Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Tình hình vi phạm quyền lợi NTD ở Việt Nam

1.1. Thực trạng vấn đề vi phạm quyền lợi NTD ở Việt Nam

Hiện nay ở nước ta, tình trạng quyền lợi của NTD bị xâm hại nghiêm trọng ngày càng trở nên phổ biến và trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng được đông đảo quần chúng quan tâm.

1.1.1. Sự xuất hiện ngày càng nhiều các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh gây ảnh hưởng đến quyền lợi NTD

Các hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đã xuất hiện và gây ảnh hưởng không nhỏ tới NTD. Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp ngày càng tinh vi hơn, có phạm vi ảnh hưởng lớn hơn.

1.1.1.1. Vấn đề độc quyền Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Việt Nam, việc đưa nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường đã diễn ra từ hơn 20 năm nay. Thế nhưng, cho đến giờ sự độc quyền thời bao cấp trong một số lĩnh vực như kinh doanh điện, nước, xăng dầu… vẫn còn khá đậm nét. Trong khi đó, luật Cạnh tranh, vẫn chưa phát huy được tác dụng trong việc chống độc quyền. Mặc dù, Luật Cạnh tranh đã quy định các hành vi gây hạn chế cạnh tranh bị cấm như: thoả thuận ấn định giá, phân chia thị trường lạm dụng vị thế độc quyền, vị trí thống lĩnh thị trường (chiếm trên 30% thị phần)… để áp đặt giá mua, bán hàng hóa hay dịch vụ một cách bất hợp lý… nhưng trên thực tế, năm 2008 đã liên tiếp xảy ra các vụ việc khá điển hình về các vi phạm trên như vụ Hiệp hội Thép Việt Nam ra nghị quyết ấn định giá bán (13,7- 14 triệu đồng/tấn thép), vụ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thống nhất nâng mức phí bảo hiểm lên 3,95%/năm cho tất cả các đối tượng khách hàng… (Vietluat.vn ngày 8/03/2009)

Vấn đề độc quyền đối với mặt hàng xăng dầu

Hiện đang có 11 đơn vị đầu mối tham gia kinh doanh xăng dầu nhưng hơn 60% khối lượng phân phối lại nằm trong tay Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex). Do vậy, việc tăng hay giảm giá xăng dầu là tùy thuộc vào họ sau khi có quyết định cho phép các đơn vị kinh doanh xăng dầu được chủ động về giá bán từ ngày 15/12/2009. Từ đó đến nay, mới hơn hai tháng mà giá xăng dầu đã tăng đến bốn lần và hiện đứng ở mức 16.990 đồng/lít trong khi ở Mỹ tính ra chỉ có 15.300 đồng/lít (tính theo tỷ giá trên thị trường tự do). Điều này đã làm cho NTD không khỏi lo lắng và do đó quyền lợi của NTD cũng không thể được bảo đảm Thesaigontimes.vn ngày 12/03/2010) Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Việc giá xăng dầu tăng nhanh và chậm giảm đã gây cho NTD những khoản chi phí không đáng có. Khi giá dầu thô trên thế giới tăng cao thì giá xăng trong nước cũng nhảy vọt nhưng khi giá dầu thô đã giảm mạnh, thậm chí thấp hơn mức trước khi cơn sốt dầu thì giá xăng ở Việt Nam vẫn cứ ở mức cao chót vót và chỉ giảm nhỏ giọt. Phải sau rất nhiều lần giảm giá, NTD mới được mua xăng với mức giá trước khi tăng. Tuy nhiên ngay cả với mức giá này thì NTD Việt Nam vẫn chịu thiệt thòi không nhỏ bởi lẽ mức giá này được cho là quá cao so với giá dầu thô đầu vào. Có thể nhận thấy được sự bất hợp lý của giá xăng trong nước sau cơn sốt dầu thông qua biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ 1: Giá xăng và dầu thô ở Việt Nam từ 11/2007 đến 11/2008

Mặt hàng điện

Ngành điện là một trong những ngành công nghiệp quan trọng, và là một ngành công nghiệp mũi nhọn ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, vào những năm gần đây, ngành điện trong nước, cụ thể là Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) đã dần dà biểu hiện những bê bối của mình trong vấn đề sản xuất kinh doanh, phân phối cũng như điều hành. Cụ thể là vụ bê bối điện kế điện tử vào năm 2004-2005 gây ra nhiều tổn thất lớn cho NTD, rồi đến vụ tăng giá điện vào đầu tháng 1/2007 trong khi tình trạng cắt điện xảy ra liên tục trên diện rộng.

Bộ Công Thương và Cục Quản lý giá của Bộ Tài chính vừa qua đã đề xuất các mức tăng giá điện. Theo đó, Bộ Công Thương đề nghị tăng 4,9%, còn Bộ Tài chính đưa ra hai mức là 6,8% và 10,7%. Mỗi phương án sẽ có những tác động khác nhau đến nền kinh tế. Theo xác nhận của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào với báo chí, Chính phủ đã phê duyệt mức tăng giá điện bình quân từ 1-3-2010 là 6,8%. Giá điện tăng có thể sẽ làm ảnh hưởng tới các sản phẩm hàng hóa khác, cụ thể:

Bảng 1: Mức độ tăng giá sản xuất một số sản phẩm theo mức tăng giá điện

Ta có thể thấy, việc tăng giá điện có ảnh hưởng lớn đến giá tiêu dùng và qua đó ảnh hưởng tới chi tiêu của hộ gia đình và sinh hoạt của người dân. Trong khi đó việc NTD điện Việt Nam phải phụ thuộc vào hoạt động cung cấp điện và áp đặt giá của các tổ chức cung cấp điện này. Việc độc quyền điện là một vấn đề cấp bách, nó không chỉ hạn chế năng suất cung cấp điện của các nhà máy mà còn gây ra nhiều vấn đề tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày của NTD.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

1.1.1.2. Tình trạng liên kết làm giá

Ngoài những thiệt hại do tình tạng độc quyền, NTD còn phải chịu các khoản chi phí bất hợp lý do các doanh nghiệp liên kết làm giá. Gắn liền với giá xăng dầu, giá cước vận tải lẽ ra phải bám sát diễn biến giá xăng dầu.Theo quy luật, khi giá xăng tăng lên thì cước vận tải tăng và khi giá xăng giảm thì cước vận tải cũng phải giảm xuống. Tuy nhiên sau khi giá xăng ở nước ta đã giảm xuống mức trước khi sốt dầu, thì giá cước vận tải vẫn được các nhà cung cấp dịch vụ này giữ nguyên. Sau đó, do sức ép của dư luận và NTD, các hãng này mới chịu giảm mức cước vận chuyển. Tuy nhiên, mức giảm này cũng không hề tương ứng với mức giảm giá xăng. Vào thời điểm xăng 19.000đ/lít, mức giá mà các hãng taxi áp dụng khoảng 12.500đ/km. Thời điểm giá xăng đã xuống 11.000đ/lít, giá taxi chỉ giảm xuống 10.000đ/km, giá xe khách cũng giảm nhẹ, thậm chí vẫn giữ nguyên đối với một số tuyến. Có thể các hãng này không có một văn bản hợp tác chính thức nào, nhưng việc tất cả đồng loạt giữ mức cước bất chấp sự giảm mạnh của giá xăng dầu đã đẩy NTD vào thế khó, và thể hiện sự thiếu quan tâm đến quyền và lợi ích của NTD. Theo Luật Cạnh tranh, những doanh nghiệp tham gia liên minh làm giá này sẽ bị phạt tối đa 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi.

1.1.1.3. Vấn đề bán hàng đa cấp Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Gần đây dư luận xã hội hết sức bất bình với hành vi bán hàng đa cấp bất chính của một số công ty. Các công ty này đã lợi dụng sự cả tin của NTD để kiếm lời một cách bất hợp pháp. Những hành vi như vậy không chỉ gây thiệt hại kinh tế cho những người bị lừa gạt mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình xã hội nói chung. Bởi lẽ những NTD là nạn nhân của phương thức kinh doanh đa cấp bất chính này chủ yếu là những người có thu nhập thấp, trình độ hiểu biết còn hạn chế và sống ở khu vực nông thôn.

