Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: An toàn lao động cho vay vốn của ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2.1. An toàn trong hoạt động cho vay 

Hoạt động cho vay của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể sau 9 năm thực hiện đề án tái cơ cấu, từ chỗ chủ yếu là làm nhiệm vụ cho vay đầu tư, phát triển theo kế hoạch nhà nước đến nay BIDV đã trở thành ngân hàng đa năng, cho vay đối với mọi thành phần kinh tế. BIDV đã trở thành kênh cung cấp vốn quan trọng cho nền kinh tế và là điểm đến của nhiều doanh nghiệp.

2.2.1.1. Tình hình hoạt động cho vay

Tổng dư nợ cho vay toàn hệ thống đến 31/12/2009 đạt: 194.361 tỷ đồng, tăng trưởng 26,1% so với năm 2008. Thị phần tín dụng trong toàn ngành năm 2009 là 12,9%, tăng 0,9% so với năm 2008 (12%); chỉ đứng sau AGB với thị phần cho vay lên đến 28,86% .8

Biểu đồ 2.3. Cho vay và ứng trước khách hàng (ròng) của BIDV trong giai đoạn năm 2005 – 2009

Cơ cấu tín dụng tiếp tục được cải thiện theo chiều hướng tích cực, tổng dư nợ trên tổng tài sản năm 2008 đạt 64% tăng 6,4% so với năm 2007. Tỷ trọng cho vay trung dài hạn đạt 40,5%. Tỷ trọng dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 20,1%, nếu tính cả dư nợ cho vay VND được hoán đổi sang USD, thì tỷ trọng dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 21,7%. Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

a. Cơ cấu cho vay theo hình thức sở hữu

Nhằm tạo điều kiện cho quá trình hội nhập và phát triển, trong những năm vừa qua BIDV đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tích cực nhằm thực hiện các cam kết với Ngân hàng thế giới và kế hoạch phát triển tổng thể của Ngân hàng đến năm 2020. Cơ cấu tín dụng được thực hiện theo hướng giảm tỷ trọng cho vay trung dài hạn, thay đổi quan điểm về cách thức tiếp cận khách quan đối với các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tập trung ưu tiên đầu tư vào các dự án cho ngành điện, than, xi măng, đóng tàu…bên cạnh việc điều chỉnh cơ cấu tín dụng đã và đang đầu tư vào các ngành dệt may, xây lắp, dầu khí…

Bảng 2.3. Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế

Nhìn vào bảng trên ta thấy mặc dù dã chủ động trong công tác chuyển dịch cơ cấu cho vay nhằm thực hiện các cam kết của Ngân hàng thế giới nhưng hoạt động tín dụng của BIDV vẫn tập trung chủ yếu vào khu vực kinh doanh quốc doanh. Tuy nhiên tỷ lệ cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng gia tăng hàng năm, góp phần vào việc hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Đối với khu vực kinh tế quốc doanh: Dư nợ của khu vực này chiếm tỷ trọng lớn bình quân khoảng 52% tổng dư nợ, tuy nhiên con số này liên tục giảm trong 3 năm qua do bản thân BIDV chủ động giảm các khoản cho vay với đối tượng khách hàng thuộc nhóm này. Để tạo nên sự phát triển ổn định BIDV tiếp tục giữ vững và củng cố mối quan hệ truyền thống với các doanh nghiệp, các lĩnh vực, ngành hàng có hoạt động hiệu quả đồng thời chú trọng tìm kiếm các lĩnh vực mới, các đối tác mới và ký thỏa thuận hợp tác toàn diện nhằm tạo dựng một nền tảng khách hàng vững chắc. Bên cạnh đó, với những đối tượng khách hàng không sử dụng vốn vay hiệu quả, doanh nghiệp kinh doanh yếu kém thì BIDV đã hạn chế những khoản cho vay và thực hiện chuyển sang các khách hàng khác có hoạt động tốt hơn, có thể đảm bảo việc hoàn trả cho ngân hàng.

Đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: Sự phát triển mạnh mẽ và ổn định của khu vực kinh tế quốc doanh là cơ sở để Ngân hàng ra các quyết định tài trợ cho doanh nghiệp. Xác định đây là đối tượng khách hàng tiềm năng và là cơ sở để Ngân hàng xây dựng một mô hình Ngân hàng bán lẻ với đầy đủ các tiện ích, do vậy Ngân hàng chủ động đẩy mạnh gia tăng dư nợ đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhưng gắn liền, chặt chẽ với việc kiểm soát chất lượng tín dụng. Mục tiêu của BIDV đến năm 2015 là tỷ trọng dư nợ đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm khoảng trên 50% tổng dư nợ và hình thành một mô hình Ngân hàng bán lẻ trọn gói cho các doanh nghiệp.

Đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: BIDV đã xác định đây là nguồn khách hàng quan trọng trong chiến lược phát triển của ngân hàng. Đặc biệt năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngày càng có nhiều các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường này. Hoạt động của nhóm đối tượng này thường có hiệu quả cao, do đó ngân hàng đã có những chính sách ưu tiên với những khách hàng này. Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào năm 2008, với những khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng giảm sút. Vì vậy, BIDV đã có kiểm soát hơn với các khoản cho vay nhóm đối tượng này,và tập trung cho vay các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các đối tượng thuộc khu vực ngoài quốc doanh.

