Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững (2023) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, là sự lựa chọn mang tính chiến lược mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm. Phát triển kinh tế bền vững đòi hỏi sự phát triển ở tất cả các lĩnh vực, trong đó, thương mại nói chung và xuất khẩu nói riêng là một trong những lĩnh vực quan trọng tạo nên sự bền vững đó. Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
Công nghiệp da giầy – một trong những ngành công nghiệp đầu tiên ở Việt Nam, trong thời gian gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc. Hiện nay, Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu da giầy hàng đầu trên thế giới. Mặc dù nền kinh tế thế giới có những biến động bất lợi ảnh hưởng không nhỏ tới xuất khẩu của Việt Nam tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu da giầy vẫn giữ tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 13%, đạt mức 4.067 tỷ USD (năm 2023) chỉ đứng sau ngành dệt may và dầu khí. Mở rộng xuất khẩu da giầy trong những năm qua đã có những đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước cũng như tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, giải quyết một số vấn đề môi trường. Tuy nhiên, xuất khẩu da giầy của Việt Nam chưa thật sự bền vững. Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, hoạt động xuất khẩu còn làm nảy sinh một số vấn đề xã hội và môi trường mà hiện tại ngành vẫn chưa khắc phục được.
Hơn nữa, từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới, quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng đã mở ra những cơ hội mới cho tất cả các ngành nói chung và ngành da giầy nói riêng như mở rộng thị trường xuất khẩu, tiếp nhận công nghệ, vốn và học tập kinh nghiệm quản lý… bên cạnh đó cũng đặt các doanh nghiệp vào tình thế cạnh tranh khốc liệt hơn. Áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt cùng với biến động kinh tế thế giới làm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, ổn định mà vẫn đảm bảo tốt các mục tiêu xã hội và môi trường đang là thách thức đối với ngành da giầy Việt Nam.
Xuất phát từ tình hình trên, với mục đích tìm hiểu sâu hơn về thực trạng xuất khẩu da giầy trong việc đảm bảo các mục tiêu của phát triển bền vững trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2023; những kết quả đạt được cùng với những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại; trên cơ sở đó đóng góp một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu bền vững mặt hàng da giầy; em đã quyết định chọn đề tài “Xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững” làm đề tài khóa luận của mình.
Ngoài các trang bìa, mục lục, danh mục bảng, biểu đồ, hình và sơ đồ, danh mục chữ viết tắt, lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu gồm 03 chương như sau:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu, xuất khẩu hàng da giầy và phát triển bền vững
Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững
Chương III: Giải pháp xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU, XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
I. XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
1. Khái niệm xuất khẩu
Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia. Xét về đặc trưng thì ngoại thương được định nghĩa là việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2021, tr.9).
Xuất khẩu (XK) là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động trao đổi và mua bán hàng hóa trong nước. Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra khỏi biên giới quốc gia và các khu vực hải quan. Luật Thương mại của Việt Nam được thông qua tại Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 ngày 14/06/2019 đã đưa ra khái niệm xuất khẩu hàng hóa như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (điều 28, khoản 1, chương 2, luật Thương mại Việt Nam 2019).
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, khóa luận thống nhất sử dụng khái niệm xuất khẩu trong lý luận thương mại quốc tế như sau: “Trong hoạt động ngoại thương, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài.” (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2021, tr.9).
Như vậy, có thể thấy hoạt động xuất khẩu chính là cầu nối giữa cung và cầu hàng hóa và dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước về số lượng, chất lượng và thời gian sản xuất.
2. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế
Xuất khẩu đã được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2021, tr.379). Vì thế, công tác xuất khẩu phải nhận thức rõ vai trò quan trọng sau đây:
Thứ nhất, xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu và tích lũy phát triển sản xuất. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: xuất khẩu hàng hóa, đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ… Trong đó xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu những tư liệu sản xuất thiết yếu phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước (Võ Thanh Thu 2019, tr. 418). Xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật thiết, vừa là tiền đề, vừa là kết quả của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu là để tăng cường nhập khẩu từ đó mở rộng và tăng khả năng sản xuất, xuất khẩu.
