Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI tại Việt Nam- Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. Thực trạng hoạt động FDI tại Việt Nam trong thời gian qua

1. Thực trạng thu hút FDI

1.1. Tình hình cấp phép đầu tư

Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nên kết quả thu hút vốn ĐTNN còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD), ĐTNN chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước. Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

Thời kỳ 1991 – 1996, được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN tại Việt Nam (có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với 1.781 dự án được cấp phép, tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) là 28,3 tỷ USD. Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư – kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực, lực lượng lao động sẵn có với giá nhân công rẻ, thị trường mới. Do vậy, ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích vực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam có biểu hiện khá rõ nét của một động thái thiếu ốn định. Bắt đầu từ năm 1997, nguồn vốn FDI vận động theo xu hướng giảm dần, cho đến năm 1999 là năm có lượng vốn FDI đăng kí thấp nhất kể từ năm 1992.

Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng.

Theo đà tăng đó, trong năm 2008 có thêm 397 dự án đăng ký tăng vốn với tổng số vốn đăng ký tăng thêm 5,2 tỷ USD. Chỉ tỉnh riêng số vốn tăng thêm của các dự án đang hoạt động tại Việt Nam trong năm 2008 đã tương đương với tổng số vốn đăng ký mới của một năm trong những năm đầu thế kỷ 21. Tính chung cả vốn đăng ký cấp mới và vốn đăng ký tăng thêm, tổng số vốn FDI đăng ký tại Việt Nam năm 2008 đạt mức kỷ lục 66,5 tỷ USD, gấp 3,35 lần so với năm 2007. Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

Sang năm 2009, một năm chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lượng vốn FDI có giảm đi rõ rệt. Cả nước có 839 dự án được cấp mới với tổng số vốn đăng ký 16,34 tỷ USD, chỉ bằng 24,6 % so với năm 2008. Cùng với đó, có 215 dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng số vốn tăng thêm là 5,13 tỷ USD. Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2009, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 21,48 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008.

Bảng 1.1 : Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép 1991 – 2008

Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước.

Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng thêm vốn đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2009 có gần 5250 dự án tăng vốn đầu tư với tổng số vốn tăng thêm hơn 27,8 tỷ USD.

Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD trong 5 năm 1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với năm trước đó (4,17tỷ USD). Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ USD (vượt 16% so với dự kiến là 6 tỷ USD), tăng 69% so với 5 năm trước đó. Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và từ năm 2004 đến 2007, vốn tăng thêm đạt trên 2 tỷ USD, mỗi năm tăng trung bình 35%. Năm 2008 và 2009 đều chứng kiến mức tăng cao của vốn đăng ký thêm, đạt mức trên 5 tỷ USD.

Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995; 65,7% trong giai đoạn 1996-2000; và khoảng 77,3 % trong thời kỳ 2001-2005. Trong hai năm 2006 và 2007, tỷ lệ này tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm. Riêng năm 2008 tỷ lệ các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xây dựng đã giảm xuống còn 48,85% về số dự án và 54,12%về vốn đầu tư đăng ký. Sang năm 2009, tỷ lệ vốn tăng thêm nghiêng hẳn về phía các ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống, với tổng số vốn tăng thêm là 3,8 tỷ USD, đạt 74% so với tổng vốn đăng ký tăng thêm.

Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm, nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN.

1.2. Quy mô dự án

Quy mô của các dự án FDI thể hiện khả năng tài chính cũng như sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường Việt Nam. Qua các thời kỳ, quy mô các dự án cũng có nhiều biến động, tăng dần qua các giai đoạn. Trong giai đoạn 1988-1990, quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quan đạt 7,5 triệu USD/ dự án. Đến giai đoạn 1991-1995, quy mô bình quân tăng lên con số 11,6 triệu USD, và đến giai đoạn 1996-2000, con số này đạt mức 12,3 triệu USD. Điều này thể hiện số lượng các dự án quy mô lớn được cấp phép trong giai đoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5 năm trước đó. Tuy nhiên, đến giai đoạn 2001-2005, quy mô vốn đăng ký trên giảm xuống 3,4 triệu USD. Điều này cho thấy đa phần các dự án cấp mới trong giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa và nhỏ. Trong 2 năm 2006-2007, do được sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào các dự án lớn, quy mô vốn bình quân của các dự án FDI lại tăng trở lại với con số cao đáng kể ở mức 14,4 triệu USD. Đặc biệt trong năm 2008, năm có mức tổng vốn FDI vào Việt Nam đạt con số kỷ lục cũng là năm chứng kiến nhiều dự án có mức vốn đầu tư cao với quy mô trung bình đạt 51,47 triệu USD/dự án, cao hơn rất nhiều so với thời gian trước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.3. Cơ cấu vốn FDI từ năm 1988 đến nay Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

