Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Lựa chọn sản phẩm và thị trường xuất khẩu của Việt Nam – thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Quá trình lựa chọn sản phẩm xuất khẩu

1.1. Trước khi gia nhập WTO

1.1.1. Trước 1991

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở đầu cho thời kì đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước ta. Với mục tiêu đổi mới toàn diện trên cơ sở nhấn mạnh mục tiêu đổi mới kinh tế, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cụ thể là: thực hiện bằng được ba chương trình kinh tế lớn đó là Lương thực – thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Về xuất khẩu, mục tiêu của chúng ta là tạo được một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao và tăng trưởng nhanh để đáp ứng được phần lớn nhu cầu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hóa cần thiết.

Trong thời kì này, trong chính sách của Đảng và Nhà nước, vai trò của xuất khẩu đã được đề cập đến và được đưa lên thành một trong ba chương trình kinh tế lớn của cả nước. Theo chủ trương và đường lối của Đảng, chúng ta đã đạt được một số thành tựu bước đầu. Kim ngạch xuất khẩu đã tăng gấp ba lần từ năm 1986 đến 1990, đồng thời từ năm 1989, sản xuất của ta đã tăng thêm các mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như gạo, dầu thô và một số mặt hàng mới khác. Tuy nhiên, tình trạng xuất khẩu của Việt Nam còn khá manh mún, công tác tổ chức nguồn hàng bằng cách thu gom là chính. Vì thế, trong giai đoạn này, chỉ có một số mặt hàng xuất khẩu chính với kim ngạch cao trên 100 triệu USD đó là dầu thô, gạo, thủy sản và than đá (Tổng cục thống kê, 2006).

Như vậy, có thể nói, mặc dù đang giai đoạn đầu của thời kì đổi mới, thực hiện chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước, khi xuất khẩu còn chưa thật sự phát triển thì dựa trên cơ sở tận dụng những lợi thế về điều kiện tự nhiên, truyền thống lâu đời. Và cũng do lực lượng sản xuất nông nghiệp đang đóng vai trò chủ đạo, mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn nhất và được hình thành đầu tiên chính là gạo. Bên cạnh đó, dầu thô, thủy sản và than đá là những mặt hàng xuất khẩu cũng từng bước được hình thành dựa trên nguồn tài nguyên dồi dào về khoáng sản và thủy hải sản của nước ta.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.1.2. Giai đoạn 1991 – 1995 Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Công cuộc đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI đã đạt được những thắng lợi đáng kể. Trong đó, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam cũng đã có những chuyển biến rõ rệt, tốc độ tăng xuất khẩu cao, đạt bình quân khoảng 20%/năm. Trên thế giới, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã gây ra cho chúng ta nhiều đảo lộn lớn và đột ngột tình hình xuất khẩu. Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII đã diễn ra nhằm đề ra những chủ trương, nhiệm vụ mới nhằm đưa đất nước đi lên. Đến giai đoạn này, Đảng và Nhà nước ta đã bắt đầu có sự quan tâm thích đáng hơn đến việc xây dựng chiến lược phát triển cho các mặt hàng xuất khẩu. Điều đó được thể hiện trong nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VII “Cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng tỉ trọng các mặt hàng chế biến, giảm tỉ trọng xuất khẩu nguyên liệu, tạo ra các mặt hàng chủ lực như dầu mỏ, nông sản, thủy sản” (Văn kiện Đại hội Đảng VII, 1991).

Thực hiện chủ trương và chính sách của Đảng, trong hai năm cuối của kế hoạch 1994 -1995, chúng ta đã chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất chế biến hàng xuất khẩu, hình thành các ngành sản xuất hàng hóa, các vùng sản xuất nông sản tập trung, các khu công nghiệp và khu chế xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, tích cực tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.

Trong giai đoạn này, một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao cũng dần được hình thành, đó là giày dép, hạt điều và lạc nhân. Cho đến cuối năm 1995, Việt Nam đã hình thành 9 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch cao với giá trị xuất khẩu mỗi mặt hàng lên đến trên 100 triệu USD đó là dầu thô, thủy sản, gạo, hàng dệt may, cà phê, lâm sản, cao su, hạt điều và lạc nhân (Tổng cục thống kê, 2006). Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Như vậy, tiếp tục khai thác những điều kiện thuận lợi như điều kiện tự nhiên như là khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai màu mỡ, những mặt hàng như hạt điều, lạc nhân, cà phê, cao su mang lại năng suất lớn đã dần trở thành mặt hàng xuất khẩu của đất nước ta. Bên cạnh đó, hướng xuất khẩu của giai đoạn này là đẩy mạnh những mặt hàng có hàm lượng lao động cao để tận dụng nguồn nhân công dồi dào và rẻ như dệt may, giày dép. Chính vì thế, ngành sản xuất may mặc và giày dép cũng tăng trưởng với quy mô khá và cũng trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước. Tất cả những mặt hàng này đều có tốc độ tăng trưởng nhanh, có sức cạnh tranh và chỗ đứng trên thị trường thế giới.

Bên cạnh việc tìm kiếm các mặt hàng xuất khẩu mới, trong giai đoạn này, chúng ta cũng chú trọng phát triển các mặt hàng xuất khẩu truyền thống đem lại giá trị kinh tế cao cho đất nước như lúa gạo, dầu thô. Nhờ những chủ trương và biện pháp cụ thể, gạo và dầu thô đã trở thành những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu và ngày càng có chỗ đứng ổn định hơn trên thị trường thế giới. Việt Nam đã nổi lên là một nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba trên thế giới. Còn mặt hàng dầu thô, năm 1991 đã chính thức trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và thực sự đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

Bên cạnh sự phát triển của các mặt hàng xuất khẩu chính thì cơ cấu của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực cũng có những sự thay đổi đáng kể trong giai đoạn này. Điều này là kết quả của việc cải tiến cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu theo chủ trương hướng đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và nhà nước ta. Hướng xuất khẩu trong giai đoạn này là đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có hàm lượng lao động cao để tận dụng nguồn nhân công dồi dào và giá rẻ như dệt may, dày dép. Xuất khẩu nông sản cũng được chú trọng.

Bảng 1: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1991 – 1995

Xu hướng hàng công nghiệp và khoáng sản tăng đến mức 37.1% năm 1992 do giai đoạn này giá trị xuất khẩu của dầu thô lớn. Tuy nhiên cho đến năm 1995, tỉ trọng này đã có những bước sụt giảm đáng kể (25,3%) do sự phát triển của hàng dệt may, chế biến hải sản và giày dép. Trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, hàng nông lâm hải sản có xu hướng giảm dần, hàng công nghiệp nặng và khoáng sản có xu hướng tăng dần, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đã bắt đầu có sự thay đổi. Tuy nhiên, các mặt hàng mà chúng ta xuất khẩu còn có tỷ trọng thô và sơ chế rất cao (85%).

Như vậy, giai đoạn 1991 – 1995 được coi là giai đoạn mở đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp. Bên cạnh việc tiếp tục phát triển các mặt hàng xuất khẩu về nông nghiệp, cũng bằng lợi thế về địa lý và nhân lực, các mặt hàng xuất khẩu về công nghiệp cũng đã có những bước khởi động đáng ghi nhận.

1.1.3. Giai đoạn 1996 – 2000 Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Cho đến thời điểm này, Việt Nam đã trải qua 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và đạt được những thắng lợi to lớn, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Hoạt động kinh tế đối ngoại cũng đã có những tiến bộ đáng kể. Trong bối cảnh đó, Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã diễn ra, tiếp tục phát triển đường lối đổi mới để đưa sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước tiến lên. Việc phát triển các mặt hàng xuất khẩu đã được Đảng và nhà nước ta chú trọng hơn rất nhiều, quan điểm của Đảng trong nghị quyết đại hội VII đã có thêm những điểm mới so với giai đoạn trước: “tạo thêm các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nâng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, giảm tỉ trọng sản phẩm thô và sơ chế, tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến sâu và tỉ trọng hàng xuất khẩu, tăng nhanh xuất khẩu dịch vụ” (Văn kiện Đại hội Đảng VII,1996).

Đến giai đoạn này, việc tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu không chỉ đơn thuần là tăng khối lượng xuất khẩu nữa mà đặc biệt quan trọng hơn, đó là nâng cao chất lượng cũng như giá trị của hàng hóa.

Những mặt hàng có hàm lượng công nghệ chế biến chế tạo cao rõ ràng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Chính vì vậy, trong giai đoạn này đã hình thành thêm một số mặt hàng xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế tăng cao đó là điện – điện tử, rau quả chế biến.

Trong điều kiện các mặt hàng xuất khẩu ngày càng được mở rộng, mặt hàng điện tử và linh kiện lắp ráp máy tính (chủ yếu là mạch điện tử) tuy mới xuất hiện nhưng đã nhanh chóng trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của đất nước ta. Năm 1998, mặt hàng này đã đạt được kim ngạch xuất khẩu 502 triệu USD, tiến lên đứng hàng thứ 7 trong số 10 mặt hàng chủ lực của Việt Nam.

Như vậy cho đến năm 2000, nước ta đã có rất nhiều mặt hàng xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao đó là cà phê, cao su, hạt điều, giày dép, thủy – hải sản, hàng điện tử, hàng thủ công mỹ nghệ và rau quả trong đó có ba mặt hàng dẫn đầu với khối lượng xuất khẩu đạt từ 500 triệu đến 1 tỷ USD/năm đó là cà phê, gạo, hàng điện tử và linh kiện máy tính (Tổng cục thống kê, 2006).

Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này cũng đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực. Các mặt hàng có hàm lượng công nghệ chế biến chế tạo cao ngày càng chiếm tỉ trọng lớn, giảm tỷ trọng hàng nông, lâm hải sản.

