Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu và ý nghĩa của nó tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ba mươi năm qua, đặc biệt là từ sau năm 1986 khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, thay đổi đời sống mọi mặt của người dân: kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt từ khi gia nhập WTO và sau một loạt hiệp định thương mại được ký kết với các quốc gia khác, kinh tế Việt Nam ngày càng có nhiều phát triển to lớn. Sự tham gia của các doanh nghiệp Việt Nam vào các hoạt động thương mại ngày một mạnh mẽ, trong đó xuất khẩu là một hoạt động khá sôi động hiện nay. Trong tình hình nguồn nguyên liệu trong nước chưa thực sự phong phú, đầy đủ, chất lượng chưa cao và phần nào cũng chưa đáp ứng được cho sản xuất phục vụ hàng xuất khẩu thì việc sản xuất hàng xuất khẩu với nguồn nguyên liệu, vật tư đưa từ nước ngoài vào là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này. Mặt khác, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn chưa được trang bị dây chuyền máy móc hiện đại để sản xuất hàng hóa với chất lượng và năng suất cao phục vụ xuất khẩu. Tại các nước phát triển, chi phí sản xuất rất cao (đặc biệt là chi phí nhân công và mặt bằng nhà xưởng) trong khi hàng hóa cần có sức cạnh tranh cao hơn, chủ yếu là cạnh tranh về giá cả và chất lượng. Hoạt động gia công xuất khẩu đã đáp ứng được nhu cầu của cả hai phía doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Do đó, có thể nói hoạt động gia công xuất khẩu là một bộ phận không thể tách rời của hoạt động xuất khẩu của nước ta. Với những lợi thế nhất định tạo thuận lợi cho việc phát triển nền gia công, Việt Nam đang tạo uy tín ngày một lớn với thế giới, trong đó không thể không nhắc đến các mặt hàng gia công chủ lực như: dệt may, gia dày, phần mềm…
Xuất phát từ thực tế đó, người viết đã chọn đề tài: “Hoạt động gia công xuất khẩu và ý nghĩa của nó tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam” cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm nổi bật được thực tế hoạt động gia công xuất khẩu ở Việt Nam trong giai đoạn 2019-2023 trên cơ sở làm rõ các khái niệm, vai trò của gia công đối với nền kinh tế. Đồng thời sẽ đánh giá được những mặt tích cực và tiêu cực mà Việt Nam đang phải đối mặt, qua đó đề xuất những giải pháp và định hướng để nâng cao ý nghĩa của hoạt động gia công ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên khóa luận cần phải làm rõ những vấn đề sau:
- Khái quát chung về hoạt động gia công quốc tế, vai trò và kinh nghiệm của một số quốc gia.
- Nêu bật được thực trạng hoạt động gia công xuất khẩu ở Việt Nam. Trong phần này trình bày về các tiền đề cho sự phát triền, điều kiện sản xuất, cơ cấu các nhóm mặt hàng, tình hình xuất khẩu và đánh giá được những kết quả thu được cũng như những hạn chế đang còn vướng mắc trong các nhóm hàng dệt may, da giày và phần mềm.
- Từ những phân tích trên đề xuất định hướng và những giải pháp để nâng cao nghĩa của hoạt động gia công xuất khẩu trong thời gian sắp tới.
Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu hoạt động gia công xuất khẩu trong giai đoạn 2019-2023.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận đã sử dụng các phương pháp sau: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp khái quát và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp luận giải, phương pháp ứng dụng.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương I: Tổng quan chung về gia công xuất khẩu
Chương II: Thực trạng hoạt động gia công xuất khẩu tại Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao ý nghĩa của hoạt động gia công trong thời gian tới
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ GIA CÔNG XUẤT KHẨU
I. Khái quát chung về gia công xuất khẩu Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
1. Thế nào là gia công và gia công xuất khẩu
1.1. Khái niệm gia công
Hoạt động gia công đã xuất hiện từ lâu đời và trong suốt một thời gian dài, nó đã trở thành một phương thức sản xuất ở nhiều nước. Cũng như các quốc gia khác trên thế giới, hoạt động gia công đã sớm xuất hiện ở Việt Nam nhưng mãi cho đến khi Luật thương mại ra đời thì hoạt động này mới thực sự được coi là một hoạt động kinh tế trong tổng thể nền kinh tế quốc dân.
Điều 178, Luật Thương mại Việt Nam 2019 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN) tại kỳ họp thứ 11 thông qua vào ngày 10/05/1997 quy định: “Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao”. Hoạt động gia công tồn tại trong rất nhiều ngành nghề. Điều 180, Luật Thương mại Việt Nam 2019 quy định: “Tất cả các loại hàng hoá đều có thể được gia công, trừ trường hợp hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh”. Theo đó, bên nhận gia công là bên nhận thực hiện việc gia công để hưởng một khoản tiền gọi là phí gia công còn bên đặt gia công là bên thuê gia công hàng hóa để kinh doanh thương mại.
Từ khái niệm trên có thể thấy rằng, hoạt động gia công xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực, song phương thức này được áp dụng phổ biến và chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp và thủ công nghiệp. Ngay từ khi khoa học công nghệ chưa phát triển, sản xuất phần lớn dựa trên những công cụ thô sơ thì phương thức gia công đã được áp dụng. Phương thức này được áp dụng từ khi thương nhân ra đời. Với nhiệm vụ làm cầu nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng, đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa, thương nhân nắm được tình hình sản xuất cũng như nhu cầu tiêu thụ trên một thị trường nào đó. Bởi vậy để có hàng hóa đem bán trên thị trường, thương nhân cung cấp cho người sản xuất một số máy móc, nguyên vật liệu, thiết bị, thuê họ sản xuất cho mình một loại hàng hóa đó rồi mang tiêu thụ và trả lại cho người sản xuất một khoản thù lao tương ứng với công sức họ bỏ ra.
Nếu xét về góc độ kinh tế xã hội, phương thức tổ chức sản xuất này thực sự đã bộc lộ rất nhiều ưu điểm, đó là: mở rộng quy mô và tập trung hóa được sản xuất mà không cần đầu tư cơ sở mới; tận dụng được tiềm năng của công nghiệp nhẹ, thủ công nghiệp; tận dụng được khả năng lao động và thời gian lao động của mọi lực lượng lao động.
1.2 Khái niệm gia công xuất khẩu Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, sự chật hẹp về thị trường đã thôi thúc quá trình buôn bán trao đổi hàng hóa diễn ra giữa các nước khác nhau trên thế giới. Phân công lao động xã hội đã trở thành phân công lao động quốc tế, và theo đó phương thức gia công quốc tế cũng ra đời. Luật Thương mại 2019 không đề cập lại đến khái niệm gia công xuất khẩu nhưng ở Luật Thương mại 1997 và Nghị định số 57/1998/NĐ – CP ngày 31 tháng 7 năm 1998 có hướng dẫn về khái niệm này.
Theo điều 132, Luật Thương mại 1997 quy định: “Gia công với thương nhân nước ngoài là việc gia công thương mại, theo đó bên đặt gia công, bên nhận gia công là thương nhân có trụ sở chính hoặc nơi cư trú thường xuyên tại các nước khác nhau nhưng phải có một bên là thương nhân hoạt động thương mại tại Việt Nam”.
Trong nghị định số 57/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31 tháng 7 năm 1998 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, gia công và đại lý mua bán với nước ngoài thì “Gia công hàng hóa với thương nhân nước ngoài là việc thương nhân Việt Nam, doanh nghiệp được thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhận gia công hàng hóa tại Việt Nam cho thương nhân nước ngoài hoặc đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài”. Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể đóng vai trò là bên đặt gia công hoặc là bên nhận gia công. Tuy nhiên do điều kiện thực tế ở Việt Nam nên hoạt động thuê thương nhân nước ngoài là rất ít. Gia công quốc tế ở Việt Nam thường được hiểu là thương nhân Việt Nam là bên nhận gia công cho thương nhân nước ngoài và hoạt động này còn được gọi là gia công xuất khẩu.
Gia công xuất khẩu ra đời là hệ quả tất yếu của sự chênh lệch về trình độ kinh tế, về công nghệ, kỹ thuật giữa các quốc gia và một phần là do lợi thế tài nguyên, về nhân công khác nhau ở mỗi nước. Thực tế cho thấy phần lớn các hợp đồng gia công quốc tế được ký kết giữa một doanh nghiệp ở một quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn nhưng lại có nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ với một doanh nghiệp của một quốc gia có nền kinh tế phát triển và trình độ khoa học công nghệ cao. Trong quan hệ gia công cho bên nước ngoài, bên nhận gia công dựa vào cơ sở vật chất, kỹ thuật vào lao động sẵn có để tiến hành gia công, đôi khi bên đặt gia công còn trợ giúp bên nhận gia công về máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất, kỹ thuật viên…
Việc tiến hành phương thức kinh doanh gia công quốc tế thực sự đã mang lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia, trở thành phương thức khá phổ biến trong ngoại thương của nhiều nước. Trong quá trình phát triển theo hướng chuyên môn hóa ngày càng sâu rộng của nền kinh tế thế giới, trên cơ sở phát huy những lợi thế của mỗi quốc gia thì đây là một loại hình kinh doanh rất phù hợp.