Thứ hai, xuất khẩu được xem là một yếu tố quan trọng để kích thích tăng trưởng kinh tế. Việc đẩy mạnh xuất khẩu một ngành hàng không chỉ mở rộng quy mô sản xuất của ngành đó mà còn thúc đẩy nhiều ngành nghề mới ra đời do ảnh hưởng lan truyền của hoạt động xuất khẩu đó sinh ra để phục vụ cho xuất khẩu, kết quả là làm tăng tổng sản phẩm xã hội (Võ Thanh Thu 2019, tr.419).
Thứ ba, xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước (Võ Thanh Thu 2019, tr.420). Thông qua xuất khẩu, nền kinh tế một nước sẽ tham gia trực tiếp vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng… Muốn có chỗ đứng của sản phẩm xuất khẩu trên thị trường thì các ngành kinh tế phục vụ xuất khẩu phải được tổ chức lại, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi được với thị trường dựa trên những lợi thế quốc gia như: tài nguyên, lao động, vốn kỹ thuật, công nghệ…
Thứ tư, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc nâng cao mức sống của nhân dân. Trước hết, nhờ mở rộng xuất khẩu mà một bộ phận người lao động có công ăn việc làm và có thu nhập. Ngoài ra, xuất khẩu tạo ra nguồn vốn nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của nhân dân. Quan trọng hơn, xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm cho cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân được cải thiện (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2021, tr.382).
Thứ năm, đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò thúc đẩy và mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2021, tr.383). Là một bộ phận của hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các mối quan hệ kinh tế đầu tư, hợp tác trên nhiều lĩnh vực, giao lưu văn hóa… phát triển từ đó nâng cao địa vị và vai trò của một quốc gia trên thị trường quốc tế.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hóa đất nước.
3. Các hình thức xuất khẩu Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
Xuất khẩu xuất hiện từ lâu đời với hình thức cơ bản ban đầu là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia; cùng với thời gian, ngày nay, hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực và không chỉ là hàng hóa hữu hình mà cả hàng hóa vô hình dưới các hình thức chủ yếu sau đây:
Xuất khẩu trực tiếp là xuất khẩu hàng hoá từ nước người bán (nước xuất khẩu) sang thẳng nước người mua (nước nhập khẩu) không qua nước thứ ba (nước trung gian) (Đặng Thị Loan 2019, tr.435). Thông qua hoạt động xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ đáp ứng nhanh chóng và phù hợp nhu cầu của khách hàng và qua đó công ty cũng kiểm soát được yếu tố đầu ra của sản phẩm để điều chỉnh yếu tố đầu vào nhằm mang lại lợi ích cao nhất.
Xuất khẩu ủy thác là phương thức trong đó đơn vị có hàng xuất khẩu là bên ủy thác giao cho đơn vị xuất khẩu là bên nhận ủy thác tiến hành xuất khẩu một hoặc một số lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình (bên nhận ủy thác) nhưng với chi phí của bên ủy thác (Đặng Thị Loan 2019, tr.441).
Xuất khẩu ủy thác giúp cho các đơn vị ủy thác tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc nghiên cứu thị trường, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng nhờ vào việc tận dụng ưu thế có sẵn của đơn vị nhận ủy thác, tuy nhiên hiệu quả kinh doanh không cao, không đảm bảo được tính chủ động trong kinh doanh.
Buôn bán đối lưu là phương thức mua bán trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, hai bên trực tiếp trao đổi các hàng hoá hay dịch vụ có giá trị tương đương với nhau (Vũ Hữu Tửu 2021, tr.15).
Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công) (Vũ Hữu Tửu 2021, tr.23).
Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước. Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công. Mặt khác, đối với bên nhận gia công, đây là phương thức giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho người lao động hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ về nước mình.
II. XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY V Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
1. Quá trình hình thành và phát triển của ngành da giầy Việt Nam
Nghề da giầy ở nước ta là một trong những ngành nghề truyền thống, có tổ đình ở khu di tích Đình Phả – Trúc Lâm, số 40 Hàng Hành – Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, là nơi thờ vị danh nhân tiến sỹ Nguyễn Thời Trung, một trong các vị tổ có công sáng lập nghề da giầy Việt Nam từ trên 500 năm nay. Sau đó nghề thủ công này được phổ biến trong cả nước. Năm 1912, Công ty Thuộc da Đông Dương – nhà máy thuộc da đầu tiên ở Đông Dương, do một nhà tư bản Pháp thành lập tại làng Thụy Khuê với sản phẩm chủ yếu là da công nghiệp để sản xuất bao súng, bao đạn, yên ngựa, dây lưng… phục vụ công nghiệp quốc phòng cho thực dân Pháp. Vào khoảng thập kỷ 50 tại Sài Gòn, các chủ tư bản gốc Pháp, Hoa lập ra các nhà máy thuộc da, chế biến đồ da sản xuất giầy, chủ yếu bằng thủ công để phục vụ nhu cầu của quân đội. Da giầy thực sự trở thành ngành kinh tế độc lập vào năm 1987 (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2019). Tuy nhiên, vào thời điểm này, chỉ có một lượng nhỏ đồ da, giả da, một số sản phẩm giầy dép bảo hộ lao động cấp thấp, giầy vải cấp trung bình được sản xuất tại một vài nhà máy nhỏ, trang thiết bị sơ sài.
Sản xuất mang nặng tính thủ công, còn thấp kém về chất lượng và sản phẩm nên chỉ được tiêu dùng nội địa (Nguyễn Hữu Khải 2022).
Từ năm 1987 đến trước năm 1992, ngành da giầy Việt Nam chủ yếu thực hiện các hợp đồng gia công mũ giầy cho Liên Xô cũ và các nước Đông Âu. Trong một thời gian dài, hầu hết các máy móc thiết bị của ngành đều lạc hậu, năng lực sản xuất thấp, trình độ của đội ngũ cán bộ, công nhân còn yếu kém, sản phẩm làm ra không phù hợp, thông tin về thị trường nước ngoài hầu như không có hoặc rất mơ hồ. Vậy nên, sau khi khối Liên Xô và các nước Đông Âu biến động, có tới 2/3 số nhà máy phải đóng cửa, gần 12.000 công nhân mất việc làm (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2019).
Từ năm 1993, với lợi thế về giá nhân công và chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của Chính phủ, Việt Nam đã đón nhận làn sóng di chuyển sản xuất giầy dép từ các nước công nghiệp mới (NIC). Thông qua liên doanh liên kết, ngành đã mạnh dạn đầu tư đổi mới trang thiết bị cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tính đến đầu năm 1997, toàn ngành đã có 100 doanh nghiệp sản xuất, cả nước đã có một mạng lưới sản xuất da giầy chủ yếu là để xuất khẩu với năng lực sản xuất là 220 triệu đôi (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2019). Năm 1998, cuộc khủng hoảng tài chính của các nước Châu Á đã tác động sâu sắc tới ngành da giầy Việt Nam, sản xuất bị chững lại, vấp phải sự cạnh tranh gay gắt với các nước trong khu vực (Nguyễn Hữu Khải 2022). Bắt đầu từ năm 2000 cho đến nay, mặc dù phải đối phó với những khó khăn thách thức để vượt qua sức ép thị trường và các rào cản nhưng ngành da giầy nước ta đã trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng góp tích cực trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và tạo ra công ăn việc làm cho người lao động.
Đến hết năm 2019, toàn ngành có 410 doanh nghiệp hoạt động, trong đó số doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ lớn nhất (49%), đa số các doanh nghiệp tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương. Bên cạnh đó, còn có hàng nghìn hộ gia đình và cơ sở sản xuất nhỏ lẻ tập trung chủ yếu tại các làng nghề (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2019).
2. Xuất khẩu hàng da giầy và vai trò của xuất khẩu hàng da giầy trong nền kinh tế
Gia công xuất khẩu cho đến nay vẫn là phương thức chủ yếu trong ngành da giầy xuất khẩu Việt Nam. Mặc dù phương thức gia công đã bộc lộ nhiều điểm yếu, nhưng hiện nay ngành chưa có những dự án đầu tư lớn, có tính đột phá, làm thay đổi căn bản cơ cấu ngành, vì thế sự phát triển của toàn ngành vẫn phụ thuộc vào phương thức này. Có tới trên 90% sản lượng và kim ngạch xuất khẩu của ngành là có được từ các đơn hàng gia công (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2019). Tiềm năng phát triển của ngành là rất lớn, song thực tế mới chỉ có “vỏ” mà chưa có “ruột”. Hầu hết các doanh nghiệp chỉ tồn tại nhờ vào gia công xuất khẩu; toàn ngành thiếu đầu tư xây dựng những nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu, thiếu những trung tâm thiết kế mẫu phục vụ cho sự phát triển lâu dài mà phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài về thiết bị máy móc, nguyên phụ liệu, mẫu mã và đầu ra (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2022a).