Theo VINASTAS, hiện nay tình trạng bán hàng trực tiếp (mang hàng tiếp thị tại nơi ở, nơi làm việc của NTD) đang có xu hướng gia tăng. Hệ thống bán hàng đa cấp ở nước ta chủ yếu sử dụng phương thức này để bán các loại hàng gia dụng như dầu gội đầu, máy sấy tóc, máy sinh tố, thực phẩm chức năng, máy mát xa, điện tử… Phương thức bán hàng trực tiếp đã làm cho NTD rơi vào tình thế “bị tấn công”, làm họ trở nên bị động. Trong nhiều trường hợp, do ở thế bị động và thiếu thông tin mà NTD đã phải mua các sản phẩm với giá rất đắt, thậm chí bị lừa dối. Hiện nay Bộ Luật Dân sự coi hợp đồng bán hàng trực tiếp này cũng giống như hợp đồng bán hàng, bán tài sản khác. Xét từ góc độ quyền được thông tin và quyền được lựa chọn hàng hóa của NTD, quy định như trên của Pháp luật nước ta chưa thật sự đảm bảo các quyền năng này của NTD.

1.1.1.4. Vấn đề đầu cơ găm hàng, nói thách, nâng giá tùy tiện.

NTD còn mất tiền vô lý bởi những hành vi đầu cơ găm hàng của một số tổ chức sản xuất kinh doanh. Cơn sốt gạo ảo trong thời gian cả thế giới có nguy cơ thiếu lương thực đã làm cho NTD điêu đứng. Giá gạo tăng vọt từng ngày nhưng không phản ánh trung thực quan hệ cung cầu mà do các đại lý gạo găm hàng lại, tạo nên sự thiếu hụt giả tạo trên thị trường. Cơn sốt gạo ảo tuy kéo dài chưa đầy một tuần nhưng thiệt hại của NTD không hề nhỏ, trong khi đó các đại lý gạo lại thu bội tiền.

Bên cạnh đó, các trường hợp nói thách nâng giá hàng hóa tùy tiện cũng rất phổ biến. Cùng một sản phẩm nhưng mỗi nơi bán hàng với một mức giá khác nhau và tùy hứng của người bán. Sự tăng giá của các sản phẩm sữa ngoại trước cả khi thuế thực sự tăng là một ví dụ cho sự tùy tiện trong việc định giá hàng hóa ở Việt Nam. Trong khi thuế nhập khẩu sữa bột còn chưa tăng thì tại các cửa hàng đã tăng giá sữa. Đồng thời khi giá sữa bột các loại trên thị trường Châu Âu, Úc đã giảm 100USD/tấn so với thời điểm đầu năm 2009 và giảm khoảng 50% so với năm 2008. Thậm chí, sữa bột nguyên kem xuất khẩu tại thị trường Châu Âu đã giảm đến 200USD/tấn. Bên cạnh đó, thuế nhập khẩu sữa đã giảm từ cuối năm 2007. Thế nhưng trên thị trường Việt Nam, trong năm 2008, mặt hàng sữa bột nhất là sữa bột ngoại nhập đã có đến 2 lần điều chỉnh tăng giá với mức tăng 15% đến 30%. (Lao Động số 49 ngày 06/03/2009)

1.1.2. Vấn đề an toàn khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

1.1.2.1. Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm

Khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ, NTD luôn đứng trước nguy cơ sử dụng hàng hóa, dịch vụ thiếu độ an toàn. Đối với hàng hóa, có thể kể đến việc thiếu an toàn của thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm… Đã có không ít những trường hợp bị ngộ độc thực phẩm do sử dụng các loại thực phẩm kém chất lượng. Nếu như năm 2008 rộ lên việc sử dụng một số hóa chất độc hại trong chế biến thực phẩm như Melamine, 3-MCPD… thì năm 2009 tình trạng này gần như không còn nhưng lại xuất hiện nhiều vụ vi phạm nóng về an toàn vệ sinh thực phẩm dưới nhiều hình thức đa dạng hơn.

Thứ nhất, đã phát hiện ngày càng nhiều các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm không đảm bảo điều kiện vệ sinh, nhiều lò chế biến lòng, mỡ, bì bẩn; dùng hóa chất tẩy trắng bì lợn…; nhiều loại nước tinh khiết bị nhiễm bẩn… Theo thông tin từ Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Bộ Y tế, năm 2008, lực lượng chức năng đã phát hiện trên 16% cơ sở sản xuất chế biến kinh doanh thực phẩm vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Qua đợt kiểm tra từ ngày 19/01/2010 cho thấy, vi phạm chủ yếu ở các cơ sở sản xuất là chưa bảo đảm ATVSTP, trang thiết bị chưa đáp ứng, nguồn gốc nguyên liệu không rõ ràng… (Anninhthudo.vn ngày 14/04/2009) Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Theo quy định thì các cơ sở chế biến kinh doanh thực phẩm phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP thì mới được hoạt động. Tuy nhiên trên thực tế, chất lượng thực phẩm của phần lớn các cơ sở này không được kiểm soát. Báo cáo của ngành y tế tại hội nghị ATVSTP lần thứ 2 vào ngày 9/04/2008 cho thấy số cơ sở được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện ATVSTP mới chỉ đạt khoảng 10%, 90% còn lại chất lượng thực phẩm thả nổi không kiểm soát. Hơn thế nữa chưa chắc những cơ sở được cấp giấy chứng nhận ATVSTP là đủ tiêu chuẩn về ATVSTP. Điển hình nhất là vụ việc tại cơ sở sản xuất mứt Như Ý, quận Bình Tân với hàng trăm thùng nguyên liệu sản xuất mứt như đu đủ, chùm ruột, cóc, lê… đã bị hư hỏng nghiêm trọng, chứa đầy dòi và trứng ấu trùng. Ngạc nhiên hơn cả là cơ sở này đã hoạt động từ năm 2001 và được cấp giấy chứng nhận ATVSTP từ năm 2008, có nghĩa là suốt 8 năm trời, sản phẩm mứt của cơ sở này được đưa ra thị trường tiêu thụ mà NTD không thể biết thực hư về chất lượng của những sản phẩm đó.

Thứ hai, tình hình sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân có nhiều vấn đề đáng lo ngại. NTD không khỏi lo ngại trước thực trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm chứa các chất nguy hiểm, các chất phụ gia. Nhiều doanh nghiệp chế biến thực phẩm đã sử dụng một số phụ gia không có trong danh mục của Bộ Y tế hoặc sử dụng sai quy trình như cháo dinh dưỡng sử dụng Natri Benzoat; hạt dưa dùng phẩm chứa Rhodamin B để nhuộm màu… Các chất phụ gia độc hại, không rõ nguồn gốc được sử dụng bừa bãi cũng đe dọa an toàn và sẽ khỏe của NTD. Các chất như hàn the, phoocmon, chất bảo quản thực phẩm từ lâu đã được cảnh báo là gây hại đến sức khỏe của người sử dụng thực phẩm nhưng cho đến hiện tại, các chất phụ gia nguy hiểm này vẫn tiếp tục được sử dụng.

Việc kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm ôi, thiu, ô nhiễm trở nên phổ biến. Đặc biệt nóng trong năm 2009 là tình trạng nhập khẩu phụ phẩm thịt không đảm bảo an toàn, buôn bán nội tạng động vật không rõ nguồn gốc qua biên giới đã gia tăng gấp 3 lần so với năm 2008.