2. Phân loại gia công xuất khẩu Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
2.1 Theo quyền sở hữu nguyên vật liệu
Giao nguyên liệu, thu thành phẩm
Đây là hình thức gia công trong đó bên đặt gia công giao toàn bộ nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, bên đặt gia công sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công. Trong trường hợp này, quyền sở hữu nguyên vật liệu vẫn thuộc về bên đặt gia công.
Theo hình thức này, bên nhận gia công có lợi là không phải bỏ tiền mua nguyên vật liệu và nếu biết sử dụng tiết kiệm so với định mức tiêu hao nguyên vật liệu thì còn được hưởng phần dư thừa. Tuy nhiên bên nhận gia công cũng có những bất lợi nhất định. Họ sẽ rơi vào thế thụ động trong sản xuất do phụ thuộc quá nhiều vào bên thuê gia công trong vấn đề chất lượng và tiến độ giao nguyên liệu. Ngoài ra bên nhận gia công thường bị ép giá vì bên giao gia công phải chịu một số rủi ro về tồn đọng vốn trong nguyên liệu, chất lượng nguyên liệu, rủi ro về đảm bảo tiến độ thực hiện hợp đồng. Nhìn chung hiệu quả kinh tế của hình thức gia công này thường thấp đối với cả hai bên và các hợp đồng ký kết theo hình thức này có xu hướng giảm trong các năm gần đây.
Giao nguyên liệu chính, nhận thành phẩm
Bên đặt gia công giao nguyên vật liệu chính còn một số nguồn nguyên vật liệu phụ do bên nhận gia công cung cấp. Ở hình thức này, bên nhận gia công có thể chủ động hơn trong quá trình sản xuất do được quyền tự cung cấp một số nguyên liệu phụ. Hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn do bên gia công có thể tận dụng ngay nguồn nguyên liệu phụ sẵn có trong nước, tiết kiệm được một số chi phí như vận tải, thuế… Hiện nay hầu hết các hợp đồng dệt may và da giày của Việt Nam được ký kết theo hình thức này. Tuy nhiên tỷ lệ cung cấp nguyên vật liệu trong nước còn thấp, chủ yếu là nguyên phụ liệu đơn giản nên giá trị không cao.
Mua đứt, bán đoạn
Theo hình thức này bên đặt gia công bán nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất chế tạo, bên đặt gia công sẽ mua lại thành phẩm. Mua đứt, bán đoạn là hình thức mới nhất của gia công quốc tế. Ở hình thức này, quyền sở hữu nguyên vật liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công nhưng bên đặt gia công vẫn chịu trách nhiệm tiêu thụ sản phẩm. Lợi ích của bên nhận gia công là hoàn toàn chủ động trong việc chuẩn bị nguyên liệu trong sản xuất. Ngoài ra do bên gia công tự bỏ tiền mua nguyên vật liệu nên sẽ không bị ép giá, giá gia công trong trường hợp này cũng cao hơn hai loại trên. Tuy nhiên rủi ro về tồn đọng vốn trong nguyên liệu và rủi ro về chất lượng nguyên liệu đã chuyển sang cho bên nhận gia công.
2.2 Theo cách tính giá gia công
Hợp đồng thực chi thực thanh
Bên nhận gia công thanh toán với bên đặt gia công toàn bộ những chi phí thực tế đã bỏ ra trong quá trình gia công cộng với tiền thù lao gia công.
Hợp đồng khoán
Hai bên xác định một mức giá định mức cho mỗi sản phẩm, bao gồm chi phí định mức và thù lao định mức. Việc thanh toán giữa hai bên chỉ dựa trên giá định mức đó mà không tính tới chi phí thực tế mà bên nhận gia công đã bỏ ra. Mục đích của hình thức gia công này đó là bên đặt gia công khuyến khích bên nhận gia công phải chú trọng vào việc tiết kiệm nguyên vật liệu. Bên nhận gia công cũng phải nắm rõ giá định mức để tránh việc bù lỗ trong quá trình gia công.
2.3 Theo số bên tham gia vào quan hệ gia công – Gia công hai bên Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Chỉ có hai bên gia công là bên đặt gia công và bên nhận gia công. Mối quan hệ giữa bên thuê gia công và bên nhận gia công được xác định trong một hợp đồng gia công.
Gia công chuyển tiếp
Có nhiều bên tham gia vào quan hệ gia công, sản phẩm gia công của hợp đồng gia công này được sử dụng làm nguyên vật liệu cho hợp đồng gia công khác. Nói cách khác, có nhiều bên nhận gia công và thành phẩm của một đơn vị này là bán thành phẩm của một nguyên liệu của một đơn vị khác. Tuy nhiên đối tượng nhận gia công chuyển tiếp vẫn phải do bên đặt gia công chỉ định. Mục đích của bên đặt gia công khi lựa chọn hình thức này là tận dụng tối đa thế mạnh của mỗi quốc gia, giảm chi phí vận chuyển đồng thời vẫn có thể giữ được bí mật công nghệ và độc quyền loại hàng hóa đó (Văn Thành Hòa, 2017).
3. Lịch sử phát triển của hoạt động gia công xuất khẩu ở Việt Nam
Hoạt động gia công xuất khẩu đã xuất hiện ở Việt Nam ngay từ khi nước ta vừa mới bước ra khỏi hai cuộc kháng chiến chống Mỹ và Pháp. Thời kỳ này, nền kinh tế nước ta thực sự rơi vào tình trạng kiệt quệ; cơ sở vật chất kỹ thuật bị tàn phá; trang thiết bị phục vụ cho sản xuất còn lạc hậu, chắp vá, không đồng bộ; trình độ tay nghề của người lao động cũng như quan hệ kinh tế đối ngoại của quốc gia còn hạn chế. Bởi vậy trong suốt một thời gian dài kể từ sau giải phóng cho đến trước khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, hoạt động gia công xuất khẩu ở nước ta tuy đã đạt được một vài kết quả nhưng quy mô và năng lực sản xuất còn hạn chế, thị trường còn hạn hẹp, hiệu quả kinh tế không cao. Hoạt động gia công xuất khẩu của nước ta ở giai đoạn này có một số đặc điểm như:
Về mặt hàng gia công: chủ yếu gia công hàng may mặc, thêu ren, dệt thảm và một số sản phẩm công nghiệp nhẹ như dụng cụ sản xuất cầm tay… Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Về thị trường gia công: bạn hàng chủ yếu của ta trong thời kì này là Liên Xô và các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và một số nước gần chúng ta như Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Nhật Bản…
Về phương thức gia công: nhìn chung thời kỳ này nước ta chủ yếu gia công theo phương thức giao nguyên liệu, thu thành phẩm mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu nguyên vật liệu. Bởi vậy sự phụ thuộc của ta vào bên đặt gia công là rất lớn, thu nhập thực tế cuả nhân công là rất thấp và nếu tiếp tục duy trì hoạt động này sẽ không hiệu quả cho nền kinh tế.
Sau khi thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, nhất là trong xu hướng hội nhập như hiện nay, hoạt động gia công ở nước ta đã thu được nhiều kết quả to lớn, đóng góp một phần không nhỏ trong kim ngạch xuất nhập khẩu. Trong đó không thể không nhắc đến sự đa dạng về phương thức, phong phú về mặt hàng, tăng trưởng về kim ngạch và mở rộng về thị trường. Ở giai đoạn này:
Về mặt hàng gia công: đến thời kỳ này tuy có nhiều cải tiến trong kỹ thuật nên cơ cấu hàng gia công đã thay đổi mở rộng thêm với một số loại mặt hàng như: may mặc, giày dép, thêu ren, túi xách, phần mềm, cơ khí…
Về thị trường gia công: sau sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu, đứng trước thử thách mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã cố gắng duy trì những thị trường truyền thống và không ngừng mở rộng thị trường sang các nước phát triển như: Pháp, Mỹ, Italia, Hà Lan… Trong đó đáng nói nhất là chúng ta đã thâm nhập vào thị trường Mỹ – một thị trường có sức tiêu thụ lớn nhưng nổi tiếng là khó tính và có nhiều rào cản thương mại, chính trị vào loại bậc nhất trên thế giới. Hiện nay, Mỹ là một trong những thị trường tiêu thụ hàng gia công lớn nhất của Việt Nam với những mặt hàng chính là: dệt may, da giày.
