là 21%.

Đây là kết quả của ảnh hưởng đại dịch Covid-19. Các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty nói riêng đều bị ảnh hưởng bởi bối cảnh này. Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế, các hoạt động kinh tế đều bị đình chệ, chậm tiến độ hay thậm chí là đóng băng. Để ứng phó với tình hình mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp đều tìm kiếm cho mình những phương án kinh doanh phù hợp .

Hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty

Để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty, ta sử dụng các chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng chi phí và tỷ suất sinh lời của tổng chi phí, thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.4: Hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh giai đoạn 2018- 2020

Nhìn vào bảng trên, có thể thấy hiệu suất sử dụng chi phí của Công ty có xu hướng giảm theo các năm. Theo số liệu từ bảng trên cho thấy hiệu suất sử dụng chi phí năm 2019 so với năm 2018 là có sự sụt giảm. Năm 2018, chỉ tiêu này là 96,94% phản ánh để Công ty thu được 1 đồng doanh thu thì cần bỏ ra 0,9694 đồng chi phí. Năm 2019, hiệu suất sử dụng chi phí là 86,65%, phản ánh để thu được 1 đồng doanh thu thì cần bỏ ra 0,8665 đồng chi phí. Như vậy hiệu suất sử dụng chi phí của năm 2019 giảm hơn so với năm 2018 nhưng vẫn có lãi. Về tỷ suất sinh lợi chi phí năm 2019 tăng mạnh so với năm 2018, từ 2,49% tăng lên đạt 12,29% tức là cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì thu lại khoảng 0,1229 đồng lợi nhuận. Trong khi đó năm 2018, cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì thu lại khoảng 0,0249 đồng lợi nhuận. Tức là so với năm 2018, thì năm 2019 cứ 1 đồng chi phí thì lượng lợi nhuận thu về sẽ tăng lên 0,098 đồng.

Năm 2020, hiệu suất sử dụng chi phí tiếp tục giảm đi so với năm 2019, cụ thể là giảm xuống còn 84,05%. Nếu như năm 2019, để thu về 1 đồng doanh thu cần bỏ ra 0,8665 đồng chi phí thì đến năm 2019, chỉ cần bỏ ra 0,845 đồng chi phí. Thêm vào đó, tỷ suất sinh lời của tổng chi phí cũng tăng hơn so với năm 2019, tăng 1,63%, lên 13,92%.

Có thể hiểu rằng năm 2020, cứ 1 đồng chi phí bỏ ra thì Công ty lại thu về được 0,1392 đồng lợi nhuận.

Có thể thấy, hiệu quả sử dụng chi phí của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh tương đối ổn định. Công ty đang trên đà phát triển theo hướng tiết kiệm chi phí. Các trang thiết bị máy móc, kỹ thuật đang dần đi vào hoạt động có năng suất. Trong thời gian tới Công ty cần phải tiết kiệm chi phí ,tránh lãng phí nguồn lực đặc biệt là chi phí về quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính để gia tăng hiệu quả kinh doanh để phát triển hoạt động kinh doanh trên thị trường hơn nữa. Và trong bối cảnh tình hình kinh tế chung hiện này, các giải pháp về việc giảm thiểu chi phí để nâng cao hiệu quả kinh doanh là hết sức cần thiết cho Công ty.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.2.2 Hiệu quả kinh doanh bộ phận của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty

Để đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận thông qua tài sản, ta đánh giá các chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn/dài hạn và tỷ suất sinh lời của tài sản ngắn hạn/dài hạn, được thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 2.5: Hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh giai đoạn 2018 – 2020

Dựa vào bảng trên có thể đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh:

Xét về tài sản ngắn hạn: Trong giai đoạn 2018 – 2020, hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty không được ổn định. Năm 2018, hiệu suất sử dụng TSNH là 2,43 tức là một đồng tài sản ngắn hạn sẽ tạo ra 2,43 đồng doanh thu vào năm 2018 và giảm xuống còn 2,62 vào năm 2019. Còn năm 2020, hiệu suất sử dụng tài sản lại giảm xuống còn 1,49. Tức là một đồng tài sản ngắn hạn sẽ tạo ra 1,49 đồng doanh thu. Còn về tỷ suất lợi nhuận của tài sản ngắn hạn thì lại tăng giảm từ 5,89% năm 2018 lên 23,49% vào năm 2019, tuy nhiên năm 2020 có sự tụt giảm xuống còn 18,35%. Điều này cho thấy Công ty đang sử dụng tài sản ngắn hạn khá là hiệu quả nhưng có xu hướng giảm, cần được khắc phục kịp thời.