Bảng 2: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000

Năm 1996, tỉ trọng các mặt hàng nông, lâm, hải sản (với tỉ trọng các sản phẩm đã qua chế biến và chế biến sâu ngày càng chiếm phần lớn) là 42,3%, hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm 28,7% thì đến năm 2000 tỉ trọng này là 29% với hàng nông lâm hải sản và 37.1% với hàng công nghiệp nặng và khoáng sản. Điều đó cho thấy cơ cấu hàng xuất khẩu đã có chuyển dịch tích cực. Bên cạnh đó, nhóm sản phẩm chế biến, chế tạo có sử dụng nhiều lao động như dệt may, da giày, thủy sản vẫn chiếm tỉ lệ không nhỏ, tăng từ 29% năm 1996 lên đến 33.9% năm 2000.

Trong số các mặt hàng xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cao thì có 5 mặt hàng thuộc ngành công nghiệp và công nghiệp chế biến đó là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, điện tử và linh kiện điện tử. Những nhóm mặt hàng này chiếm tỉ trọng cao từ 50 – 60% kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Chỉ tính riêng năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này đã đạt 9,12 tỉ USD, chiếm 63,75 tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. (Tổng cục thống kê, 2006).

1.1.4. Giai đoạn 2001 – 2006 Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Tình hình đất nước ta sau 15 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo thế và lực để thúc đẩy công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu. Chính vì thế đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã diễn ra, tiếp tục đề ra nhiệm vụ và phương hướng phát triển cho thời kì tới. Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển các mặt hàng xuất khẩu trong giai đoạn này được thể hiện rất cụ thể hơn so với các giai đoạn trước:

  • Đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hóa chế biến sâu và có hàm lượng kĩ thuật cao. Xây dựng nền kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế hướng về xuất khẩu.
  • Nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản xuất khẩu để vừa tăng kim ngạch xuất khẩu, vừa tăng tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biến sâu nhằm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Nhà nước cần hỗ trợ nâng cao uy tín của hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới.

Xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006 đã đạt được những thành tích rất ấn tượng và được xác định là một thế mạnh của Việt Nam trên con đường hội nhập đầy đủ và sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Các mặt hàng xuất khẩu được đa dạng hóa, đồng thời phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Năm 2004 chúng ta có thêm các mặt hàng công nghiệp chế biến như xe đạp và phụ tùng, dây điện và cáp điện. Cho đến cuối năm 2006, Việt Nam đã có hơn 20 mặt hàng xuất khẩu chủ lực, trong đó các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất vẫn là dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, điện tử và gạo (Tổng cục thống kê, 2006). Gạo, cà phê trở thành mặt hàng xuất khẩu chiếm vị trí thứ hai, còn hạt tiêu đứng đầu trên thế giới.

Trong giai đoạn này, lợi thế về nhân công rẻ và tài nguyên không còn là chỗ dựa vững chắc nữa. Hoạt động xuất khẩu của nước ta đang cố gắng chuyển sang các điểm tựa mới đó là nhân tố năng suất, chất lượng, hiệu quả, công nghệ thông tin, thương mại điện tử nhằm nâng cao sức cạnh tranh.

Bên cạnh sự phát triển của các mặt hàng xuất khẩu, cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đã đi theo đúng định hướng của Đảng đã đề ra, đó là theo xu hướng gia tăng các chủng loại mặt hàng chế biến, chế tạo và giảm đi về tỉ trọng các mặt hàng xuất khẩu thô, chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm, hải sản và khoáng sản. Dù có sự tiến bộ như vậy nhưng các mặt hàng xuất khẩu thô của Việt Nam đến nay vẫn còn chiếm tỉ trọng cao, đòi hỏi một sự nỗ lực hơn nữa để tăng nhanh các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu.

Bảng 3: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ giai đoạn 2001 – 2006

Chất lượng hàng xuất khẩu cũng là một vấn đề rất được quan tâm trong giai đoạn này và đã được nâng lên đáng kể, góp phần làm gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Một số nông sản phẩm của Việt Nam đã có vị trí trên thị trường thế giới đồng thời giá cả các sản phẩm đó cũng được tăng lên một cách đáng kể. Có được kết quả này là do chúng ta đã có những đầu tư vào công đoạn chế biến sản phẩm nông sản. Đây sẽ là một hướng đi đúng và then chốt để Việt Nam có thể tăng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn tiếp theo.

1.2. Giai đoạn sau khi gia nhập WTO – từ 2007 đến nay Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Cho đến giai đoạn này, chúng ta đi hết chặng đường 20 năm đổi mới, đạt được những thành tựu hết sức to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã có sự thay đổi cơ bản và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế. Việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình tạo thêm nhiều thuận lợi cho nhân dân ta đổi mới, phát triển kinh tế xã hội với nhịp độ nhanh hơn. Quán triệt tư tưởng của Đảng và Nhà nước được đề ra trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, mục tiêu tổng quát của chúng ta trong giai đoạn này, đó là “Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất cao mặt hàng xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh, có khả năng chiếm lĩnh thị phần đáng kể trên thị trường thế giới. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị tăng cao; sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỉ trọng hàng xuất khẩu thô, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ” (Văn kiện đại hội Đảng khóa X, 2006).

Trong thời kì đang nỗ lực phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh cho phát triển xuất khẩu, thúc đẩy nhanh chóng sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phấn đấu thực hiện mục tiêu đề ra thì sự kiện Việt Nam gia nhập WTO là một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu.

Ngay sau khi gia nhập WTO, Đảng và nhà nước ta đã tiếp tục đề ra những quan điểm, chủ trương, chính sách lớn và cấp bách cần quán triệt trong quá trình thực thi cam kết WTO, đồng thời hướng đến sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế, đó là tập trung nghiên cứu, hoàn thiện chính sách thương mại nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển thương mại thị trường trong nước theo hướng hiện đại, đồng thời chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu vào những mặt hàng có giá trị tăng cao, các sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao nhằm giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ.

Việc hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là gia nhập WTO đã làm tăng cơ hội thâm nhập thị trường nước ngoài cho các sản phẩm của nước ta nhờ việc cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ dần các rào cản phi thuế quan của các nước. Như vậy, điều kiện tiếp cận thị trường đối với hàng hóa Việt Nam được rộng mở hơn, nhất là đối với các sản phẩm mà Việt Nam đang có lợi thế so sánh như hàng nông, lâm, thủy sản và công nghiệp chế biến, chế tạo sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, lắp ráp điện tử, tin học…Đặc biệt việc đẩy mạnh cải cách thể chế trong nước cho phù hợp với các cam kết của WTO sẽ thúc đẩy việc xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam, tạo điều kiện phân bổ và sử dụng các nguồn lực của đất nước một cách có hiệu quả nhất, đồng thời tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), từ đó có thể tạo ra những đột phá trong phát triển xuất khẩu các sản phẩm chế biến, chế tạo và dịch vụ của Việt Nam. Đây chính là điều có tác động cực kì quan trọng trong việc khuyến khích xuất khẩu cũng như lựa chọn và phát triển các mặt hàng xuất khẩu đạt hiệu quả kinh tế cao không chỉ trong trước mắt mà còn về lâu dài. Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Nhờ những chính sách tích cực theo hướng hội nhập với kinh tế thế giới, sau hơn 3 năm gia nhập WTO, tình hình kinh tế Việt Nam nói chung và xuất khẩu nói riêng đã có những bước khởi sắc đáng ghi nhận. Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng, đặc biệt các mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú và phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng.

Năm 2007, xuất khẩu tăng lên ở hầu hết các mặt hàng. Đã có 10 mặt hàng và nhóm hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD đó là thủy sản, gạo, cà phê, cao su, than đá, dệt may, giầy dép, điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và nhóm sản phẩm cơ khí, trong đó có sự phân hóa rõ rệt: 4 mặt hàng bứt phá mạnh hơn đạt trên 3 tỉ USD: dầu thô, dệt may, giầy dép và thủy sản, 3 mặt hàng điện tử và sản phẩm gỗ đạt trên 2 tỉ USD. Một số nhóm hàng mới mặc dù kim ngạch chưa cao nhưng tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh như dây điện và cáp điện, túi xách, vali, mũ, ô dù, sản phẩm nhựa và hàng thủ công mỹ nghệ. Một số nông sản chủ lực cũng đã thắng lớn trong năm 2007 do những lợi thế về giá trên thị trường thế giới (Bộ Công Thương, 2007).

Đến năm 2008, các mặt hàng đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD trong năm 2007 tiếp tục duy trì ở mức cao như dầu thô (10,5 tỷ USD), dệt may (9,1 tỷ, giày dép (4,7 tỷ USD), thủy sản (4,56 tỷ USD), gạo (2,9 tỷ USD), sản phẩm gỗ (2,78 tỷ USD), cà phê (2 tỷ USD), cao su (1,6 tỷ USD), than đá (1,44 tỷ USD, đặc biệt có thêm mặt hàng dây điện và cáp điện đạp kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD (ước đạt 1.04 tỷ). Đây là mức cao hơn nhiều so với các năm trước khi nước ta gia nhập WTO (Bộ Công thương, 2008).

Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường xuất khẩu của nước ta bị thu hẹp, kim ngạch bị giảm dẫn đến giá các mặt hàng xuất khẩu giảm, chính vì thế có nhiều mặt hàng bị giảm mạnh như mây tre đan, cói thảm, đồ gốm sứ, dây cáp điện, túi xách. Ngoài ra, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực cũng giảm như dầu thô, giày dép, cao su, cà phê, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản…Bên cạnh đó cũng có một số mặt hàng phát triển tương đối tốt, vượt cả kế hoạch, ví dụ như hạt tiêu tăng hơn 5%, đặc biệt gạo đã tăng tới 24,4% so với kế hoạch, than đá và dầu thô cũng duy trì được kim ngạch. Xuất khẩu nông sản được xem là thành công khi tính đến thời điểm hiện nay, tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đã đạt khoảng 15 tỷ USD, trong đó nông sản đạt trên 8 tỷ USD, thủy sản trên 4 tỷ USD, lâm sản trên 2 tỷ USD. Trong khi đó, đối với lĩnh vực công nghiệp, mặt hàng dệt may đã gần chạm đích khi kim ngạch có thể đạt 9,1 tỷ USD, da giầy đạt khoảng 4,1 tỷ USD, xuất khẩu đồ gỗ với nhiều nỗ lực ước đạt 2,7 tỷ USD, chỉ thấp hơn năm 2008 khoảng 100 triệu USD. Trong 24 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, vẫn có 8 mặt hàng có kim ngạch tăng đó là đá quý, kim loại quý, sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng, rau quả, chè, hạt tiêu, sắn và sản phẩm sắn, hóa chất và sản phẩm hóa chất. Năm 2009, có 12 mặt hàng đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên đó là dệt may, dầu thô, thủy sản, giày dép, đá quý, kim loại quý và sản phẩm; gạo; điện tử, máy tính và linh kiện; gỗ và sản phẩm gỗ, máy móc, thiết bị dụng cụ, phụ tùng; cà phê; than đá; cao su)(Bộ Công Thương 2009).

Như vậy, trong cơ cấu xuất khẩu các mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng có kim ngạch cao đã có sự biến động theo chiều hướng tăng tỷ trọng hàng hoá công nghiệp chế biến và nông sản chất lượng cao, đồng thời giảm tỷ trọng sản phẩm thô. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực không chỉ vẫn giữ vững vị trí nhất, nhì thế giới về số lượng mà bước đầu vươn tới cả chất lượng, giá cả và điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhiều mặt hàng của Việt Nam liên tục khẳng định được thương hiệu, đẳng cấp cao trên thị trường quốc tế như: hạt điều, gạo, cà phê, cao su, chè, thủy sản, đồ mỹ nghệ, gốm sứ…

Tuy vào thời điểm đầu năm 2009 chúng ta phải đối mặt với một số khó khăn về việc sụt giảm kim ngạch một số nhóm hàng xuất khẩu chủ lực do giá xuất khẩu giảm tuy nhiên hiện tượng này đã có xu hướng phục hồi vào cuối năm 2009 và đầu 2010, hứa hẹn một thời kì tăng trưởng xuất khẩu mới.

Như vậy, có thể nói việc gia nhập WTO tạo ra rất nhiều cơ hội mới cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Chính vì thế, việc lựa chọn sản phẩm xuất khẩu trong giai đoạn này không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà còn tận dụng mọi cơ hội do việc gia nhập WTO mang lại.

2. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2009 Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

2.1. Gạo

Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho nghề trồng lúa nước, thêm vào đó thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta hai đồng bằng lớn, đó là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng. Với điều kiện tự nhiên khá thuận lợi như vậy, cùng với cơ cấu nguồn nhân lực chính là nông dân, gạo đã trở thành mặt hàng xuất khẩu được hình thành sớm nhất và cũng là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhất, đóng góp giá trị khá lớn vào kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Từ 1989 Việt Nam đã chính thức tham gia vào thị trường gạo quốc tế với quy mô và chất lượng gạo xuất khẩu ngày càng gia tăng. Nhờ thành công trong sản xuất lúa gạo, Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thiếu lương thực, phải nhập khẩu trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới.

Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu

Bảng 4: Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu gạo của Việt nam giai đoạn 2000 – 2009

Trong giai đoạn này, do sản xuất lúa chuyển dịch theo hướng đầu tư thâm canh, tăng chất lượng gạo nên gạo xuất khẩu cũng tăng nhanh về số lượng, chất lượng và giá cả. Nếu như lượng gạo xuất khẩu năm 2000 là 3.47 triệu tấn thì đến năm 2004 sản lượng đã tăng lên gần 4,1 triệu tấn. Năm 2005, lần đầu tiên xuất khẩu gạo đạt mức 5,3 triệu tấn thu về cho đất nước hơn 1.34 tỉ USD, giá gạo bình quân đạt 267 USD/tấn. So với năm 2004, lượng gạo xuất khẩu năm 2005 tăng gần 1.2 triệu tấn (25%), kim ngạch tăng trên 400 triệu USD (45%) và giá cả tăng 48 USD (15%). Đây là mức cao nhất đạt được trên cả ba chỉ tiêu số lượng, kim ngạch và giá cả xuất khẩu so với trước đó, kể từ khi Việt Nam chính thức tham gia thị trường gạo thế giới. Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Năm 2009, mặc dù chịu nhiều tác động tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu và thiên tai bão lụt nhưng nước ta vẫn xuất khẩu gạo vượt kế hoạch,đạt 6,2 triệu tấn, trị giá 2.463 tỉ USD, tăng 29,35% về số lượng và giảm 7,49% về trị giá so với năm 2008. Giá xuất khẩu bình quân đạt 407,09 USD/tấn, giảm 28,5% so với cùng kỳ. Đây là kỷ lục ấn tượng, cao nhất từ trước đến nay (kể từ năm 1989 – năm đầu Việt Nam tham gia xuất khẩu gạo ra thị trường thế giới với con số 1,4 triệu tấn) (Kim Hiền, 2010).

Nét đặc biệt quan trọng đánh dấu sự phát triển và tăng trưởng của xuất khẩu gạo Việt Nam thời kì 2000 – 2009 đó là trong điều kiện có sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường thế giới, số lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu gạo phát triển khá ổn định, thể hiện chất lượng gạo Việt Nam ngày càng được nâng cao.

Về thị trường xuất khẩu: cho đến nay, thị phần gạo Việt Nam đã chiếm lĩnh ở hầu hết những thị trường nhập khẩu gạo lớn trên thế giới. Thị trường gạo liên tục được mở rộng nhờ chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam được nâng lên đáng kể so với các năm trước. Nếu như thời kì 2000 – 2004 thị trường xuất khẩu gạo chủ yếu của việt Nam là Châu Á (Singapore, Philipines, Malaysia, Hồng Kông), Châu Âu (Thụy Sĩ, Hà Lan) và Trung Đông (Irac), Mỹ thì đến năm 2005 bên cạnh các thị trường truyền thống, gạo Việt Nam đã thâm nhập được vào các thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Đến Năm 2009, thị phần gạo Việt Nam chiếm lĩnh ở hầu hết những thị trường nhập khẩu gạo lớn trên thế giới bao gồm châu Á, châu Phi, châu Mỹ, Trung Đông và châu Âu trong đó thị trường Châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng có xu hướng giảm dần và tăng dần tỷ trọng ở thị trường Châu Phi và các thị trường lớn ở Châu Âu như EU, Hoa Kỳ. Đây là những đầu ra quan trọng cho hạt gạo Việt Nam và là những mảng thị trường xuất khẩu gạo cần được củng cố và giữ vững lâu dài. Đặc biệt, Châu Phi là thị trường xuất khẩu gạo tăng trưởng mạnh nhất của Việt Nam trong những năm qua. Đây là một thị trường tiềm năng luôn có nhu cầu cao đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu gạo vào thị trường này đã có những kết quả rõ rệt.

Bảng 5: Tỷ trọng xuất khẩu gạo vào các thị trường năm 2009

Có thể thấy, năm 2009, xuất khẩu gạo sang châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,50% với kim ngạch xuất khẩu đạt 3,238 triệu tấn, châu Phi chiếm tỷ trọng lớn thứ hai 29.64% với kim ngạch 1,794 triệu tấn, Châu Mỹ: 455.872 tấn, chiếm 7,53%, trong đó thị trường Cu ba: 442.910 tấn chiếm 7,32%; Trung Đông: 316.076 tấn, chiếm 5,22%; châu Âu: 201.642 tấn, chiếm 3,33%; còn lại là thị trường châu Úc chiếm 0,78% tổng số lượng xuất khẩu.

Về giá gạo xuất khẩu: nhìn chung, so với các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới như Thái Lan, Indonesia, gạo Việt Nam có cùng chủng loại luôn có giá thấp hơn. Tuy nhiên, trong thời gian qua, mức giá xuất khẩu gạo của nước ta cũng đã tăng lên đáng kể, thể hiện chất lượng gạo của nước ta đã được nâng lên rõ rệt. Cụ thể, giá gạo bình quân đã tăng từ 300USD/tấn năm 2006 lên đến 550 USD/tấn năm 2008 và ở mức 407,09 USD/tấn năm 2009 (do tác động tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu). Giá gạo của Việt Nam từ chỗ thấp hơn giá gạo cùng chủng loại của Thái Lan từ 39 – 42USD/tấn năm 2006 thì cho đến nay khoảng cách đó đang rút ngắn lại rất nhiều, giá chào bán trên thị trường thế giới của hai nước gần như đã không chênh lệch đáng kể, mức giá xuất khẩu của Việt Nam đã gần bám sát giá gạo của Thái Lan. (Nguyễn Sinh Cúc, 2007). Đây là một tín hiệu đáng mừng cho thấy chất lượng gạo cũng như tiềm năng xuất khẩu của nước ta đã được nâng lên rõ rệt .

Một số khó khăn: xuất khẩu gạo của nước ta 10 năm qua mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, đóng góp một lượng ngoại tệ lớn cho nền kinh tế đất nước nhưng bên cạnh đó còn rất nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết.