Rau củ quả là loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn nhưng chất lượng của các loại rau củ ngày càng khiến NTD phải lo lắng. Thuốc bảo vệ thực vật tìm thấy dư lượng trong các loại rau ăn lá và ăn quả chiếm đến 70% số mẫu. Về chăn nuôi, chúng ta chưa kiểm soát được chăn nuôi ở các hộ gia đình, chưa kiểm soát được thức ăn chăn nuôi, thuốc tăng trọng và giết mổ gia súc, gia cầm. Theo thông tin của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, có 64,5% các cơ sở nằm trong khu dân cư, 35,5% nằm trong các chợ, trong đó mới chỉ có 67,7% các cơ sở giết mổ tập trung gia súc được kiểm soát thú y và 27% các cơ sở giết mổ gia cầm được kiểm soát thú y. Các cơ sở giết mổ chỉ có 45% thực hiện được vệ sinh tiêu độc, vì thế tỷ lệ số mẫu ô nhiễm vi sinh vật còn chiếm tới 57%. (Nhân dân, 23/5/2007 – Sức khỏe và môi trường, số 11,2007)

Tóm lại, trong khi các cơ quan quản lý đang loay hoay tìm ra một biện pháp quản lý hữu hiệu hơn thì ngày ngày, NTD vẫn phải rùng mình trước những thông tin về thực phẩm ô nhiễm, thực phẩm bẩn và tác hại của chúng đến sức khỏe của NTD. Những vụ việc rau nhiễm kim loại nặng, nước tương chứa chất gây ung thư, sữa chứa melanin, phở chứa hoocmon, giò chả chứa hàn the… liên tục được phát hiện và thông tin trên các phương tiện truyền thông thực sự cho thấy tình trạng báo động về ATVSTP ở nước ta hiện nay. Sức khỏe và cả tính mạng của NTD đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi các loại thực phẩm độc hại mà học đang phải nhắm mắt lựa chọn và sử dụng.

1.1.2.2. Vấn đề hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Tình trạng quyền sở hữu trí tuệ không được bảo hộ ở Việt Nam là một nguyên nhân đang gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Hàng giả, không còn nghi ngờ gì nữa, đang trở thành một quốc nạn, len lỏi vào mọi ngõ ngách trong cuộc sống NTD Việt Nam. Hàng giả giờ không chỉ là những mặt hàng thô sơ, bắt chước vụng về mà đã có cả những mặt hàng cao cấp, thiết yếu trong cuộc sống, ảnh hưởng đến an toàn, sức khỏe của người dân.

Bất cứ hàng hóa nào cũng có thể bị làm nhái, làm giả, song chủ yếu tập trung vào các thương hiệu nổi tiếng của nước ngoài như Adidas, Goliath, Amarni, Levis, Luis Vuitton… Theo thống kê của Ban chỉ đạo 127, năm 2009, các lực lượng chức năng của thành phố Hà Nội đã phát hiện và bắt giữ 350.000 vụ việc, trong đó có nhiều vụ là hàng nhái, hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ…(baomoi.com)

Theo thống kê của Ban chỉ đạo 127/TW, tỷ lệ hàng giả tại thị trường hiện chiếm 8% đối với các loại dược phẩm và 25% đối với các loại rượu. Hàng giả, hàng nhái phổ biến ở nhiều mặt hàng, từ những mặt hàng thông thường, những mặt hàng liên quan đến sức khỏe và tính mạng con người đến những mặt hàng có tính kỹ thuật, mặt hàng cao cấp có giá trị lớn như phụ tùng xe máy, đầu VCD, DVD…Thống kê sơ bộ về hàng giả bị bắt giữ trong gần 5 năm qua (đến năm 2007) được công bố đã khiến nhiều người giật mình: 8 tấn bột ngọt; 85.000 tấn xi măng; 25 tấn mỹ phẩm; 35 triệu cơ số tân dược; 25.450 chai rượu các loại; 50.000 chai bia, nước giải khát; 50.000 tấn sắt, thép xây dựng; 15.000 tấn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. (VnEconomy.vn ngày 12/09/2007). Cụ thể:

Thực phẩm, đồ uống

Tình trạng sản xuất, kinh doanh thực phẩm, đồ uống giả, kém chất lượng vẫn ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp cả về quy mô, lĩnh vực lẫn phương thức sản xuất, tổ chức tiêu thụ và nhập khẩu từ bên ngoài. Đặc biệt, thời gian gần đây, lợi dụng biến động về cung cầu, giá cả hàng hóa trong nước và thế giới, thị trường trong nước đã xuất hiện nhiều loại nước tinh khiết, nước khoáng thiên nhiên, nước khoáng có ga, bia, rượu giả, kém chất lượng, nhái mẫu mã, kiểu dáng và một số mặt hàng công nghiệp thực phẩm không an toàn vệ sinh. Các loại hàng giả, hàng kém chất lượng nói trên đã và đang gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất, an ninh lương thực, sức khỏe nhân dân và môi sinh, môi trường. Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Ví dụ điển hình là đối với sản phẩm rượu, hiện nay, vẫn có nhiều thương hiệu bị làm giả (như Chivas, Johnnie Walker, Henessy, một số loại rượu bổ, rượu rắn Trung Hoa…) được đưa vào nước ta bất hợp pháp qua biên giới, vùng biển, cửa khẩu hay qua gian lận thương mại. Có thể nói, biên giới và các cửa khẩu là nguồn nhập lậu lớn, ước tính chiếm khoảng 60 – 70% rượu nhập lậu trên toàn quốc. Đối với gian lận thương mại, rượu được làm giả ở trong lẫn ngoài nước (đặc biệt là các thương hiệu có tiếng) bỏ lẫn vào các loại hàng hóa khác mà không khai báo hải quan hoặc được đưa về theo đường hàng không (thông qua tiêu chuẩn hành lý miễn thuế của chiễu đãi viên hàng không và tổ bay). Ngoài ra, rượu dân tự nấu, rượu làng nghề hiện nay vẫn chiếm khoảng 70 – 80% lượng rượu lưu thông trên thị trường, nhưng chất lượng của nhiều cơ sở không đảm bảo, gây nhiều hậu quả tiêu cực cho người tiêu dùng và môi trường, nhà nước thất thu thuế.

Đối với mặt hàng nước uống (có ga, không ga), nước tinh khiết, nước khoáng thiên nhiên, bia lon, bia, chai…, các sản phẩm này luôn là thực phẩm thiết yếu. Nếu NTD mất cảnh giác thì cũng rất dễ mua phải hàng giả, hàng nhái hay kém chất lượng. Các sản phẩm hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng thường có nhãn hiệu, bao bì na ná giống các thương hiệu nổi tiếng. Đặc biệt, đối với bia hơi hiện nay, tình hình bia cỏ vẫn tồn tại ở nhiều nơi. Việc pha trộn, làm nhái, làm giả tăng mạnh. Thậm chí, các mô hình kinh doanh hiệu quả cũng bị nhái y hệt…(Biahoihanoi.com.vn)

Quần áo, dày dép

Đối với những mặt hàng như quần áo, giầy dép hay túi xách, mấu chốt của tính cạnh tranh nằm ở kiểu dáng thiết kế, việc bị làm nhái mẫu mã là vấn đề ảnh hưởng đến sự sống còn của những hãng sản xuất các mặt hàng này.

Trong khi chúng ta đang nỗ lực khuyến khích người Việt dùng hàng Việt thì trên thị trường tình trạng hàng Việt Nam đang bị làm nhái một cách nghiêm trọng. Một trong những trường hợp nhái thương hiệu, vàng thau lẫn lộn được phản ánh nhiều trong thời gian qua đó chính là tình trạng loạn cửa hàng “Made in Vietnam”. Trên thực tế thì thương hiệu “Made in Vietnam “ là một chuỗi 14 cửa hàng của thương hiệu Vietbrothers cho ra đời từ năm 2003 và đã đăng ký bản quyền từ năm 2008. Chuỗi cửa hàng này chuyên bán hàng thời trang Việt Nam xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ. Chất lượng tốt, mẫu mã đẹp nên những cửa hàng này đã tạo dựng được uy tín đối với khách hàng. Tuy nhiên, sau khi thấy thương hiệu “Made in Vietnam” có vẻ làm ăn được, hàng loạt cửa hàng tư nhân khác cũng đồng loạt treo biển “Made in Vietnam” để lừa khách hàng. Không chỉ bán quần áo, mà nhiều cửa hàng còn bán thêm đủ loại hàng hóa khác. Hàng có nhãn, đứng cạnh hàng không nguồn gốc. Chất lượng không ai kiểm soát, giá cả tùy mặt khách hàng để nói thách, nâng giá.