Bên cạnh những nhược điểm, khó khăn vẫn chưa khắc phục được, xuất khẩu da giầy đã và đang phát huy vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, góp phần tạo việc làm, tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngoại tệ… Thứ nhất, xuất khẩu da giầy góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong những năm qua, sản xuất da giầy xuất khẩu đã Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
kéo theo hàng loạt các ngành khác như kéo như ngành chăn nuôi lấy da, ngành cao su, hóa chất, dệt, sản xuất phụ liệu… Thông qua đó dần dần nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng xuất khẩu.
Thứ hai, xuất khẩu da giầy góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định nhờ vào việc có được một mạng lưới thị trường tiêu thụ rộng lớn. Điều này không những tạo cho Việt Nam có được vị trí trên thị trường da giầy thế giới mà còn tạo tiền đề cho việc chủ động trong sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng da giầy thế giới. Thị trường tiêu thụ càng lớn càng thúc đẩy sản xuất phát triển, có như vậy mới đáp ứng được nguồn hàng cho xuất khẩu.
Thứ ba, xuất khẩu da giầy làm tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Cũng như bất cứ một ngành sản xuất hàng hóa nào khác, sản xuất da giầy xuất khẩu cũng tạo điều kiện để mở rộng vốn, công nghệ, trình độ quản lý, nâng cao đời sống cho người lao động, đảm bảo tái sản xuất mở rộng.
Thứ tư, thông qua xuất khẩu, da giầy Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh với các thị trường xuất khẩu khác về giá cả, chất lượng. Trong môi trường cạnh tranh ấy, đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường. Sản xuất da giầy nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, khi đó, muốn đứng vững buộc các doanh nghiệp phải làm sao để hạ giá thành, nâng cao chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn của hàng xuất khẩu (về vệ sinh an toàn lao động, môi trường… ), nghiên cứu thị trường để đánh bật đối thủ cạnh tranh.
Thứ năm, một vai trò không thể không nhắc tới của xuất khẩu da giầy đó là sản xuất da giầy thu hút hàng vạn lao động vào làm việc và có thu nhập thường xuyên. Cụ thể, hiện nay ngành có trên 60 vạn lao động, đời sống công nhân viên tương đối ổn định, thu nhập ngày càng được nâng cao.
Thứ sáu, xuất khẩu da giầy là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta. Hiện nay, sản phẩm da giầy Việt Nam đã có mặt trên 50 quốc gia trên thế giới, điều này giúp cho Việt Nam có được nhiều mối quan hệ hợp tác đa phương và song phương phát triển, đẩy nhanh quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, ngành da giầy được coi là một trong những ngành công nghiệp ưu tiên, có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng, tạo nguồn thu ngoại tệ và có khả năng giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, không đòi hỏi nhiều vốn nên phù hợp với nguồn tài chính của Việt Nam (Hiệp hội Da – Giầy Việt Nam 2022a).
III. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1. Một số khái niệm
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia. Mỗi quốc gia, tùy theo quan niệm khác nhau của các nhà lãnh đạo đã lựa chọn những con đường phát triển khác nhau. Nhìn một cách tổng thể, có thể hệ thống sự lựa chọn ấy theo ba con đường: nhấn mạnh tăng trưởng nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và phát triển toàn diện (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.24).
1.1. Tăng trưởng kinh tế Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.21).
Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề tăng trưởng kinh tế ngày càng trở nên hoàn thiện hơn. Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao. Nhìn dưới góc độ này, tính bền vững được thể hiện qua sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người. Hơn thế nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
1.2. Phát triển kinh tế
Nếu như bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế thì phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội mỗi quốc gia.
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.22). Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:
Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người. Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển.
Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế. Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia.
Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, giáo dục… (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.23).
Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất của xã hội trong quá trình phát triển.
1.3. Phát triển bền vững Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
Khái niệm phát triển bền vững (PTBV) đã có mặt trên đầu đề của rất nhiều tạp chí về môi trường từ những năm 80 của thế kỷ trước khi mà tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được một tốc độ khá cao và người ta bắt đầu lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tương lai của con người. Thuật ngữ PTBV xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế – IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” (Nguyễn Thế Chinh 2017).