Mặc dù dư nợ cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có bước tăng trưởng trong những năm qua nhưng có thể thấy các khách hàng của BIDV vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án lớn hoặc các tập đoàn lớn vẫn chưa có mối quan hệ thường xuyên với ngân hàng. Để đạt mục tiêu, Ngân hàng cần chủ động tiếp cận với những dự án lớn có tính khả thi cao để tạo dựng mối quan hệ vững chắc với khách hàng.

b/ Cơ cấu dư nợ theo thời gian

Cho vay theo thời gian bao gồm: cho vay ngắn hạn (thời hạn cho vay đến 12 tháng); cho vay trung hạn (thời gian vay từ 12 tháng đến 60 tháng); cho vay dài hạn (có thời gian cho vay trên 60 tháng). Theo số liệu của 3 năm qua, cơ cấu dư nợ vay theo thời gian của BIDV thì tỷ lệ cho vay ngắn hạn có xu hướng ngày càng gia tăng, còn với các khoản cho vay trung và dài hạn thì giảm từ 41,9% năm 2007 xuống còn 37,8% vào năm 2009.

Bảng 2.4. Cơ cấu dư nợ vay theo thời gian

Sở dĩ tỷ lệ cho vay trung dài hạn của BIDV có xu hướng giảm xuống là do: trong những năm trước đây Ngân hàng chủ yếu làm nhiệm vụ cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các công trình, dự án quốc gia có thời gian đầu tư dài nhưng lại thu hồi vốn lâu. Trong những năm vừa qua, BIDV đã có chính sách chủ động giảm dư nợ vay trung dài hạn và tăng cường cho vay ngắn hạn để trở thành NHTM đa năng phục vụ nhu cầu của khách hàng. Hiện tại dư nợ cho vay trung dài hạn của BIDV chủ yếu tài trợ cho các dự án trọng điểm quốc gia, những chương trình mục tiêu của Chính phủ như : Dự án thủy điện Sơn La, các dự án giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng… Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Đặc biệt trong khoảng thời gian cuối năm 2008, do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính và những chính sách thắt chặt tiền tệ vào năm 2009 nhằm kiềm chế lạm phát, tỷ lệ lãi suất cho vay biến động không ngừng. Chính điều này khiến cho BIDV đã giảm các khoản cho vay trung và dài hạn nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh cho ngân hàng, thay vào đó là sự đẩy mạnh đối với các khoản cho vay ngắn hạn, tăng khả năng xoay vòng vốn cho ngân hàng.

c/ Cơ cấu dư nợ vay theo loại hình qua các năm

Với vai trò là ngân hàng cấp phát vốn cho đầu tư phát triển, thực hiện các nhiệm vụ, chương trình mục tiêu của Chính phủ, do vậy khi chuyển sang hoạt động theo mô hình NHTM thì một mặt BIDV phải thực hiện nhiệm vụ của một ngân hàng với chức năng kinh doanh có lợi nhuận, một mặt vẫn phải đảm bảo cho vay đối với các khách hàng theo sự chỉ định của Nhà nước, đồng thời là đầu mối tiếp nhận và cho vay lại các nguồn viện trợ phát triển chính thức của nước ngoài đối với Việt Nam.

Qua bảng số liệu 2.7, ta có thể dễ dàng nhận thấy dư nợ cho vay theo kế hoạch nhà nước và cho vay theo chỉ định có xu hướng giảm. Trong khi đó, tỷ lệ cho vay thương mại của ngân hàng gia tăng là một dấu hiệu rất tốt thể hiện BIDV đã nỗ lực chủ động trong kinh doanh, thực hiện theo sự chủ động của cơ chế thị trường.

Sau 5 năm thực hiện đề án tái cơ cấu BIDV đã tạo được uy tín với các tổ chức quốc tế, do vậy các dự án viện trợ ODA được giải ngân qua ngân hàng nhiều hơn kiến cho các khoản cho vay bằng vốn ODA cũng tăng lên thêm 8% vào năm 2009.

Bảng 2.5. Cơ cấu dư nợ vay theo loại hình

d/ Cơ cấu cho vay theo ngành nghề

Trong chính sách phát triển của BIDV có đưa ra đối tượng khách hàng chiến lược thuộc những lĩnh vực, ngành nghề như: Xây lắp, điện, xi măng…BIDV xác định đây là một trong những khách hàng cần quan tâm và sẽ có nhiều ưu đãi đối với các thành phần thuộc nhóm kinh doanh trên. Trên cơ sở nhận định tình hình phát triển về cơ sở hạ tầng ở Việt Nam trong những năm gần đây với rất nhiều công trình giao thông lớn, ngân hàng đã tập trung cho vay đối với các dự án: dự án cầu Cần Thơ, dự án đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận…

Bên cạnh đó, với sự chỉ định của Chính phủ, BIDV đã thực hiện nhiều khoản cho vay với các đối tượng kinh tế thuộc các ngàn : thép, dệt may, dầu khí, đóng tàu….Trong đó đáng chú ý hơn cả là khi BIDV cho tập đoàn Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) vay với giá trị lớn hơn 3.000 tỷ đồng bao gồm: 1.200 tỷ đồng mức tín dụng ngắn hạn, và 2.000 tỷ đồng với khoản tín dụng trung và dài hạn10 để Vinashin đầu tư vào các dự án đóng tàu, xây dựng cảng biển…

Biểu đồ 2.4. Cơ cấu tín dụng theo ngành nghề

Trong thời gian vừa qua, do thị trường bong bóng nhà đất khiến cho ngân hàng đã hạn chế các khoản cho vay, đầu tư vào các dự án, đối tượng khách hàng kinh doanh bất động sản. Tuy đã quản trị chính sách cho vay với nhóm ngành này nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ đến 5.59% trong các khoản tín dụng mà BIDV thực hiện.