Sản phẩm cao cấp

Trên thực tế, các sản phẩm càng bán chạy, càng cao cấp thì càng dễ bị làm giả làm nhái. Những hàng nhái sản phẩm cao cấp mà NTD có thể dễ dàng nhìn thấy là điện thoại, đầu kỹ thuật số, hàng điện tử… Nhiều trường hợp các cơ quan chức năng đã phát hiện các cửa hàng bán xe tay ga nhái các thương hiệu nổi tiếng. Mẫu mã, logo, màu sắc y thật nhưng giá thì lại… siêu rẻ. Một chiếc xe tay ga nhãn hiệu sang trọng này chỉ có giá hơn 10 triệu đồng, thế nên sự xuất hiện của nó đã khiến không ít khách hàng choáng ngợp. Một chiếc đầu DVD có xuất xứ từ Trung Quốc cũng mang nhãn hiệu “Pioneer” (một thương hiệu đồ điện tử nổi tiếng trên thế giới) chỉ có giá từ 200.000 – 300.000đ trong khi giá của sản phẩm chính hãng trên có giá cao gấp nhiều lần.

Không chỉ thế, ở Sài Gòn Chợ lớn, các sản phẩm ti vi, đầu VCD, DVD còn được sản xuất theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, và sau khi hoàn thành các sản phẩm này lại được gắn những nhãn hiệu nổi tiếng như Sony, Toshiba, JVC… Do đó, người mua hàng có thể yêu cầu các cửa hàng gắn vào tivi bất kỳ nhãn hiệu nào mà mình ưa thích. Ở khu chợ này còn có nhiều cửa hàng sản xuất hàng loạt tivi dạng này để bỏ mối cho các tiệm bán đồ điện tử nhỏ khắp Sài Gòn và chuyển về tỉnh…

Những sản phẩm cao cấp giả mạo đã len lỏi đến những gian hàng sang trọng tại các trung tâm thương mại. Một số trường hợp cụ thể như 6 quầy kinh doanh đồng hồ tại Lucky plaza (quận 1 TP.HCM) bị phát hiện bày bán 151 chiếc giả mạo nhãn hiệu các sản phẩm nổi tiếng như Longines, Chanel, Rado… hay như tại siêu thị Big C An Đông cũng phát hiện được 127 chiếc đồng hồ giả hiệu Q&Q, CK, Omega, Seiko, Senko, Rado…

Mỹ phẩm và dược phẩm

Theo Chi Cục Quản Lý Thị Trường Sài Gòn, mỹ phẩm giả hiện nay có xuất xứ từ Trung Quốc và tại một số hộ gia đình ở Sài Gòn với mẫu mã chẳng khác gì hàng hiệu chính gốc. Các loại mặt hàng giả này có mặt tràn lan ở các chợ lớn như Tân Ðịnh, Bến Thành, Bà Chiểu, thậm chí nó còn len lỏi vào một vài cửa hàng mỹ phẩm lớn với giá rẻ hơn 20%-30%. (Baomoi.com.vn)

Trong thời gian gần đây, trên thị trường nở rộ các cửa hàng mỹ phẩm sang trọng, với biển quảng cáo hàng chính hiệu của các hãng mỹ phẩm nổi tiếng như Loreal, Lancome, Maybeline… giảm giá tới 45-52% và rất nhiều người đã mua phải hàng giả. Những người bán vẫn giải thích với NTD đó là hàng của công ty được nhập từ Pháp về và đang có chương trình bán hàng tồn kho nên giảm giá lớn. Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Thuốc giả ở Việt Nam được làm chủ yếu bằng hai cách. Một là đóng bột mì, và dùng bao bì giống hệt như bao bì của chính hãng, nên không có tác dụng điều trị. Cách thứ hai là thuốc có dược chất nhưng ở liều thấp hơn so với quy định nên tác dụng điều trị thấp hoặc gần như không có tác dụng. Theo Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh, các loại thuốc giả bị phát hiện chủ yếu là các loại kháng sinh như Ampicilline, Amoxicillin, vân vân và các loại thuốc điều trị loạn cương như Viagra hay Cialis…Thông thường thuốc của các hãng tân dược nổi tiếng trên thế giới hay bị làm giả nhiều nhất vì có giá trị cao nên mang lại lợi nhuận lớn.

Nguyên nhân hiện tượng hàng giả, hàng nhái

Nguyên nhân cơ bản vẫn là do những khoản lợi nhuận kếch sù mà hành vi kinh doanh hàng giả, hàng nhái đem lại. Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, những kẻ sản xuất kinh doanh hàng nhái, hàng giả áp dụng những công nghệ cao, hiện đại để lừa bịp khách hàng. Sau khi Việt Nam là thành viên của WTO thì các rào cản thương mại được dỡ bỏ. Vì vậy, chủng loại và số lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường nước ta rất phong phú, bao gồm hàng hóa của tất cả các nước thành viên WTO và hàng nội địa… Đây là môi trường lý tưởng cho nạn sản xuất kinh doanh hàng nhái, hàng giả có điều kiện hoành hành. Nhiều chuyên gia ví đây như là môi trường từ trong trứng, nó cứ lớn dần và chờ ngày nảy nở.

Nguyên nhân khách quan thứ hai góp phần gia tăng vấn nạn này là nước ta có đường biên giới và địa hình quá phức tạp, số lượng, chủng loại hàng giả, hàng nhái sản xuất tại nước ngoài được nhập trái phép vào Việt Nam qua nhiều kênh khác nhau, rất khó kiểm soát.

Một nguyên nhân nữa là nhận thức của cộng đồng về sở hữu trí tuệ chưa cao, người tiêu dùng Việt Nam chưa có ý thức đấu tranh chống hàng giả, hàng nhái, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Mặt khác, cả người tiêu dùng và doanh nghiệp còn ngại va chạm và tiếp xúc với các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Biểu đồ 2: 10 quốc gia bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ kém nhất thế giới

Việt Nam được xếp hạng đứng thứ 6 trong 10 quốc gia có tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nhiều nhất. Xảy ra tình trạng này là vì ý thức của người dân trong vấn đề sở hữu trí tuệ còn chưa cao. Trong nhiều trường hợp khi các cơ quan thực thi phát hiện các vụ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và thông báo cho chủ sở hữu biết thì không nhận được sự hợp tác hoặc không nhiệt tình hợp tác đề tìm hướng giải quyết, mà một trong các nguyên nhân là doanh nghiệp sợ bị mất uy tín, hoặc ngại tốn kém kinh phí.

Hàng giả, hàng nhái vẫn nhiều là do lực lượng xử lý quá mỏng và trình độ làm hàng giả, hàng nhái lại rất tinh vi, phát hiện không dễ. Theo quy định của pháp luật, muốn xử lý hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng nhái, bắt buộc phải có kết luận giám định hàng giả.

