Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và sự chấm dứt chiến tranh lạnh, toàn cầu hoá đã trở thành một trong những xu thế phát triển tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế, phá tan xu hướng khép kín của mỗi quốc gia trên hành tinh đồng thời tăng cường sự tuỳ thuộc về lợi ích kinh tế giữa các quốc gia. Trong bối cảnh đó, thương mại quốc tế là một lĩnh vực hoạt động đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới, phát huy những lợi thế so sánh của đất nước, tận dụng tiềm năng về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lý tiên tiến từ bên ngoài, duy trì và phát triển văn hoá dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Ấn Độ đang nổi lên ở khu vực và trên thế giới. Là nền kinh tế lớn thứ ba châu Á, Ấn Độ đang đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của khu vực. Đặc biệt trong những năm gần đây, Ấn Độ luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới. Mở rộng quan hệ với Ấn Độ sẽ giúp Việt Nam trở thành một quốc gia quan trọng trong khu vực.
Với phạm vi địa lý rộng lớn, dân số đông thứ 2 thế giới, tầng lớp thu nhập cao ngày càng đông, Ấn Độ được coi là thị trường khổng lồ với sức mua ngày càng gia tăng và nhu cầu sẽ ngày càng đa dạng. Hơn nữa, thị trường Ấn Độ được dự đoán sẽ mở cửa hơn trong thời gian tới với mặt bằng thuế quan nhìn chung giảm dần. So với thị trường Mỹ và EU, thị trường Ấn Độ được đánh giá là tương đối dễ tính, có yêu cầu về chủng loại và chất lượng hàng hóa nhập khẩu tương đối phù hợp với trình độ sản xuất của Việt Nam.
Việt Nam – Ấn Độ đã có quan hệ hữu nghị truyền thống từ lâu đời, khởi nguồn từ những mối liên hệ và giao lưu lịch sử sâu xa về văn hóa, tôn giáo. Trong thời kỳ hiện đại, mối quan hệ giữa hai dân tộc đã được hai vị lãnh đạo tiền bối kiệt xuất của hai nước là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng J. Nehru tạo dựng nền móng, các thế hệ lãnh đạo kế tiếp và nhân dân hai nước dày công vun đắp.
Ấn Độ là một trong 10 bên đối thoại quan trọng của ASEAN. Là thành viên của ASEAN, đồng thời là nước có quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện tốt đẹp với Ấn Độ, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam là không ngừng tăng cường quan hệ hợp tác với Ấn Độ trong cả khuôn khổ song phương và đa phương.
Mặc dù quan hệ thương mại giữa hai nước đã tăng lên rõ rệt từ mức khởi điểm khoảng 50 triệu USD vào giữa thập kỷ 1980 lên 1,5 tỷ USD năm 2022. Triển vọng tăng cường quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ vẫn hết sức phong phú và to lớn, phù hợp với mong muốn, nguyện vọng chung và với sự nỗ lực của cả hai bên.
Từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ” làm khóa luận tốt nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Đề tài nghiên cứu tổng quát thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ trong thời gian qua cùng với những thành tựu và hạn chế còn tồn tại cản trở đến sự phát triển thương mại giữa hai nước, để từ đó đưa ra giải pháp cụ thể, đối với nhà nước và các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước ngày càng tốt đẹp hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: tập trung vào xem xét, đánh giá hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam – Ấn Độ từ năm 2001 đến nay bao gồm: quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu, cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu giữa hai nước.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Khoá luận sử dụng phương pháp lý luận kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, phân tích định tính kết hợp với phân tích định lượng.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, phụ lục, khóa luận được chia thành ba chương trong đó bao gồm:
Chương 1: Lý luận chung về thương mại quốc tế và tổng quan về đất nước Ấn Độ
Chương 2: Đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ từ năm 2001 đến nay
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Do những hạn chế về mặt thời gian, lý luận và thực tiễn, khoá luận này chắc chắn không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo và các bạn sinh viên cùng quan tâm tới đề tài này để khoá luận của tôi được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Tuyết Nhung cùng gia đình và bạn bè đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC ẤN ĐỘ
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
1.1.1. Khái niệm
Không thể có một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập, phát triển có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Quan hệ kinh tế quốc tế là bộ phận cốt lõi tạo nên tính hữu cơ của nền kinh tế thế giới, nhờ đó mà các nền kinh tế quốc gia có thể liên kết với nhau như một thể thống nhất.
Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại xét trên phạm vi toàn thế giới. Quan hệ kinh tế đối ngoại là toàn bộ các mối quan hệ về kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ của một quốc gia với bên ngoài ( “bên ngoài” ở đây bao gồm các quốc gia, vùng lãnh thổ khác; các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại mang tính khu vực hoặc toàn cầu; các công ty, tập đoàn).
Những hình thức chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế bao gồm: quan hệ về di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ, quan hệ về di chuyển quốc tế vốn đầu tư, quan hệ về di chuyển quốc tế sức lao động, quan hệ kinh tế quốc tế trong lĩnh vực khoa học công nghệ, quan hệ về di chuyển quốc tế các phương tiện tiền tệ.
Quan hệ về di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ là một hình thức quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu. Trong thực tế, các quan hệ di chuyển quốc tế hàng hoá và dịch vụ được gọi là thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế có mầm mống từ hàng ngàn năm nay, nó ra đời sớm nhất và hiện nay vẫn giữa vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế.
Thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các quốc gia, thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên. [1, trang 59]
Thương mại quốc tế giữa quốc gia này với quốc gia khác được gọi là quan hệ thương mại song phương (ví dụ như quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ).
1.1.2. Nội dung của thương mại quốc tế Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Thương mại quốc tế được chia ra làm hai nhóm:
- Thương mại hàng hoá hữu hình: là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc buôn bán, trao đổi các sản phẩm, hàng hoá thể hiện dưới dạng vật chất, hữu hình. Thương mại hàng hoá hữu hình ra đời sớm nhất và cho đến nay vẫn là hình thức quan trọng nhất trong thương mại quốc tế.
- Thương mại hàng hoá vô hình (hay thương mại dịch vụ): là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán, trao đổi các sản phẩm vô hình, phi vật chất được thực hiện thông qua các hoạt động của con người. Các hình thức thương mại dịch vụ chủ yếu: dịch vụ bán buôn bán lẻ, dịch vụ thông tin, dịch vụ tài chính, dịch vụ vận tải, dịch vụ du lịch…
Thương mại quốc tế thường được nghiên cứu dưới ba góc độ. Góc độ thứ nhất nhìn nhận hoạt động thương mại trên quan điểm toàn cầu, tìm ra những quy luật, xu hướng, vấn đề mang tính chất chung nhất trên thế giới, không phụ thuộc vào lợi ích của từng quốc gia. Góc độ thứ hai đứng trên lợi ích và quan điểm của từng quốc gia để xem xét hoạt động buôn bán chủ yếu của quốc gia đó với các quốc gia khác trên thế giới. Góc độ thứ ba gắn với hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty nhằm mục đích thu lợi cao nhất cho công ty.