  • Về thị trường: gạo xuất khẩu của Việt Nam chưa gắn với thị trường, nhất là thị trường trong bối cảnh hội nhập. Chúng ta chưa thiết lập được hệ thống thị trường ổn định với mạng lưới khách hàng thực sự tin cậy. Nguyên nhân là do việc nghiên cứu thị trường chưa được chú trọng trong khi hoạt động xuất khẩu cần nắm bắt kịp thời mọi thông tin sâu rộng về thị trường để theo dõi kịp thời về hệ thống và diễn biến cung cầu và giá cả.
  • Về giá cả xuất khẩu: hiện nay giá xuất khẩu của nước ta còn thấp hơn giá quốc tế và giá xuất khẩu ở một số nước khác. Nguyên nhân là do chất lượng gạo Việt Nam thấp, trình độ kĩ thuật lạc hậu từ khâu tạo giống đến khâu chế biến. Gạo Việt Nam cũng chưa tạo được uy tín trên trường quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam chưa biết quảng bá xây dựng một thương hiệu vững mạnh được người tiêu dùng tin tưởng.
  • Về chất lượng gạo: chất lượng gạo xuất khẩu của nước ta còn chưa cao, chưa tương xứng với vị trí và tiềm năng đất đai, nguồn nước, lao động trồng lúa các vùng. Trong những năm qua, mặc dù từ sản xuất, thu hoạch, bảo quản…của ngành gạo nước ta luôn không ngừng được cải thiện song có nhiều nguyên do nên chất lượng sản phẩm nhiều khi vẫn chưa theo kịp yêu cầu của thị trường. Phẩm chất hạt gạo không cao, gạo bị lai tạp nhiều giống, không đồng nhất về chất lượng, do đó chưa được các đối tác nước ngoài ưa chuộng.

2.2 Thủy sản Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng rất lớn về thủy sản và đang trong thời kì phát triển rất nhanh, thuộc 10 nước có sản lượng thủy sản xuất khẩu lớn nhất thế giới. Xuất phát từ lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên, đây được xem là mặt hàng xuất khẩu truyền thống của đất nước ta.

Xuất khẩu thủy sản đã và đang đóng vai trò rất lớn đối với việc phát triển kinh tế đất nước. Phát triển xuất khẩu mặt hàng này cũng là chủ trương của Đảng và Nhà nước “kết hợp xuất khẩu những mặt hàng mà đất nước có lợi thế tương đối (những mặt hàng xuất khẩu truyền thống: hàng nông lâm thủy sản, khoáng sản, nhiên liêụ và hàng dệt may) và một số hàng có hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao bao gồm cả tô, xe máy, hàng điện tử và dịch vụ phần mềm …” (Văn kiện đại hội Đảng IX, 2001) nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Trong những năm qua, ngành thủy sản đã đạt được những thành tựu vượt bậc về mọi phương diện: kim ngạch xuất khẩu tăng lên, sản phẩm ngày càng phong phú về chủng loại, chất lượng nâng cao và thị trường ngày càng mở rộng.

Ngành thủy sản của chúng ta đang chiếm vị trí xuất khẩu hàng đầu trong nền kinh tế, chỉ sau dầu thô và dệt may. Giá trị xuất khẩu thủy sản chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị xuất khẩu của cả nước.

Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu

Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2000 – 2009

Từ năm 2000 đến nay, kim ngạch xuất khẩu thủy sản liên tục tăng. Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam chỉ đạt 1478.6 triệu USD thì đến năm 2009 là 4251 triệu USD. Như vậy trong vòng 10 năm kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã tăng gần 3 lần, với mức tăng trưởng bình quân là 9.6%. Đạt được kết quả trên là do sự đóng góp đáng kể của các công trình nuôi trồng và đánh bắt hải sản xa bờ, dảm bảo đủ số lượng và chất lượng nguồn hàng phục vụ cho chế biến xuất khẩu. Sự tăng trưởng của hầu hết các mặt hàng thủy sản là minh chứng cho tính hiệu quả của việc đầu tư, đổi mới công nghệ, áp dụng các chương trình, hệ thống kiểm tra, quản lý và an toàn vệ sinh thực phẩm tiên tiến, đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu cao về chất lượng của những thị trường lớn.

Tuy nhiên dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, cho đến năm 2009, lần đầu tiên sau 13 năm, xuất khẩu thủy sản có mức tăng trưởng âm(-6%). Đây là hậu quả của tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu và nguồn cung nguyên liệu trong nước cho các doanh nghiệp xuất khẩu bị thiếu hụt. Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Về thị trường xuất khẩu thủy sản: trong những thời gian qua công tác đa dạng hóa thị trường đã được chú trọng triển khai và thu được những thành tựu đáng khích lệ. Nếu thời gian đầu, thủy sản xuất khẩu Việt Nam chỉ hướng đến một số thị trường trung gian chủ yếu như Singapore, Hồng Kông thì đến năm 2005 con số này là 105 nước và khu vực; năm 2007 Việt Nam xuất sang 145 nước và vùng lãnh thổ, năm 2008 là 159 và đến năm 2009 các mặt hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 120 quốc gia và khu vực trên khắp thế giới. EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ vẫn là những thị trường chính của thủy sản Việt Nam, chiếm tới hơn 70% thị phần (Tổng hợp báo cáo của Bộ Công Thương 2005,2008, 2009). Cho đến nay, các thị trường lớn, khó tính nhất đều đã chấp nhận hàng thủy sản Việt Nam. Sản phẩm thủy sản Việt Nam ngày càng giành được vị trí quan trọng trên các thị trường lớn, có yêu cầu khắt khe về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm như Mỹ, EU. Thời gian gần đây cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản đã có sự thay đổi theo hướng tích cực.

Bảng 7: Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam từ năm 2005-2009

Từ bảng số liệu trên ta thấy qua các năm, trong số các thị trường nhập khẩu thủy sản chính của Việt Nam thì nổi lên vẫn là ba thị trường chính: EU, Nhật Bản, Mỹ. Từ năm 2005 đến năm 2008, kim ngạch và giá trị xuất khẩu thủy sản luôn tăng với mức tăng trưởng cao, ổn định, tuy nhiên con số này giảm trong năm 2009 ở hẩu hết các thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam.

Về cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu: theo thống kê hiện nay có đến hơn 90% sản lượng thủy sản được chế biến cho xuất khẩu. Trong đó phần lớn là chế biến đông lạnh, sơ, chế. Các sản phẩm chủ yếu bao gồm có cá đông lạnh, mực đông lạnh, tôm đông lạnh, mực khô.

Bảng 8: Cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam năm 2008 – 2009

Từ bảng số liệu ta thấy trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu tôm đông lạnh năm 2009 chiếm tỷ trọng cao nhất với mức 39,4%, tiếp đến là cá tra, basa 31.6%, những mặt hàng còn lại đều dưới 10%. Điều này cho thấy trong cơ cấu sản phẩm xuất khẩu sản phẩm đông lạnh vẫn chiếm tỉ trọng lớn. Bên cạnh đó, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng như mực, bạch tuộc, hải sản khô chiếm tỉ trọng ngày càng cao. Điều này chứng tỏ chính sách của Nhà nước, Bộ Thủy sản và các cơ quan về đa dạng hóa sản phẩm đã phát huy tác dụng.

Về giá cả xuất khẩu: nhìn chung giá cả xuất khẩu thủy sản Việt Nam thấp, chỉ khoảng 70% mức giá sản phẩm cùng loại của Thái Lan. Nguyên nhân chủ yếu là do sức cạnh tranh kém, trình độ khoa học công nghệ thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém và thiếu kinh nghiệm quản lý…

Một số khó khăn: khó khăn lớn nhất của ngành xuất khẩu thủy sản hiện nay đó là chất lượng sản phẩm xuất khẩu còn chưa tốt, khó cạnh tranh với nhiều nước khác do công nghệ chế biến còn khá đơn giản, chủ yếu là công nghệ đông lạnh, máy móc phần lớn đã lạc hậu, tỷ trọng lao động thủ công là rất lớn, các yêu cầu về vệ sinh thực phẩm cũng chưa được đảm bảo.

Bên cạnh đó có một thực tế hiện nay là hàng thủy sản xuất khẩu của chúng ta khi vào một số thị trường vẫn phải thông qua khẩu trung gian hoặc mượn thương hiệu nước ngoài, người tiêu dùng chưa quen với thương hiệu, sản phẩm Việt Nam. Ngay cả tại các thị trường được coi là truyền thống của Việt Nam vẫn rất cần những sản phẩm độc đáo. Chúng ta chưa biết tận dụng, tiếp cận và đưa ra những sản phẩm mà thị trường đang cần. Chẳng hạn Trung Quốc là một thị trường lớn, đầy tiềm năng nhưng chúng ta vẫn chưa mở rộng được, lượng hàng hóa xuất khẩu vẫn còn rất khiêm tốn. Các thị trường khác, mặc dù cũng đã được quan tâm xúc tiến xuất khẩu, nhưng kết quả vẫn chưa được như mong muốn và chưa xứng với tiềm năng.