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai…” Có thể coi đây là định nghĩa đầu tiên được dùng chính thức và hiện vẫn được sử dụng trong các văn bản của chương trình Liên Hợp Quốc (Nguyễn Thế Chinh 2017, tr.43).
Hình 1: Mô hình phát triển bền vững của Jacob và Saddler (1990)
Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập một cách đầy đủ hơn, bên cạnh yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên, yếu tố môi trường xã hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng. Năm 2016, tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug (Cộng hòa Nam Phi) đã xác định: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường” (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.23). Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu như sau: “Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện môi trường” (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.220).
Theo đó, Việt Nam cũng đã xây dựng được mô hình phát triển bền vững đó là: phát triển bền vững là vấn đề cốt lõi, trung tâm của sự phối hợp một cách hài hòa cả ba mặt tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường (Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2020, tr.44).
Hình 2: Mô hình phát triển bền vững của Việt Nam
Có thể nói, mô hình phát triển bền vững của Việt Nam là một sự cụ thể hóa phù hợp với mục tiêu phát triển của Việt Nam là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
2. Nội dung của phát triển bền vững
Xét một cách khái quát, phát triển bền vững là sự phát triển trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện ba nhóm mục tiêu lớn: kinh tế, xã hội, môi trường.
Bền vững về kinh tế: ở điểm này đòi hỏi nền kinh tế phải tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người cao; có cơ cấu hợp lý, đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định; lấy hiệu quả kinh tế – xã hội (KT–XH) làm tiêu chí phấn đấu cho tăng trưởng (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.221). Tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng nhanh, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gay gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng cuộc sống thường không được quan tâm, một số giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống bị phá hủy. Ngoài ra, việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhanh còn dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên, phá hủy hệ sinh thái… Vì thế, phải luôn lấy hiệu quả KT-XH là tiêu chí để xem xét tính bền vững về kinh tế của một quốc gia.
Bền vững về xã hội: phát triển về kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội và con người trong đó cần chú trọng vào việc phát triển công bằng; xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người, tất cả mọi người đều có cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống đảm bảo. Bền vững về xã hội lý giải một điều rằng, liệu một xã hội có thể được coi là phát triển bình thường, nếu dân số giảm sút? Nếu đảo chính, chiến tranh, khủng bố, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, cướp đi sinh mạng và mọi thành quả của lao động? Để tránh được các tai biến xã hội nói trên, phát triển phải mang tính nhân văn. Quá trình đó bao gồm: mở rộng các cơ hội lựa chọn cho mọi người, nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người, mọi người cùng tham gia vào quá trình phát triển và mọi người cùng được hưởng thụ từ quá trình này (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.222).
Bền vững về môi trường: môi trường luôn luôn thay đổi nhưng đảm bảo thực hiện cả ba chức năng của nó, đó là: là không gian sinh tồn của con người; là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; là nơi chứa đựng, xử lý, tái chế các phế thải của con người (Nguyễn Thế Chinh 2017). Vì thế, đòi hỏi loài người cần đảm bảo sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép để môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất. Xã hội phát triển bền vững là một xã hội mà con người có cuộc sống chất lượng cao trên nền tảng sinh thái bền vững (Vũ Thị Ngọc Phùng 2019, tr.222).
IV. XUẤT KHẨU BỀN VỮNG Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
1. Khái niệm xuất khẩu bền vững
Đảm bảo PTBV của nền kinh tế đòi hỏi sự phát triển ở tất cả các lĩnh vực, trong đó, thương mại nói chung và xuất khẩu nói riêng là một trong những lĩnh vực quan trọng tạo nên sự bền vững đó.
Xuất khẩu bền vững là sự duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định, chất lượng tăng trưởng xuất khẩu ngày càng được nâng cao, góp phần tăng trưởng và ổn định kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường (Hồ Trung Thanh 2023).