Trên góc độ một quốc gia thương mại quốc tế chính là hoạt động xuất nhập khẩu (ngoại thương). Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoài, và nhập khẩu là việc mua hàng hoá và dịch vụ của nước ngoài. Xuất nhập khẩu là những hoạt động cụ thể trong mua bán hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh tế trong nước với các đối tác nước ngoài. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, các quan hệ thương mại giữa các quốc gia, các khu vực được mở rộng hơn, do đó các quan hệ thị trường, đặc biệt là xuất nhập khẩu giữa các nước tăng trưởng ngày càng mạnh mẽ và phát triển cao cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Nội dung của khoá luận này sẽ chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hoá hữu hình giữa Việt Nam và Ấn Độ.
1.1.3. Những đặc điểm phát triển chủ yếu của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng nhanh, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất, điều đó đưa đến tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc gia ra thị trường thế giới. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hoá vô hình nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hoá hữu hình thể hiện sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia. Điều này đã kéo theo nhiều quốc gia đang có sự đầu tư phát triển nhiều lĩnh vực dịch vụ.
Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc với những xu hướng chính sau:
- Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng nguyên vật liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và khí đốt.
- Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế tạo, nhất là máy móc, thiết bị và những mặt hàng tinh chế.
- Giảm tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng nhiều lao động giản đơn, tăng nhanh những mặt hàng kết tinh lao động phức tạp.
- Tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao tăng nhanh.
- Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau, không những về mặt chất lượng, giá cả mà còn về điều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, các dịch vụ sau bán hàng… và các tiêu chuẩn khác gắn với trách nhiệm xã hội và quyền lợi người tiêu dùng.
Đi đôi với các quan hệ thương mại, sự phân công lao động quốc tế, hợp tác đầu tư, hợp tác khoa học và kỹ thuật, chuyển giao công nghệ… ngày càng đa dạng và phong phú, bổ sung cho nhau và thúc đẩy nhau phát triển.
Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hoá diễn ra liên tục, đòi hỏi phải năng động, nhạy bén khi gia nhập thị trường thế giới. Các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao có sức cạnh tranh mạnh mẽ trong khi các sản phẩm, nguyên liệu thô ngày càng mất giá, kém sức cạnh tranh.
Sự phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hoá thương mại, song mặt khác, giữa các liên kết kinh tế quốc tế cũng hình thành các hàng rào mới, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn.
Vai trò của WTO ngày càng quan trọng trong điều chỉnh thương mại quốc tế. Có thể coi WTO là một tổ chức quốc tế có uy lực nhất trong điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. Các thể chế điều chỉnh của WTO ngày càng có hiệu lực đối với nhiều nước, mức độ điều chỉnh và tính chất điều chỉnh cũng ngày càng sâu sắc và hiệu quả hơn.
Thương mại điện tử đang trở thành cách thức giao dịch phổ biến và quan trọng trong thương mại quốc tế.
1.1.4. Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế quốc dân Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Làn sóng toàn cầu hoá kinh tế đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực, các ngành kinh tế trên thế giới, trong đó có thương mại quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, thương mại quốc tế có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào. Đối với Việt Nam, hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là mở rộng thị trường để thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng, ngành hàng mà chúng ta có lợi thế góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, xác định rõ vai trò của thương mại quốc tế cho phép tác động đúng hướng và tạo được những điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển.
1.1.4.1. Thương mại quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất và góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế
Thương mại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế. Do xuất khẩu và nhập khẩu là hai hành động ngược chiều nhau nên khi phân tích vai trò của xuất nhập khẩu cần xem xét nó trong mối quan hệ biện chứng với nhau: xuất khẩu là tạo điều kiện để nhập khẩu, mặt khác nhập khẩu trong nhiều trường hợp (nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu …) lại là yếu tố thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu phát triển. Xuất khẩu vừa thể hiện năng lực cạnh tranh của một quốc gia vừa tạo nguồn lực ngoại tệ để nhập khẩu. Kim ngạch xuất khẩu càng cao và nhập khẩu nguyên nhiên liệu, thiết bị – máy móc càng tốt thì càng tạo điều kiện để nền kinh tế trong nước có thể sản xuất với quy mô lớn hơn và đạt hiệu quả cao trên cơ sở chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế, tạo thêm công ăn việc làm, tạo giá trị gia tăng và mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước, kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm bật dậy các nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng.
1.1.4.2. Thương mại quốc tế phát triển tác động mạnh tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Đối với nền kinh tế có quy mô nhỏ, lạc hậu, đang phát triển như Việt Nam nếu không mở cửa hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới thì không thể phát triển nhanh được và sẽ tụt hậu xa hơn nữa. Vì vậy sự mở rộng thương mại quốc tế, đặc biệt là đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng mà chúng ta có nhiều lợi thế là một trong những tiền đề, động lực trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Không chỉ như vậy mà mở rộng hoạt động thương mại quốc tế cũng sẽ góp phần khắc phục những tàn dư của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển nhanh nền kinh tế nước ta sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là về các mặt như hình thức tổ chức sản xuất, cách thức kinh doanh, cán bộ, văn hóa doanh nghiệp…
Cơ cấu kinh tế nước ta vẫn đang rất lạc hậu, do đó phát triển thương mại quốc tế sẽ trực tiếp góp phần thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Chính việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu có tác động lớn đến thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu tiêu dùng, thay đổi công nghệ, thay đổi phong cách làm việc và tạo ra sự cạnh tranh từ đó dẫn đến nâng cao hiệu quả nền kinh tế quốc dân.