3. Một số đánh giá về thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam trong những năm vừa qua Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

3.1. Những thành tựu đạt được

Trong những năm vừa qua, chính sách đổi mới, mở cửa và công nghiệp hóa đã mở ra cho Việt Nam những cơ hội mới để phát huy những lợi thế so sánh vốn có về tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào, giá rẻ. Dưới chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã tận dụng những lợi thế đó vào việc lựa chọn và phát triển sản phẩm xuất khẩu, đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận:

  • Sản phẩm xuất khẩu ngày càng đa dạng, phong phú hơn và không ngừng phát triển. Kim ngạch và số lượng các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩu chủ lực tăng nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng cao. Từ một nước xuất khẩu mờ nhạt vào cuối những năm 80, đến đầu năm 1991 chúng ta đã có 4 mặt hàng xuất khẩu chủ lực (với kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD) là dầu thô, thủy hải sản, gạo, dệt may. Đến cuối năm 2001 con số này là 13 mặt hàng và lần đầu tiên có 4 mặt hàng tham gia vào “câu lạc bộ 1 tỷ USD” là dầu thô, dệt may, thủy sản và giày dép. Năm 2004, danh mục mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là 18 mặt hàng với sự tham gia nhiều hơn của các mặt hàng công nghiệp như sản phẩm nhựa, xe đạp và phụ tùng, dây điện và cáp điện và có thêm hai mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu vượt mức 1 tỷ USD là hàng điện tử và linh kiện máy tính. Đặc biệt, kể từ sau khi gia nhập WTO, tận dụng được lợi thế do việc gia nhập tổ chức này mang lại, Việt Nam lại có được những bước đột phá mới. Sản phẩm xuất khẩu không chỉ đa dạng phong phú hơn mà chất lượng cũng tốt hơn rất nhiều. Năm 2009, số mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD đã lên đến con số 11 mặt hàng (Bộ Công Thương, 2009).
  • Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra “cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo ra một số mặt hàng có khối lượng lớn và thị trường tương đối ổn định”. Trong kim ngạch xuất khẩu, tỷ trọng các mặt hàng đã qua chế biến tăng, các sản phẩm công nghiệp và chế biến ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu. Một số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thuộc nhóm hàng chế biến, chế tạo như dệt may, da giày, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, hàng điện tử…đã dần dần có chỗ đứng trên thị trường thế giới.
  • Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam bước đầu đã tạo được vị thế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trong những năm gần đây, rất nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã chiếm được tỷ trọng cao trên thị trường thế giới như gạo, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản và cao su. Bên cạnh đó, các mặt hàng xuất khẩu của chúng ta cũng ngày càng được cải thiện về chất lượng, mẫu mã, đa dạng phong phú về chủng loại với giá trị xuất khẩu ngày càng cao do các doanh nghiệp đã biết đầu tư vào công đoạn chế biến. Sản phẩm xuất khẩu được chế biến. Những năm gần đây, Việt Nam luôn giữ vị trí số 1 thế giới về xuất khẩu hạt điều, là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới với sản lượng gạo năm 2009 vượt kế hoạch, đạt 6.2 triệu tấn; một trong những nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu giày dép, đồng thời ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên thị trường thế giới về ngành dệt may.
  • Gia nhập WTO cũng như ngày càng tiến sâu hơn vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta đã biết tận dụng được các lợi thế do quá trình hội nhập mang lại nhờ đó việc lựa chọn và phát triển sản phẩm xuất khẩu đã có những bước khởi sắc đáng ghi nhận, đặc biệt là sự phong phú và phát triển tốc độ của các mặt hàng xuất khẩu cả về số lượng lẫn chất lượng.

3.2. Những mặt còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc lựa chọn sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam còn có một số tồn tại:

  • Chúng ta đã khai thác và tận dụng được lợi thế so sánh của đất nước để lựa chọn và phát triển các mặt hàng xuất khẩu, tuy nhiên đa số các mặt hàng vẫn được xây dựng dựa trên lợi thế về lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý là chính mà chưa quan tâm đến vấn đề chất lượng nguồn lao động và chưa khai thác lợi thế cạnh tranh về công nghệ và vốn của quá trình tự do hóa thương mại trên thế giới do đó chất lượng và hiệu quả tăng trưởng chưa cao. Nói cách khác, việc phát triển sản phẩm xuất khẩu chỉ mới chủ yếu theo chiều rộng chứ chưa có chiều sâu. Chính vì điều đó, chất lượng sản phẩm xuất khẩu của chúng ta còn chưa cao, tính cạnh tranh thấp so với tiêu chuẩn của thế giới do đó giá trị gia tăng thu được từ xuất khẩu các sản phẩm này cũng bị đẩy xuống thấp.
  • Các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu của nước ta còn phụ thuộc nhiều vào quá trình nhập khẩu, chủ yếu là chỉ gia công lắp ráp và phụ thuộc rất lớn vào khách hàng nước ngoài. Việt Nam được coi là một công trường lớn về gia công hàng hóa cho nước ngoài, ít có liên hệ với thị trường và cạnh tranh chủ yếu trên cơ sở chi phí nhân công thấp với đa số các sản phẩm cáo giá trị thấp nên mặc dù giá trị sản xuất đã đạt tốc độ tăng trưởng cao chúng ta cũng ít được hưởng lợi từ yếu tố tăng giá trên thị trường thế giới.
  • Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu còn chưa hợp lý, chủng loại hàng hóa xuất khẩu còn đơn điệu, chậm xuất hiện những mặt hàng xuất khẩu mới có đóng góp kim ngạch đáng kể; các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp, xuất khẩu chủ yếu vẫn phụ thuộc vào các mặt hàng nguyên liệu thô, có giá trị thấp như khoáng sản, nông lâm, thủy hải sản, trong khi các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày, điện tư, linh kiện máy tính…chủ yếu vẫn còn mang tính chất gia công. Đây là một trong những hạn chế lớn nhất và không có lợi cho xuất khẩu của nước ta về dài hạn.
  • Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tuy đã có những chuyển biến theo hướng tích cực thế nhưng tốc độ còn chậm và còn chưa hợp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất khẩu còn phụ thuộc quá lớn vào một số mặt hàng chủ lực như dầu thô, dệt may, giày dép, thủy sản, đồ gỗ, điện tử, linh kiện vi tính, gạo, cao su, cà phê. Trong điều kiện lợi thế về các yếu tố tự nhiên và lao động rẻ đang ngày càng giảm dần và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, thị sự chậm thay đổi cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng nâng dần tỉ trọng hàng công nghệ cao sử dụng nhiều vốn là một hạn chế lớn đối với tăng trưởng xuất khẩu của nước ta.
  • Cho đến nay, sự phát triển của xuất khẩu dịch vụ của nước ta còn rất hạn chế và còn bị hạn chế nhiều bởi cơ cấu ngành và chính sách. Trong khi đó tiềm năng cho phát triển xuất khẩu dịch vụ là rất lớn bởi chúng ta có điều kiện rất tốt để phát triển các ngành dịch vụ như du lịch, vận tải…
  • Đặc biệt mặc dù việc gia nhập WTO, ký kết các hiệp định thương mại song phương và khu vực mang lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội nhưng chúng ta vẫn chưa tận dụng được triệt để lợi ích mà chúng mang lại để khai thác hết tiềm năng của các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc.

III. Thực trạng của việc lựa chọn thị trường xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

1. Quá trình lựa chọn thị trường xuất khẩu

1.1. Trước khi gia nhập WTO

1.1.1. Giai đoạn 1986 – 2000

Từ năm 1986, Việt Nam đã có nhiều chiến lược cải cách kinh tế trên tất cả các phương diện. Từ sau Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986), Việt Nam đã từng bước thiết lập và mở rộng đáng kể thị trường xuất nhập khẩu và đối tác thương mại theo phương châm đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại.

Sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa vào đầu những năm 90 đã đặt nền ngoại thương nước ta đứng trước thách thức “đa phương hóa quan hệ thương mại, tích cực thâm nhập tạo chỗ đứng ở các thị trường mới” để phát triển. Thời kì này cũng diễn ra những thay đổi quan trọng về chính sách ngoại thương mở cửa của nước ta bằng việc tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á( ASEAN – 1995), diễn đàn kinh tế các nước Châu Á – Thái Bình Dương (APEC – 1998), nối lại quan hệ ngoại giao với Hoa Kì (1995). Vào năm 1986 Việt Nam có quan hệ xuất nhập khẩu với 43 quốc gia, năm 1995 là 100 quốc gia, năm 2000 là 192 quốc gia (Tổng cục thống kê, 2006).

Cơ cấu thị trường xuất khẩu của nước ta trong giai đoạn này đã có những biến chuyển hết sức mạnh mẽ. Trước 1990, các mô hình xuất khẩu theo khu vực địa lý của Việt Nam chủ yếu tập trung ở các quốc gia có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thuộc khối Liên Xô cũ và Đông Âu. Cụ thể hơn 2/3 thương mại xuất khẩu của Việt nam thời kì này là hướng tới các thị trường này. Kể từ sau 1991, xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng đáng kể, đánh dấu bằng sự chuyển đổi đáng kể về khu vực địa lý xuất khẩu. Tỷ lệ tổng hàng hóa xuất khẩu tới các thị trường thuộc khối Liên Xô cũ và Đông Âu đã giảm liên tục. Đến năm 1990 tỷ lệ này hạ xuống còn 42,4%, năm 1991 giảm mạnh xuống 11,1%, năm 1995 còn 2,5% và đến năm 2000 chỉ còn chiếm 1,2% kim ngạch xuất khẩu. Cũng kể từ sau 1991, các nước Châu Á nổi lên đóng vai trò ngày càng quan trọng trong thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Tỷ trọng xuất khẩu vào của châu Á trong năm 1991 (năm ta mất thị trường các nước xã hội chủ nghĩa) lên tới gần 77% (Tổng cục Thống kê, 2006).