Về phương thức gia công: hình thức gia công ở giai đoạn hiện nay đã phong phú lên rất nhiều gồm giao nguyên liệu, thu thành phẩm; giao nguyên liệu chính, thu thành phẩm và gia công mua đứt bán đoạn nếu xét theo hình thức sở hữu nguyên vật liệu. Các doanh nghiệp không chỉ bỏ sức lao động ra để gia công mà còn đầu tư vốn để tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa cho sản phẩm gia công đồng thời tăng thêm thu nhập bằng ngoại tệ. Với cách làm này chúng ta đã có sự chủ động hơn và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế. Một số doanh nghiệp Việt Nam còn tiến hành nhập khẩu nguyên phụ liệu từ một nước thứ ba theo đúng những tiêu chuẩn về mẫu mã, chất lượng mà bên đặt gia công yêu cầu rồi giao sản phẩm cho bên đặt gia công đúng 100% so với các quy định cuả hợp đồng sau khi quá trình gia công hoàn tất. Ngoài ra họ còn sử dụng phương pháp gia công chuyển tiếp, vừa đẩy nhanh được quy trình, vừa rút ngắn được thời gian gia công.
4. Vai trò của gia công xuất khẩu đối với nền kinh tế Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
4.1 Đối với bên đặt gia công
Lợi ích lớn nhất của bên thuê gia công là giảm được chi phí sản xuất do tận dụng được nguồn nhân lực và một phần nguồn nguyên liệu ở nước nhận gia công. Bên đặt gia công tận dụng được chênh lệch về chi phí gia công và một phần nguyên phụ liệu, hạ chi phí đầu vào cho sản xuất, nhờ đó hạ giá thành sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường. Có thể khẳng định nguồn gốc lợi nhuận chủ yếu của các nhà kinh doanh gia công quốc tế chính là phần lao động thặng dư không được trả công của người lao động nước ngoài. Phần lao động thặng dư này đem lại lợi nhuận cao hơn so với cùng một lượng tư bản đầu tư trong nước.
Thứ hai, bên đặt gia công có thể chủ động được nguồn hàng trong hoạt động kinh doanh của mình. Khi có nhu cầu lớn về một mặt hàng, thông thường doanh nghiệp sẽ phải đầu tư để mở rộng sản xuất. Tuy nhiên doanh nghiệp có thể thực hiện được điều này bằng cách thuê nước ngoài gia công nhằm tiết kiệm vốn đầu tư và tăng lợi nhuận. Hơn nữa doanh nghiệp có thể đảm bảo vững chắc lượng đầu ra sản phẩm để đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu thụ.
Thứ ba, bên đặt gia công có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình tại nước nhận gia công. Khi có quan hệ với nước nhận gia công trong hoạt động gia công có nghĩa là doanh nghiệp đặt gia công có điều kiện hiểu thêm về thị trường này. Nếu như nhu cầu tiêu dùng ngay tại nước này được đáp ứng bởi chính hàng hóa gia công thì doanh nghiệp sẽ tăng được thị phần tiêu thụ. Đây là một cơ hội tốt để tăng doanh thu và phát triển thương hiệu sản phẩm.
Thứ tư, tranh thủ tận dụng được những thị trường có mối quan hệ ưu đãi với Việt Nam: quá trình toàn cầu hóa đã hình thành và phát triển nhiều tổ chức liên kết kinh tế Nhà nước. Một trong những vai trò của liên kết kinh tế Nhà nước là giúp các nước tham gia loại bỏ bớt trở ngại ngăn sự phát triển của quá trình buôn bán quốc tế như: thuế quan, thủ tục nhập khẩu và các biện pháp hạn chế mậu dịch khác. Bên cạnh đó, các nguyên tắc điều chỉnh thương mại quốc tế như MFN (Most favoured nation hay còn gọi là “Tối huệ quốc”), GSP (The Generalized Systems Preferential còn gọi là “Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập”), NT (National Treatment hay “Đối xử quốc gia”)… mà các nước đối xử với Việt Nam hiện nay dành cho chúng ta rất nhiều ưu đãi về thuế quan, thị trường… Do vậy, khi lấy Việt Nam làm thị trường gia công, các nước đặt gia công sẽ tận dụng được rất nhiều lợi ích để thâm nhập vào các thị trường khác.
4.2 Đối với bên nhận gia công Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Thứ nhất, tăng thu nhập quốc dân đặc biệt là tăng nguồn thu ngoại tệ: trong bảng báo cáo “Mười mặt hàng xuất khẩu lớn trong giai đoạn 2020 – 2022” của Viện nghiên cứu và quản lý Kinh tế Trung Ương thì các mặt hàng như dệt may, da giày máy vi tính, sản phẩm điện tử (chứa hoạt động gia công phần mềm) là những mặt hàng có ưu thế trong cơ cấu hàng xuất khẩu của nước ta.
Bảng 1: Mười mặt hàng xuất khẩu lớn trong năm giai đoạn 2020 – 2022
Vào năm 2023 mới đây, dệt may và da giày đạt kim ngạch 9,1 tỷ USD và 4,1 tỷ USD tiếp tục là những mặt hàng đi đầu của xuất khẩu Việt Nam. Hiện nay, 3 nhóm hàng này vẫn tồn tại chủ yếu ở dạng gia công (gia công hàng dệt may và da giày chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu, hoạt động xuất khẩu phần mềm thì hầu như chỉ tồn tại ở phương thức gia công) do đó có thể thấy hoạt động gia công xuất khẩu đã tạo nên nguồn thu đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu tại Việt Nam. Qua bảng 1, ta thấy hàng dệt may có sức tăng trưởng mạnh nhất, nổi trội vào năm 2022 với con số 17,5% do đó hàng gia công dệt may nói riêng chiếm tỷ trọng khoảng 13,16% kim ngạch xuất khẩu của năm. Mức tăng của hàng gia dày có chậm hơn nhưng vẫn là một mặt hàng duy trì ở vị trí thứ 3 trong 3 năm liên tục. Riêng với mảng gia công phần mềm, Việt Nam đang được xếp hạng thứ 10 trong biểu đồ các quốc gia xuất khẩu phần mềm trên thế giới và đang cố gắng mục tiêu đạt doanh thu trên 800 triệu USD vào năm 2010 (Thanh Hà, 2021, “Công nghiệp phần mềm và mục tiêu 800 triệu USD”).
Thứ hai, thông qua hoạt động gia công xuất khẩu, hàng triệu việc làm được tạo ra cho người lao động: vào ngày 31/12/2023, Tổng cục Thống kê tổ chức công bố số liệu thống kê kinh tế- xã hội chủ yếu năm 2023 và kết quả điều tra mẫu trong tổng điều tra dân số, kết quả chỉ ra tính đến 0 giờ ngày 1.4.2023, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người. Việt Nam hiện đang ở trong thời kỳ dân số vàng, nhóm dân số trong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc. Cả nước có 43,8 triệu người trong độ tuổi lao động đang làm việc chiếm 51,1% dân số, trong đó thành thị có 11,9 triệu người, nông thôn có 31,9 triệu người, lao động nữ chiếm 56,6% tổng lực lượng lao động (“Tốc độ tăng dân số chậm là thành công lớn của công tác dân số trong 10 năm qua”, 2023, www.nguoidaibieu.com.vn). Vì vậy, cần có chính sách tạo nên một lực lượng lao động vàng, có chất lượng đưa đất nước phát triển. Ba ngành trên tạo ra một khối lượng việc làm không nhỏ cho người lao động, trong đó ngành dệt may là nguồn thu hút lao động chính với khoảng 1,6 triệu công nhân, số nhân công nữ chiếm 80% lao động lĩnh vực này. Ngành da giày và phần mềm thì khiêm tốn hơn, với khoảng 0,6 triệu lao động hoạt động ở ngành da giày và 48.000 người trong ngành phần mềm (con số vào tháng 5/2023). Năm 2010, khi mà nền kinh tế thế giới đã có nhiều phục hồi thì Việt Nam đang mong muốn tạo thêm nhiều việc làm hơn nữa cho người lao động, giảm bớt các vấn đề xã hội mà thất nghiệp gây ra.