Về tài sản dài hạn: Trong giai đoạn 2018 – 2020 chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn vẫn có sự bất ổn, năm 2018 là 3,64 đến năm 2019 tăng thêm 1,5 đạt mức 5,14, nhưng đến năm 2020 lại giảm xuống chỉ còn 4,83. Về tỷ suất lợi nhuận tài sản dài hạn lại cho thấy kết quả khả quan hơn với việc gia tăng liên tục từ năm 2018 đến năm 2020, tăng từ 8,81% lên 59,67%. Nguyên nhân là do máy móc thiết bị, vật tư mới mua về của Công ty để phục vụ sản xuất, kinh doanh đã dần đi vào hoạt động ổn định nên đem lại những hiệu quả bước đầu.

Từ đó có thể thấy, trong giai đoạn hiện nay Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh đang sử dụng tài sản khá tốt bên cạnh những hạn chế còn tồn đọng. Trình độ sử dụng tài sản còn chưa cao, dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản chưa đạt mức tối đa.

Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Công ty tác giả sử dụng các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời và số vòng quay của vốn.

Bảng 2.6: Hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần nước khoáng QuảngNinh giai đoạn 2018 – 2020

Từ bảng trên ta thấy:

Năm 2018, số vòng quay của vốn là 1,459 (vòng), có nghĩa trong một kỳ kinh doanh của doanh nghiệp trong năm 2018 nguồn vốn quay được 1,459 vòng. Năm 2019, số vòng quay của vốn tăng lên 1,544 (vòng), tăng 0,085 (vòng), tương ứng tăng 5,83% so với năm 2018. Như vậy trong năm 2019 số vòng quay của vốn trong một kỳ kinh doanh tăng nhưng tăng rất nhỏ, có nghĩa hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong năm 2019 có tăng hơn so với năm 2018. Sang năm 2020, số vòng quay của vốn là 1,134 (vòng), giảm 0,41 (vòng) so với năm 2019, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn trong năm 2020 có xu hướng giảm đi, cụ thể giảm 26,55%. Điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 2018 – chưa thật sự hiệu quả, vẫn những con số bấp bênh. Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

Xét về tỷ suất lợi nhuận trên vốn lưu động: Tỷ suất lợi nhuận của vốn lưu động năm 2018 là 7,019 %, tức 100 đồng vốn lưu động sẽ thu về 7,019 đồng lợi nhuận sau thuế, nhưng đến năm 2019, chỉ tiêu tăng lên là 27,203 %, và đến năm 2020 thì có sự sụt giảm chỉ còn 20,149 %, tức là giảm đi 7,054% so với năm 2019. Mức giảm này là khá nhiều, nguyên nhân là do vốn lưu động của Công ty tăng nhanh hơn nhiều so với mức tăng lợi nhuận.

Xét về tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cố định có sự tăng lên qua các năm. Năm 2018, chỉ tiêu này là 10,130%, tức cứ 1 đồng vốn cố định sẽ thu về được 10,130 đồng lợi nhuận sau thuế. Mức này còn khá là thấp. Năm 2019, con số này tăng lên là 62,87%, đến năm 2020 thì tiếp tục tăng lên 70,43%, tức là cứ 1 đồng vốn cố định sẽ thu về được 70,43 đồng lợi nhuận trước thuế.

Như vậy, có thể thấy hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh trong đà ổn định, điều này ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của Công ty khá là cao. Cho thấy Công ty đang kinh doanh có hiệu quả trong việc sinh lời từ nguồn vốn.

Hiệu quả sử dụng lao động của Công ty

Để đánh giá hiệu quả sử dụng nhân lực của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh, ta nghiên cứu các chỉ tiêu: hiệu suất sử dụng lao động (doanh thu bình quân một lao động) và sức sinh lời của lao động (lợi nhuận bình quân).

Bảng 2.7: Hiệu quả sử dụng lao động của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh giai đoạn 2018 – 2020

Hiệu suất sử dụng lao động của Công ty năm 2018 là 684,81 triệu đồng/lao động/năm và tăng lên vào năm 2019 là 827,55 triệu đồng/lao động/năm, sau đó giảm xuống còn 694,64 triệu đồng/lao động/năm. Chỉ tiêu này đang có xu hướng giảm, nhưng giảm nhẹ chứ không đột ngột. Việc chỉ tiêu này tăng trong giai đoạn 2018 – 2019 trong khi doanh thu tăng cho thấy Công ty đang sử dụng lao động tương đối hiệu quả.