Bảng 9: Tỷ trọng của các thị trường xuất khẩu thời kỳ 1991-2000

Trong số các nước châu Á thì Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn. Trong thời kỳ 1991-1995, Nhật Bản thường xuyên chiếm trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của ta nhưng tỷ trọng của Nhật giảm đều qua các năm. Tới năm 1999 chỉ còn chiếm 15,5% kim ngạch xuất khẩu. Đến năm 2000, tỷ trọng của Nhật đã tăng trở lại và đạt 18,1%. Tỷ trọng của các nước ASEAN, ngược lại, không có sự thay đổi lớn trong suốt thời kỳ 1991-1998 (năm 1991 chiếm 25,1%, năm 1998 cũng chiếm 25,1%). Từ năm 1998 trở lại đây, tỷ trọng của ASEAN có xu hướng giảm, chủ yếu là do giảm xuất khẩu gạo. Xuất khẩu tới các thị trường Châu Âu và Bắc Mỹ bắt đầu mở rộng nhanh chóng, tăng tốc vào những năm cuối của thập kỷ 90. Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Tỷ trọng của EU nói riêng và châu Âu nói chung tăng khá đều trong giai đoạn này. Năm 1991 EU mới chiếm 5,7% kim ngạch xuất khẩu của ta nhưng năm 2000 đã chiếm 19,3%, góp phần đưa tỷ trọng của toàn châu Âu lên gần 22%. Đặc biệt vào năm 1992, sau khi Việt Nam ký với EU Hiệp định khung về buôn bán hàng dệt may thì quan hệ thương mại của nước ta với EU đã có những bước phát triển đột biến, góp phần làm tăng cao kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và EU trong giai đoạn này.

Đối với thị trường Bắc Mỹ, trong đó chủ yếu là Mỹ, kể từ khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ vào năm 1995 thì quan hệ thương mại với khu vực này đã có những bước phát triển nhanh đáng kể. Năm 1995, năm đầu tiên bình thường hoá quan hệ, kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ đã đạt 170 triệu USD, đưa tỷ trọng của Mỹ từ 0% lên 3,1%. Đến năm 2000, dù hàng xuất của ta còn gặp nhiều khó khăn trên thị trường Mỹ do chưa được hưởng quy chế MFN, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ vẫn đạt 732 triệu USD, chiếm 5,8% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Xuất khẩu sang thị trường châu Đại dương (chủ yếu là Ôxtrâylia) cũng đã có nhiều tiến bộ trong thời kỳ 1991-2000. Tỷ trọng của thị trờng này trong xuất khẩu của Việt nam đã tăng từ 0,2% vào năm 1991 lên 8,8% vào năm 2000. Thị trường châu Phi và Nam Mỹ không có biến chuyển rõ rệt trong toàn kỳ, cho tới nay vẫn chiếm chưa đầy 1% kim ngạch xuất khẩu của ta.

Điểm đáng chú ý là trong thời kỳ 1991-2000 công tác đàm phán kiến tạo thị tr-ờng đã được nâng cao một bước. Việt Nam đã ký Hiệp định Thương mại với hơn 60 quốc gia trên thế giới. Tại hầu hết các thị trường xuất khẩu quan trọng, hàng hoá của Việt nam đều được hưởng chế độ tối huệ quốc (MFN) hoặc cao hơn nữa là GSP. Nhờ đàm phán mà Nhật Bản đã dành cho ta chế độ thuế nhập khẩu tối huệ quốc vào năm 1999, xuất khẩu dệt may, giày dép và thuỷ sản vào EU được mở rộng.

1.1.2. Giai đoạn 2001 – 2006

Bảng 10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006

Trong giai đoạn này, Việt Nam tiếp tục mở rộng thị trường trên tất cả các châu lục, khai thông các thị trường Châu Âu, Châu Phi và Châu Mỹ. Theo đó, cơ cấu thị trường tiếp tục có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ những thị trường truyền thống của Việt Nam như Đông Âu, Châu Á sang các thị trường đầy tiềm năng nhưng rất khó tính đó là thị trường Tây Âu và Hoa Kì. Việc bắt đầu thực hiện Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ từ cuối năm 2001 không những giúp Việt Nam có thể cải thiện và tăng cường các quan hệ kinh tế thương mại song phương, khu vực và quốc tế khác mà còn đem đến kết quả cụ thể là xuất khẩu hàng hóa vào Hoa Kỳ tăng đột biến, đưa nước này trở thành khách hàng lớn nhất đối với xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam (tỷ trọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng từ 7,1% năm 2001 lên 21,7% năm 2006) Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Đến năm 2006, thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã được mở rộng đến 220 nước và vùng lãnh thổ. Từ chỗ chúng ta phải lệ thuộc hoàn toàn vào khu vực thị trường Đông Âu và Liên xô (cũ), từ năm 1991 đến nay, thị trường ngày càng được mở rộng từ ASEAN đến châu Á, châu Âu và châu Mỹ, châu Phi. Nếu như từ năm 2000 trở về trước thị trường xuất khẩu thị trường chủ yếu của nước ta chủ yếu ở khu vực châu Á, thì từ năm 2001, thị trường đã được đa dạng hoá.

Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường châu Mỹ tăng đều trong giai đoạn này (từ 8.9% năm 2001 lên 23,2% năm 2006). Thị trường Hoa Kỳ vẫn là đối tác chính của Việt Nam về xuất khẩu với kim ngạch 8 tỉ USD, chiếm tỷ trọng 86,8%, các nước khác chỉ chiếm 13,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Mỹ.

Trong khi đó, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn đối với xuất khẩu giày dép nhưng thị trường châu Âu vẫn duy trì được tỷ trọng 19-20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước từ năm 2004 đến nay. Các nước EU chiếm tỷ trọng 89,2% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Âu (6,81 tỉ USD), tăng 23,5% so với cùng kỳ năm 2005.

Riêng châu Á, kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng rất lớn so với các châu lục khác, bởi đây là thị trường lớn nhất từ trước tới nay. Ngoài ra, việc số liệu thống kê về xuất khẩu vào châu Đại Dương được tính gộp vào châu Á (kể từ năm nay) đã làm tăng thêm tỷ trọng của khu vực này (châu Đại Dương chiếm tỷ trọng 8,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước). Trong đó, khu vực Đông Bắc Á chiếm tỷ trọng 51,8%, đạt kim ngạch 10,79 tỉ USD; khu vực Đông Nam Á chiếm tỷ trọng 31,5%, đạt kim ngạch 6,56 tỉ USD; châu Đại Dương chiếm tỷ trọng 15,87%, đạt kim ngạch 3,3 tỉ USD…trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Á.

Như vậy, trong giai đoạn này, các thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam theo thứ tự là Mỹ, EU, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia. Kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường này đều tăng trưởng ấn tượng: xuất khẩu vào EU tăng 2.8 lần, vào Nhật tăng 2.3 lần và vào ASEAN tăng 2.8 lần. Đáng chú ý nhất là việc gia tăng xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Nếu như năm 2001, giá trị xuất khẩu sang thị trường lớn nhất thế giới này chỉ là 1065,3 triệu USD thì đến năm 2006, kim ngạch xuất khẩu đã đạt đến 8 tỉ USD, tăng xấp xỉ 8 lần vào năm 2001.

Việt Nam cũng đã đi đúng định hướng trong việc lựa chọn thị trường xuất khẩu đó là đa dạng hóa thị trường, gia tăng xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ và giảm xuất khẩu sang các nước Châu Á.

1.2. Sau khi gia nhập WTO (2007 đến nay) Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Tiếp tục quán triệt phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa thị trường, chính sách lựa chọn và phát triển thị trường xuất khẩu của nước ta trong thời kì này đó là “tích cực và chủ động thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế đầy đủ và sâu rộng để tạo điều kiện tiếp cận thị trường rộng lớn cho hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam. Tăng cường củng cố các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc… và khai phá mạnh các thị trường mới ở Trung Đông, châu Phi và Mỹ La-tinh cho phát triển xuất khẩu; Mở cửa sớm các thị trường dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu tiên tiến, hiện đại cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu”.

Các thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong thời gian này vẫn được xác định là Châu á (Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông); EU; Mỹ và Châu Đại Dương. Ngoài ra, cần tiếp tục khai thác một số thị trường truyền thống hoặc thị trường mới như Nga, Trung Đông, Mỹ LaTinh, Châu Phi.

Việc hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt là việc gia nhập WTO đã làm tăng cơ hội thâm nhập thị trường nước ngoài cho các sản phẩm của nước ta, điều kiện tiếp cận thị trường nước ngoài đối với hàng hóa Việt Nam sẽ rộng mở hơn. Với tư cách là thành viên của WTO, ngoài những thị trường truyền thống có được từ trước đây, Việt Nam còn được hưởng lợi từ việc tham gia vào một thị trường xuất khẩu lớn bao gồm 150 nước thành viên WTO với các rào cản thương mại ở mức thấp hơn, giành được nhiều cam kết ưu đãi và mở rộng thị trường hoàng hóa, dịch vụ và đầu tư thông qua tự do hóa thương mại và vòng đàm phán mở cửa thị trường giữa các thành viên WTO. Đồng thời, việc gia nhập WTO cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam duy trì và mở rộng những thị trường nhập khẩu lớn của thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản, củng cố và gia tăng thị phần ở những thị trường tương đối quen thuộc như các nước ASEAN khác, Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia, Ấn Độ. Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Thực tế đã cho thấy, từ khi gia nhập WTO cho đến nay, thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã liên tục được mở rộng và đa dạng hóa, hàng hóa của nước ta đã thâm nhập hầu hết các thị trường trọng điểm trên thế giới. Không những thế, chúng ta đã đột phát xuất khẩu thành công vào thị trường Mỹ và ngày càng đứng vững hơn trong thị trường lớn nhất thế giới này. Bên cạnh đó, chúng ta đã giảm dần được thị phần ở thị trường Châu Á, củng cố thị trường EU, khôi phục thị trường Nga và Đông Âu, mở rộng thị trường Châu Đại Dương, khai phá mạnh mẽ thị trường Trung Đông, Châu Phi và Mỹ La – tinh. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 230 nước trên thế giới, trong đó hàng hóa của ta xuất sang hơn 220 nước.