Thứ ba, thúc đẩy các cơ sở sản xuất trong nước nhanh chóng thích ứng với đòi hỏi của thị trường thế giới, góp phần cải tiến các quy trình sản xuất trong nước theo kịp trình độ quốc tế: theo thống kê, phần lớn doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình thế giới 2-3 thế hệ. Có 76% máy móc, dây chuyền nhập khẩu là công nghệ đã lạc hậu; 75% số thiết bị đã hết khấu hao; 50% là đồ tân trang. Rất nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang sử dụng máy móc, thiết bị do các doanh nghiệp nước ngoài đã thải, bỏ. Tính chung cho các doanh nghiệp, mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, mức độ trung bình là 38% và mức độ lạc hậu là 52%. Đặc biệt là khu vực sản xuất nhỏ, thiết bị lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 75%. Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ ở mức thấp, chỉ chiếm 0,2% – 0,3% doanh thu so với mức 5% của Ấn Độ hay 10% của Hàn Quốc (Nguyễn Đức Thành, 2022). Tham gia vào hoạt động gia công quốc tế, chúng ta cần phải dần dần cải thiện hệ thống máy móc, trang thiết bị, quy trình sản xuất để đáp ứng tốt nhu cầu cuả đối tác, đồng thời lâu dài sẽ tự mình xuất đi những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam có uy tín trên trường quốc tế. Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Thứ tư, tạo điều kiện thâm nhập thị trường các nước tránh những biện pháp hạn chế nhập khẩu do các nước đề ra: khi tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế, mỗi quốc gia có thể lựa chọn cho mình chính sách mậu dịch tự do hoặc chính sách bảo hộ mậu dịch. Sử dụng chính sách mậu dịch tự do đồng nghĩa với việc Nhà nước không can thiệp vào quá trình điều tiết ngoại thương mà mở cửa hoàn toàn thị trường nội địa. Thực hiện chính sách mậu dịch tự do làm cho nền kinh tế dễ rơi vào hiện tượng khủng hoảng, phát triển mất ổn định, bị lệ thuộc vào tình hình chính trị bên ngoài; những nhà sản xuất kinh doanh trong nước phát triển chưa đủ mạnh thì dễ dàng bị phá sản trước sự tấn công của hàng hóa nước ngoài (Võ Thanh Thu, 2019). Chính bởi những nhược điểm này mà ngày nay trên thế giới ngay cả những nước có nền kinh tế mạnh nhất như Mỹ, Nhật đều không thực hiện chính sách này với tất cả các ngành hàng mà chỉ thực hiện sự tự do mậu dịch trong một số ngành hàng đủ mạnh cạnh tranh được với hàng hóa nước ngoài và cũng chỉ thực hiện trong một thời gian nhất định. Chính sách bảo hộ mậu dịch phổ biến với những biện pháp thuế và phi thuế như: thuế quan, hệ thống thuế nội địa, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các biện pháp kỹ thuật để hạn chế hàng nhập khẩu. Lấy ví dụ với thị trường Mỹ là quốc gia có hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý hàng nhập khẩu rất phức tạp, đặc biệt là cơ chế quản lý hàng dệt may, hàng nông sản thực phẩm. Hàng rào bảo hộ thị trường Mỹ hết sức tinh vi: Mỹ sử dụng luật chống bán phá giá, các rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, nguyên vật liệu để sản xuất nguồn hàng, các biện pháp khiến đối tác phải tự hạn chế xuất khẩu vào Mỹ, áp dụng đạo luật chống bán phá giá. Song, nếu chúng ta chỉ là bên gia công thì không cần phải chú ý nhiều tới những rào cản mà các quốc gia áp đặt tới nước xuất khẩu trực tiếp.
Thứ năm, khắc phục khó khăn do thiếu nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, tranh thủ vốn và kỹ thuật nước ngoài: mặc dù dệt may và da giày là những ngành mang lại nguồn thu lớn cho Việt Nam nhưng chúng ta mới chỉ xuất khẩu sản phẩm đi với tư cách gia công. Lý do chính nằm ở vấn đề thiếu nguyên liệu và các điều kiện sản xuất cơ sở hạ tầng non kém. Theo giới kinh doanh da giày, 3 loại nguyên liệu chủ yếu để sản xuất da giày là chất liệu da và giả da, đế, các nguyên liệu phụ trợ như keo dán, chỉ khâu, cúc, nhãn hiệu, gót… thì đến 70-80% là nhập khẩu từ các nước châu Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc… Riêng đế giày, khâu nguyên phụ liệu được các doanh nghiệp Việt Nam chủ động tốt nhất, cũng chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu sản xuất của ngành nói chung. Chất liệu giả da, đặc biệt được sử dụng nhiều cho giày thể thao, mặc dù chiếm tỷ trọng xuất khẩu gần bằng 50% giá trị da giày xuất khẩu nói chung, cũng sử dụng đến 80% nguyên liệu nhập ngoại. Ngành công nghiệp da giày ở Việt Nam đang dựa chủ yếu vào các hợp đồng thầu phụ với các nhà sản xuất hàng đầu thế giới như Nike, Adidas, Reebok (Phan Anh, 2022, “Da giày vẫn vướng ở khâu nguyên phụ liệu”)… Việt Nam đang được các hãng này cung cấp mẫu mã, nguyên vật liệu và có khi cả máy móc. Trong lĩnh vực dệt may, tình trạng nhập khẩu nguyên vật liệu bông, sợi, vải, tơ tằm vào khoảng 70%. Việt Nam đang phải nhập khẩu nguyên liệu dệt may từ Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia. Hàng dệt may đa phần được làm theo các hợp đồng thầu phụ cho các hãng nước ngoài, trong đó các hãng này thường cung cấp nguyên liệu, mẫu mã trong khi Việt Nam đảm nhận các khâu cắt, ghép, đăng ten. Đôi khi các hãng này cung cấp cho chúng ta cả trang thiết bị. Bởi vậy, tuy giá trị gia tăng tạo ra cho nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào lực lượng lao động và hàm lượng nhập khẩu trong sản phẩm cuối cùng lên tới 80% nhưng nhờ quá trình gia công xuất khẩu (GCXK), chúng ta phần nào học hỏi được kinh nghiệm sản xuất và tham gia vào quá trình thương mại quốc tế trong khi điều kiện trong nước chưa cho phép việc tự mình sản xuất các sản phẩm thương hiệu Việt Nam.
II. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và Ấn Độ Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Hiện nay, hoạt động gia công mang lại một nguồn thu đáng kể trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên trong thời gian về lâu về dài, chúng ta cần thu hẹp lại phạm vi của hoạt động gia công, tự mình khẳng định tên tuổi và thương hiệu riêng trên thị trường thế giới. Việc học hỏi kinh nghiệm từ những nước vừa thu hút được nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư chọn làm thị trường gia công lại vừa tự xuất khẩu được khối lượng lớn những mặt hàng của chính quốc gia mình là một điều quan trọng. Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia như thế. Khóa luận sẽ tập trung trên 3 mặt hàng chính cũng là những mặt hàng gia công có thế mạnh của Việt Nam, gồm có: dệt may, da giày và phần mềm.
1. Hàng dệt may
1.1 Dệt may Trung Quốc
Trung Quốc hiện là cường quốc dệt may lớn nhất trên thế giới, xuất khẩu luôn chiếm vị trí quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc. Theo số liệu của Bộ ngoại thương Trung Quốc, năm 2023 trong tổng 1201,7 tỷ USD xuất khẩu, xuất khẩu dệt may chiếm 163 tỷ USD, tương đương 13,6%. Xuất khẩu hàng dệt và may của Trung Quốc tăng vọt từ 2,3 tỷ USD từ năm 1978 lên 61,86 tỷ USD năm 2002, đặc biệt từ 2002 sau khi Trung Quốc gia nhập WTO thì sự phát triển của dệt may nước này không thể cản nổi. Sau khi hiệp định về hàng dệt may ATC (Agreement on Textile and Clothing) chấm dứt từ 1/1/2019 xuất khẩu Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh hơn bao giờ hết (Nguyễn Hoàng, 2023).
Công nghiệp dệt may là một trong những ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh nhất của Trung Quốc, chiếm vị trí chi phối trên thị trường hàng dệt may toàn cầu. Với khoảng 100.000 doanh nghiệp tham gia sản xuất hàng dệt may, Trung Quốc được đánh giá là một trong những nước có quy mô dệt may lớn nhất thế giới, có mạng lưới sản xuất nguyên liệu thô, có mạng lưới sản xuất nguyên liệu cho ngành may cũng như mạng lưới marketing lớn và rộng khắp thế giới. Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Thế mạnh nổi bật của Trung Quốc là chủ động về nguồn nguyên liệu, Trung Quốc có thể sản xuất khối lượng bông lớn và khối lượng sợi được sản xuất trung bình hàng năm là 24 triệu tấn, chiếm 1/3 sản lượng thế giới, các nhà máy của Trung Quốc có thể đáp ứng những đơn hàng với khối lượng lớn và trong khoảng thời gian tương đối ngắn. Với nguồn nguyên liệu dồi dào Trung Quốc không chỉ đáp ứng nhu cầu phần lớn nguyên liệu dệt may trong nước mà còn trở thành quốc gia cung ứng nguyên liệu lớn cho công nghiệp dệt may thế giới.