Sức sinh lời của lao động của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh có xu hướng tăng, giảm qua 3 năm. Từ năm 2017 đến 2019, lợi nhuận của Công ty cũng có tăng, giảm vì thế làm cho lợi nhuận bình quân một lao động của Công ty cũng không ổn định.

Cụ thể năm 2018 một lao động của Công ty tạo ra 16,57 triệu đồng, sau đó năm 2019 cùng với việc cắt giảm lao động, chỉ tiêu này tăng lên 88,17 triệu đồng/lao động/năm và chỉ tiêu này lại giảm nhẹ vào năm 2020 còn 85,81 triệu đồng/lao động/năm. Sức sinh lời của lao động năm 2020 có xu hướng giảm so với năm 2019, nhưng vẫn tăng so với năm 2018, chứng tỏ năm 2018 vẫn là năm sử dụng lao động kém hiệu quả nhất trong giai đoạn 2018-2020.

2.3 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

2.3.1 Thành công

Sau nhiều năm hoạt động và phát triền, để có được quy mô và tồn tại cho đến nay, Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh đã trải qua cũng nhiều khó khăn và gặt hái được một số thành công nhất định.

Từ năm 2018 đến 2020 hoạt động kinh doanh của Công ty đã có nhiều tín hiệu chuyển biến rõ rệt. Quy mô kinh doanh của Công ty dang ngày càng mở rộng hơn. Dấu hiệu và minh chúng cho nhận định này thể hiện ở chỗ quy mô tài sản của Công ty nhìn tổng thể có những chuyển biến tích cực hơn. Thêm vào dó, sự gia tăng của doanh thu bán hàng và cung cầp dịch vụ, cũng như gia tăng của giá vốn và chi phí bán hàng phản ảnh quy mô thị trường được mở rộng và hoạt động tiêu thu sán phẩm của Công ty đang được thúc đẩy.

Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý kinh doanh của các nhà quản trị đã được nâng lên một bước bởi sự chủ động, khôn khéo nắm bắt để phát huy những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu nhằm tạo sức mạnh cạnh tranh với các doanh nghiệp trong ngành.

Sự thay đổi đáng kể nhất trong một vải năm gần đây là doanh nghiệp đã thay đổi tư duy kinh doanh, tập trung xây dựng văn hóa doanh nghiệp và văn minh phục vụ để xóa dần khoảng cách với các doanh nghiệp nước ngoài, tạo được niềm tin cho người tiêu dùng. Đội ngũ nhân viên đã tiếp cận dân với phong cách hoạt động sản xuất chuyên nghiệp hơn, vẫn minh hơnCông ty đã đảm bảo được hoạt động chức năng kinh doanh của mình trong các lĩnh vực và đã mang lại thu nhập cho Công ty để chi trả cho các chi phí.

Công ty đã đảm bảo được hoạt động chức năng kinh doanh của mình trong các lĩnh vực và đã mang lại thu nhập cho Công ty để chi trả cho các chi phí.

Công ty luôn quan tâm đến đời sống nhân viên, có thưởng đối với những nhân viên làm việc hiệu quả, đạt thành tích trong công việc. Vì vây đời sống nhân viên của Công ty ngày càng được cải thiện. Điều này tạo động lực tích cực cho nhân viên của Công ty làm việc hăng say và có hiệu quả trong kinh doanh.

Doanh nghiệp đã tăng cưởng liên kết kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đã mở rộng kênh phân phối đến các thị trường nông thôn, góp phần không nhỏ trong chương trình quốc gia về “Người Việt dùng hàng Việt” và cải thiện đời sống của nông dân. Do vậy, mặc dù ảnh hướng khả lớn bởi khủng hoàng kinh tế, song, nhìn chung các doanh nghiệp này vẫn được đánh giá là hoạt động kinh doanh ở mức trung bình khá. Đó là những nỗ lực rất đáng kế của Công ty trong những năm gần đây. Có thể nói Công ty là một trong những doanh nghiệp biết cách thích ứng với tình hình chung của kinh tế nói chung và kinh tế trong bối cảnh dịch Covid-19 nói riêng.