Năm 2007, sau 1 năm gia nhập WTO, thị trường xuất khẩu đã có những biến động nhất định, đó là sự gia tăng xuất khẩu tại những thị trường khó tính bên cạnh đó các thị trường truyền thống về xuất khẩu vẫn được duy trì. Cụ thể:

  • Thị trường châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn (49,11%) với kim ngạch đạt xấp xỉ 24 tỷ USD, tăng 18,5% so với năm 2006 nhưng lại có xu hướng giữ nguyên hoặc giảm dần, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản và ASEAN.
  • Thị trường châu Âu chiếm 20,5% với kim ngạch đạt 9,96 tỷ USD, tăng 28,2% so với năm 2006, trong đó tập trung chủ yếu vào thị trường khối EU với tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu tới 91,3%, số còn lại là thị trường Liên bang Nga, các nước SNG và một số nước Đông Âu ngoài EU;
  • Thị trường châu Mỹ chiếm 24,3% với kim ngạch 11,68 tỷ USD, tăng 29,4% so với năm 2006, trong đó chủ yếu là thị trường Hoa Kỳ với kim ngạch trên 10 tỷ USD, chiếm 21,3% tổng xuất khẩu của cả nước.
  • Thị trường châu Phi – Tây Nam Á hiện tỷ trọng còn khiêm tốn là 2,4% với kim ngạch đạt 1,2 tỷ USD. Các thị trường nhỏ lẻ còn lại ở khu vực chiếm tỷ trọng gần 5%, kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 2 tỷ USD. Ngoại trừ các thị trường Cô-oét, Irắc và Pakistan tình hình chính trị còn nhiều bất ổn nên khả năng xuất khẩu còn hạn chế, các thị trường khác có mức tăng trưởng khá, trong đó có Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Thổ Nhĩ Kỳ và Israel.

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã ảnh hưởng đáng kể đến thị trường xuất khẩu của nước ta. Trước khó khăn với những thị trường truyền thống như Mỹ, EU, Nhật Bản…hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta đã được đẩy mạnh sang tìm kiếm, khai thác và đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường mới hoặc đã thâm nhập trước đó. Theo báo cáo của Bộ Công thương năm 2008, mức tăng trưởng của các khu vực thị trường trong năm nay có sự thay đổi, đó là xuất khẩu sang thị trường châu Phi đã tăng tới 95,7%, châu Á tăng 37,8%; châu Đại dương tăng 34,9%, nhưng tăng chậm lại đối với châu Mỹ (21,9%), châu Âu (26,3%).

Năm 2009, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, xuất khẩu gặp nhiều khó khăn nên kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường có xu hướng giảm. Trong bối cảnh xuất khẩu chung năm nay gặp nhiều khó khăn nên kim ngạch xuất khẩu sang từng khu vực thị trường vẫn ở trong xu hướng giảm. Theo báo cáo tổng kết của Bộ Công Thương năm 2009, cơ cấu thị trường xuất khẩu chung năm 2009 chỉ tăng nhẹ đối với khu vực châu Phi và châu Âu, nhưng lại giảm đối với các khu vực còn lại. Kim ngạch xuất khẩu sang khu vực châu Á giảm khoảng 20% so với 2008, trong đó, riêng xuất khẩu sang các nước ASEAN giảm trên 22%, còn với các nước còn lại giảm ít hơn. Kim ngạch xuất khẩu sang châu Âu lại tăng 4%, trong đó, với các nước EU giảm khoảng 14%, nhưng xuất khẩu sang các nước châu Âu khác lại tăng mạnh, nhất là với Thuỵ Sĩ, nhờ tăng xuất khẩu mặt hàng vàng từ những tháng đầu năm. Xuất khẩu sang châu Đại Dương lại giảm mạnh với mức 48% so năm 2008, trong khi đó, xuất khẩu sang châu Mỹ nói chung và Mỹ nói riêng chỉ giảm nhẹ. Xuất khẩu sang châu Phi tăng gần 30% so với năm 2008 chủ yếu nhờ tăng xuất khẩu gạo và hàng tiêu dùng.

Do một số thị trường xuất khẩu truyền thống như Mỹ, Nhật bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế do đó bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường truyền thống, chúng ta đã có các hoạt động chuyển hướng mở rộng xuất khẩu sang các thị trường ít chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế Châu Phi và Trung Đông. Các thị trường này hiện tiếp tục duy trì được nhu cầu nhập khẩu ổn định và không có đột biến trong chính sách thương mại, đòi hỏi về yêu cầu chất lượng sản phẩm không quá khắt khe, không đặt ra nhiều rào cản thương mại, còn nhiều tiềm năng cho hàng hoá của Việt Nam. Chính vì vậy, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, nghiên cứu thị trường nhằm thâm nhập một cách toàn diện hơn vào các thị trường này cũng là định hướng của Việt Nam trong những năm tới.

2. Một số thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

2.1 Thị trường Trung Quốc

Cải cách, mở cửa và tăng trưởng kinh tế trong một đất nước hơn 1,3 tỷ người đã làm cho thu nhập dân cư tăng nhanh, Trung Quốc được xem là một thị trường khổng lồ có tiềm năng lớn nhất thế giới. Nền kinh tế Trung Quốc trong một vài năm trở lại đây đang trỗi dậy với sức phát triển rất mạnh mẽ.

Nằm trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc là thị trường láng giềng lớn nhất của Việt Nam. Hai nước có chung đường biên giới dài trên 1450 km, phong tục tập quán, nền văn hóa có nhiều nét tương đồng, hệ thống chính trị và mô hình phát triển kinh tế cơ bản giống nhau. Chính vì lẽ đó, Trung Quốc là một thị trường xuất khẩu trọng điểm đầy tiềm năng mà Việt Nam đang hướng tới.

Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc trong những năm gần đây

Kể từ sau năm 1991, sau khi bình thường hóa quan hệ, thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc đã không ngừng tăng lên, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Bên cạnh đó, giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng có nhiều hiệp định thương mại quan trọng, điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hợp tác, buôn bán giữa hai nước phát triển theo cả chiều sâu và chiều rộng. Đặc biệt kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đã có những thay đổi đáng kể.

Bảng 11: Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 2000 – 2009

Thị trường Trung Quốc ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với thị trường Việt Nam. Trong những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đã tăng với tốc độ rất nhanh. Kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO (2001), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đã tăng liên tục qua các năm từ 1.417 tỷ USD lên đến 4.747 tỷ USD năm 2009.

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2009 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 17.82%/năm. Đây là tốc độ tăng trưởng khá cao. Đặc biệt, năm 2004 là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất, Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu đứng thứ ba của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu tăng 53.95%.

Năm 2008, Trung Quốc cũng là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam (chỉ đứng sau Mỹ và Nhật Bản) với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 4.536 tỷ USD và chiếm khoảng 7.2% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc chỉ tăng 4.65%, giảm 19.76% so với năm 2008.

Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và Trung Quốc tương tự nhau nhưng chính điều đó giúp Việt Nam thâm nhập vào thị trường này thuận lợi hơn. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc có thể chia thành 3 nhóm hàng chính gồm nhóm hàng nguyên, nhiên liệu và khoáng sản; nhóm hàng nông sản, thủy sản; nhóm hàng công nghiệp. Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất chiếm khoảng 55% trong tổng kim ngạch xuất khẩu (gồm dầu thô, than đá, quặng sắt, cromit, dược liệu, các loại tinh dầu, cao su thiên nhiên) tiếp đến là nông sản và thủy sản (chiếm trung bình khoảng 15%, gồm gạo, nông sản, hoa quả, thủy hải sản tươi sống và đông lạnh…) và cuối cùng là hàng công nghiệp (chiếm khoảng 10%, gồm các sản phẩm dệt may, giày dép, xà phòng…). Nhóm hàng này đang có mức tăng trưởng cao và sẽ là động lực tăng trưởng chính của xuất khẩu Việt Nam trong tương lai.

Bảng12: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc năm 2009

Nhìn vào thống kê các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc có thể thấy rằng than đá là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất năm 2009, đạt 935.8 triệu USD chiếm 19% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sao Trung Quốc. Tiếp theo là cao su đạt 856.7 triệu USD chiếm 17.5%. Mặt hàng sắn và các sản phẩm từ sắn cũng góp phần đáng kể làm tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 506 triệu USD, chiếm 10,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tiếp theo, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2009 có tốc độ tăng trưởng cao đó là: dầu thô đạt 462.6 triệu USD, chiếm 9.4%, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 287.2 triệu USD, chiếm 5.9%, gỗ và sản phẩm gỗ đạt 197,9 triệu USD, tăng 35,9% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 4 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng cao chiếm thấp trong tổng kim ngạch cũng là nguyên nhân khiến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng chậm.

Phần lớn mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc là những mặt hàng Trung Quốc có thế mạnh. Do chi phí lao động và chi phí xuất khẩu của Trung Quốc thấp nên hàng hóa của họ có tính cạnh tranh khá cao so với hàng hóa Việt Nam.

Cho đến nay, nhiều sản phẩm Việt Nam đã nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã và có thị phần nhất định tại Trung Quốc. Đặc biệt, nhiều hàng hóa Việt Nam trước đây chưa xuất được sang Trung Quốc thì hiện nay đã được thị trường này tiếp nhận như là các mặt hàng rau quả, thủy sản, giày dép, phân bón…Nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam đã trưởng thành qua 10 năm buôn bán với doanh nghiệp Trung Quốc. Tất cả cho thấy triển vọng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc thời gian tới là khả quan, nhiều hứa hẹn và sẽ phát triển mạnh theo chiều hướng tích cực.