1.3.1. Đầu tư nước ngoài phân theo ngành

Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng

Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, bởi đây là ngành có thể tạo cơ sở vật chất vững chắc cho nền kinh tế. Các ngành, các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư đều được nêu trong danh mục các lĩnh vực khuyến khích đầu tư. Trong những năm 1990, thực hiện chủ trương thu hút FDI, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án: sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, sản xuất hàng xuất khẩu có tỷ lệ xuất khẩu từ 50 % hoặc 80% trở lên, sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địa hóa cao. Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO, Việt Nam đã bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầu bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong nước. Qua các thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp-xây dựng tuy có thay đổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử… Đây cũng chính là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi thu hút ĐTNN. Nhờ vậy, cho đến nay các dự án ĐTNN thuộc các lĩnh vực nêu trên (thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm điện và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may…) vẫn giữ vai trò quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và công nghệ thông tin. Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

Tính đến hết năm 2009, lĩnh vực công nghiệp – xây dựng có 7.333 dự án với mức tổng vốn đăng ký đạt trên 101 tỷ USD, chiếm 70% về số dự án và 57% về tổng mức vốn đăng ký.

Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ

Bên cạnh việc thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp xây dựng, Nhà nước ta cũng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư cho hoạt động kinh doanh dịch vụ. Nhờ vậy, khu vực dịch vụ đã có sự chuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế. Một số ngành dịch vụ như bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải hàng không, vận tải biển, du lịch, kinh doanh bất động sản tăng trưởng nhanh, thu hút nhiều lao động và thúc đẩy xuất khẩu. Cùng với việc thực hiện lộ trình cam kết thương mại dịch vụ trong WTO, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút ĐTNN, phát triển các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuất khẩu.

Trong năm 2009 lĩnh vực dịch vụ đã chiếm ưu thế trong tổng vốn FDI. Trong đó, dịch vụ lưu trú và ăn uống là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài với 8,8 tỷ USD vốn cấp mới và tăng thêm. Kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với 7,6 tỷ USD. Trong đó có nhiều dự án quy mô lớn được cấp phép trong năm như Khu du lịch sinh thái bãi biển rồng tại Quảng Nam, dự án Công ty TNHH thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya tại Đồng Nai và dự án Công ty TNHH một thành viên Galileo Investment Group Việt Nam có tổng vốn đầu tư lần lượt là 4,15 tỷ USD, 2 tỷ USD và 1,68 tỷ USD.

Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư

Dành ưu đãi cho các dự án đầu tư vào lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp cũng được chú trọng ngay từ khi có luật đầu tư nước ngoài 1987. Tuy nhiên đến nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao trong lĩnh vực này, nên kết quả thu hút ĐTNN vào lĩnh vực Nông – Lâm ngư chưa được như mong muốn.

Đến hết năm 2008, lĩnh vực Nông- Lâm- Ngư nghiệp có 976 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 4,79 tỷ USD; chiếm 10 % về số dự án ; và chỉ chiếm 4,4% tổng vốn đăng ký. Trong đó, các dự án về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đăng ký của ngành, trong đó, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau.

Cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào ngành nông-lâm-ngư nghiệp nước ta, trong đó, các nước châu Á ( Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông,..) chiếm 60% tổng vốn đăng ký vào ngành nông nghiệp (riêng Đài Loan là 28%). Các nước thuộc EU đầu tư vào Việt Nam đáng kể nhất gồm có Pháp (8%), quần đảo British Virgin Islands (11%). Một số nước có ngành nông nghiệp phát triển mạnh (Hoa Kỳ, Canada, Australi)a vẫn chưa thực sự đầu tư vào ngành nông nghiệp nước ta.

Các dự án ĐTNN trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam. Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15%. Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước.

1.3.2. Đầu tư nước ngoài phân theo vùng lãnh thổ Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

Qua hơn 20 năm thu hút, ĐTNN đã trải rộng khắp cả nước. Tuy nhiên, vốn FDI vẫn chủ yếu tập trung tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển kinh tế – xã hội chung và các vùng phụ cận.

Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, tính đến hết năm 2009, vùng trọng điểm phía Bắc có 3.090 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 34,8 tỷ USD, chiếm 28,2% về số dự án, 19,7% tổng vốn đăng ký cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu (1.964 dự án với tổng vốn đăng ký 19,47 tỷ USD) chiếm 53,2% vốn đăng ký và 46,9% vốn thực hiện cả vùng. Tiếp theo thứ tự là Hải Phòng (302 dự án với tổng vốn đăng ký 4,2 tỷ USD), Hải Dương (230 dự án với tổng vốn đăng ký 2,95 tỷ USD), Hưng Yên (159 dự án với tổng vốn đăng ký 798,2 triệu tỷ USD), Bắc Ninh (143 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ USD), Vĩnh Phúc (129 dự án với tổng vốn đăng ký 1,97 tỷ USD) và Quảng Ninh (107 dự án với tổng vốn đăng ký 1,1 tỷ USD).

Vùng trọng điểm phía Nam thu hút 6.827 dự án với tổng vốn đầu tư 87,8 tỷ USD, chiếm 49,6% tổng vốn đăng ký, trong đó, tp Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước (3.140 dự án với tổng vốn đăng ký 27,2 tỷ USD) chiếm 30,9% tổng vốn đăng ký của vùng. Tiếp theo thứ tự là Bình Dương (1.964 dự án với tổng vốn đăng ký 13,3 tỷ USD) chiếm 15,2% vốn đăng ký của Vùng, Đồng Nai (1.028 dự án với tổng vốn đăng ký 16,3 tỷ USD) chiếm 18,6% vốn đăng ký của vùng; Long An (280 dự án với tổng vốn đăng ký 2,9 tỷ USD) chiếm 3,4 vốn đăng ký của Vùng; Bà Rịa – Vũng Tàu (211 dự án với tổng vốn đăng ký 23,6 tỷ USD) chiếm 26,9% vốn đăng ký của vùng.

Ngoài một số địa phương vốn có ưu thế trong thu hút vốn ĐTNN (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Hải Phòng, Quảng Ninh) một số địa phương khác (Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Phú Yên, Hà Tây..) do yếu tố tích cực của chính quyền địa phương nên việc thu hút vốn ĐTNN đã chuyển biến mạnh, tác động tới cơ cấu kinh tế trên địa bàn. Đối với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng như hướng thu hút vốn ĐTNN vào các ngành công nghệ cao thông qua một số khu công nghệ cao (Quang Trung, Hòa Lạc).

Vùng trọng điểm miền Trung thu hút được 491 dự án với tổng vốn đăng ký 8,6 tỷ USD, chiếm 6% tổng vốn đăng ký của cả nước, trong đó: Phú Yên (39 dự án với tổng vốn đăng ký 1,9 tỷ USD) hiện đứng đầu các tỉnh miền Trung với dự án xây dựng nhà máy lọc dầu Vũng Rô có vốn đăng ký 1,7 tỷ USD. Tiếp theo là Đà Nẵng (113 dự án với tổng vốn đăng ký 1,8 tỷ USD), Quảng Nam (15 dự án với tổng vốn đăng ký 1,1 tỷ USD) đã có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tư vào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN còn khiêm tốn như vùng Đông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm Đồng (93 dự án với tổng vốn đăng ký 318,4 triệu USD) đứng đầu các tỉnh khu vực Tây Nguyên nhưng chỉ chiếm tỷ trọng 1% về số dự án. Đồng bằng sông Cửu Long thu hút vốn ĐTNN còn thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả nước.

Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiện địa lý-kinh tế khó khăn nhưng việc thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh tế tại các địa bàn này còn rất thấp.

1.3.3. FDI phân theo hình thức đầu tư Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

Tính đến hết năm 2009, chủ yếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện theo hình thức 100% vốn nước ngoài, có 8.521 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký 110,8 tỷ USD, chiếm 77,8% về số dự án và 62,6% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức liên doanh có 2.021 dự án với tổng vốn đăng ký 54,8 tỷ USD, chiếm 18,4% về số dự án và 30,9% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh có 222 dự án với tổng vốn đăng ký 4,9 tỷ USD chiếm 2% về số dự án và 2,8% tổng vốn đăng ký. Hình thức công ty cổ phần cũng ngày càng tăng khi có tới 186 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 4,7 tỷ USD, gần tương đương với hình thức hợp đồng hợp tắc kinh doanh. Số còn lại thuộc các hình thức khác như BOT, BT, BTO, công ty mẹ con.

Bảng 1.2 : FDI phân theo hình thức đầu tư tính đến năm 2009

1.4. Tình hình phát triển các KCN, KCX, KCNC, KKT

Hiện nay chúng ta đã có 228 KCN, KCX (bao gồm 225 KCN và 03 KCX) được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 58.220 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê là 38.075 ha, chiếm 65,5% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong hơn 16 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX và hơn 3 năm thành lập KKT cho thấy khu vực này có đóng góp ngày càng quan trọng trong việc thu hút vốn ĐTNN, đến cuối năm 2008 đã thu hút gần 6.303 dự án ĐTNN còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 87,7 tỷ USD, chiếm 64,3% về số dự án và 58,6% tổng vốn đăng ký của cả nước. Các dự án đầu tư công nghiệp đang có xu hướng tăng nhanh tại các KCN-KCX. Các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài trong KCN, KCX đa dạng về hình thức đầu tư.