1.1.4.3. Thương mại quốc tế phát triển góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
Thương mại quốc tế, đặc biệt là xuất khẩu, tăng trưởng sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô, năng lực khai thác các nguồn lực của đất nước và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đồng thời nó còn thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội, hình thành và cơ cấu lại các vùng sản xuất tập trung chuyên môn hoá, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Mở rộng sự tham gia thương mại quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh quốc tế trên thị trường trong và ngoài nước và điều đó sẽ tạo môi trường liên tục gây áp lực buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng cải tiến công tác quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, tiết kiệm các nguồn lực… qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
1.1.4.4. Thương mại quốc tế có tác động trực tiếp đến quan hệ đối ngoại
Thương mại quốc tế góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, từng bước đưa thị trường Việt Nam hội nhập với thị trường thế giới, biến Việt Nam thành bộ phận của phân công lao động quốc tế. Đó cũng là con đường để giúp nền kinh tế có bước phát triển nhảy vọt và nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
1.2. TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NƯỚC ẤN ĐỘ Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Ấn Độ
1.2.1.1. Địa lý
Ấn Độ (tiếng Hindi: Bharat), tên chính thức Cộng hòa Ấn Độ, là một quốc gia thuộc vùng Nam Á, lãnh thổ chiếm một phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ. Phía Bắc giáp với Afghanistan, Trung Quốc, Nepal và Bhutan; phía Đông giáp Bangladesh, Myanmar và vịnh Bengal; phía Nam giáp eo biển Palk, vịnh Mannr và Ấn Độ Dương; phía Tây giáp biển Ả Rập và Pakistan. Ấn Độ có diện tích 3.287.590 km2 (lớn thứ 7 trên thế giới), với khoảng hơn 15.200 km đường biên giới đất liền và 5.700 km bờ biển.
Có thể chia địa hình Ấn Độ thành ba vùng chính: vùng núi Himalaya, vùng đồng bằng sông Gange (sông Hằng) và bán đảo Ấn Độ. Các bang phía Bắc và Đông Bắc Ấn Độ nằm một phần trên dãy Himalaya. Nằm ở phía Nam và song song với vùng núi Himalaya là đồng bằng sông Hằng, một vành đai đất thấp rộng hình thành bởi con sông Hằng và các phụ lưu của nó. Vùng này bao gồm một số khu vực có mức sản xuất nông nghiệp cao nhất Ấn Độ. Sa mạc Thar – một vùng đất khô cằn và rộng lớn, nằm ở tận cùng phía Tây Nam của đồng bằng sông Hằng và trải dài đến tận Pakistan. Bán đảo Ấn Độ được bao bọc bởi hầu hết là những vùng duyên hải phì nhiêu. Những con đường mậu dịch xưa đã biến các thành phố và thị trấn của vùng này thành những trung tâm thương mại về vải vóc và đồ gia vị. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Thủ đô của Ấn Độ là New Delhi, có diện tích 1.483 km2 và dân số là triệu người. New Delhi không những là trung tâm thương mại lớn nhất miền Bắc Ấn Độ, mà còn là trung tâm công nghiệp lớn nhất cũng như là trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế trọng yếu của đất nước.
1.2.1.2. Khí hậu
Khí hậu Ấn Độ mang tính chất nhiệt đới gió mùa. Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 6, mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 9. Nóng nhất từ tháng 4 đến tháng 7, lạnh nhất vào tháng 12, tháng 1 và tháng 2. Do địa hình tiểu lục địa rộng lớn và khá phức tạp nên thời tiết và khí hậu Ấn Độ rất đa dạng. Trong khi các vùng phía Bắc, nhất là vùng núi Himalaya, nhiệt độ thấp thường có tuyết rơi trong thời gian dài, thì vùng Sa mạc Thar phía Tây nhiệt độ rất cao. Nhiệt độ chênh lệch nhiều giữa vùng sa mạc và lục địa, giữa mùa nóng và mùa mưa, giữa đêm và ngày. Nhiệt độ ôn hòa ở những vùng ven biển Ấn Độ Dương. Khí hậu đa dạng chính là lý do khiến Ấn Độ được liệt vào quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất thế giới, cả về số loài và số lượng cá thể.
1.2.1.3. Tài nguyên thiên nhiên
Nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất của Ấn Độ là đất và nước. Khoảng 50% diện tích đất đai là những vùng có thể canh tác được, nguồn nước ngầm dưới lòng đất rất lớn. Đồng bằng sông Hằng là một trong những vùng đất phì nhiêu nhất của Ấn Độ. Ở đây nước ngầm rất dồi dào và gần mặt đất nên thuận lợi cho việc canh tác. Mỗi năm vùng này có thể trồng trọt từ hai đến ba vụ mùa, hầu hết lúa gạo và lúa mỳ của Ấn Độ đều được canh tác tại đây. Rừng bao phủ 22% diện tích đất đai và cung cấp một nguồn tài nguyên khác cho Ấn Độ, đó là nhiều loại cây gỗ có giá trị thương mại cao như: tếch, sến, lim, táu, hồng mộc… Ấn Độ có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng gồm: than đá (trữ lượng đứng thứ 4 thế giới), quặng sắt, mangan, bauxit, mỏ titanium, crôm, đồng, khí đốt thiên nhiên, kim cương, dầu mỏ, đá vôi…
1.2.2. Đặc điểm dân cư và đặc trưng văn hóa Ấn Độ Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
1.2.2.1. Đặc điểm về dân cư
Ấn Độ là nước đông dân thứ hai trên thế giới với 1,134 tỷ người (2022), tỷ lệ tăng dân số là 1,4%, với 29,2% dân số sống tại các vùng thành thị. Cơ cấu dân số trẻ với khoảng 53% dân số dưới 25 tuổi, điều này hứa hẹn cung cấp cho thị trường lao động Ấn Độ một nguồn nhân lực dồi dào. Theo dự đoán của ADB (Asian Development Bank), đến năm 2020, 47% dân số Ấn Độ sẽ trong độ tuổi 15-59 (hiện nay là 35%). Trong lúc dân số trong độ tuổi lao động của Mỹ, Tây Âu, kể cả Trung Quốc, theo dự báo sẽ không ngừng sụt giảm. Khi đó, Ấn Độ sẽ trở thành nơi có lực lượng lao động và tiêu dùng đông đảo nhất.
Hiến pháp Ấn Độ quy định tự do tín ngưỡng, không có quốc giáo. Mặc dù 80% dân số theo đạo Hindu, Ấn Độ cũng là đất nước có số lượng tín đồ Hồi giáo đứng thứ ba thế giới với 14% dân số theo đạo Hồi. Các nhóm tôn giáo chính khác gồm: Thiên chúa giáo, đạo Sikh, đạo Jain, đạo Phật.
Số lượng ngôn ngữ mẹ đẻ tại Ấn Độ được ước lượng lên tới 1.652. Đa số những ngôn ngữ đó xuất phát từ hai nhóm ngôn ngữ chính: Aryan (được sử dụng bởi 74% dân số) và Dravidian (được 24% dân số sử dụng). Hiến pháp Ấn Độ công nhận 19 ngôn ngữ chính. Tiếng Hindi là ngôn ngữ dân tộc có gần 50% dân số sử dụng. Tiếng Anh được dùng làm ngôn ngữ chính thức của chính phủ, công sở và trong giáo dục và được sử dụng rộng rãi trong mọi quan hệ giao dịch.