Với những chiến lược về cơ cấu tín dụng theo ngành nghề, BIDV đã lựa chọn ra những đối tượng khách hàng tiềm năng để có thể đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán của các khoản vay. Qua đó hạn chế được rủi ro tín dụng và giữ cho ngân hàng hoạt động được vững mạnh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế

2.2.1.2. Thực trạng đảm bảo an toàn các khoản cho vay của Ngân hàng qua các chỉ tiêu Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Phân loại khách hàng

Đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn là vấn đề bất kỳ ngân hàng nào cũng quan tâm, BIDV luôn có chủ trương tăng trưởng tín dụng gắn liền với đảm bảo an toàn và kiểm soát các rủi ro. Trên cơ sở đó, BIDV là NHTM đầu tiên có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ nhằm đánh giá, phân loại khách hàng một cách hiệu quả và cũng là một trong hai NHTM Việt Nam thực hiện phân loại nợ theo điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN. Tính đến thời điểm 31/12/2008 toàn hệ thống có 6.387 khách hàng được xếp hạng theo hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ ( tăng 769 khách hàng so với năm 2007) với tổng dư nợ 99.335 tỷ đồng, chiếm 68% tổng dư nợ toàn hệ thống.

  • Số khách hàng xếp loại A trở lên là 3.761 khách hàng chiếm 58,9% tổng số các khách hàng đã được xếp hạng, tăng 6,5% so với năm 2007.
  • Số khách hàng xếp loại B đến BBB là 2.509 khách hàng, chiếm 39,3% tổng số khách hàng đã được xếp hạng, giảm 5,7% so với năm 2007.
  • Các khách hàng xếp hạng từ CCC trở xuống là 117 khách hàng chiếm tỷ trọng 1,8% số lượng khách hàng là doanh nghiệp được xếp hạng tín dụng nội bộ, giảm 0,76% so với năm 2007.
  • Báo cáo thường niên năm 2008 – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
  • Các khách hàng có nợ xấu là 203 khách hàng với tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các khách hàng được xếp hạng là 1,68% thấp hơn tỷ lệ nợ xấu chung của toàn hệ thống.

Nợ quá hạn

Để đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay, BIDV đã thực hiện và tuân thủ đúng các qui định của Chính phủ, của NHNN về qui chế cho vay, nguyên tắc, đảm bảo tiền vay, qui định các tỷ lệ an toàn trong hoạt động, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Bên cạnh việc hoàn thiện qui trình đánh giá khách hàng, BIDV cũng đã chủ động hoàn thành chuẩn qui trình thẩm định khách hàng và thẩm định phương án kinh doanh của khách hàng.

Bảng 2.6. Một số chỉ tiêu đánh giá đảm bảo an toàn cho vay tại BIDV

Qua bảng số liệu trên ta thấy dư nợ quá hạn của BIDV nếu xét theo số tuyệt đối thì liên tục tăng qua các năm. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân 3 năm là 24% trong khi tốc độ tăng bình quân của nợ quá hạn là 31%. Đây là tốc độ tăng khá cao và phản ánh tình trạng nợ xấu của ngân hàng tiếp tục phát sinh dù đã được kiểm soát rất chặt chẽ. Đặc biệt năm 2009, tốc độ gia tăng nợ quá hạn so với năm 2008 lên đến 62% trong khi tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 25%. Đây là năm có tốc độ nợ quá hạn tăng rất lớn và bùng phát. Nguyên nhân là do những tác động từ sự suy thoái các nền kinh tế khiến cho các doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh. Chính điều này khiến cho các khoản nợ cho ngân hàng bị trì hoãn, khiến cho nợ quá hạn trong năm bị tăng cao.

Các khoản nợ quá hạn đến 180 ngày có xu hướng giảm từ 45% năm 2007 xuống còn 37% trong năm 2008 và 2009. Trong khi đó các khoản nợ từ 180 đến 360 ngày và trên 360 ngày có tỷ lệ tăng từ 55% năm 2007 đến 63% trong các năm tiếp theo. Đây là dấu hiệu bất ổn trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng của ngân hàng.

Về tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ : Chỉ số này là tương đối thấp so với các ngân hàng thương mại quốc doanh. Năm 2007 tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của BIDV là 3,1%, năm 2008 là 3,7% và năm 2008 giảm xuống 3,3%. Tỷ lệ này có xu hướng gia tăng trong năm 2008 những đã được kiểm soát trong năm 2009. Để đạt được những kết quả đó là do BIDV đã nâng cao chất lượng kiểm soát các hoạt động tín dụng, trong năm 2009 ngân hàng đã xử lý 2.785 tỷ đồng nợ xấu (trong đó có 2064 tỷ đồng là các khoản cho vay thương mại và 325 tỷ đồng là nợ cho vay theo chỉ định và kế hoạch của Nhà nước). Nếu khoản nợ xấu trên chưa được xử lý thì tỷ lệ nợ quá hạn của BIDV khoảng trên 5%. Điều này chứng tỏ cùng với tăng trưởng tín dụng, BIDV cần nỗ lực hơn nữa trong công tác kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng.

Về tình hình dư nợ cho vay có tài sản đảm bảo: tỷ lệ này liên tục tăng trong 3 năm qua: 48,7% năm 2007, 60% năm 2008 và 61,8% năm 2009. Đối với hoạt động của ngân hàng thì tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ thứ 2 khi mà nguồn thu nhập chính từ khoản vay tạo ra không còn ra tăng. Trong điều kiện nền kinh tế luôn thay đổi, rủi ro luôn rình tập với cả khách hàng và ngân hàng vì vậy việc nâng cao tỷ lệ cho vay có đảm bảo bằng tài sản là điều mà ngân hàng cần hết sức quan tâm nhằm tạo ra nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng.

Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ, và dự phòng rủi ro tín dụng trên nợ quá hạn: tỷ lệ này của BIDV là khá cao và luôn có sự tăng trưởng trong 3 năm qua. Năm 2007 tỷ lệ trích dự phòng trên tổng dư nợ là 4,8%, trên nợ quá hạn là 155,2% thì đến năm 2009 tỷ lệ này đã tăng lên ở mức khá cao lần lượt là : 5,9% và 177%. Với tỷ lệ trích lập dự phòng cao như vậy thì BIDV có khả năng đảm bảo cho hoạt động tín dụng an toàn và lành mạnh, hệ thống ngân hàng phát triển bền vững.

Phân loại các khoản nợ

Vào thời điểm đầu năm 2008, áp lực từ sự suy giảm nền kinh tế toàn cầu đã dẫn đến hoạt động xuất khẩu giảm sút mạnh mẽ cùng lúc đó lãi suất tăn cao khiến cho 70% doanh nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu vốn, kinh doanh thua lỗ, không có khả năng chi trả lãi. Do đó, tỷ lệ nợ xấu trung bình của toàn ngành ngân hàng có xu thế cao hơn năm 2007. Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Tuy nhiên, chất lượng tín dụng của BIDV ngày càng được nâng cao, trước những biến động khó lường của nền kinh tế, an toàn đối với các khoản cho vay vẫn được đảm bảo. Tỷ lệ nợ xấu theo kiểm toán quốc tế thời điểm 31/12/2008 là 2,75%, giảm cả về số tuyệt đối và số tương đối so với 31/12/2007 và theo báo cáo của Fitch Ratings – đơn vị xếp hạng tín nhiệm độc lập Mỹ- đã đưa ra con số này tại thời điểm 12/2009 chỉ còn là 2,41%12. Chất lượng các khoản cho vay được cải thiện mạnh mẽ do BIDV đã tập trung xử lý việc thu nợ vay chứng khoán, thắt chặt cho vay bất động sản, cơ cấu lại các khoản nợ gặp khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính toàn thế giới theo chủ trương của chính phủ, tập trung thu nợ xấu trong bảng, đồng thời gắn với đánh giá định hạng doanh nghiệp, cho vay có chọn lọc, kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng gắn với chất lượng tín dụng.

Bảng 2.7. Thực trạng các khoản nợ của BIDV

Chất lượng tín dụng được nâng cao đáng kể: nợ xấu giảm và nợ tốt tăng cả về mặt số tuyệt đối và số tương đối. Tổng nợ xấu giảm 573 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu năm 2008 đã xuống dưới 3%. Nợ nhóm 1 tăng từ 72,6% lên 76,6% tổng dư nợ. Đặc biệt nợ không thu hồi được giảm chỉ còn 0,6% dư nợ. Đây là thành công rất đáng ghi nhận của ngân hàng trong việc kiểm soát chất lượng tín dụng trong năm 2008 là năm thực sự khó khăn đối với hoạt động tín dụng. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất trong cả nước gặp nhiều khó khăn khi sản lượng tiêu thụ thấp ở cả thị trường nội địa và thị trường nước ngoài. Chính điều này khiến cho lợi nhuận của các doanh nghiệp này giảm đáng kể, đồng nghĩa với giảm khả năng thanh toán cho ngân hàng đối với các khoản vay nhằm phục vụ kinh doanh. Tuy nhiên do chính sách phân loại xếp hạng khách hàng chặt chẽ nên BIDV đã hạn chế được các khoản nợ xấu, và tỷ lệ thu hồi vốn cho vay cao.

BIDV là ngân hàng đi đầu trong việc phân loại nợ theo điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN trong khi hầu hết các NHTM ở Việt Nam vẫn thực hiện theo điều 6 của quyết định này. Cụ thể, theo điều 6, NHTM thực hiện việc phân loại nợ chủ yếu căn cứ theo thời gian quá hạn của các khoản nợ, còn theo điều 7, các NHTM thực hiện phân loại nợ lại theo kết quả xếp hạng khách hàng từ hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ – dựa trên sự đánh giá tổng hợp về tình hình tài chính, phi tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Và đây là phương thức phổ biến đang được các ngân hàng trên thế giới áp dụng. Sau bước chuyển sang thực hiện theo điều 7, tỷ lệ nợ xấu của BIDV đã tăng đột biến so với các NHTM khác.

Biều đồ 2.5. Tình hình nợ xấu của một số NHTM Việt Nam

Tuy sau khi chuyển sang thực hiện theo điều 7 về phân loại nợ xấu, tỷ lệ này tăng cao ở BIDV nhưng đến năm 2008, với việc xếp hạng tín dụng khách hàng nội bộ khiến cho các khoản nợ sạch gia tăng. Chính điều này đã khiến cho việc trong khi các NHTM khác tỷ lệ nợ xấu có xu hướng gia tăng thì chỉ có BIDV và CTG là có xu hướng kiểm soát được các khoản nợ, giúp cho tỷ lệ nợ xấu giảm.

Do vậy có thể dễ dàng nhận thấy với hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để phân loại nợ sẽ giúp cho BIDV xác định chính xác tỷ lệ nợ xấu tại mỗi thời điểm, trợ giúp cho BIDV trong việc kiểm soát toàn bộ doanh mục tín dụng cũng như đánh giá khách hàng vay vốn một cách thống nhất.

2.2.2. Phương pháp quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay tại BIDV Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Khi khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi sẽ gây nên rủi ro tín dụng. Đối với mỗi ngân hàng có một phương pháp để đánh giá rủi ro tín dụng khác nhau, có thể dựa vào các tiêu chí qua tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn, nợ đáng nghi ngờ và nợ không có tài sản đảm bảo… Tuy nhiên có những ngân hàng lại phân loại nợ theo khách hàng để phân tích và đánh giá rủi ro. Và hiện nay BIDV là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam đã xây dựng cho mình được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ có chất lượng cao. Trên cở sở dựa vào phương pháp định lượng (thông tin tài chính) và định tính (thông tin phi tài chính), BIDV đã xây dựng cho mình một hệ thống đánh giá rủi ro đối với các khoản cho vay một cách hiệu quả.