Trong khi đó, chi phí giám định đối với các mặt hàng giả, kém chất lượng lại khá cao và khi đưa đi giám định lực lượng thực thi phải tạm ứng kinh phí giám định, nếu đúng là hàng giả thì phải tiêu hủy. Sau khi có kết luận, những tổ chức, cá nhân vi phạm phải nộp khoản tiền giám định đó, nhưng hầu như không ai nộp và đơn vị quản lý thị trường không có thẩm quyền để cưỡng chế, bắt người vi phạm phải nộp phí giám định. Bên cạnh đó, tình trạng hàng giả, hàng nhái tràn lan cũng có một phần lỗi của người tiêu dùng. Rất nhiều người cho rằng, có hàng nhái, hàng giả thì họ mới được dùng hàng hiệu, dù là hàng “rởm”. Một số khác lại có quan niệm, nếu không có hàng nhái, hàng giả thì hàng xịn còn đắt tiền hơn nữa; cứ rẻ và đẹp thì mua, không cần quan tâm đến hàng hiệu hay hàng nhái…

1.1.3. Vấn đề cung cấp thông tin cho NTD Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Các thông tin đáng tin cậy cho NTD, về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ còn thiếu. Một số nhà sản xuất, kinh doanh không cung cấp đầy đủ các hướng dẫn rõ ràng, trung thực các thông tin để NTD có thể lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đúng với yêu cầu của mình. Hiện tượng thông tin, ghi nhãn không đúng với thực tế nhằm làm cho NTD nhầm lẫn ở nhiều nơi, nhiều lúc không còn là hiện tượng cá biệt

1.1.3.1. Vấn đề nhãn hàng

Nhãn hàng là một kênh thông tin rất quan trọng về hàng hóa cho NTD. Ở nước ta hiện nay, để quản lý nhãn hàng, chính phủ đã ban hành quy chế ghi nhãn hàng được quy định cụ thể qua nghị định 89/2006/NĐ-CP và thông tư 09/2007/TT-BKHCN. Theo đó, nhà sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về tính trung thực của nhãn hàng và phải đảm bảo nội dung nhãn hàng có đầy đủ ba thông tin: xuất xứ, tên hàng hóa, thành phần định lượng. Do đó, thông qua những nội dung được ghi trên nhãn hàng hóa, NTD có thể biết được công dụng, thành phần, giá cả… của hàng hóa để đi đến quyết định có mua sản phẩm đó hay không. Nếu những thông tin trên nhãn hàng không đúng sự thật sẽ khiến NTD có những quyết định tiêu dùng sai lầm, làm cho NTD chịu thiệt hại về kinh tế, an toàn sức khỏe… Vì thế tính đầy đủ và chính xác của nhãn hàng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NTD.

Thực trạng việc ghi nhãn hàng

Việc quy định về vấn đề ghi nhãn hàng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh là khá đầy đủ, tuy nhiên trên thực tế, tính đầy đủ và chính xác của nhãn hàng lại còn rất nhiều điều tồn tại, làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi NTD. Các biểu hiện phạm quy chế nhãn hàng rất đa dạng, từ việc thiếu thông tin cơ bản như quy định, hoặc nếu có thì được ghi một cách chung chung hình thức, cho đến việc ghi sai, không trung thực về hàng hóa trên nhãn hàng. Có thể kể ra rất nhiều hình thức vi phạm cụ thể về nhãn hàng như thiếu chi tiết trong việc ghi xuất xứ hàng hóa, ghi thành phần hàng hóa không chi tiết, đầy đủ hoặc ghi sai định lượng của các thành phần thực có trong sản phẩm, còn hiện tượng dán nhãn giả cho hàng nhái hàng giả cũng đã trở thành một vấn nạn. Thực tế này được thể hiện qua kết quả các đợt kiểm tra thực hiện quy chế nhãn hàng do TCĐLCL, cũng như các chi cục tại các tỉnh thực hiện. Năm 2007, qua kiểm tra phát hiện vi phạm về nhãn hàng hoá như sau: 21/21 cửa hàng kinh doanh mũ bảo hiểm đều có sản phẩm ghi nhãn chưa đúng quy định về ngày tháng và địa chỉ sản xuất, 8/8 cửa hàng kinh doanh đồ chơi trẻ em vi phạm về nội dung kinh doanh đồ chơi trẻ em nhập khẩu chưa có nhãn phụ và nội dung ghi nhãn chưa đầy đủ thông tin, 18/18 cửa hàng kinh doanh thiết bị điện vi phạm về nhãn, đối với các sản phẩm thực phẩm phục vụ tết Nguyên đán năm 2008 thì qua kiểm tra 21 cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm có 17 cơ sở vi phạm về nhãn. Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Năm 2008, đối với các sản phẩm thực phẩm phục vụ tết Nguyên đán thì qua kiểm tra có 21 cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm có 17 cơ sở vi phạm về nhãn…(Lamdong.gov.vn). Như vậy, tình trạng vi phạm quy chế nhãn hàng là rất phổ biến ở nước ta.

Theo Thanh tra Bộ Khoa học – Công nghệ ngành hóa chất ghi sai với tỷ lệ khoảng 96%, tiếp đến là mỹ phẩm 76%, thực phẩm 46%, dược phẩm 17%.. (Luatviet.com ngày 10/01/2009)

Theo tin từ Chi cụ Quản lý thị trường Hà Nội, tính từ ngày 1/11/2009 đến ngày 25/1/2010, Cục đã tiến hành kiểm tra 1.552 vụ, xử lý 1.211 vụ, trong đó có 184 vụ vi phạm nhãn hàng hóa chiếm 15,2% số vụ vi phạm (vnmedia.vn ngày 23/03/2007)

Đặc biệt, không chỉ những nhà sản xuất phân phối nhỏ lẻ vi phạm quy chế nhãn hàng mà ngay cả hàng hóa của những nhà sản xuất phân phối lớn có uy tín trên thị trường thì thông tin trên nhãn hàng cũng không thể hoàn toàn tin cậy được. Nếu trong ngành sản xuất sữa Vinamilk được nhắc đến như một ví dụ điển hình thì trong lĩnh vực phân phối hai siêu thị lớn Big C và Metro cũng bị phát hiện có những sai phạm về nhãn hàng. Khi kiểm tra đột xuất hai siêu thị này, cơ quan chức năng đều phát hiện được những hàng hóa dán nhãn nhập ngoại nhưng thực chất là hoa quả trong nước, và được bán với giá cao ngất ngưởng mà NTD không hề biết rằng mình bị móc túi.

Các hiện tượng vi phạm về nhãn mác diễn ra khá phổ biến về cả chủng loại hàng hóa, hình thức cũng như các doanh nghiệp vi phạm. Mục đích của những vi phạm đó là nhằm đưa ra những thông tin dễ gây nhầm lẫn, thậm chí sai sự thật về hàng hóa để lừa dối NTD. Trong những quyết định tiêu dùng do bị dẫn dắt bởi các thông tin không chính xác, đầy đủ của nhãn hàng, NTD chịu rất nhiều thiệt thòi cả về kinh tế lẫn sự an toàn về sức khỏe. Các ví dụ điển hình là việc ghi nhãn mặt hàng sữa. Các sản phẩm sữa tươi được ghi nhãn rõ ràng là sữa tươi nguyên chất từ sữa bò tức là theo quy định thành phần chất này phải chiếm đến 99% nhưng trên thực tế hàm lượng này chỉ chiếm khoảng 70-80%. Gần đây nhất là trường hợp các sản phẩm sữa thấp đạm bị phát hiệnkết quả của việc kiểm tra chất lượng sữa đối với 35 cơ sở sản xuất và hơn 2000 cơ sở kinh doanh sữa tại 14 tỉnh, thành phố trên cả nước. Điều đáng nói là với thành phần lipit có tới gần 20% mẫu không đạt yêu cầu. Đợt kiểm tra mẫu lần này đã phát hiện nhiều mẫu sữa có hàm lượng đạm thấp hơn nhiều so với mức công bố trên nhãn, thậm chí có mẫu sữa có hàm lượng đạm rất thấp, chỉ ở mức 0,3% đến dưới 2%. Có sản phẩm ghi trên sữa hàm lượng đạm ở mức trên 30% nhưng thực tế xét nghiệm chỉ đạt từ 1,4%-2,81%. (Agro.gov.vn ngày 17/04/2009). Điều này cho thấy, việc ghi sai nhãn hàng hóa thực sự ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của NTD.