Sự khác biệt về chủng tộc, tôn giáo ở Ấn Độ dần dần tạo nên thành kiến và phân biệt trong dân chúng: người ta không kết hôn với người khác tôn giáo; người miền Bắc (người Aryan) khó lấy người miền Nam (người Dravidian); người da nâu khó lấy người da trắng… Ngày nay, sự phân biệt có giảm bớt phần nào do tác động của thời đại, tuy vậy sự thành kiến giữa các vùng, giữa các tôn giáo, đẳng cấp và chủng tộc vẫn ngấm ngầm tồn tại.
1.2.2.2. Những nét văn hoá nổi bật của Ấn Độ
Ấn Độ có một di sản văn hóa phong phú và đặc trưng duy nhất, và luôn tìm cách giữ gìn những truyền thống của mình trong suốt lịch sử đồng thời vẫn hấp thu các phong tục, truyền thống và tư tưởng từ phía cả những kẻ xâm lược và những người dân nhập cư. Nhiều hoạt động văn hoá, ngôn ngữ, phong tục và các công trình kiến trúc là những ví dụ cho sự đan xen văn hóa qua hàng thế kỷ. Ấn Độ có 22 di sản văn hóa thế giới và 5 di sản tự nhiên thế giới, trong số đó, nổi tiếng nhất là đền Taj Mahal ở Agra. Là quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới và là sự tiếp nối các triều đại thống trị suốt dọc chiều dài và chiều rộng đất nước, Ấn Độ có rất nhiều ví dụ tiêu biểu về các kiến trúc cung điện. Các cung điện của Rajasthan và miền Trung Ấn Độ là những công trình nổi tiếng nhất. Tôn giáo là một phần trung tâm trong cuộc sống hàng ngày của người dân Ấn Độ. Các thành phố thiêng – các điểm dừng trong cuộc hành hương xuyên đất nước của đạo Hindu, các tu viện phật giáo, các nhà thờ nổi tiếng, các ngôi đền Gurudwara và các nhà thờ Hồi giáo tôn nghiêm thể hiện rõ đặc trưng của kiến trúc tôn giáo.
Không chỉ nổi tiếng bởi âm nhạc cùng những triết lý và tôn giáo cổ đại, đất nước rộng lớn này còn có vô số các hội chợ, lễ hội với những bài thánh ca và các màn biểu diễn ghi dấu đậm nét cuộc sống hàng ngày phát triển qua nhiều thế kỷ, và giờ đây lại được pha trộn với những ảnh hưởng từ bên ngoài. Chính nền văn hóa đậm đà, lịch sử lâu dài, những phong tục độc đáo đã tạo nên sự đa dạng của Ấn Độ, làm cho đất nước này thực sự trở thành một trong những điểm đến tuyệt vời nhất trên thế giới đối với bất kỳ khách du lịch nào.
1.2.3. Đặc điểm chế độ chính trị Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
1.2.3.1. Tổ chức nhà nước và chính phủ
Ngày 26 tháng 1 năm 1950, Ấn Độ tuyên bố thành lập nước Cộng hoà. Nhà nước Ấn Độ được tổ chức theo hình thức liên bang và theo chế độ dân chủ đại nghị. Cộng hoà Ấn Độ có 28 bang và 7 vùng lãnh thổ trực thuộc trung ương. Mặc dù mỗi bang đều có cơ cấu lập pháp riêng, nhưng các luật quốc gia vẫn có quyền lực cao hơn các luật pháp bang. Hiến pháp Ấn Độ đã được chính thức thông qua năm 1950, dựa theo nền tảng Comman law từ Anh được tu chỉnh nhiều lần. Chính phủ Ấn Độ có ba cơ quan đứng đầu: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Lãnh đạo hiện nay: Tổng thống Pratibha Patil (nữ Tổng thống đầu tiên của Ấn Độ) nhiệm kỳ bắt đầu từ tháng 7-2022; Thủ tướng Manmohan Singh nhiệm kỳ từ tháng 5-2019; Chủ tịch Quốc hội S. Chatterjee nhiệm kỳ từ tháng 6-2019.
- Cơ quan lập pháp : Quốc hội liên bang gồm hai nghị viện: Thượng nghị viện (Hội đồng Nhà nước) và Hạ nghị viện (Hội đồng Nhân dân).
- Cơ quan hành pháp: Chính phủ Liên bang gồm có: Tổng thống, Phó tổng thống và Hội đồng Bộ trưởng, đứng đầu là Thủ tướng.
Tổng thống là người bảo vệ Hiến pháp và Tư lệnh tối cao của các lực lượng vũ trang Ấn Độ. Tổng thống do cử tri đoàn bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm. Theo Điều 74(1) của Hiến pháp Ấn Độ quy định rõ Tổng thống chỉ thực hiện quyền của mình theo lời khuyên và cố vấn của Thủ tướng. Vì vậy Thủ tướng mới là người nắm thực quyền.
Phó tổng thống cũng do cử tri đoàn bầu ra với nhiệm kỳ 5 năm. Phó tổng thống đồng thời giữ chức Chủ tịch Thượng nghị viện và thay thế Tổng thống khi Tổng thống vắng mặt.
Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống cũng bổ nhiệm các Bộ trưởng theo đề nghị của Thủ tướng. Thủ tướng và Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm tập thể trước Hạ nghị viện và cố vấn cho Tổng thống khi điều hành công việc.
Cơ quan tư pháp
Ngành tư pháp độc lập của Ấn Độ gồm Tòa án Tối cao, do Tổng chưởng lý lãnh đạo. Tòa án tối cao có quyền tài phán phúc thẩm đối với các Tòa án cấp cao. Có 18 Tòa án cấp cao sơ thẩm, mỗi tòa có quyền tài phán đối với một bang hay một nhóm bang nhỏ. Mỗi bang có một hệ thống tòa án cấp thấp hơn.