2.2.2.1. Phương pháp cho điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp

Điểm đặc biệt trong việc đánh giá rủi ro tín dụng nói chung hay đối với các khoản cho vay nói riêng của BIDV so với các NHTM khác khi đã xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng sau đó thực hiện theo Quyết định 493/2005/ QĐ – NHNN để phân loại nợ. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV gồm 3 phần : xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế, xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng là cá nhân và xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng là tổ chức tín dụng. Trong đó cấu phần hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng là tổ chức kinh tế là cốt lõi bởi đây là đối tượng khách hàng có tổng dư nợ chiếm tỷ trọng lớn nhất với việc chấm điểm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính có tính đến các yếu tố ảnh hưởng như: quy mô hoạt động; ngành nghề hoạt động; loại hình sở hữu của khách hàng. Tùy theo tổng số điểm đạt được mà mỗi khách hàng sẽ được phân vào một trong mười nhóm hạng tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau. Khi đó ngân hàng sẽ có những chính sách áp dụng đối với mỗi nhóm khách hàng.

Đối tượng được xếp hạng tín dụng nội bộ: Với các khách hàng doanh nghiệp để là đối tượng của hệ thống chấm điểm tín dụng cần thỏa mãn được 2 điều kiện:

  • Điều kiện 1: Có tổng dư nợ tại hệ thống BIDV tại thời điểm đánh giá là 5 tỷ đồng trở lên.
  • Điều kiện 2: Khách hàng không thuộc một trong các loại sau:
  • Khách hàng có dư nợ ngoại bảng tại thời điểm đánh giá mà khoản nợ này trước đây đã được BIDV xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro của BIDV. Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV
  • Các khách hàng bị âm vốn chủ sở hữu và kinh doanh thua lỗ trong năm tài chính gần nhất.
  • Khách hàng có khoản vay quá hạn trên 360 ngày tại thời điểm đánh giá.
  • Khách hàng mới thành lập, hoạt động chưa đủ năm và chưa có báo cáo tài chính hoặc khách hàng mới thành lập đã có báo cáo tài chính nhưng báo cáo tài chính không có số dư đầu kỳ

Phương pháp xếp hạng tín dụng nội bộ

Phương pháp định lượng (thông tin tài chính)

Dựa trên kết quả báo cáo tài chính của doanh nghiệp cung cấp bao gồm

Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, BIDV sẽ đánh giá thông qua một bộ chỉ tiêu gồm 14 chỉ tiêu tài chính (Bảng phụ lục 4).

Các chỉ tiêu tài chính yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp cần được chuẩn hóa theo mẫu báo cáo tài chính mới nhất của Bộ tài chính (Quyết định số 15/2006/QD – BTC). Trong trường hợp doanh nghiệp lập báo cáo tài chính

Sổ tay tín dụng nội bộ, BIDV. theo mẫu báo cáo cũ, thì CBTD cần thực hiện nhóm các chỉ tiêu có cùng bản chất để phù hợp với các chỉ tiêu của mẫu báo cáo tài chính mới.

Phương pháp định tính (thông tin phi tài chính)

Đây là phương pháp truyền thống được sử dụng nhằm đánh giá định tính chất lượng của khách hàng. Kết quả của việc phân tích này phải được đưa vào báo cáo thẩm định rủi ro. BIDV đã xếp thông tin phi tài chính dựa trên 5 chỉ tiêu :

  • Khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ
  • Trình độ quản lý và môi trường nội bộ
  • Quan hệ với Ngân hàng
  • Các nhân tố bên ngoài
  • Các đặc điểm hoạt động khác

Trên cở sở tổng hợp cả 2 phương pháp là định lượng và định tính, các CBTD sẽ tổng hợp điểm và xếp hạng đối với khách hàng. Căn cứ vào tổng số điểm đạt được, khách hàng sẽ được BIDV xếp thành 10 mức xếp hạng và phân thành 7 nhóm khách hàng để áp dụng chính sách cụ thể theo nhóm. (Bảng phụ lục 5).

2.2.2.2. Chính sách của Ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro đối với khoản cho vay Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

BIDV tự hào là một trong những ngân hàng thương mại đầu tiên thực hiện việc phân loại khách hàng trên cở sở đánh giá xếp hạng tín dụng nội bộ. Từ đó có những chính sách đưa ra với từng nhóm khách hàng khác nhau nhằm đảm bảo an toàn đối với các khoản cho vay.

Chính sách khách hàng:

BIDV đã xây dựng chính sách khách hàng đối với từng nhóm khách hàng tương ứng với từng mức rủi ro khác nhau căn cứ theo kết quả của hệ thống định hạng tín dụng. Tuân thủ theo Quyết định số 9488/QĐ-TD3 ngày 01/12/2006 của Tổng Giám đốc BIDV, dựa trên việc đánh giá phân loại khách hàng mà BIDV sẽ có những chính sách cho vay phù hợp như sau:

Nhóm khách hàng AAA và AA: Với mục tiêu “ Không ngừng tăng cường mở rộng, phát triển bền vững các mối quan hệ giữa khách hàng và BIDVChính sách mở rộng, phát triển”, nhóm khách hàng này sẽ được đáp ứng tối đa và kịp thời nhu cầu về tín dụng.