2. Tình hình thực hiện các dự án FDI Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

Trong hơn 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước bằng việc tạo ra tổng giá trị doanh thu đáng kể, trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góp tích cực vào ngân sách, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động. Đồng thời, tiếp tục khẳng định vai trò trong sự nghiệp phát triển kinh tế, khu vực đóng góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội của đất nước, và thực sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Từ mức đóng góp trung bình 6,3% cuả GDP trong giai đoạn 1991 – 1995, khu vực FDI đã tăng lên 10,3% GDP trong 5 năm 1996-2000. Trong thời kỳ 2001-2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14,6%. Từ năm 2006, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN luôn có đóng góp trên 17% vào GDP.

Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm, trong khi vốn đăng ký và số lượng dự án cấp mới biến động mạnh. Nếu như cả giai đoạn 1991 – 1995, vốn thực hiện mới đạt trên 7,1 tỷ USD, chiếm 44% tổng vốn đăng ký mới (bao gồm cả phần vốn góp của bên Việt Nam trên 1 tỷ USD – chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất) thì trong thời kỳ 1996-2000, mặc dù chịu ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước, chiếm 64,8% so với tổng vốn đăng ký. Trong 5 năm 2001-2005, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD, chiếm 70,8% tổng vốn đăng ký mới, tăng 6% so với 5 năm trước và 30% so với dự báo ban đầu. Hai năm 2006-2007, tổng vốn thực hiện đạt 8,7 tỷ USD, tuy chỉ bằng 27% tổng vốn đăng ký mới, nhưng vốn thực hiện năm 2007 tăng 12% so với năm 2006. Năm 2008, vốn giải ngân của các doanh nghiệp FDI tăng 43,2% so với năm 2007, đạt con số 11,5 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2009, con số này giảm nhẹ, chỉ đạt ở mức khoảng 10 tỷ USD.

Trong giai đoạn 1991-1995, tổng giá trị doanh thu của khu vực FDI đạt khoảng 4,1 tỷ USD (trong đó giá trị xuất khẩu không tính dầu thô đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 30% tổng doanh thu). Sang giai đoạn 1996-2000, con số này đã tăng lên mức 27,09 tỷ USD, tăng gấp 6,5 lần so với 5 năm trước. Giai đoạn 2001-2005, tổng giá trị doanh thu đạt 77,4 tỷ USD, tăng 2,8 lần. Riêng trong 2 năm 2006-2007, tổng giá trị doanh thu đạt khoảng 69 tỷ USD, trong đó giá trị xuất khẩu trừ dầu thô đạt 28,6 tỷ USD, chiếm 41% tổng doanh thu. Tính đến năm 2008, tổng doanh thu của khu vực này đạt con số 50,55 tỷ USD, tăng 24,4% so với năm 2007.

Tính đến năm 2007, đã có 38 dự án kết thúc đúng thời hạn với tổng vốn đầu tư đăng ký là 658 triệu USD. Các dự án kết thúc đúng thời hạn chủ yếu là các dự án đầu tư trong những lĩnh vực đặc thù như trục vớt tàu đắm, thăm dò và khai thác dầu khí, nuôi trồng thủy sản… Đồng thời cũng có 1.359 dự án bị giải thể trước thời hạn với số vốn đăng ký giải thể khoảng 15,5 tỷ USD, trong đó lĩnh vực dịch vụ chiếm %, lĩnh vực công nghiệp xây dựng chiếm 42,3%. Trong các dự án FDI bị giải thể, số dự án hoạt động theo hình thức liên doanh chiếm đa số (56% về số dự án và 67,2% về tổng vốn đăng ký), tiếp theo là hình thức 100% vốn nước ngoài (13,1% về số dự án và 15,5% về tổng vốn đăng ký), hình thức hợp doanh (10,2% về số dự án và 15,5% về tổng vốn đăng ký). Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, năm 2008 đã có 34 dự án bị rút giấy phép. Các dự án này phần lớn đều kéo dài quá thời gian quy định, không có khả năng thực hiện. Trong các dự án bị giải thể có dự án vốn đầu tư lên đến hàng chục triệu USD, chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, dịch vụ. Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng quản lý Nhà nước với FDI tại Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Khái quát về hoạt động FDI tại Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI tại VN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464