1.2.3.2. Các đảng phái chính trị
Chế độ chính trị ở Ấn Độ cho phép nhiều đảng phái chính trị hoạt động, 4 đảng phái chính trị lớn nhất ở Ấn Độ là: Đảng Quốc Đại (I); Đảng Nhân dân Ấn Độ (BJP), Đảng Cộng sản Ấn Độ (CPI); Đảng Cộng sản Ấn Độ Mácxít (CPI-M). Đảng Quốc Đại (I) là đảng phái chính trị lớn và lâu đời nhất ở Ấn Độ, được thành lập năm 1885, là đại diện của tầng lớp tư sản dân tộc và trí thức, có khoảng 25 triệu đảng viên chính thức và hàng triệu người có cảm tình với đảng, tích cực ủng hộ. Đảng cầm quyền hầu như liên tục từ khi Ấn Độ giành độc lập (trừ giai đoạn 1977 – 1979 và 1989 – 1990; 1998 -2019). Trong cuộc tổng tuyển cử bầu Hạ nghị viện khoá 14 tháng 5-2019, Đảng Quốc Đại và liên minh đã thắng cử, giành được 219 ghế, riêng Quốc Đại (I) giành được 142 ghế.
1.2.4. Chính sách đối ngoại của Ấn Độ Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Ấn Độ là một trong những nước có nền văn minh lâu đời nhất trên thế giới, là một quốc gia có vũ khí hạt nhân, có thế mạnh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, có nhiều thế mạnh về phát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật, quân sự. Chính những yếu tố này đã làm cho Ấn Độ luôn được coi là một cường quốc trong khu vực và ngày càng có vị thế trên trường quốc tế.
Sau khi giành được độc lập từ thực dân Anh, Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ J.Nehru đã đề ra chính sách đối ngoại: “Chung sống hòa bình, tự lực tự cường và hợp tác, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không liên kết, ủng hộ phi thực dân hoá, giải trừ vũ khí, xây dựng trật tự kinh tế quốc tế công bằng và đấu tranh trên toàn cầu chống phân biệt chủng tộc”. [6, trang 63]
Hiện nay Ấn Độ vẫn tiếp tục duy trì chính sách “ không liên kết” nhưng ngày càng theo chiều hướng mềm dẻo hơn theo hướng cân bằng lực lượng giữa các nước lớn vì lợi ích quốc gia dân tộc. Ấn Độ đẩy mạnh chính sách ngoại giao đa dạng, đa hướng ở cường độ cao, tạo những bước đột phá trong quan hệ quốc tế, đặc biệt theo đuổi chính sách ngoại giao thực dụng xích lại gần hơn với Mỹ và các nước phương Tây nhưng vẫn duy trì quan hệ cân bằng với các nước lớn còn lại như Nga, Nhật Bản; nhấn mạnh tăng cường quan hệ với EU – đối tác có lợi ích chiến lược với Ấn Độ. Ấn Độ có quan hệ thân thiết với các nước đang phát triển ở Nam Mỹ và châu Phi, đặc biệt với Brazil và Mexico.
Một trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ là tăng cường quan hệ với các nước châu Á và các nước láng giềng. Với khu vực Nam Á, Ấn Độ tích cực thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư để tạo sự gắn kết, tăng cường hợp tác khu vực thông qua Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC). Tuy nhiên, Pakistan vẫn là một thách thức lớn đối với Ấn Độ. Kashmir là nguyên nhân sâu sa dẫn đến ba cuộc chiến tranh vào những năm 1947, 1965 và 1971 giữa Ấn Độ và Pakistan. Thời gian gần đây, nhờ sự nỗ lực của hai bên và cộng đồng quốc tế, quan hệ Ấn Độ – Pakistan được cải thiện, nhất là từ khi Pakistan có chính quyền dân sự mới. Tuy nhiên, vụ tấn công khủng bố vào thành phố Mumbai, Ấn Độ ngày 27-11-2023 lại đẩy hai quốc gia Nam Á này trở lại trạng thái căng thẳng và thù địch. Đối với Trung Quốc, vốn có quan hệ bất đồng từ trước do tranh chấp lãnh thổ nên việc cải thiện quan hệ với Trung Quốc là vấn đề phức tạp. Ấn Độ chủ trương có thái độ kiềm chế, mềm dẻo hơn, giải quyết những bất đồng tranh chấp thông quan đối thoại hoà bình, giữ môi trường thân thiện, hoà bình giữa hai nước để phát triển kinh tế. Với Đông Á, Ấn Độ triển khai chính sách “hướng Đông” và tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực này, trong đó chọn ASEAN là một trong những trọng tâm đột phá.
Ấn Độ gia nhập WTO năm 1995 và ngày có tầm ảnh hưởng tại lớn tại tổ chức này. Ấn Độ là thành viên Liên hiệp quốc từ năm 1945, với hơn 55.000 quân nhân và nhân viên cảnh sát từng phục vụ trong 35 chiến dịch gìn giữ hòa bình tại bốn châu lục. Ấn Độ tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, đang phấn đấu để trở thành ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc và gia nhập APEC.
1.2.5. Vài nét về nền kinh tế Ấn Độ Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
1.2.5.1. Tình hình phát triển kinh tế
Sau độc lập, Ấn Độ chọn đường lối kinh tế trung ương kế hoạch hóa, với mục đích đảm bảo một sự phân phối công bằng và hiệu quả tài nguyên quốc gia cho mục tiêu phát triển kinh tế cân bằng. Ủy ban kế hoạch được lập ra do đích thân Thủ tướng làm chủ tịch soạn và chỉ đạo các kế hoạch 5 năm. Lĩnh vực tư nhân được giám sát chặt chẽ bởi các qui định ngặt nghèo. Ấn Độ đã hầu như tự cô lập với các thị trường thế giới nhằm bảo hộ nền kinh tế còn mong manh của mình. Tuy vậy, Ấn Độ không hoàn toàn là một nền kinh tế quốc doanh, mà là một nền kinh tế hỗn hợp, vừa có một vài đặc tính kinh tế thị trường vừa tuân thủ những mệnh lệnh kinh tế chỉ huy.
Từ năm 1991, Chính phủ Ấn Độ đã tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế, đề ra chiến lược cải cách mới với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, hướng về xuất khẩu, cải cách nông thôn, phát triển nông nghiệp và kết cấu hạ tầng, khuyến khích đầu tư nước ngoài, bảo đảm giáo dục và chăm sóc y tế cơ bản cho mọi người dân. Cho đến nay, công cuộc cải cách kinh tế đã đem lại cho nền kinh tế Ấn Độ bước phát triển đáng khích lệ. Trong hai thập kỷ qua, tầng lớp trung lưu đã tăng gấp bốn lần, lên đến 300 triệu người, trong khi đó mỗi năm đều giảm nghèo được 1% dân số (đã khấu trừ tăng dân số). Ấn Độ được đánh giá là một trong những nước có thành tích kinh tế tốt nhất thế giới trong 1/4 thế kỷ qua. Đặc biệt, trong 4 năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ luôn được xếp vào loại cao nhất trên thế giới với mức tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 8%/năm; riêng năm tài chính 2021-2022 (năm tài chính được tính từ ngày 1-4 năm này đến ngày 31-3 năm sau), GDP của Ấn Độ tăng 9,6%. Với mức tăng trưởng là 9% năm tài chính 2022-2023, Ấn Độ đánh dấu năm thứ 5 liên tiếp đạt mức tăng trưởng GDP trên 8%. Nếu xét GDP tính theo tỷ giá USD, WB (World Bank) đánh giá Ấn Độ là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới với GDP đạt 1.171 tỷ USD, còn dựa vào GDP tính theo ngang giá sức mua (PPP), Ấn Độ là nền kinh tế lớn thứ 4 thế giới sau Nhật Bản, Trung Quốc và Mỹ. Tuy nhiên, dân số khổng lồ đã làm cho GDP bình quân đầu người chỉ đạt mức 1.042 USD, đứng thứ 122 trên thế giới và được WB xếp trong nhóm các nước có nền kinh tế đang phát triển. Tiền tệ của Ấn Độ là Rupi.