Nhóm khách hàng nhóm A và BBB:    Với mục tiêu “ Tiếp tục duy trì và không ngừng phát triển bền vững các mối quan hệ giữa khách hàng và BIDV – Chính sách duy trì, phát triển”. BIDV có chủ trương khuyến khích thúc đẩy cho vay với nhóm đối tượng này với nhiều chính sách ưu tiên. Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Nhóm khách hàng BB và B: Với mục tiêu “Tiếp tục duy trì tích cực các mối quan hệ giữa khách hàng và BIDV – Chính sách duy trì”, BIDV đáp ứng nhu cầu phù hợp về tín dụng trên cơ sở phải đảm bảo tỷ lệ về giới hạn an toàn theo quy định 457/QĐ-NHNN. Ngoài ra, trong quá trình vay vốn, BIDV sẽ xem xét việc hạn chế cấp tín dụng, tạm dừng có thời hạn (3-6 tháng) việc cấp tín dụng nếu nhận thấy có dấu hiệu bất thường trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo chiều hướng xấu

Nhóm khách hàng nhóm CCC và CC: Với mục tiêu “Duy trì mối quan hệ giữa khách hàng và BIDV đảm bảo việc thu hồi được nợ vay – Chính sách rút lui”. BIDV chỉ đáp ứng nhu cầu thực sự hợp lý về tín dụng trên cơ sở phải đảm bảo tỷ lệ giới hạn an toàn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình vay vốn, BIDV sẽ xem xét việc hạn chế cấp tín dụng hoặc dừng việc cấp tín dụng nếu nhận thấy hoạt động kinh doanh của khách hàng có chiều hướng xấu đi.

Nhóm khách hàng nhóm C và D: Với mục tiêu “tăng cường các biện pháp xử lý nợ nhằm thu hồi được nợ vay – Chính sách thu hồi nợ”. BIDV không cho vay mới bảo lãnh đối với nhóm khách hàng này, đồng thời đặt đối tượng khách hàng này trong diện kiểm soát đặc biệt, tăng cường các hoạt động đôn đốc, thực hiện các biện pháp xử lý nhằm thu hồi được nợ vay.

Hạn mức cho vay

Tuân theo những yêu cầu được ban hành trong Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, BIDV đã xây dựng chính sách nội bộ về các tiêu chí xác định một khách hàng và nhóm khách hàng liên quan và các giới hạn tín dụng cho từng loại đối tượng. Cụ thể như sau:

  • Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có.
  • Tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có. Như vậy, nếu một ngân hàng đã cấp khoản cho vay một khách hàng đạt mức tối đa 15% vốn tự có thì ngân hàng đó chỉ có thể cấp bảo lãnh cho cùng khách hàng tối đa 10% vốn tự có (trong đó bảo lãnh ngân hàng thì tổng số dư bảo lãnh cho một khách hàng có thể dạt tối đa 15% vốn tự có).
  • Tổng dư nợ cho vay đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có.
  • Tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có.
  • Tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính.
  • Tổng mức cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 80% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính.

2.2.2.3 Phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro

Căn cứ theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy định về phân loại nợ, Nhóm khách hàng có liên quan: Được xác lập trên cơ sở quan hệ sở hữu (VD: một khách hàng cá nhân sở hữu tối thiểu 25% hoặc một khách hàng pháp nhân sở hữu tối thiểu 50% vốn điều lệ của một khách hàng pháp nhân khác), quan hệ quản trị, điều hành (VD: một khách hàng cá nhân giữ chức danh CT HĐQT, TQĐ trong một khách hàng pháp nhân khác, hoặc quan hệ thành viên giữa hai hay nhiều khách hàng có quan hệ vay vốn với tổ chức tín dụng. trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, BIDV đã ban hành quyết định số 2090/QĐ-TDDV3 ngày 26/4/2005 trên cơ sở quyết định số 5645/QĐ-TDDV2 về việc phân loại khách hàng và phân loại nợ theo điều 6 quyết định 493/QĐ-NHNN. Tuy nhiên vào thời điểm cuối năm 2006, khi được NHNN chấp nhận thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, BIDV đã chuyển sang thực hiện phân loại nợ theo điều 7 nhằm phán ánh chính xác tình trạng của các khoản nợ hơn. Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Căn cứ quyết định số 9745/NHNN-CNH ngày 14/11/2006 của NHNN về việc chấp thuận cho phép Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam thực hiện chính sách dự phòng theo điều 7 Quyết định số 493/QĐ-NHNN, BIDV đã ban hành quyết định số 9365/QĐ-QLTD4 ngày 27/11/2006 về việc ban hành Chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo điều 7 quyết định 493/QĐ-NHNN căn cứ trên cơ sở kết quả hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, các khoản nợ của khách hàng sẽ phân được phân loại vào các nhóm nợ tương ứng như sau:

Nợ nhóm 1- nợ đủ tiêu chuẩn (Khách hàng thuộc nhóm AAA, AA, A): gồm các khoản nợ trong hạn mà ngân hàng đánh giá đủ khả năng thu hồi cả gốc lẫn lãi đúng hạn, các khoản bảo lãnh cam kết cho vay và chấp nhận thanh toán. Đối với loại nợ này, không cần phải trích lập dự phòng rủi ro.

Nợ nhóm 2- nợ cần chú ý (Khách hàng nhóm BBB, BB): gồm các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại. Trích DPRR: 5%

Nợ nhóm 3- nợ dưới tiêu chuẩn (Khách hàng nhóm B, CCC, CC): gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Trích DPRR: 20%

 Nợ nhóm 4 – nợ nghi ngờ (Khách hàng nhóm C): gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 380 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Trích DPRR:

Nợ nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn (Khách hàng nhóm D): gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, các khỏan nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Trích DPRR: 100%.