1.1.3.2. Vấn đề về thông tin quảng cáo, khuyến mại Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Có thể thấy rằng, quảng cáo có mối quan hệ chặt chẽ tới lợi ích của cả NTD và doanh nghiệp. Đối với NTD, quảng cáo là một trong những kênh thông tin để họ tham khảo khi ra quyết định mua sắm. Thông qua quảng cáo, NTD có được những thông tin nhất định về sản phẩm, giúp họ xác định được mức độ phù hợp của sản phẩm với nhu cầu bản thân. Trong khi đó, để thu hút khách hàng, mở rộng thị trường, các doanh nghiệp thường đưa ra những thông tin quảng cáo sao cho thật hấp dẫn, thật ấn tượng là nhiệm vụ cần thiết đối với doanh nghiệp. Đôi khi những thông tin này được các doanh nghiệp nói quá và khiến cho nó thành sai sự thật. Do đó, thông tin quảng cáo có trung thực, khách quan hay không là điều mà NTD cần phải cân nhắc một cách thận trọng trước khi đưa ra quyết định tiêu dùng nhằm tránh những thiệt hại không đáng có.

Thực trạng quảng cáo, khuyến mại không trung thực, lừa dối NTD

Tại Việt Nam, hành vi quảng cáo sai sự thật là một trong những hành vi quảng cáo bị nghiêm cấm. Tuy vậy, trên thực tế lại cho thây những thông tin quảng cáo thiếu trung thực là không ít và gây thiệt hại không nhỏ đến quyền lợi NTD Việt Nam.

Có những đoạn phim quảng cáo được dàn dựng khá hấp dẫn nhờ trình độ cao về mặt kỹ nghệ, nhưng nhiều khi lại rất thấp về tính trung thực và đạo đức kinh doanh. Hậu quả là người tiêu dùng bị mắc lừa, mất tiền và dần dần cũng mất luôn cả niềm tin đối với chương trình quảng cáo mà đúng ra vẫn là kênh thông tin hết sức thiết thực và hiệu quả đối với cả bên bán hàng và bên mua hàng. Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Quảng cáo bỏ sót thông tin, không trung thực về giá.

Loại quảng cáo bỏ sót thông tin thường gây phẫn nộ cho khách hàng mỗi khi họ phát hiện mình bị “chơi khăm”. Chẳng hạn, hàng trăm người từng dậy sớm, hăm hở xếp hàng chờ mua bộ sạc pin giá chỉ có 19.000 đồng, máy ảnh kỹ thuật số giá 199.000 đồng hay máy in giá chỉ 1 Đôla… mà không kèm theo đó là các điều kiện phải có hay các phí phụ khác kèm theo.

Các quảng cáo này có thể đưa ra một mức giá lý tưởng cho NTD nhưng thay vào đó NTD phải chi ra rất nhiều cho các sản phẩm, dịch vụ kèm theo, và cuối cùng, số tiền mà họ bỏ ra là không hề lý tưởng như suy nghĩ ban đầu – NTD đã bị lừa gạt. Đây chính là kinh nghiệm của không ít NTD hàng không giá rẻ. Sự ra đời của Pacific Airlines đã tạo điều kiện cho người dân có thêm sự lựa chọn, phù hợp với túi tiền và nhu cầu đi lại. Thế nhưng, không ít người dân tỏ ra bất ngờ và bất bình trước những khoản phí phụ thu của Pacific Airlines. Nếu tính thêm các khoản phí phụ thu vào giá vé, giá vận chuyển hành khách của hãng này chẳng rẻ hơn được bao nhiêu so với Vietnam Airlines nhưng chất lượng phục vụ thì đúng theo nghĩa giá rẻ.

Quảng cáo sai về thành phần của hàng hóa

Với thông tin không có chất bột ngọt, hạt nêm Chinsu đã lấy lòng được không ít các bà nội trợ. Song ngay trên nhãn hàng chất siêu ngọt lại được ghi rất rõ ràng, chỉ có điều dưới dạng ký hiệu hóa học nên NTD bình thường không thể nhận ra. Nhiều NTD dị ứng với bột ngọt vì tin vào những quảng cáo đó đã chuyển sang sử dụng sản phẩm này và đã phải tìm đến các trung tâm y tế vì dị ứng. Hay như quảng cáo nước mắm làm từ cá hồi rồi sau đó phải sửa lại là nước mắm hương cá hồi.

Quảng cáo thổi phồng công dụng của hàng hóa, dịch vụ

Chiêu thức quảng cáo thổi phồng công dụng của hàng hóa được áp dụng với các loại thực phẩm chức năng. Đây là loại thực phẩm đặc biệt không chỉ cung cấp dinh dưỡng cơ bản mà còn có chức năng phòng chống bệnh tật, tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, thực phẩm chức năng ở nước ta lại thường bị quảng cáo một cách thổi phồng về công dụng, khiến cho nhiều NTD lầm tưởng rằng đó là một loại thuốc tiên, uống nhiều sữa sẽ cao lớn và trở thành… thần đồng hay quảng cáo nấm linh chi với những tính năng ưu việt như tăng cường miễn dịch cơ thể, phòng ngừa ung thư, lọc máu, mát gan… khiến nhiều người bỏ ra tiền triệu để mua dùng nhưng kết quả vẫn là số không. Ngoài ra, thời gian qua, nhiều phòng chuẩn trị y học cổ truyền có thầy thuốc Trung y Trung Quốc tham gia hành nghề đã quảng cáo không trung thực, quá phạm vi chuyên môn cho phép, đồng thời còn sử dụng cả hình thức người bệnh cảm ơn để quảng cáo. nước ta, để một quảng cáo được phát hành, những người phát hành phải làm thủ tục hồ sơ đăng ký cấp phép quảng cáo và đưa ra được những bằng chứng cần thiết chứng minh sản phẩm được quảng cáo có đủ điều kiện để được lưu thông trên thị trường. Tuy nhiên với quy trình quảng cáo như vậy, ngay cả khi công tác chứng nhận chất lượng sản phẩm thực sự hiệu quả và đáng tin cậy thì tính trung thực của quảng cáo vẫn khó được đảm bảo.

Trong khi ở các nước phát triển, việc quảng cáo gian dối gây nhầm lẫn cho khách hàng có thể khiến các công ty phải nộp phạt hàng chục triệu USD nhưng ở Việt Nam lại chỉ quy định mức phạt hành chính cao nhất là 50 triệu VND bên cạnh các hình thức xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả. Như vậy, việc xử lý đối với quảng cáo thiếu trung thực trên thực tế vẫn chưa đủ khả năng ngăn chăn vi phạm bởi hình thức xử phạt còn thiếu tính nghiêm minh, do đó, không thể hi vọng có sự cải thiện nhanh chóng về mức độ trung thực của các thông tin quảng cáo ở nước ta.

1.1.4. Vấn đề xâm phạm quyền và lợi ích kinh tế của NTD Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

1.1.4.1. Vấn đề giá cả hàng hóa

Giá cả là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của NTD cũng như lợi ích kinh tế của họ. Giá cả hàng hóa cao thấp khác nhau để NTD có thể lựa chọn phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả của mình. Nhưng dù giá thấp hay cao, đắt hay rẻ thì NTD vẫn có quyền lợi chính đáng là được mua hàng với một mức giá hợp lý và tương ứng với chất lượng sản phẩm. Sự hợp lý đó được thể hiện ở chỗ giá cả được hình thành một cách có căn cứ chính đáng, và những khoản chi phí mà NTD phải chịu do đầu cơ, độc quyền, liên kết làm giá, hay nói thách, nâng giá một cách tùy tiện đều là những chi phí bất hợp lý, làm ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế chính đáng của NTD.

Thực trạng vấn đề giá cả hàng hóa ở Việt Nam

Hiện nay, nước ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường, hầu hết giá cả hàng hóa được xác định thông qua quan hệ cung cầu. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại không ít trường hợp mà giá cả không phản ánh trung thực cân đối quan hệ cung cầu và gây thiệt hại cho NTD về mặt kinh tế.