Lực lượng lao động Trung Quốc rất dồi dào trong ngành dệt may, đội ngũ nhân viên kỹ thuật giỏi, lực lượng lao động chính quy và có khả năng tận dụng trang thiết bị, máy móc tạo ra những sản phẩm mới chất lượng cao. Vì vậy Trung Quốc có lợi thế cạnh tranh vượt trội về chi phí sản xuất.
Một số bài học của Trung Quốc để phát triển ngành dệt may:
- Lựa chọn đúng chiến lược phát triển cho thị trường: bài học thành công của Trung Quốc và Ấn Độ đều cho thấy họ xác định xuất khẩu hàng dệt may là một trong những định hướng tập trung của chiến lược xuất khẩu hàng hóa vì phù hợp với trình độ phát triển của một nước đang phát triển. Do định hướng chiến lược đúng đắn, Trung Quốc ngày càng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu đối với hàng dệt may. Trong marketing và phân phối sản phẩm, các nhà kinh doanh Trung Quốc nổi tiếng là những nhà phân phối tốt có khả năng đáp ứng bất cứ yêu cầu nào của khách hàng từ những lô hàng lớn đến những lô hàng nhỏ với yêu cầu cá biệt trong thời gian ngắn do họ nắm bắt và biết được khách hàng muốn gì ở sản phẩm của mình.
- Hỗ trợ của Chính phủ: tận dụng những ưu thế sẵn có, nắm bắt những cơ hội sau khi gia nhập WTO, Chính phủ Trung Quốc đã và đang xây dựng những nhà máy dệt có quy mô lớn để tăng cường năng lực sản xuất cho ngành dệt may nước này. Bên cạnh đó, chính phủ Trung Quốc cũng tiến hành nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước này như: khuyến khích các doanh nghiệp phát triển và có nhãn hiệu riêng, tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển thông qua các biện pháp xúc tiến thương mại và tăng tính cạnh tranh; các cơ quan của chính phủ Trung Quốc thường xuyên thông báo các tin tức về việc phát triển đầu tư trong ngành công nghiệp dệt may, đưa ra những cảnh báo về mức độ rủi ro đối với các doanh nghiệp, tránh đầu tư quá mức và lặp lại nhiều lần trong lĩnh vực này.
- Đa dạng hóa sản phẩm, mẫu mã: Trung Quốc có đội ngũ các nhà thiết kế thời trang khá chuyên nghiệp, đồng thời cũng có những trung tâm thời trang phát triển như ở Thượng Hải, Hồng Kông, Bắc Kinh luôn cung cấp những mẫu thời trang mới nhất cho các nhà thiết kế nhằm biến những ý tưởng, những thị hiếu của khách hàng thành hiện thực.
1.2 Dệt may Ấn Độ Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu kinh tế, Ấn Độ là nước hưởng lợi thứ hai sau Trung Quốc khi hạn ngạch được xóa bỏ theo ATC. Tuy nhiên bước đột phá diễn ra sau khi chính phủ Ấn Độ đẩy mạnh quá trình cải cách và các nhà sản xuất trong nước tăng cường nâng cao sức cạnh tranh cho mình. Thời điểm WTO gỡ bỏ hạn ngạch mở ra nhiều vận hội mới cho ngành dệt may Ấn Độ, Ấn Độ đã đưa ra nhiều chiến lược như kết hợp nông nghiệp với dệt may, đảm bảo nguồn cung bông cho sản xuất chỉ và công nghiệp dệt đầy đủ, tránh tình trạng bông dao động mà ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm dệt may. Trong giai đoạn 2000-2023, Ấn Độ đầu tư gần 1,2 tỷ USD hiện đại hóa những nhà máy do bị xuống cấp, 2 tỷ khác cũng được rót vào mua máy móc hiện đại, phục vụ cho dây chuyền sản xuất và hệ thống quản lý chất lượng, nhằm đạt được tiêu chuẩn quốc tế. Hiện nay 70% nhà xưởng của Ấn Độ hiện đại hơn các cơ sở sản xuất của Trung Quốc hay Parkistan. Các doanh nghiệp may mặc Ấn Độ hiện đang có nhiều lợi thế trong cuộc chiến cạnh tranh dành thị phần: chi phí lao động thấp, giàu nguồn nguyên liệu thô… Ấn Độ là nước sản xuất bông lớn thứ ba thế giới, ngành dệt trong nước có sức cạnh tranh, đội ngũ các nhà thiết kế chuyên nghiệp (Nguyễn Hoàng, 2023).
Một số kinh nghiệm của Ấn Độ:
- Lợi thế so sánh về nhân công: Ấn Độ phát huy lợi thế chi phí nhân công rẻ nên gia tăng xuất khẩu những sản phẩm may mặc có giá thành hạ để có thể cạnh tranh với các sản phẩm của các đối thủ. Nhiều nhà bán buôn bán lẻ tìm đến Ấn Độ do họ không muốn phụ thuộc vào Trung Quốc.
- Tăng cường xuất khẩu những sản phẩm có chất lượng cao: Ấn Độ có ưu thế hơn Trung Quốc trên thị trường cao cấp. Họ có thể cung cấp những lô hàng có số lượng ít may mặc và đồ dùng gia đình như ga giường, khăn tắm, thảm, mền chăn có màu sắc, cách dệt và thêu theo yêu cầu của khách hàng.
- Phát triển lợi thế cạnh tranh trong ngành công nghiệp phụ trợ, nhất là ngành dệt vải: Ấn Độ hiện là nước sản xuất chỉ lớn nhất thế giới, chiếm 25% thị phần thế giới đồng thời cũng là nhà sản xuất sợi cotton hàng đầu. Với lực lượng lao động dồi dào, Ấn Độ hiện là nuớc có lợi thế cạnh tranh hơn Trung Quốc đối với hai mặt hàng là vải bông xù, vải bông chéo. Công nghiệp dệt Ấn Độ đã hoàn thiện cả về nghệ thuật và khoa học để sản xuất các sản phẩm dệt đẹp mắt; ngành công nghiệp dệt tự cung được nguồn nguyên liệu thô, và có tính hội nhập cao; hệ thống sản xuất những lô hàng nhỏ đa dạng có thể cạnh tranh trong nhu cầu thay đổi thời trang trong thời gian ngắn, và có thể cung cấp những lô hàng khối lượng nhỏ và lớn; các sản phẩm có chất lượng cao tinh tế, trung cấp và thứ cấp cho người tiêu dùng. Hàng năm Ấn Độ xuất khẩu được các sản phẩm dệt tới 176 nước trên thế giới.
2. Gia công phần mềm Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Trong bản báo cáo: Top 50 quốc gia hấp dẫn nhất về gia công phần mềm 2023 do tập đoàn A.T. Kearney – Tập đoàn tư vấn hàng đầu thế giới của Hoa Kỳ công bố thì Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực gia công phần mềm. Lĩnh vực này hiện đã chuyển thế mạnh sang cho các nước thuộc Đông Nam Á và châu Á thay vì ở châu Âu như trước đây.
2.1 Gia công phần mềm Ấn Độ
Nhắc tới công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và gia công phần mềm (GCPM) nói riêng thì không thể không nhắc đến Ấn Độ. Công nghệ thông tin là một trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế Ấn Độ.