Trước hết, tính bền vững của hoạt động xuất khẩu phải được xem xét trong dài hạn, bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, từ thấp đến cao. Trong nhiều giai đoạn khác nhau, mức độ và yêu cầu của tính bền vững được đặt ra khác nhau. Trong nhiều trường hợp phải chấp nhận sự đánh đổi giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là cần xây dựng một chiến lược phát triển để cân bằng các mục tiêu xuất khẩu bền vững (XKBV) trong dài hạn.
Tiếp đến, tính bền vững của hoạt động xuất khẩu được xem xét trên khía cạnh đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và liên tục, chất lượng tăng trưởng ngày càng được nâng cao trên cơ sở tăng giá trị gia tăng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng hiện đại, sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế lớn… Một sự tăng trưởng không liên tục, chứa đựng nhiều rủi ro tăng trưởng khi có biến động, khủng hoảng do cơ cấu không hợp lý, sức cạnh tranh yếu kém… thì không thể coi là XKBV.
XKBV phải đáp ứng yêu cầu về sự hài hòa giữa ba mục tiêu: kinh tế, xã hội, môi trường. Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho sự phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của chính sách thương mại. Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu cao trong ngắn hạn trên cơ sở khai thác các yếu tố lợi thế so sánh sẵn có, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác, sử dụng và làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường; hoặc xuất khẩu chỉ phục vụ lợi ích cho một nhóm người đặc biệt là trong việc khai thác tài nguyên thì cũng không thể coi là XKBV.
Như vậy, XKBV phải là một quá trình lâu dài và là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và các mục tiêu của PTBV: kinh tế, xã hội, môi trường.
Một vấn đề khác cũng cần được xem xét tới khi nghiên cứu XKBV là tính bền vững của hoạt động xuất khẩu của một nước trên bình diện quốc tế. Xét về mặt bản chất, xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia. Do đó XKBV của một nước cần tính đến sự bền vững chung của thế giới. Và ngược lại, chính sự bền vững trong tất cả lĩnh vực trên thế giới cũng là một trong những điều kiện để phát triển XKBV của một quốc gia.
2. Các tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
2.1. Các tiêu chí đánh giá tính ổn định và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu
Tiêu chí đầu tiên để đánh giá tính bền vững xuất khẩu là quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong một thời gian nhất định. Đó là tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng năm, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong mối tương quan so sánh với KNXK của khu vực hoặc thế giới.
Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu từ các ngành, sản phẩm sử dụng nhiều tài nguyên, lao động rẻ, giá trị gia tăng thấp sang các ngành tạo ra giá trị gia tăng cao dựa trên cơ sở sử dụng các nhân tố làm tăng năng suất, chất lượng, tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hạn chế khai thác tài nguyên không tái tạo (Hồ Trung Thanh 2023).
Việc đảm bảo tính ổn định của hoạt động xuất khẩu như một cơ cấu thị trường hợp lý, năng lực cạnh tranh của mọi thành phần kinh tế ngày càng được nâng cao cũng là một trong những tiêu chí xác định chất lượng xuất khẩu.
Một tiêu chí khác thể hiện chất lượng tăng trưởng xuất khẩu là mức độ gia tăng giá trị của hàng xuất khẩu. Giá trị gia tăng đó bao gồm: giá trị gia tăng trực tiếp và giá trị gia tăng gián tiếp. Giá trị gia tăng trực tiếp tức là giá trị do chính hoạt động kinh doanh đó tạo nên. Giá trị gia tăng gián tiếp là những giá trị gia tăng thu được từ các hoạt động kinh doanh khác hoặc hoạt động kinh tế khác do ảnh hưởng lan truyền mà hoạt động kinh doanh đó sinh ra (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2021, tr.162). Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tính hiệu quả KT-XH của hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cũng như khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu.
Ngoài ra, tính bền vững của hoạt động xuất khẩu còn được thể hiện qua một số yếu tố khác như chất lượng hoạt động của hệ thống tài chính, ngân hàng, dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu, hạ tầng cơ sở, hệ thống phân phối… (Hồ Trung Thanh 2023).
2.2. Các tiêu chí về kinh tế Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
Nội dung bền vững về kinh tế của hoạt động xuất khẩu được thể hiện ở sự đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế và đóng góp của xuất khẩu vào ổn định kinh tế vĩ mô.
Trước tiên là tiêu chí: tăng trưởng xuất khẩu đóng góp vào tăng trưởng GDP thể hiện ở tỷ lệ phần trăm của xuất khẩu trong tăng trưởng GDP trong một thời gian nhất định được duy trì ổn định và ngày càng nâng cao.