Thời gian gần đây, giá cả thị trường diễn biến phức tạp. Lợi dụng việc một số mặt hàng thiết yếu, như xăng, dầu, điện, nước tăng giá, thì nhiều loại hàng hóa, dịch vụ khác cũng tùy tiện tăng giá ăn theo. Không chỉ giá cả hàng hóa ở thành phố tăng, mà ở nông thôn, nhiều mặt hàng cũng có xu hướng tăng giá. Các loại hàng hóa, từ lương thực, thực phẩm; vật liệu xây dựng; vật tư nông nghiệp; thuốc chữa bệnh; sản phẩm may mặc, đồ điện tử, gia dụng… hầu hết đều niêm yết giá cao hơn so với trước đây.

Xu hướng giá cả tăng nhanh đã gây khó khăn cho cuộc sống của nhiều gia đình, nhất là với những người làm công ăn lương và người lao động nghèo. Ðối với nhiều người, vào thời điểm việc làm không ổn định, thu nhập bấp bênh, lại thêm “cơn lốc” giá cả tăng nhanh, càng khiến họ và gia đình bị đẩy đến tình cảnh túng thiếu. Ðáng nói là không ít mặt hàng gần như không bị ảnh hưởng hoặc chỉ bị ảnh hưởng chút ít bởi việc tăng giá nguyên liệu đầu vào, nhưng vẫn cứ tùy tiện nâng giá cao ngất ngưởng. Cùng với việc tăng giá đại trà, là những hiện tượng cố tình nâng giá cục bộ, đơn lẻ. Có nơi, cùng một mặt hàng mà nhà sản xuất đã công khai niêm yết giá bán lẻ cố định trên toàn quốc, song khi mang hàng về địa điểm tiêu thụ thì các đại lý lại tùy tiện nâng giá, gây thiệt hại quyền lợi của NTD.

1.1.4.2. Vấn đề đo lường hàng hóa Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Để thỏa mãn được những lợi ích chính đang của NTD, hàng hóa phải được đảm bảo đúng cả 3 yếu tố: giá cả, chất lượng, và số lượng. Song giống như giá cả và chất lượng thì việc được tiêu dùng hàng hóa đúng số lượng cũng không phải là điều dễ đối với NTD. Việc cân thiếu, cân điêu đã có từ lâu và ngày càng xuất hiện nhiều hình thức gian lận về đo lường tinh vi phức tạp.

Nếu như trước đây, NTD chủ yếu lo lắng về việc cân sai cân điêu khi đi chợ thì giờ đây, họ cũng không thể với các sản phẩm đóng gói sẵn được bày bán trong siêu thị nữa. Thậm chí, ngay cả với các sản phẩm mà dụng cụ đo lường có tính kỹ thuật và hiện đại cũng có nhiều cách thức gian lận và đo lường tinh vi.

Gần đây báo đài liên tục đưa tin về hành vi gian lận đo lường của các đại lý xăng dầu và các hãng taxi. Thủ đoạn của các chủ cửa hàng xăng dầu là sử dụng những con chip điện tử với mã số điện tử được cài đặt có thể điều khiển được qua bàn phím cột bơm hoặc bằng cách đóng ngắt công tắc điện. Với con chip điện tử này, các cửa hàng xăng dầu có thể gian lận đên 5,6% (thậm chí lên đến mức 9,3% như trường hợp bị phát hiện ở Gia Lai). Còn đối với đồng hồ taxi, các thủ đoạn gian lận cũng tinh vi không kém. Các tài xế sử dụng một loại thiết bị tăng độ dài, bằng cách nối thiết bị này với đồng hồ đo độ dài và giấu điều khiển dưới vô lăng, mỗi lần nhấn nút trong vòng một giây, đồng hồ đo độ dài sẽ tăng thêm 2km so với quãng đường thực tế. Thậm chí các loại dụng cụ gian lận độ dài còn được điều khiển từ xa thiết kế bằng hệ thống con chip. Đặc biệt, các dụng cụ này có xuất xứ từ Trung Quốc và rất dễ dàng lắp đặt, nên không khó khăn gì cho những cửa hàng xăng dầu hay tài xế taxi khi họ muốn sử dụng. Theo khảo sát của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam tại một số điểm bán xăng dầu, sai số đo lường bình quân khoảng 5%. Với mức tiêu thụ xăng dầu hiện nay số tiền mà NTD bị thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng…(Ca.cand.com.vn ngày 30/04/2010) Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Ngoài ra tình trạng rút ruột hàng hóa còn diễn ra phổ biến với gas, hàng hóa đóng gói sẵn. Hình thức gian lận chủ yếu đối với gas là không đủ trọng lượng trong và các loại hàng hóa đóng gói sẵn thì bị đo thiếu, rút bớt số lượng trong khi giá vẫn giữ nguyên ở mức cũ.

Theo kết quả thanh tra của Bộ Khoa học Công nghệ, kết quả từ cuộc thanh tra 3.890 cơ sở xăng dầu được thực hiện trong 4 tháng trước tháng 12 năm 2008, hiện nay cả nước có khoảng 4 vạn cột đo xăng dầu trong đó sản xuất trong nước chiếm xấp xỉ 40%, còn lại là nhập khẩu. Trong đó, sai số phương tiện đo là lớn nhất với 189 lượt cơ sở bị phát hiện vi phạm. Kế đến là sai số về phép đo với 160 lượt cơ sở bị phát hiện vi phạm. 140 lượt cơ sở vi phạm về chất lượng xăng dầu, 118 lượt cơ sở vi phạm về kiểm định phương tiện đo, 97 lượt cơ sở vi phạm về ghi nhãn, 57 lượt cơ sở có hành vi tác động làm thay đổi tình trạng kỹ thuật (Anninhthudo.vn ngày 27/12/2008)

1.1.5. Vấn đề khiếu nại và bồi thường thiệt hại cho NTD

Hiên nay sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp đã góp phần tích cực trong việc cải thiện thái độ phục vụ NTD, song phần lớn ý kiến của NTD vẫn chưa nhận được sự tôn trọng, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của NTD, đặc biệt trong việc thực hiện cam kết bảo hành, giải quyết khiếu nại từ phía NTD. Trong thực tế, khi nhận đơn khiếu nại của NTD liên quan đến hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp, một số doanh nghiệp chưa có biện pháp xử lý và bồi thường thiệt hại một cách kịp thời và hợp lý. Theo một cuộc điều tra của VINATAS, kết quả cho thấy chỉ có 21% tiếp nhận khiếu nại một cách nghiêm túc, 30% không có phản ứng gì, 33% tỏ thái độ khó chịu và 4% có phản ứng khiếm nhã:

Biểu đồ 4: Thái độ tiếp nhận khiếu nại của khách hàng

Theo hội VINASTAS, năm 2009, số lượng khiếu nại có tăng hơn so với năm 2008 là 20%. Trong đó, khiếu nại về dịch vụ tăng gấp đôi so với năm 2009. Trong lĩnh vực dịch vụ, khiếu nại về bưu chính viễn thông chiếm tỉ lệ cao nhất (21%), nhưng việc giải quyết quyền lợi cho NTD chưa thoả đáng, đặc biệt lĩnh vực tính cước điện thoại và Internet.