Quốc gia này có lịch sử hơn 20 năm trong lĩnh vực GCPM, hiện chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khối lượng phần mềm được gia công trên toàn cầu. Doanh thu từ GCPM của Ấn Độ tăng 5,5% và đạt 49,7 tỷ USD trong năm tài chính của nước này đã kết thúc vào ngày 31/3/2010 (“Ấn Độ đạt 50 tỷ USD từ gia công”, 2023, www.quantrimang.com.vn). Ấn Độ là một quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực này với một loạt các lợi thế như sự phát triển về công nghệ, chất lượng dịch vụ, khả năng thích ứng tốt và thời gian cung cấp tới người sử dụng nhanh. Nguồn lao động công nghệ thông tin dồi dào, giá rẻ, trình độ cao, thành thạo tiếng Anh đã thu hút giới đầu tư nước ngoài. Những công ty hàng đầu cuả Mỹ và châu Âu như Boeing, Daimler Chrysler, Dupont, General Electric, Intel, IBM… đã xây dựng hàng loạt các trung tâm nghiên cứu phát triển R&D ở quốc gia này, biến Ấn Độ là một trong những trung tâm R&D lớn nhất thế giới. Đặc biệt, Bangalore được mệnh danh là “Thung lũng Silicon thứ hai” với sự có mặt của hơn 200 công ty đa quốc gia. Trung tâm công nghệ đóng góp 36% tổng sản lượng công nghiệp phần mềm của Ấn Độ (“Ấn Độ đạt 50 tỷ USD từ gia công”, 2023, www.quantrimang.com.vn). Hiện tại có hơn 100 nước nhập khẩu các phần mềm của Ấn Độ. Những thành công này phải kể đến sự đóng góp của các yếu tố sau:
- Tầm nhìn chiến lược rõ ràng: Chính phủ Ấn Độ xác định rằng tầm quan trọng của CNTT không chỉ nằm ở lợi nhuận do xuất khẩu phần mềm mang lại mà còn nằm ở việc tác động của nó đến việc tăng năng suất. Do đó, cần có những mục tiêu ngắn và dài hạn. Trong ngắn hạn là việc thu hút đầu tư nước ngoài vào CNTT và thương mại hóa sản phẩm. Ấn Độ tránh nghiên cứu theo phong trào mà nghiên cứu có lựa chọn và tập trung vào những gì hiệu quả, nghĩa là nghiên cứu một lần nhưng ứng dụng nhiều chỗ. Mục tiêu lâu dài của Ấn Độ là xây dựng nền công nghiệp và cuộc sống tin học hóa. Bộ CNTT xây dựng một cơ sở dữ liệu về các sản phẩm CNTT hiện tại và khả năng ứng dụng của chúng vào nhiều ngành khác nhau. Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
- Hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động gia công phần mềm: chính vì sớm xác định được mục tiêu cho mình cho nên ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng của nền kinh tế Ấn Độ vào các năm 1991 và 2000 nhưng ngành phần mềm Ấn Độ vẫn tăng trưởng ở mức 25%/năm. Chính phủ hỗ trợ 3/5 quỹ R&D cho các doanh nghiệp; bắt buộc một số công ty lớn phải bỏ ra ít nhất 2% doanh thu để đầu tư cho CNTT nếu không sẽ bị thu hồi giấy phép (Carl Dahnman and Anuja Utz, 2022). Đáng nhắc đến là việc Ấn Độ bãi bỏ luật chuyển giao công nghệ (MRTP 1969) bấy lâu kìm hãm các công ty nước ngoài chuyển giao kiến thức cho Ấn Độ và vào năm 1986 nước này bãi bỏ mọi yêu cầu phải đăng ký hay phê duyệt hợp đồng chuyển giao công nghệ đối với 27 ngành công nghiệp ưu tiên trong đó có công nghệ phần mềm. Chính phủ đã cải thiện hệ thống pháp luật, xóa bỏ các rào cản CNTT, bắt buộc doanh nghiệp trong nước mua sản phẩm CNTT do các công ty Ấn Độ sản xuất, đào tạo nhân lực. Đầu thập kỷ 80, khi công nghiệp phần mềm bắt đầu phát triển, chính phủ nhận thấy ngay đây là cơ hội để nắm bắt công nghệ của mình và áp dụng mọi biện pháp để thúc đẩy ngành công nghiệp này. Đó là: bãi bỏ các giấy phép liên quan đến công nghiệp phần mềm; cho phép nhập khẩu miễn thuế các sản phẩm phục vụ ngành công nghiệp này. Sau đó, chính phủ kích cầu thị trường công nghiệp phần mềm trong nước. Cuối cùng, khi doanh nghiệp phần mềm trong nước chứng tỏ được khả năng của mình, tự họ sẽ tiếp thị và gia công phần mềm cho nước ngoài.
- Đào tạo nguồn nhân lực: ngay từ những năm 1940 Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ đã xây dựng hệ thống gồm 6 học viện công nghệ quốc gia trên toàn quốc với trang thiết bị hiện đai. Bên cạnh đó, Ấn Độ còn có hệ thống đào tạo với mạng lưới 1200 trường đại học và cao đẳng kỹ thuật. Mỗi năm trung bình Ấn Độ có 80.000 kỹ sư ra trường đáp ứng tốt nhu cầu về phần mềm cho nước ngoài (“Ấn Độ đạt 50 tỷ USD từ gia công”, 2010, quantrimang.com.vn). Đến nay Ấn Độ có lực lượng lao động trong ngành CNTT đông đảo, có trình độ học vấn cao, tiếng Anh thành thạo. Hiện nay, tại Ấn Độ có khoảng 250000 sinh viên đang theo học các trường NITT. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo chuyên gia máy tính hiện nay của Ấn Độ như Aptech và SSI đang tích cực cập nhập kỹ thuật mới để tạo ra những kỹ sư, chuyên gia có trình độ tốt hơn nữa. Nguồn nhân lực quan trọng nữa chính là 20 triệu Ấn kiều sống ở nước ngoài. Những năm gần đây, Ấn Độ bắt đầu đánh giá lại mối quan hệ với những đồng bào ở nước ngoài khi quốc gia này tập trung phát triển công nghệ cao. Nhiều người Ấn ở nước ngoài cũng trở về quê đem theo công nghệ cao của các nước phát triển, chính họ đã châm ngòi cho sự bùng nổ thông tin cho Ấn Độ. Năm 1999, Ấn Độ ban hành quy chế “quasi-citizenship” theo đó các Ấn kiều được hưởng quyền lợi như công dân trong nước. Theo quy định này, các Ấn kiều có quyền ra vào Ấn Độ mà không cần thị thực, hoặc được sở hữu quyền nhà đất tại Ấn Độ và được hưởng các chính sách đầu tư chỉ dành riêng cho Ấn kiều. Chính quyền New Delhi còn lập ra Bộ các vấn đề Ấn kiều để thường xuyên xử lý những thắc mắc của họ hay thành lập các thành phố dành riêng cho Ấn kiều có cơ sở hạ tầng và dịch vụ hiện đại khắp đất nước. Nhờ có các chính sách đó, Ấn Độ đã thu hút đội ngũ đông đảo lực lượng chuyên gia trí thức cho sự phát triển của nước này.
- Chú trọng đến việc xây dựng các quy trình quản lý chất lượng, xây dựng thương hiệu phần mềm có uy tín và chất lượng: ngay từ rất sớm, các công ty của Ấn Độ đã ý thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các quy trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, vì vậy mà nhiều doanh nghiệp sản xuất phần mềm của Ấn Độ hiện nay đều có những chứng chỉ về quy trình quản lý chất lượng như CMM, ISO. Ấn Độ đã xây dựng một thương hiệu mạnh và vượt trội mang tên
“Sự phục vụ từ Ấn Độ” (Service from India). Mục đích của việc xây dựng thương hiệu là nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu trong lĩnh vực dịch vụ nói chung, phần mềm nói riêng.