Tăng trưởng của Ấn Độ dựa nhiều vào ngành dịch vụ, điều này ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả và sự phát triển bền vững của nền kinh tế và cũng được thấy ở sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu hàng xuất khẩu. Dịch vụ chiếm 52,8% GDP của Ấn Độ và tạo việc làm cho 1/3 lực lượng lao động của đất nước này. Trong 10 năm qua, ngành dịch vụ của Ấn Độ luôn đạt mức tăng trưởng bình quân 8-9%/năm và có chiều hướng nhanh hơn công nghiệp chế tạo. Hiện Ấn Độ được xem như một trong số các “trung tâm dịch vụ của thế giới” bởi nước này đang tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ nổi trội như tư vấn công nghệ thông tin, dịch vụ kinh doanh nguồn ngoài, dịch vụ công nghệ thông tin từ xa, dịch vụ hỗ trợ văn phòng (Back-office), phân tích tài chính… Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Ấn Độ dựa nhiều vào xuất khẩu phần mềm và dịch vụ, vào kinh doanh nguồn ngoài sử dụng nhiều chất xám, khó có thể bị cạn kiệt mà cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và tri thức tiềm năng sẽ tiếp tục gia tăng và hầu như không có giới hạn. Nhờ đó, nền kinh tế Ấn Độ hầu như thoát khỏi những chao đảo kinh tế toàn cầu, mức độ ổn định cũng đáng nể như tỉ lệ tăng trưởng. Kết quả là bất bình đẳng xã hội ở Ấn Độ thấp hơn ở các nước đang phát triển khác. Chỉ số Gini đo lường bất bình đẳng thu nhập ở Ấn Độ chỉ là 0,33 trong khi ở Trung Quốc là 0,45 và ở Brazil là 0,59.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức mà Ấn Độ phải tập trung khắc phục để có thể tiến nhanh trên con đường trở thành cường quốc kinh tế. Đó là chất lượng điều hành và tính hiệu quả của bộ máy Nhà nước chưa cao, điển hình là chính sách trong thu hút vốn đầu tư; thâm hụt ngân sách lớn (trên 5%); nợ nước ngoài cao (28% GDP); cơ sở hạ tầng nghèo nàn; còn nhiều rào cản và hạn chế đối với kinh tế thị trường. Còn một số trở ngại trong cả luật lao động và chính sách thương mại đã hạn chế việc mở rộng lực lượng sản xuất đối với thành phần kinh tế nhỏ. Ngoài ra, Ấn Độ còn nhiều khó khăn do tốc độ tăng dân số khá nhanh (1,4%/năm), tỷ lệ người biết đọc biết viết còn thấp (66%), đói nghèo chưa được giải quyết thỏa đáng (35% dân số dưới mức đói nghèo) và mức độ chênh lệch giàu nghèo lớn, giá cả tăng, điện nước thiếu ảnh hưởng tới đời sống nhân dân, nhất là tầng lớp dân nghèo.
1.2.5.2. Nông nghiệp
Vào những năm 60, Cuộc Cách Mạng Xanh lần I diễn ra tại Ấn Độ nhằm hạn chế và đẩy lùi nạn đói dai dẳng đã đem lại những thành công rực rỡ, đưa sản lượng lương thực từ 52 triệu tấn lên khoảng 300 triệu tấn năm 2020. Tiếp đó là Cách Mạng Xanh lần II, rồi đến cuộc Cách Mạng Trắng với mục tiêu phát triển đàn bò sữa và dê sữa nhằm đáp ứng sữa tươi chất lượng cao, giá rẻ phục vụ cho mọi người dân. Và thế giới gọi đó là những cuộc cách mạng trí tuệ, giúp một nước đông dân như Ấn Độ chiến thắng đói nghèo, vươn lên là một nước đảm bảo đủ lương thực và xuất khẩu.
Nông nghiệp chiếm 17,8% GDP của Ấn Độ trong năm 2022 và tạo công ăn việc làm cho khoảng 60% dân số trong độ tuổi lao động. Ngành nông nghiệp cũng đóng góp 14,7% cho tổng thu nhập xuất khẩu và cung cấp nguyên liệu thô cho hầu hết các ngành công nghiệp (dệt, tơ lụa, đường, nhà máy xay, các sản phẩm sữa).
Ấn Độ là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về đay và sợi đay. Không những thế, Ấn Độ là nước có sản lượng sữa cao nhất thế giới. Ấn Độ cũng là nhà sản xuất hàng đầu thế giới về rau quả, cà phê, đường và gia vị. Về các loại ngũ cốc, Ấn Độ đứng thứ hai thế giới về lúa mỳ, lúa gạo và thứ một thế giới về đậu.
Với 60% dân số sống nhờ vào nông nghiệp nhưng trọng tâm cải cách của Chính phủ lại không hướng vào nông nghiệp (tăng trưởng của ngành nông nghiệp chỉ đạt 2,6% năm 2022-2023) mà chú trọng phát triển một hoặc vài ngành công nghiệp mũi nhọn nên các cơ hội việc làm không được mở rộng. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn gia tăng và một bộ phận không nhỏ dân số ở các vùng nông thôn vẫn phải sống trong điều kiện nghèo khổ. Nếu vấn đề không được giải quyết ổn thoả thì cư dân nông thôn sẽ tiếp tục di chuyển ra các thành phố nhiều hơn để tìm kiếm việc làm và thu nhập.