2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

Mặc dù trong quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty đã có những cố gắng nhất định xong công tác hoạch định, tổ chức huy động và quản trị nguồn vốn nhìn chung mới ở mức hướng tới nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho kinh doanh là chủ yếu. Hay nói cách khác, nhiệm vụ chủ yếu là tìm kiếm và huy động vốn khi có nhu cầu. Còn nhiệm vụ hoạch định, phân tích cũng như kiểm soát rùi ro tài chính liên quan dến cầu trúc nguồn vốn còn khá mở nhạt, chưa chú trọng đúng mức cần thiết.

Mặc dù doanh thu trong 3 năm gần đây của doanh nghiệp tăng, tuy nhiên tỉ lệ tăng chi phí còn cao cũng là nguyên nhân chính làm cho tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm. Theo kết quả phân tích cho thấy tổng chi phí năm 2019 tăng 6,37 % so với năm 2018 trong khi tổng doanh thu năm 2019 cũng chỉ tăng một lượng tương đương, điều này làm cho lợi nhuận của Công ty chưa tăng cao. Khiến cho việc sử dụng chi phí chưa đạt hiệu quả cao. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Công ty cần tìm ra những yếu tố làm tăng chi phí để đề ra những giải pháp giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí.

Bên cạnh đó, Công ty vẫn còn tồn tại những hạn chế làm giảm khả năng cạnh tranh như: cơ sở vật chất, kỹ thuật chưa đủ đáp ứng yêu cầu phát triển của Công ty. Nguồn nhân lực chưa theo kịp sự đổi mới tân tiến do số lượng còn hạn chế.v.v…thị trường và thị phần của Công ty đã được mở rộng song Công ty vẫn còn gặp một số vấn đề khó khăn gây ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu của Công ty.

Hoạt động định vị thương hiệu và marketing còn chưa đồng bộ, hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) còn yếu, chưa mang lại hiệu quả cao. Công ty chưa tận dụng hết tiềm năng từ quảng cáo thông qua truyền thông, mạng internet. Chiến lược quảng cáo của Công ty vẫn theo truyền thống đến các cửa hiệu.

Qua phân tích những mặt thành công cũng như những khó khăn và hạn chế còn tổn tại ở Công ty Cổ phần nước khoáng Quảng Ninh có thể nhận thấy, để không ngừng phát huy được những yếu tổ thuận lợi, khắc phục được những hạn chế khó khăn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi cán bộ nhân viên Công ty phải không ngừng phấn đầu, tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty.

2.3.3 Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

Có thể nói Công ty còn tồn tại khá nhiều những hạn chế về hiệu quả kinh doanh trong giai đoạn 2018-2020 và đòi hỏi Công ty cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Hạn chế này được xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu có những nguyên nhân sau:

Nguyên nhân chủ quan:

  • Về nguồn vốn: Trình độ quản lý và sử dụng vốn còn hạn chế. Công ty vẫn để một lượng vốn lớn bị chiếm dụng do sự yếu kém trong công tác thu hồi các khoản công nợ. Chính sách hàng tồn kho hiện tại chưa hợp lý, dẫn đến lượng hàng tổn kho lớn, làm giảm vòng quay hång tồn kho, từ đó tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của Công ty. Một phần nguyên nhân dẫn đến tỉnh trạng ử đọng hàng tổn kho là do công tác xây dựng kế hoạch kiểm soát chưa tốt, chưa tính đến những khó khăn trong giai đoạn đầu của việc mở rộng thị trường. Công ty chưa xây dựng được một hệ thống phân tích đầy đủ nhu cầu vốn, sử dụng vốn, phân tích các chỉ tiêu sử dụng vốn. Việc phân tích tài chính chỉ được thực hiện một cách bị động, chi khi có yêu cầu từ ban lãnh đạo, điều này khiến Công ty không thế chủ động kiểm soát được tình hình tải chính, kip thời phát hiện những vấn để bất cập để giúp cho Ban lãnh đạo có biện pháp điều chỉnh phù hợp
  • Về chi phí: Để thu được nhiều lợi nhuận thì việc giảm chi phí cũng rất quan trọng nhưng Công ty chưa có những biện pháp hữu hiệu để giảm chi phí. Mặc dù Công ty cũng đã có nhiều biện pháp cải thiện và giảm thiểu chi phí đạt những hiệu quả nhất định. Năng lực quản lý chi phí của Công ty chưa tốt, còn nhiều bất cập, chưa có biện pháp cụ thể để tối thiểu hoá chi phí kinh doanh hơn nữa. Lượng hàng tồn kho còn khá nhiều làm cho chi phí hàng tồn kho tăng, làm tăng tổng chi phí. Điều này làm cho việc mở rộng quy mô kinh doanh không đạt được hiệu quả như mong muốn. Bên cạnh đó chi phí quản lý doanh nghiệp cũng còn tương đối cao.
  • Về nguồn lao động: Việc sử dụng lao động của Công ty chưa hợp lý là do công tác tuyển dụng vẫn chưa gắn sát với thực tế. Doanh nghiệp chưa tập trung bồi dưỡng nâng cao tay nghề, kỹ năng chuyên môn của nhân viên dẫn đến trình độ và kỹ năng còn nhiều hạn chế dẫn dến hiệu suất sử dụng lao động chưa đạt kết quả tối ưu.
  • Về cơ sở vật chất, kỹ thuật: Công ty chưa thực sự chú trọng đầu tư các trang thiết bị công nghệ, việc đổi mới trong hoạt động kinh doanh sản xuất còn chậm. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc làm giảm khả năng cạnh tranh của Công ty trên thị trường cũng như không đạt hiệu quả trong nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
  • Công tác nghiên cứu và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm: là một hoạt động cần thiết đối với nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nó không chỉ tác động tới sức tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, mà còn tác động tới những chiến lược, kế hoạch nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai. Thực tế, hoạt động nghiên cứu và phát triển thị trường là một hạn chế rất lớn của Công ty. Công tác tổ chức nghiên cứu thị trường chưa phải là vấn đề mà Công ty quan tâm tới. Hàng năm những hoạt động mang tính điều tra, khảo sát thị trường mặc dù rất quan trọng nhưng doanh nghiệp thực hiện chưa thật sự tốt và triệt để. Các chiến dịch marketing, PR tuy có nhưng hiệu quả mang lại không cao. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong cả hiện tại và tương lai. Các chính sách về bán hàng chưa có sự đặc biệt để thu hút khách hàng, dịch vụ chăm sóc khách hàng cũng chưa thực sự tốt.

Nguyên nhân khách quan:

  • Môi trường -kinh tế – chính trị – xã hội: Trong những năm gần đây, khoa học phát triển, nền kinh tế hội nhập tạo nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam thực hiện mục đích kinh doanh của mình, tạo điều kiện cho đời sống người dân được nâng cao. Khi mức sống được cải thiện nhu cầu của người dân cũng tăng cao, với một nền chính trị ổn định như nước ta sẽ tạo cơ hội để các nhà kinh doanh phát huy tiềm năng của mình. Vì vậy, nền kinh tế đem lại nhiều cơ hội cho doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng có những thách thức, khó khăn.
  • Môi trường cạnh tranh: Cũng như các doanh nghiệp nói chung, Công ty cũng hoạt động trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt, ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh. Trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh, nên việc tiêu thụ sản phẩm ngày cảng khó khăn. Trong tương lai khi mà đất nước đang mở rộng quan hệ với bên ngoài thì những thách thức với Công ty là rất lớn. Nhưng sự cạnh tranh lúc nào cũng mang tính hai mặt, đó vừa là cơ hội vừa là thách thức mà bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại được đều phải không ngừng cải tiến để hội nhập với quốc tế.
  • Chính sách tiền tệ, tỷ giá, chính sách thuế có tác động không nhỏ đến tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty. Chế độ quản lý thuế, tỉ giá hối đoái, việc hoàn thuế chậm… của nước ta còn quá nhiều bất cập, thay đổi cơ chế liên tục khiến cho doanh nghiệp chưa kịp thích ứng, điều chỉnh chính sách này thì đã chuyển sang cơ chế, chính sách mới.
  • Thủ tục hành chính còn rườm rà, khuôn khổ, tốn khá nhiều thời gian chờ hoàn thành thủ tục, làm chậm tiến độ kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh, và mất cơ hội kinh doanh của Công ty.
  • Bối cảnh đại dịch Covid -19 khiến cho doanh nghiệp loay hoay tìm hướng đi để thích ứng , các quá trình cắt giảm quy mô sản suất cũng như hạn chế về thị trường cũng dẫn đến kết quả kinh doanh của Công ty không đạt nhiều kết quả tốt. Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao KD của Công ty nước khoáng

One thought on “Khóa luận: Thực trạng KD của Cty nước khoáng Quảng Ninh

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về Công ty nước khoáng Quảng Ninh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464