2.3. Đánh giá thực trạng đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay vốn tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

2.3.1. Kết quả đạt được

Năm 2009, tổ chức xếp hạng tín nhiệm uy tín Fitch Ratings đã giữ nguyên xếp hạng độc lập của BIDV ở mức D/E và xếp hạng hỗ trợ ở mức 4. Theo ông Sabine Bauer – Giám đốc bộ phận định chế tài chính của Fitch đã nhận định: „‟ BIDV là một trong những ngân hàng Việt Nam vượt trội về định hướng thương mại và quản trị rủi ro‟‟. BIDV đã thể hiện vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế trên cơ sở gắn với kiểm soát chất lượng tín dụng, đảm bảo an toàn trong hoạt động của cả hệ thống ngân hàng. Một số kết quả đáng chú ý trong hoạt động cho vay mà BIDV đã đạt được trong thời gian qua có thể kể đến như sau:

  • Đặc điểm nổi bật và thành công nhất nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của BIDV khi đã xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng độc lập. Chính điều này đã nâng cao khả năng đánh giá khách hàng, làm cơ sở đối với quyết định cho vay và áp dụng các chính sách hợp lý nhằm hạn chế rủi ro đối với các khoản cho vay. Ngoài việc xem xét đánh giá chất lượng theo các chuẩn mực Việt Nam, BIDV cũng chủ động áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế nhằm chuẩn bị tốt nhất cho quá trình hội nhập quốc tế.
  • BIDV đã chủ động trong việc lựa chọn khách hàng, củng cố các mỗi quan hệ với các khách hàng truyền thống, có kết quả tốt và khả quan. Tiếp tục duy trì nền tảng khách hàng hiện có và tìm kiếm các đối tác chiến lược phục vụ cho quá trình đa dạng hóa chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Trong giai đoạn 2005 – 2009, BIDV đã chủ động tìm kiếm, đàm phán và ký kết hợp đồng hợp tác toàn diện với các tổng công ty, các tập đoàn tài chính, Ngân hàng toàn cầu nhằm củng cố và tạo nên một nền tảng ổn định trong mọi lĩnh vực. Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV
  • BIDV luôn gắn kết mở rộng cho vay với đảm bảo an toàn và kiểm soát chất lượng tín dụng để mang lại sự phát triển vững chắc. Tỷ lệ nợ quá hạn được duy trì ở mức dưới 3%/năm trên tổng dư nợ vay, điều này thể hiện chất lượng tín dụng của BIDV là khá tốt, mặt khác tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro ngày càng được cải thiện chứng tỏ khả năng chống đỡ với những rủi ro tín dụng của ngân hàng được nâng cao.
  • BIDV đã thực hiện đổi mới công tác quản trị điều hành thông qua việc sửa đổi bổ sung các qui chế, qui trình và áp dụng có hiệu quả các công cụ kế hoạch giới hạn, cơ cấu tín dụng. Mạnh dạn đánh giá chất lượng tín dụng theo các chuẩn mực mới của NHNN. Trên cơ sở đó ngân hàng đã có những điều chình để chuyển biến trong cơ cấu dư nợ, cơ cấu khách hàng, từng bước hình thành hệ thống quản lý rủi ro đối với các khoản cho vay. Những biện pháp này thể hiện rõ trong việc hoàn thiện Sổ tay tín dụng, phân cấp ủy quyền phán quyết từ hội sở chính đến chi nhánh ngày càng minh bạch và hợp lý. Ngân hàng đã có bước tiến khá mạnh trong việc điều chỉnh cơ cấu dư nợ của khách hàng và thực hiện chuyển dịch cơ cấu cho vay theo đúng định hướng và lộ trình đã được đặt ra.
  • Bên cạnh đó, BIDV đã chủ động trong việc chuyển dịch cơ cấu dư nợ theo khách hàng, theo thành phần kinh tế đã có sự biến chuyển rõ rệt theo đúng định hướng của ngân hàng, cho vay kinh tế ngoài quốc doanh đã có sự tăng trưởng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tín dụng của BIDV. Nếu như trước đây, khách hàng biết đến BIDV như một ngân hàng chỉ phục vụ cho các doanh nghiệp Nhà nước thì nay quan điểm đó đã thay đổi, BIDV đã trở thành ngân hàng của mọi thành phần kinh tế.

Với những kết quả đạt được trong việc đảm bảo an toàn hoạt động cho vay, BIDV đã và đang khẳng định là một NHTM quốc doanh lớn, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước. Ngân hàng luôn chủ động mở rộng tín dụng gắn liền với kiểm soát tăng trưởng, chất lượng cho vay, gắn với việc tuân thủ các qui định của Nhà nước, các qui trình nghiệp vụ của ngành. BIDV cũng đã kiên quyết và chủ động trong khâu giải quyết các khoản nợ tồn đọng nhằm làm sạch bảng cân đối kế toán đồng thời kiên quyết ngăn ngừa các khoản nợ xấu mới phát sinh. Hệ thống kiểm soát nội bộ được đặc biệt quan tâm, hội đồng quản lý tài sản nợ – có được thành lập và hoạt động có hiệu quả đã góp phần quản trị rủi ro với các khoản cho vay.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhập các cam kết của Chính phủ đang được thực thi thì tình hình cạnh tranh trên thị trường tài chính ngân hàng càng trở nên gay gắt và quyết liệt, do vậy BIDV không thể bằng long với những gì hiện có mà còn phải nỗ lực nhiều hơn để khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường thông qua việc chỉ ra các nguyên nhân hạn chế và từ đó đưa ra các giải pháp để khắc phục.