1.2.5.3. Công nghiệp Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
Ấn Độ đã có những tiến bộ khổng lồ trong các lĩnh vực công nghiệp đa dạng và là một trong 10 cường quốc công nghiệp trên thế giới. Các sản phẩm công nghiệp chính của Ấn Độ, có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế là: dệt may, hóa chất, chế biến thực phẩm, thép, thiết bị vận tải, xi măng, khai mỏ, máy móc và phần mềm. Đặc biệt, Ấn Độ đã cũng có được những thành tựu ấn tượng trong ngành ô tô, xe máy và sản phẩm điện tử như: ti vi, tủ lạnh… Tăng trưởng công nghiệp năm 2022-2023 là 8,9%, góp phần tạo công ăn việc làm cho 12% lực lượng lao động, công nghiệp chiếm tỷ trọng 29,4% GDP.
a) Ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin
Công nghiệp điện tử cùng với công nghệ thông tin (IT) là hai ngành công nghiệp tăng trưởng nhanh nhất Ấn Độ cả về sản lượng và trị giá xuất khẩu, với giá trị sản lượng hai ngành tăng từ 18,92 tỷ USD năm 2002-2003 lên 56,80 tỷ USD năm 2022-2023, tăng trưởng bình quân 20%/năm. Năm 2022-2023, xuất khẩu các sản phẩm điện tử và IT đạt 34,28 tỷ USD, so với 29,95 tỷ USD năm 2021-07, tăng 14.5%. Trong đó, xuất khẩu phần mềm và dịch vụ đạt 32 tỷ USD năm 2022-08, so với 27,6 tỷ USD trong năm 2021-07, tăng 15,9%. Tốc độ tăng trưởng này đã thấp hơn các năm trước, được ghi nhận là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và sự tăng giá của đồng Rupi. Năm 2021-2022, 61% trong tổng doanh thu xuất khẩu phần mềm của Ấn Độ là sang Mỹ, 18% sang Anh; các sản phẩm công nghệ thông tin chiếm 30% thị trường phần mềm thế giới.
Cuộc “Cách mạng chất xám” vào giữa những năm 90, đã đưa Ấn Độ trở thành siêu cường phần mềm máy tính trên thế giới. IT là một lĩnh vực mà Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh như nguồn nhân lực có chỉ số IQ cao, nói tiếng Anh thành thạo, đòi hỏi ít chi phí về cơ sở hạ tầng. Sự phát triển công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế và chất lượng sống của người dân. Số chuyên gia IT ở Ấn Độ tăng từ 284.000 năm 1999-2000 lên 1,63 triệu năm 2021-2022. Năm 2022-2023, ngành công nghệ thông tin tạo công ăn việc làm trực tiếp cho 2 triệu lao động và 8 triệu việc làm gián tiếp. Tỷ lệ đóng góp của ngành công nghệ thông tin vào GDP tăng từ 5,2% năm 2021-2022 lên 5,5% năm 2022-2023. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
b) Ngành công nghiệp dệt may
Công nghiệp dệt may có vai trò sống còn trong nền kinh tế Ấn Độ. Sản xuất của ngành công nghiệp này chiếm 4% GDP và 20% đầu ra của nền công nghiệp, chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu. Công nghiệp dệt may có số lượng lao động gần 38 triệu người. Hiện sợi bông vẫn là chất liệu chiếm ưu thế, song Ấn Độ đang trở thành nhà sản xuất đứng thứ 2 trên thế giới về mặt hàng lụa và đứng trong danh sách 5 nước sản xuất vải sợi hàng đầu thế giới. Năm 2022, theo Viện sản xuất hàng dệt may của Mỹ, mặt hàng vải sợi xuất khẩu của Ấn Độ sang Mỹ đã lên tới trên 2,5 tỷ USD trong khi sản phẩm vải sợi của Mỹ xuất khẩu sang Ấn Độ vẫn duy trì ở mức dưới 25 triệu USD. So với các nước khác, ngành dệt may Ấn Độ có một số lợi thế riêng có nguồn nguyên liệu ổn định, bởi hiện Ấn Độ là nước sản xuất chỉ lớn nhất thế giới (chiếm 25% thị phần thế giới); là nhà sản xuất sợi bông hàng đầu.
c) Công nghiệp dược phẩm
Năm 2022-2023, công nghiệp dược phẩm đạt doanh thu nội địa hơn 5 tỷ USD và doanh thu xuất khẩu là 4, 15 tỷ USD đã cho thấy kết quả khả quan của sự phát triển ngành dựa vào nền tảng công nghệ hiện đại. Hiện nay, các công ty sản xuất dược phẩm quốc nội không những đã cung cấp đầy đủ thuốc men cho dân chúng trong nước mà còn xuất khẩu sản phẩm y dược sang những quốc gia khác tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-Tinh.
d) Công nghiệp chế tác đá quý và kim hoàn
Đây là một trong những ngành công nghiệp thu được nhiều ngoại tệ ở Ấn Độ. Xuất khẩu đá quý và đồ trang sức của Ấn Độ tăng từ mức 5,4 tỷ USD năm 1995-1996 lên 19,82 tỷ USD, chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2022-2023. Đây là ngành công nghiệp được người Ấn Độ rất quan tâm bởi nó đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên liệu thô nhập khẩu với năng suất và kỹ thuật cao của nguồn nhân lực nội địa, hơn nữa là nhu cầu rất lớn của thị trường quốc tế.
1.2.5.4. Đầu tư
Đầu tư nước ngoài (FDI) tại Ấn Độ từ tháng 1 đến tháng 9-2023 đạt 29,09 tỷ USD, tăng so với mức 13,71 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Tổng FDI từ tháng 8-2001 đến tháng 9-2023 là 96,425 tỷ USD. Các nước dẫn đầu trong đầu tư vào Ấn độ là: Mauritius, Singapore, Mỹ, Anh, Hà Lan, Nhật, Đức, đảo Síp, Pháp, các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE). FDI tập trung vào các ngành chính : dịch vụ (tài chính và phi tài chính), viễn thông, xây dựng, bất động sản, ôtô, điện, luyện kim, hóa dầu, ga và hóa chất.
Cùng với việc thu hút đầu tư của nước ngoài vào trong nước, các doanh nghiệp Ấn Độ cũng tích cực trong việc đầu tư ra nước ngoài trong những lĩnh vực mà Ấn Độ có thế mạnh như công nghệ thông tin, sản phẩm cơ khí, hóa chất… Hiện nay, các tập đoàn Ấn Độ đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu thông qua hình thức liên doanh hoặc mua lại công ty. Năm 2021, thông qua gần 150 thỏa thuận mua bán lớn, các công ty Ấn Độ đã mua lại các công ty trên thế giới với trị giá lên tới gần 20 tỷ USD. Những thị trường đầu tư chính của Ấn Độ chủ yếu là các nước khu vực Trung Đông và Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam). Tổng vốn đầu tư của Ấn Độ hiện có tại nước ngoài (tính đến tháng 12/2022) là 37,5 tỷ USD. Hiện nay rất nhiều nước trong khu vực đang tiến hành các biện pháp chủ động và tích cực để đón nhận làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp Ấn Độ.