2.2 Gia công phần mềm Trung Quốc Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Trong những năm gần đây, Trung Quốc luôn được các nhà phân tích xếp sau Ấn Độ trong lĩnh vực GCPM. Ngành công nghiệp phần mềm của Trung Quốc chỉ thực sự phát triển khi kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-2019) ra đời, thể hiện một chiến lược rất rõ ràng của Chính phủ cho ngành phần mềm, đó là chính sách ưu tiên phát triển ngành phần mềm với kỳ vọng có thể cạnh tranh được với thành công của Ấn Độ. Theo một báo cáo Tập đoàn dữ liệu IDC, doanh thu của thị trường GCPM của Trung Quốc tăng gấp năm lần trong 5 năm qua. Năm 2020, thị trường gia công của Trung Quốc tiếp tục phát triển nhanh, đạt giá trị 1,4 tỷ USD, tăng 48 % so với cùng kỳ năm trước; mức tăng trưởng doanh thu từ GCPM của Trung Quốc bình quân là 38 %/năm suốt 5 năm từ 2002-2020. Mặc dù 2022 là một năm biến động của kinh tế thế giới do ảnh hưởng của cuộc suy thoái toàn cầu nhưng doanh thu từ GCPM của Trung Quốc vẫn tăng trưởng 39% so với năm 2021, đạt 14,2 tỷ USD. Năm 2023 mức tăng trưởng không cao bằng năm trước đó, nhưng con số 18,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu cũng thực sự rất ấn tượng (Anh Tuấn, 2010, “Kinh nghiệm gia công phần mềm của Trung Quốc”). Các thành phố được đánh giá có hoạt động gia công phần mềm phát triển tại Trung Quốc gồm có Thượng Hải, Bắc Kinh, Thâm Quyến, Đại Liên và Tuyền Châu. Bên cạnh các nhà cung cấp dịch vụ toàn cầu như Accenture, ACS, EDS, AT&T, Wipro, Infosys… còn có các nhà cung cấp dịch vụ địa phương như Augmentum, Bleum, Dextrys và Neusoft gần đây cũng được biết đến như các công ty cung cấp dịch vụ trên phạm vi toàn cầu. Ngoài giá lao động rẻ, các yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng ngành GCPM ở Trung Quốc là sự thông thoáng của các quy định và thủ tục, sự đầu tư lớn vào giáo dục công nghệ, tiến bộ trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hệ thống tiêu chuẩn CNTT cốt lõi, và sự bùng nổ của nền kinh tế Trung Quốc. Tuy có những bước tăng trưởng đầy ấn tượng, Trung Quốc vẫn không ngừng củng cố năng lực của lực lượng lao động, nhất là về khả năng Anh ngữ, kỹ năng quản lý dự án và kinh nghiệm cạnh tranh với Ấn Độ trên thị trường toàn cầu. Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Một số bài học kinh nghiệm của Trung Quốc nhằm phát triển lĩnh vực GCPM:
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: theo xu hướng chung của thế giới trong những năm qua, một loạt những hoạt động, chính sách của Trung Quốc được đề ra để phát triển ngành công nghiệp phần mềm nói riêng và GCPM, trong đó nổi bật là việc xây dựng hàng loạt các thành phố trở thành những khu công nghiệp phần mềm. Chính phủ sử dụng vốn trong nước và huy động vốn nước ngoài đầu tư hệ thống trang thiết bị, các khu công viên phần mềm và mạng lưới giao thông cho các thành phố này. Tính đến năm 2023, Bộ Thông tin công nghiệp đã ghi nhận các thành phố bao gồm Bắc Kinh, Thượng Hải, Đại Liên, Thành Đô, Tây An, Tế Nam, Hàng Châu, Trường Sa, Nam Kinh và Zhuhai là những thành phố công nghiệp phần mềm đạt tiêu chuẩn quốc tế. 6 thành phố gồm Thượng Hải, Bắc Kinh, Thâm Quyến, Đại Liên, Quảng Châu và Thành Đô lọt vào danh sách 50 thành phố dẫn đầu trên thế giới về GCPM. Trung Quốc hiện có một số khu công viên phần mềm lớn nằm ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Hồng Kông. Đặc biệt công viên công nghệ và khoa học Zhonguancun tại Bắc Kinh được ví như thung lũng Silicon của Trung Quốc và như là sân sau của IBM hay Microsoft. Sự chuyên môn hóa cho các thành phố này đã làm tăng uy tín cho GCPM Trung Quốc và quốc gia này hiện là quốc gia có nhiều thành phố dẫn đầu về GCPM hơn cả. Hiện nay, Trung Quốc sở hữu mạng lưới viễn thông lớn nhất trên thế giới về cả mặt : năng lực mạng lưới và số người đăng ký thuê bao. Sự hội tụ của băng thông rộng mạng lưới viễn thông, mạng lưới truyền hình kỹ thuật số, mạng Internet, mạng 3G tạo nhiều cơ hội cho sự phát triển ngành GCPM của nước này. Chỉ riêng mạng Internet, các chuyên gia ước tính sẽ đạt 33% nhu cầu của toàn thế giới vào năm 2012, đồng thời thị trường truyền hình di động được dự báo tăng trưởng trên 33% đạt mức 3 tỷ NDT vào cuối năm 2011 (Anh Tuấn, 2010, “Kinh nghiệm gia công phần mềm của Trung Quốc”).
- Chính sách quản lý đúng đắn: kế hoạch 5 năm lần thứ 10 của Trung Quốc giai đoạn 2001-2019 đã khởi đầu cho sự phát triển của công nghiệp phần mềm khi được Chính phủ ưu tiên là một trong những ngành kinh tế trọng điểm. Trung Quốc đã dỡ bỏ thuế quan để phát triển phần mềm, cho phép doanh nghiệp phần mềm tiếp cận với nguồn vốn vay lãi suất thấp và chính sách thoáng hơn trong việc cho phép đưa lao động ra nước ngoài. Nước này cũng có hệ thống hạ tầng viễn thông lớn mạnh và một hệ thống giáo dục phù hợp có thể cung cấp nguồn lao động trong ngành với chi phí hợp lý. Cụ thể, từ năm 2019 tất cả 251 loại thuế liên quan đến các sản phẩm CNTT đều được giảm xuống mức 0%, điều này cho phép các dịch vụ GCPM được cung cấp sẽ có mức giá cạnh tranh hơn (Savio S. Chan, 2023). Trung Quốc là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tình trạng phạm bản quyền cho nên dưới sức ép ngày một gia tăng của thế giới, vào ngày 23/12/2018 tòa án cao nhất của Trung Quốc đã chính thức sửa đổi luật về quyền sở hữu trí tuệ hiện tại của Trung Quốc bằng việc thông qua những quy định về việc xử lý nghiêm khắc những đối tượng vi phạm. Theo đó, Trung Quốc đã tăng mức phạt tù từ 3 đến 7 năm. Những hành vi liên quan đến việc phát tán các sản phẩm bị vi phạm bản quyền hay những sản phẩm liên quan phần mềm lậu qua mạng sẽ bị nghiêm khắc trừng trị.
- Đào tạo nguồn nhân lực: ngay từ đầu, Trung Quốc đã lấy con người làm trung tâm cho sự phát triển của ngành CNTT nói chung và ngành GCPM nói riêng cho nên từ những năm 1986 quốc gia này đã bắt đầu đổi mới thể chế, chính sách trong đó nổi bật là kế hoạch “863”. Nội dung cơ bản của kế hoạch này là phân bố khoảng 5 tỷ NDT để nắm bắt, theo kịp công nghệ cao trên thế giới, đào tạo một thế hệ mới các nhà nghiên cứu để phát triển Trung Quốc. Chính phủ đã có nhiều giải pháp tích cực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trung Quốc chủ trương tăng cường sự liên kết giữa trường học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp phần mềm mà không làm thay đổi quyền sở hữu. Hằng năm trích một lượng lớn ngân sách cho các cán bộ, sinh viên, học sinh ra nước ngoài đào tạo. Với những Hoa kiều ở nước ngoài, Trung Quốc đề ra chiến lược “rùa biển” kêu gọi những người dân đang sống và làm việc tại nước ngoài về cống hiến phục vụ Tổ quốc với những ưu đãi hấp dẫn dành cho bản thân và gia đình họ. Chính phủ liên kết với các tập đoàn phần mềm nổi tiếng đào tạo các kỹ sư phần mềm. IBM ký kết thỏa thuận đào tạo cho Trung Quốc 100.000 kỹ sư trong giai đoạn 2021-2010. Tập đoàn Microsoft thì chi tới 750 triệu USD để xây dựng một trung tâm công nghệ nhằm tìm ra các kỹ sư phần cứng và phần mềm giỏi (Savio S. Chan, 2023).
3. Hàng da giày Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
3.1 Da giày Trung Quốc
Trung Quốc hiện là quốc gia xuất khẩu giày lớn nhất thế giới với sản lượng hàng năm lên tới con số hơn 10 tỷ đôi, chiếm hơn 70% sản lượng giày trên toàn thế giới. Trung Quốc hiện đang chiếm lĩnh thị phần thống trị tại các thị trường lớn như 83,5% tại Mỹ, 64% tại EU. Không chỉ là nhà sản xuất, nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới mà vào năm 2022, Trung Quốc đã vượt mặt Mỹ trở thành quốc gia tiêu thụ giày dép lớn nhất trên thế giới với mức ước tính là mỗi người dân nước này chỉ tiêu dùng trung bình 2 đôi/người/năm. Adidas và Nike là hai hãng nước ngoài có sản phẩm được ưa chuộng nhất tại Trung Quốc và tất nhiên hai hãng này không thể bỏ qua cơ hội lấy Trung Quốc vừa là nơi tiêu thụ, vừa là thị trường gia công cho hãng. Về mặt hàng dày thể thao, Nike chiếm 15,2% thị phần ở Trung Quốc, Adidas 13,6% đã vượt qua cả những tên tuổi nội địa khác của Trung Quốc như Lining (9,5%), Anta (6,9%), Kappa (4,2%) hay Xtep (3,9%). Ngành công nghiệp giày dép nước này chủ yếu tập trung ở tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Thiên Tân và Zijiang trong đó lớn nhất là tỉnh Quảng Đông với hơn 1200 nhà máy (Nhiều tác giả, 2023, “Footwear industry in China”). Sở dĩ nơi đây tập trung nhiều nhà máy như vậy là do khu vực này tập trung nguồn nguyên liệu sẵn có và ngành công nghiệp phụ trợ phát triển. Kinh tế Quảng Châu (thủ phủ của Quảng Đông) đứng thứ 3 cả nước, sau Thượng Hải và Bắc Kinh, là một thành phố công nghiệp có tính tổng hợp, thông thương đối ngoại, có cảng buôn bán với nước ngoài. Thế mạnh của Trung Quốc nằm ở yếu tố nguồn lao động rẻ, nắm bắt nhanh yếu tố khoa học công nghệ; sản phẩm hợp thời trang, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng và chủ động được nguồn nguyên liệu.