2.3.2. Khó khăn còn tồn tại Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Một là: Công tác kiểm soát tăng trưởng, nâng cao chất lượng các khoản cho vay đã được tập trung chỉ đạo quyết liệt có trọng tâm nhưng còn thiếu tính đồng bộ từ chỉ đạo đến phối hợp giám sát và đánh giá. Việc phân loại và đánh giá thực trạng nợ xấu, phân tích nợ để quản lý và xử lý chưa được thực hiện một cách đồng bộ và toàn diện. Còn tồn tại nhiều mâu thuẫn bất cập trong công tác quản lý và kiểm soát khi thiếu tính liên tục và định hướng, chưa tách bạch rõ quyền hạn và trách nhiệm trong phòng ngừa và kiểm soát rủi ro, chỉ đạo còn chưa mang tính đồng bộ….

Hai là: Việc đa dạng hóa khách hàng, ngành hàng trong hoạt động cho vay của ngân hàng vẫn chưa đồng bộ và hoàn thiện.Một số khoản vay lớn vẫn được tập trung vào một số ngành hàng như xây dựng cơ bản, lắp máy, dầu khí…đây sẽ là điểm không an toàn trong hoạt động cho vay nếu các ngành này gặp khó khăn.

Ba là: Vòng quay vốn của BIDV chưa cao. Nếu so sánh với một số NHTM khác thì vòng quay vốn của BIDV chỉ ở mức độ trung bình do ngân hàng vẫn tập trung vào một số ngành có thời gian thu hồi vốn lâu như : xây lắp, khai khoáng…

Bốn là: Tỷ lệ cho vay có tài sản đảm bảo của BIDV ở mức khá cao và có chiều hướng tăng lên qua các năm nhưng công tác quản trị danh mục tài sản này vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ và đồng bộ, chất lượng tài sản đảm bảo chưa cao.

Năm là: Trình độ năng lực của cán bộ tín dụng còn hạn chế, hệ thống thông tin tín dụng và thông tin kiểm soát rủi ro tín dụng đã được đưa vào vận hành nhưng hoạt động còn yếu kém. Kỹ năng tác nghiệp trong công tác thẩm định, phân tích dự báo và đánh giá còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp và không còn là điểm mạnh của ngân hàng.

2.2.3. Nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

Khả năng quản trị điều hành của các nhà quản trị ngân hàng còn hạn chế, chưa mang tính đồng bộ, tính đột phá và tính chiến lược.

BIDV cần quan tâm đến chiến lược kinh doanh khi phải xác định được vị trí nào trong thị phần cho vay và cần tập trung ở những phân khúc đối tượng nào để đạt được mục tiêu đã đề ra. Là một NHTMNN lớn nhưng hoạt động của Ban rủi ro của BIDV chưa được đánh gía cao và chú trọng đầu tư. Cần phải tăng cường tính hiệu quả của bộ phận quản lý rủi ro nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng và hoạt động khác của ngân hang ở mức độ cao nhất, hiệu quả nhất.

Ngân hàng chưa xây dựng được cho mình một chính sách khách hàng đầy đủ.

Trong những năm qua, quy mô tổng tài sản và vốn chủ sỏ hữu của BIDV không ngừng ra tăng, thị phần tiền gửi và cho vay cũng được mở rộng. Tuy nhiên, BIDV vẫn chưa xây dựng được cho mình một chính sách khách hàng đầy đủ, các chính sách về lãi suất, phí, chính sách đầu tư, quảng bá thương hiệu chưa được quan tâm đúng mức. Ngân hàng chưa có bộ phận chuyên trách đảm nhận công tác nghiên cứu và xây dựng chính sách khách hàng, nắm bắt những thay đổi của khách hàng nhằm đưa ra những phương thức cho vay phù hợp nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của người đi vay.

Hệ thống thông tin tín dụng và thông tin kinh tế chưa được ngân hàng quan tâm đúng mức.

Ngân hàng đã thành lập phòng thông tin kinh tế nhưng hiệu quả hoạt động của phòng này chưa cao, các thông tin đưa ra chưa mang tính dự báo và cành bảo, lực lượng cán bộ làm công tác này còn thiếu nhạy bén, nắm bắt nhanh và đầy đủ các thông tin liên quan đến hoạt động Ngân hàng và tình hình chung để cán bộ làm công tác tín dụng tham khảo và đưa ra quyết định cho vay hợp lý.

Do trình độ phát triển của nền kinh tế:

Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình phát triển và hội nhập do vâỵ chưa hình thành đầy đủ các yếu tố của thị trường. Thị trường trong nước kém phát triển và thiếu đồng bộ, chưa hình thành nhiều kênh dẫn vốn cho nền kinh tế do vậy sức ép về nguồn cung vốn vẫn chủ yếu đặt lên các NHTM. Đặc biệt khi khách hàng chủ yếu của NHTMNN vẫn là các DNNN hoạt động kém hiệu quả, mang lại nhiều rủi ro đối với các khoản vay nợ ngân hàng. Do sự can thiệp của Nhà nước với nhóm đối tượng khách hàng này khiến cho hoạt động cho vay của BIDV còn thiếu tính chủ động, khách quan.

Thách thức từ hội nhập kinh tế quốc tế.

Thách thức đặt ra đối với BIDV trong quá trình phát triển chính là sự cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài khi mà chưa được chuẩn bị chu đáo và đảm bảo an toàn trong hoạt động còn gặp nhiều yếu tố rủi ro. Do muốn chiếm lĩnh thị phần cho vay mà BIDV có thể mở rộng đối tượng cho vay và không đánh giá đúng khả năng thanh toán của những khách hàng đó. Chính điều này sẽ khiến cho việc tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh nhưng đồng nghĩa với việc sẽ có nhiều yếu tố rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải. Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp đảm bảo an toàn cho vay vốn tại BIDV

One thought on “Khóa luận: Thực trạng bảo đảm an toàn cho vay vốn tại BIDV

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về cho vay vốn tại Ngân hàng BIDV

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464