Tỷ lệ đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào việc cân đối cán cân thương mại để thể hiện sự lành mạnh của hoạt động ngoại thương của một nước cũng là một tiêu chí đánh giá tính bền vững về kinh tế của hoạt động xuất khẩu.
Ngoài ra, có thể xem xét tính bền vững về kinh tế của hoạt động xuất khẩu dựa vào việc xem xét sự ổn định trong việc đóng góp của tăng trưởng xuất khẩu vào dự trữ ngoại tệ, giảm bớt căng thẳng về nguồn ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu qua thời gian… (Hồ Trung Thanh 2023).
2.3. Các tiêu chí về xã hội
Tiêu chí đầu tiên đánh giá tính bền vững của hoạt động xuất khẩu về mặt xã hội là mức độ gia tăng việc làm từ mở rộng xuất khẩu. Điều này có thể thấy được qua tỷ lệ thu hút lao động, tạo ra việc làm và mở rộng xuất khẩu.
Tiếp đến là mức độ cải thiện thu nhập của người lao động từ hoạt động xuất khẩu thông qua chỉ tiêu đo lường thu nhập người lao động cũng như vấn đề chia sẻ lợi ích thu được từ xuất khẩu là một trong những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá tính bền vững về xã hội của xuất khẩu bền vững.
Một tiêu chí về xã hội khác cần được xem xét tới là phát triển xuất khẩu có đóng góp vào nâng cao chất lượng lao động, trình độ quản lý, tay nghề của người lao động hay không.
Ngoài ra, tính bền vững của hoạt động xuất khẩu về mặt xã hội cũng có thể được đánh giá thông qua tỷ trọng các doanh nghiệp sản xuất áp dụng các biện pháp cải thiện môi trường và điều kiện lao động, chính sách hỗ trợ, trợ cấp, chăm sóc sức khỏe cho người lao động….
2.4. Các tiêu chí về môi trường Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
Trước hết, mục tiêu bảo vệ môi trường trong khái niệm XKBV có thể được hiểu như sau:
Thứ nhất, mở rộng xuất khẩu trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn các loài sinh vật quý hiếm và tiết kiệm năng lượng.
Thứ hai, hạn chế ô nhiễm, chất thải bằng việc áp dụng các quy trình và phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng công nghệ hiện đại để vừa nâng cao giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu vừa hạn chế ô nhiễm môi trường.
Thứ tư, tạo lập các cơ chế để các các chi phí ô nhiễm, thuế môi trường được chấp nhận từ phía nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng hàng xuất khẩu.
Căn cứ vào những nội dung trên, có thể đưa ra một số chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá tính bền vững môi trường của hoạt động xuất khẩu, cụ thể là:
- Mức độ duy trì các nguồn tài nguyên tái tạo và mức độ khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu.
- Tình hình sử dụng hóa chất cũng như mức độ ô nhiễm môi trường, mức độ cải thiện thành phần môi trường đất, nước, không khí… tại các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu.
- Một tiêu chí khác có thể dùng để đánh giá tình bền vững về môi trường của hoạt động xuất khẩu đó là mức độ đóng góp của xuất khẩu vào nguồn kinh phí bảo vệ môi trường.
- Tỷ lệ các doanh nghiệp có các chứng chỉ môi trường chẳng hạn tiêu chuẩn ISO 14000, OSH-18000…
- Thông qua các chính sách thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ môi trường của từng ngành, từng cấp quản lý có thể đánh giá được khả năng kiểm soát đối với hoạt động xuất khẩu để hạn chế các tác động tiêu cực đối với môi trường và ý thức bảo vệ môi trường của cán bộ, lao động… (Hồ Trung Thanh 2023).
Căn cứ vào các tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững của một quốc gia trên đây, trong khuôn khổ của khóa luận sẽ tập trung phân tích các tiêu chí của xuất khẩu bền vững dưới góc độ của ngành kinh tế, mặt hàng mà cụ thể là hàng da giầy xuất khẩu của Việt Nam như sơ đồ dưới đây. Khóa luận: Mục tiêu bền vững xuất khẩu da giầy Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Khái quát về tăng trưởng xuất khẩu da giầy tại VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