Về chất lượng hàng hoá, khiếu nại về hàng điện tử, điện gia dụng đứng đầu với tỉ lệ 24,86%, các khiếu nại chủ yếu bán hàng không đảm bảo chất lượng, không rõ xuất xứ hàng hoá, không thực hiện đúng chế độ bảo hành như đã cam kết, kéo dài thời gian bảo hành, sửa chữa nhiều lần nhưng không khắc phục được, không muốn hoàn lại tiền cho NTD khi hàng hoá đã phải đổi nhiều lần nhưng vẫn xảy ra trường hợp hư hỏng tương tự…(laodong.com.vn ngày 15/03/2010)

Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của NTD ở nước ta chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của thực tiến. Trong nhiều trường hợp, do chưa ý thức được đầy đủ quyền và trách nhiệm xã hội của mình, do tâm lý ngại đấu tranh, ngại tranh chấp, ngại phiền hà nên nhiều NTD còn bỏ qua quyền được khiếu nại. Một số NTD chỉ liên tiếng khi bị thiệt thòi với giá trị kinh tế lớn hoặc khi một nhóm lớn các NTD cùng chịu thiệt thòi. NTD, khi có các vấn đề cần khiếu nại còn rất lúng túng không biết cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết khiếu nại của mình và thủ tục giải quyết như thế nào. Hơn nữa, NTD còn có tâm lý e ngại các thủ tục pháp lý và các chi phí khởi kiện. Chính vì vậy, trong thời gian tới cần phân định rõ hơn nữa và triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan Nhà nước có liên quan ở trung ương và địa phương.

1.1.6. Vấn đề nhận thức của NTD và doanh nghiệp về các quyền và trách nhiệm của mình Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Trong chính sách kinh doanh của mình, nhiều doanh nghiệp đã coi việc thỏa mãn yêu cầu của khách hàng là phương châm kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp đã chú trọng nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã của sản phẩm đáp ứng thị hiếu của khách hàng, hạ giá thành, giảm giá bán, giao hàng đúng thời hạn, coi trọng công tác hậu mãi, bảo hành sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn có những doanh nghiệp chỉ coi những nhận thức, hành động trên là những khẩu hiệu, hình thức chứ ít áp dụng trong thực tế. Các hiện tượng tiêu cực như làm hàng nhái, hàng giả để đánh lừa NTD, quảng cáo gây nhầm lẫn và gian dối, từ chối bảo hành, thoái thác trách nhiệm đối với sản phẩm của mình đều ảnh hưởng tới lợi ích của NTD. Chính vì vậy, để triển khai tốt công tác bảo vệ quyền lợi NTD, cần tập trung vào thông tin, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD và doanh nghiệp.

NTD là tất cả mọi người, là số đông trong xã hội nhưng khi hành động thì chủ yếu là hành động riêng lẻ. Trong quan hệ giao dịch với doanh nghiệp, NTD thường đứng ở thế yếu và thường chịu thiệt thòi, nhiều khi bất bình nhưng không hoặc chưa biết cách đấu tranh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Nguyên nhân của thực trạng này là NTD chưa nhận thức được đầy đủ quyền và trách nhiệm cũng như vị trí của mình trong xã hội. Trên thực tế, NTD đóng vai trò quyết định đối với sự thành bại của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Do đó, khi nhận thức rõ được vị trí của mình, NTD sẽ tự bảo vệ mình và góp phần xứng đáng vào sự phát triển chung của xã hội.

Theo kết quả khảo sát của T.Ư Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD VN, có tới 62% NTD mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng. Tuy nhiên, số người khiếu nại ít hơn nhiều so với thực tế bị thiệt hại, một phần do tâm lý ngại va chạm, sợ phiền hà hoặc mất nhiều thời gian và không biết việc khiếu nại có đem lại kết quả hay không. Vì vậy, hầu hết NTD phải cam chịu thiệt thòi khi quyền lợi bị vi phạm (laodong.com.vn ngày 15/03/2010).

Kết quả tổng hợp từ cuộc điều tra về ý kiến NTD trên phạm vi cả nước của VINASTAS cho thấy, chỉ có 36% số người được hỏi trả lời có biết đến PLBVNTD, 64% còn lại không hề biết sự tồn tại pháp lệnh này (Xalotintuc.com ngày 17/12/2008). Theo công bố năm 2008 của Hội Tiêu chuẩn – Bảo vệ người tiêu dùng VN sau cuộc tổng điều tra ý kiến người tiêu dùng trên phạm vi cả nước, 41% NTD Việt Nam không biết mình có quyền lợi gì, số còn lại cho rằng có biết cũng không làm được gì.

1.1.7. Vấn đề tiêu dùng bền vững Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

Bền vững trong tiêu dùng là đảm bảo tiêu dùng hiện tại nhưng không làm tổn hại tới tiêu dùng trong tương lai. Tiêu dùng bền vững là một nội dung của phát triển bền vững và thay đổi mô hình tiêu dùng truyền thống đã được Chương trình nghị sự phát triển bền vững trong thế kỷ 21 (agenda 21) do Hội nghị Thượng đỉnh về Phát triển bền vững của Liên hợp quốc họp tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002 được tất cả các quốc gia trên thế giới hưởng ứng và cam kết thực hiện, xác định như là một lĩnh vực cần được chú ý ưu tiên trong quản lý quá trình phát triển của mọi quốc gia. Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Vietnam Agenda 21) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành thực hiện (tháng 8/2004) đã xác định thay đổi phương thức tiêu dùng hiện tại theo hướng phát triển bền vững là một nội dung cần được ưu tiên.

Mô hình tiêu dùng của dân cư nước ta được đánh giá không chỉ là không phù hợp về mức sống, mức thu nhập mà còn lãng phí về kinh tế, gây ô nhiễm môi trường. Vietnam Agenda 21 đã cảnh báo rằng “Mô hình tiêu dùng của dân cư đang diễn biến theo truyền thống của các quốc gia phát triển, tiêu tốn nhiều nguyên vật liệu, năng lượng và thải ra nhiều chất thải độc hại”.

Các Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam hàng năm đều cảnh báo sự gia tăng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ở các đô thị mà nguyên nhân chủ yếu là sự phát triển sản xuất, sự phát triển tiêu dùng trong sản xuất và trong sinh hoạt ở các đô thị kèm theo sự gia tăng với tốc độ cao hơn của các loại chất thải (rắn, lỏng, khí độc hại…). Vietnam Agenda 21 cũng nhận định rằng tiêu dùng hiện nay ở nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục làm cho môi trường tự nhiên bị quá tải bởi lượng chất thải và sự khai thác tự nhiên quá mức.

1.2. Đánh giá thực trạng tình hình vi phạm quyền lợi NTD ở Việt Nam

Những con số trên chỉ là sự thống kê một phần nhỏ và mới chỉ phản ánh được phần nào thực trạng xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của NTD. Thực tế gần đây cho thấy, quyền lợi của NTD đang bị xâm hại nghiêm trọng. Không những bị thiệt hại về kinh tế, NTD còn có nguy cơ tổn hại sức khỏe do sử dụng các loại thực phẩm, cũng như nhiều sản phẩm chế biến chứa độc tố với hàm lượng vượt mức cho phép.

Hành vi vi phạm quyền lợi NTD diễn ra hàng ngày trên nhiều lĩnh vực, ở tất cả các địa phương trên cả nước. Sự vi phạm diễn ra hầu như trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh, từ khâu nguyên liệu, thiết kế, bao bì, nhãn mác tới quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, bán hàng và dịch vụ hậu mãi. Hình thức, thủ đoạn vi phạm ngày càng tinh vi hơn, quy mô vi phạm và phạm vi ảnh hưởng cũng ngày càng rộng hơn.

Bên cạnh đó, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của NTD ở nước ta cũng chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của thực tiến. Trong nhiều trường hợp, do chưa ý thức được đầy đủ quyền và trách nhiệm xã hội của mình, do tâm lý ngại đấu tranh, ngại tranh chấp, ngại phiền hà nên nhiều NTD còn bỏ qua quyền được khiếu nại.

Do vậy, có thể nói rằng, NTD Việt Nam đang phải sống trong môi trường không an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm nghiêm trọng. Trong khi đó, hệ thống quy định pháp luật cũng như hoạt động của các cơ quan chức năng cũng như các tổ chức xã hội về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Việt Nam có thực sự hiệu quả. Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi ở Việt Nam

One thought on “Khóa luận: Tổng quan về quyền lợi người tiêu dùng ở VN

  1. Pingback: Khóa luận: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464