Một số kinh nghiệm của da giày Trung Quốc đó là:
- Chiến lược phù hợp cho sản phẩm: nhắc đến sản phẩm Trung Quốc người ta không thể không nhắc đến sự phong phú, đa dạng về mẫu mã kiểu dáng. Các thiết kế của Trung Quốc chinh phục được bất cứ tầng lớp khách hàng nào. Trung Quốc có nhiều trung tâm thiết kế riêng đặt tại các thành phố lớn như Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Đông… Các doanh nghiệp Trung Quốc xác định được vị trí của những thương hiệu mạnh từ Italia, Đức, Mỹ… trên thị trường vốn đã có từ lâu đời nên các sản phẩm của Trung Quốc không nhằm vào đối tượng người có thu nhập cao và ưa thích dùng hàng hiệu. Thay vào đó, họ hướng tới nhóm khách hàng có thu nhập ở mức trung bình. Sự lựa chọn khôn ngoan này làm cho da giày Trung Quốc có thể len lỏi vào bất cứ nơi nào trên thế giới vì đại bộ phận dân cư vẫn là những người có thu nhập trung bình và dưới trung bình.
- Đầu tư, phát triển nguồn nguyên liệu: nguồn nguyên liệu dồi dào của Trung Quốc không những đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước mà còn dư thừa để xuất khẩu sang các nước khác trong đó Việt Nam chính là một thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu của nước này. Các đầu vào của ngành da giày gồm có da và các thiết bị giả da, đế, các nguyên liệu phụ trợ như keo dán, chỉ khâu, cúc, nhãn hiệu, gót trong đó quan trọng nhất là chất liệu da. Chính phủ xác định được tầm quan trọng của ngành da thuộc được sử dụng để sản xuất giày dép, quần áo, túi xách và nhiều vật dụng khác phục vụ đời sống con người cho nên từ lâu chế biến da là ngành kinh tế cơ bản với lịch sử lâu đời như các ngành dệt may và thực phẩm của Trung Quốc. Ngành da có liên quan chặt chẽ với ngành chăn nuôi, đồng thời là một ngành chế biến tái chế quan trọng. Trung Quốc tạo điều kiện cho các nhà máy liên kết với hoạt động chăn nuôi ở các hợp tác xã. Chính phủ dành nhiều ưu đãi về vốn, tín dụng cho chủ trang trại để họ có cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhờ vậy, hoạt động chăn nuôi – sản xuất nguyên liệu luôn được đảm bảo nguồn cung, diễn ra một cách liên tục. Hiện ngành da thuộc của Trung Quốc cung cấp việc làm cho 5 triệu người mỗi năm, đó là chưa kể 11 triệu việc làm ở các ngành có liên quan, và có thể tạo thêm 500.000 việc làm mới mỗi năm cho các khu vực nông thôn. Ngoài ra, ngành da thuộc có thể tạo thêm thu nhập ngoại tệ 39 tỷ USD mỗi năm cho Trung Quốc, đứng đầu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ.
3.2 Da giày Ấn Độ Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
Từ những năm 2000 đổ lại, Ấn Độ mới bắt đầu có vị trí trên thị trường ngành da giày. Song vào năm 2023 mới đây, Ấn Độ đã là nhà xuất khẩu da giày lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Trung Quốc. Hàng năm quốc gia này sản xuất được 2,2 tỷ đôi giày, chiếm 16% khối lượng sản xuất toàn thế giới. Khách hàng chính của Ấn Độ gồm có: EU (63%), Mỹ (12%), Hồng Kông (10%), Úc (1,5%) và các quốc gia còn lại (13,5%) (Nhiều tác giả, 2023, “Indian Footwear Industry Overview”). Công nghiệp da thuộc là nòng cốt cho sự phát triển của da giày Ấn Độ. Không chỉ là quốc gia xuất khẩu các sản phẩm từ da nổi tiếng, Ấn Độ còn được biết đến là thị trường gia công cho các thương hiệu danh tiếng trên thế giới như Florsheim, Nunn Bush, Stacy Adams, Gabor, Clarks, Nike, Reebok, Ecco, St Michaels. Ngoài ra, các chuỗi cửa hàng bán lẻ toàn cầu muốn tìm kiếm cho mình những sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hợp lý thì không thể bỏ qua Ấn Độ. Ngành công nghiệp của nước này tạo được chỗ đứng trên thị trường bởi vì nắm bắt nhanh nhạy những xu thế, tiêu chuẩn và đòi hỏi của khách hàng trên thị trường thế giới. Điểm khác biệt khác của Ấn Độ là tạo ra nhiều sản phẩm cho nam giới trong khi các nhà sản xuất khác chủ yếu nhằm vào đối tượng nữ giới. Về nguồn nguyên liệu, Ân Độ đáp ứng được 90% nhu cầu sản xuất và chỉ phải nhập khẩu 10% (Nhiều tác giả, 2023, “Indian Footwear Industry Overview”). Ấn Độ sử dụng sáng tạo các chất liệu giả da như cao su, nhựa, PVC…trong các sản phẩm sandals cho tiêu dùng nội địa. Thị trường nội địa của Ấn Độ cũng rất dồi dào khi mà mức sống và thói quen tiêu dùng của người Ấn Độ đã có nhiều thay đổi. Đi lên từ hình thức lao động thủ công, cho đến nay ngành da giày của Ấn Độ đã phát triển hiện đại hơn rất nhiều lần. Phần lớn các nhà máy da giày của Ấn Độ đã đạt tiêu chuẩn ISO 9000, ISO 14000 hoặc chứng chỉ SA 8000. Các trang thiết bị của Ấn Độ được trang bị thêm bộ phận kiểm tra hàm lượng các loại nguyên liệu đến từ các quốc gia tiên tiến như Anh, Đức…
Từ những giới thiệu cơ bản về ngành da giày của Ấn Độ, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau:
- Đầu tư đúng hướng cho phát triển nguồn nguyên liệu: Chính phủ đã sớm nhận ra được thế mạnh của quốc gia với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào nên đã xây dựng nhiều cơ sở sản xuất nguyên liệu có chất lượng, đặc biệt là các nhà máy sản xuất da thuộc lớn như Welts, Heels, Boxes, Insoles. Các nhà máy hỗ trợ được xây dựng lân cận các nhà máy sản xuất chính tạo thuận lợi trong việc luân chuyển nguyên phụ liệu. Mới đây, khu công viên da thuộc nằm trong khu kinh tế đặc biệt ở Chennai đã đi vào hoạt động, cung cấp cho 25 dây chuyền sản xuất của các nhà máy với công suất 250.000 đôi mỗi ngày.
- Hệ thống cơ sở vật chất hiện đại: hàng năm trung bình các nhà sản xuất ở Ấn Độ trích ra 5% doanh thu để cải tiến máy móc thiết bị (trong khi ở Việt Nam hiện nay chỉ là 0,2-0,3%). Bên cạnh đó, Chính phủ Ấn còn dành nhiều sự quan tâm cho ngành công nghiệp da giày ở Ấn Độ thông qua việc hỗ trợ, kêu gọi đầu tư cho ngành. Đáng kể có chương trình “Chính phủ – Tư nhân – Hội công ty” (Public – Private – Partnership) để kêu gọi đầu tư nước ngoài. Nhờ sự quan tâm đúng mực cho hệ thống cơ sở vật chất mà các sản phẩm da giày của nước này đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế và chinh phục được những thị trường khó tính như EU, Hồng Kông, Australia…
- Theo kịp xu thế thời trang của thế giới: các nhà xuất khẩu của Ấn Độ đều có những trung tâm sản xuất thời trang riêng. Các trung tâm thiết kế ở Ấn Độ như: viện nghiên cứu da giày, viện phát triển thiết kế da giày, trung tâm thiết kế quốc gia thường xuyên hỗ trợ cho các trung tâm riêng của doanh nghiệp cho nên sản phẩm của Ấn Độ không những có chất lượng tốt mà còn rất bắt mắt, theo kịp xu thế thời trang trên thế giới. Hằng năm, ủy ban xuất khẩu da giày của Ấn Độ khuyến khích các nhà thiết kế trẻ gia nhập vào vào đội ngũ hùng hậu này qua các cuộc thi và vinh danh họ với những phần thưởng xứng đáng. Điểm đặc biệt khác của sản phẩm da giày Ấn Độ là tập trung vào phân đoạn thị trường nam giới với 60% trong tổng số sản phẩm làm ra dành cho nam giới, 31% nữ giới và 9% cho trẻ em ( Nhiều tác giả, 2023, “Indian Footwear Industry Overview”). Chính điều này đã tạo nên một vị trí riêng cho các sản phẩm da giày Ấn Độ khi mà đại đa số các thương hiệu từ nhỏ tới lớn trên thế giới đều hướng tới nhóm khách hàng là nữ giới. Khóa luận: Hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Khái quát về hàng gia công xuất khẩu ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