2.2. Thị trường Hoa Kỳ Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Hoa Kỳ được xem là một thị trường dung lượng cao cho tất cả các loại hàng hóa nói chung, là thị trường mà bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng muốn hướng tới. Hàng năm, Hoa Kỳ nhập khẩu một lượng hàng hóa rất lớn, bao gồm nhiều chủng loại hàng hóa khác nhau, từ máy móc thiết bị đến giày dép, quần áo, nông sản, thực phẩm…trong đó có nhiều nhóm hàng mà với lợi thế so sánh của mình, Việt Nam có thể sản xuất và xuất khẩu vào Mỹ với số lượng đáng kể. Chính vì lẽ đó, việc đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này là việc mà chúng ta đang tích cực thực hiện trong những năm qua. Đặc biệt kể từ sau hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (2001) đã tạo ra những cơ hội to lớn để doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa vào thị trường này.

Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong những năm gần đây

Hiện nay, Hoa Kì là đối tác thương mại quan trọng số 1 của Việt Nam đồng thời là thị trường xuất khẩu lớn nhất và cũng là thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của nước ta. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hoa Kì ngày càng lớn.

Về kim ngạch xuất khẩu

Bảng 13: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ (2000 – 2009)

Kể từ sau hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này đã tăng với tốc độ khá nhanh và ổn định qua các năm. Từ một thị trường tương đối nhỏ của hàng xuất khẩu Việt Nam, Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta. 10 năm sau hiệp định thương mại Việt – Mỹ, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ từ 0.733 tỷ USD năm 2000 đã tăng lên 15 lần, đạt 11.4 tỷ năm 2009. Tốc độ tăng trưởng trung bình thời kì này là 40.7 %. Đây là một con số rất cao so với tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường khác. Trong đó, năm 2002 là năm đầu tiên sau hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu đạt tốc độ tăng cao nhất trong các năm (140%).

Khủng hoảng tài chính và kinh tế xảy ra tại Hoa Kỳ từ giữa năm 2008 đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này. Cụ thể xuất khẩu của Việt Nam năm 2008 vẫn tăng 17.8 % so với năm 2007, song có thể thấy tốc độ tăng thấp hơn rất nhiều so với những năm trước đó. Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu không những không tăng mà còn giảm 4.3%. Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Do tác động của khủng hoảng kinh tế, xuất khẩu của hầu hết các nước vào thị trường Hoa Kỳ đều giảm mạnh tuy nhiên xuất khẩu của nước ta vào thị trường này vẫn tăng hoặc giảm ít. Điều đó nói lên rằng sản phẩm của Việt Nam có sức cạnh tranh khá tốt tại Hoa Kỳ và đang chiếm thị phần ngày càng tăng. Đây cũng là một thuận lợi lớn để Việt Nam có thể tăng cao kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ khi thị trường này hồi phục và tăng trưởng nhập khẩu trở lại.

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ luôn chiếm hơn 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong những năm gần đây. Điều đó cho thấy đây luôn là thị trường xuất khẩu chủ lực hàng đầu của Việt Nam.

Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu: các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đó là dệt may, giầy dép, đồ gỗ, thủy sản, dầu thô, sản phẩm điện tử, linh kiện, cà phê và hạt điều. Các mặt hàng này luôn giữ được mức phát triển tương đối cao qua các năm. Trong đó đóng góp nhiều nhất vẫn là tỷ trọng xuất khẩu hàng may mặc, đồ gỗ và thủy hải sản. Năm 2007, trong 10.1 tỷ kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ thì sản phẩm dệt may đã chiếm 4.39 tỷ (43.5%), xuất khẩu đồ gỗ đạt 1.2 tỷ (11.9%), xuất khẩu thủy hải sản cũng chiếm tỷ trọng lớn. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng của Hoa Kỳ tăng mạnh trong những năm gần đây là do kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực này.

Trong những năm gần đây cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn chưa có sự thay đổi lớn trừ kim ngạch các sản phẩm điện tử và linh kiện đang tăng với tốc độ khá cao.

Bảng 14: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hoa Kỳ năm 2009

Nhìn vào bảng số liệu có thể thấy năm 2009, mặc dù bị ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng hàng dệt may, gỗ và sản phẩm gỗ, giày dép luôn giữa vị trí hàng đầu trong bảng xếp hạng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng sang Hoa Kỳ.

Dẫn đầu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ là hàng dệt may đạt gần 5 tỉ USD chiếm 44% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá sang Hoa Kỳ. Thứ hai là mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,1 tỉ USD, chiếm 9,7%. Thứ ba là giày dép các loại đạt 1 tỉ USD, chiếm 9,1%. Một số các mặt hàng cũng có giá trị cao trong kim ngạch xuất khẩu đó là hàng thủy sản, dầu thô, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, hạt điều…

Ngoài ra, giá thành nhập khẩu một số mặt hàng Việt Nam vào Hoa Kỳ còn kém cạnh tranh, một phần do hàng Việt Nam phải chịu thuế nhập khẩu cao hơn so với hàng nhập từ các nước có ưu đãi thương mại đặc biệt với Hoa Kỳ. Cước phí và thời gian vận tải hàng từ Việt Nam sang Hoa Kỳ cao hơn và dài hơn so với từ nhiều nơi khác.

3. Một số đánh giá về thực trạng lựa chọn thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

3.1 Thành tựu đạt được

Trong thời gian qua thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã liên tục được mở rộng và đa dạng hóa, nhất là việc đột phá xuất khẩu thành công vào thị trường Mỹ và duy trì được thị phần trên thị trường lớn nhất thế giới này. Hiện nay, hàng hóa của Việt Nam đã được xuất khẩu sang khoảng hơn 230 nước và vùng lãnh thổ, tức là hầu như khắp thế giới, trong đó có trên 16 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập trên 500 triệu USD, 28 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập trên 100 triệu USD và 7 quốc gia nhập trên 1 tỷ USD, đứng đầu là Mỹ, tiếp đến là Nhật Bản, Trung Quốc, Australia, Singapore, Đức, Malaysia, Anh (Bộ Công Thương, 2009).

Sự chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ và tích cực, phù hợp với xu hướng chung của thị trường thế giới.

Tuy vẫn tăng và giữ tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu, thế nhưng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Châu Á đang có xu hướng giảm dần, đặc biệt là vào các thị trường Trung Quốc và ASEAN. Tỷ trọng các thị trường phát triển cao như Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản ngày càng chiếm mức cao trong khi tỷ trọng của thị trường Châu Á ngày càng thu hẹp lại, điều này thể hiện sự ưu tiên đúng hướng trong hoạt động xuất khẩu, dần đạt được mục tiêu tăng tỷ trọng của các trung tâm kinh tế. Ngoài ra, tỷ trọng của các thị trường xuất khẩu trung gian, điển hình là Singapore, Hồng Kông cũng giảm dần. Bên cạnh đó, trong những năm vừa qua, chúng ta cũng đã khôi phục được thị trường Nga và Đông Âu, mở rộng thị trường Châu Đại Dương, khai phá mạnh mẽ thị trường Trung Đông, Châu Phi và Mỹ La – tinh.

Có thể nói, cơ cấu thị trường có sự chuyển dịch hợp lý đã đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng xuất khẩu của đất nước ta trong thời gian vừa qua.

3.2 Một số hạn chế Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

Trong những năm qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu thị trường ở nước ta diễn ra tương đối tốt. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này chưa được định hướng trên một tầm nhìn dài hạn, chủ yếu mới chỉ là sự thích ứng với sự thay đổi của tình hình nên đã bộc lộ những điểm yếu. Việc tập trung quá lớn vào một số thị trường đã làm suy giảm khá năng thực hiện mục tiêu mở rộng thị trường mới, dẫn tới nguy cơ tự đánh mất thị trường. Điều này khiến chúng ta khó có thể phát triển bền vững và duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài hạn. Cụ thể, xuất khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc khá nhiều vào thị trường Châu Á (hơn 50%) và có xu hướng chuyển dịch mạnh sang thị trường Hoa kì, ít quan tâm đến các thị trường khác. Do đó, mỗi khi có sự biến động của các thị trường Châu Á hay Mỹ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến xuất khẩu của Việt Nam và làm cho nền kinh tế tăng trưởng kém bền vững. Ví dụ cụ thể đó là suy thoái kinh tế Mỹ và EU đã ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam những năm 2009, khiến kim ngạch xuất khẩu của nước ta bị ảnh hưởng. Trong khi đó, các quốc gia khu vực, đặc biệt là các nước Đông – Nam Á có cùng lợi thế cạnh tranh với nhiều hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy khả năng tăng xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường này là có giới hạn. Do đó, cơ cấu thị trường xuất khẩu hiện nay có thể sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm tới.

Thị trường xuất khẩu tăng không đồng đều, trong khi các thị trường ASEAN, EU, Mỹ tăng khá cao thì một số thị trường quan trọng khác tăng chậm hoặc giảm như Trung Quốc, Nhật Bản và Australia.

Khả năng đa dạng hóa thị trường, thâm nhập thị trường mới và duy trì, mở rộng thị phần trên các thị trường hiện có của nước ta còn có nhiều yếu kém. Mặc dù chúng ta đã khai phá thành công thị trường Mỹ thế nhưng các thị trường lớn mà ta bị giảm thị phần so với mục tiêu đó là Châu Âu, Trung Quốc lại đang nổi lên là một cực kinh tế của thế giới mà chúng ta chưa khai thác được tiềm năng và cơ hội của các thị trường này. Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp nâng cao sản phẩm xuất khẩu tại VN

One thought on “Khóa luận: Thực trạng lựa chọn sản phẩm xuất khẩu tại VN

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm xuất khẩu tại Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464