1.2.5.5. Thương mại quốc tế Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
a) Chính sách thương mại của Ấn Độ trong giai đoạn hiện nay
Đến năm 1991, Ấn Độ tiến hành cải cách toàn diện nền kinh tế, bao gồm cả chính sách thương mại. Chính sách thương mại mới được ban hành năm đã đánh dấu một bước ngoặt, chuyển từ chính sách tự cấp tự túc và đóng cửa sang chính sách mở cửa, hướng mạnh vào xuất khẩu nhằm cải thiện cán cân thanh toán, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu, tăng cưòng khả năng đầu tư trong nước và thúc đẩy tự do hoá thương mại. Chính sách đổi mới đã đem lại cho nền kinh tế Ấn Độ những bước phát triển vượt bậc, giúp Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu có vị thế trong khu vực và trên thế giới.
Tuy vậy, Ấn Độ vẫn là thị trường bảo hộ mậu dịch lớn ở châu Á, điều này làm cho Ấn Độ chưa phát huy được đầy đủ tiềm năng của mình và vẫn chưa hội nhập được hoàn toàn với thế giới. Vì vậy, đến năm 2019, để phù hợp với xu thế tự do hoá thương mại trên toàn cầu, Ấn Độ lại đưa ra chính sách thương mại cải cách mạnh bạo hơn so với chính sách năm 1991. Chính sách này có hiệu lực trong thời hạn 5 năm từ năm 2019 đến năm 2009, về cơ bản vẫn dựa trên cơ sở chính sách năm 1991, nhưng chính sách này mở rộng tự do cho xuất nhập khẩu và đặc biệt chú trọng đến hoạt động nhập khẩu những hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho việc thúc đẩy nền kinh tế và đưa ra cách chương trình cụ thể hơn. Chính sách thương mại 2019-2009 có những nội dung chính sau:
- Thực hiện chính sách tự do hoá thương mại kết hợp với các chính sách bảo hộ sản xuất trong nước.
- Đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao nhưng vẫn rất chú ý đến các mặt hàng sử dụng nhiều lao động để tạo việc làm cho người dân. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
- Đa dạng hoá mặt hàng và đa phương hoá thị trường xuất khẩu.
- Nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là thông qua việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại để nâng cao giá trị gia tăng và tăng năng suất đối với từng sản phẩm trong khi vẫn duy trì chất lượng quốc tế của sản phẩm.
- Nới lỏng việc quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp và tạo ra một môi trường trong sạch và tin cậy để thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các thương nhân tại Ấn Độ.
- Đơn giản hóa các thủ tục hành chính, xuất nhập khẩu…; giảm bớt các chi phí ngoài sản xuất.
- Dựa trên cơ cấu hàng xuất khẩu được ưu tiên để hợp lý hoá hơn nữa hệ thống thuế.
b) Hoạt động xuất nhập khẩu
Kim ngạch xuất nhập khẩu
Từ khi mở cửa mạnh mẽ, kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ tăng liên tục với tốc độ nhanh chóng. Nếu như năm 1990-1991 con số này chỉ là 18,143 tỷ USD thì sau 10 năm thực hiện cải cách giá trị xuất khẩu đã là 44,56 tỷ USD năm 2000-2001, tăng gần 2,5 lần. Sau khi áp dụng chính sách thương mại mới năm 2019, kim ngạch xuất khẩu Ấn Độ đã bước tăng trưởng nhảy vọt lên 83,5 tỷ USD và duy trì mức trên 100 tỷ USD cho các năm tiếp theo.
Cùng với kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu cũng tăng nhanh chóng. Ấn Độ luôn nhập siêu, chỉ xuất siêu 2 lần là vào năm 1972-1973: xuất khẩu đạt 2,55 tỷ USD, nhập khẩu 2,415 tỷ USD, thặng dư 135 triệu USD và năm 1976-1977: xuất khẩu 5,753 tỷ USD, nhập khẩu 5,677 tỷ USD, thặng dư triệu USD, đây đều là những năm Ấn Độ áp dụng chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu. Có thể thấy với tốc độ tăng nhập khẩu ngày càng cao, thậm chí còn tăng nhanh hơn tốc độ tăng xuất khẩu thì cán cân thương mại sẽ bị thâm hụt nặng nề. Thực tế, năm 1990-1991, Ấn Độ chỉ thâm hụt hơn 5 tỷ USD và duy trì ở xung quanh mức này cho tới năm 2000-2001, sau đó mức thâm hụt này ngày càng tăng mạnh và lên đến đỉnh điểm là năm 2022-2023 khi mà cán cân thương mại bị thâm hụt tới gần 90 tỷ USD.
Năm 2022-2023, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Ấn Độ đạt 414,545 tỷ USD. Trong đó, Ấn Độ xuất khẩu 162,983 triệu USD (chiếm 21,2% GDP) và nhập khẩu 251,562 triệu USD (chiếm 24,3% GDP). Theo thống kê của WTO, năm 2022 xuất khẩu của Ấn Độ chiếm 1% tổng thương mại hàng hoá thế giới và nhập khẩu chiếm tỷ trọng 1,5%.
Cơ cấu xuất nhập khẩu
Ấn Độ giành ưu tiên cho các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao, biến chúng trở thành nòng cốt trong cơ cấu xuất khẩu của mình, tạo sức sống mới và lâu bền cho hoạt động xuất khẩu. Hàng chế biến, chế tạo chiếm hơn 75% tổng giá trị xuất khẩu. Các mặt hàng xuất khẩu chính: phần mềm máy tính, sản phẩm điện tử, máy móc, hóa chất, sản phẩm từ da thuộc, dầu khí, trang sức, hàng dệt may…
Nhập khẩu của Ấn Độ rất lớn vì đây chính là đầu vào của sản xuất và tiêu dùng. Các mặt hàng nhập khẩu chính của Ấn Độ là máy móc, dầu thô, than, ngọc trai, đá quý, vàng bạc, phân bón, hóa chất… Mặt hàng nhập khẩu lớn nhất trong giai đoạn hiện nay của Ấn Độ là nhiên liệu, chiếm hơn 30% kim ngạch nhập khẩu, con số này cho thấy Ấn Độ phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhiên liệu bên ngoài. Các mặt hàng ngọc trai, đá quý, vàng bạc cũng chiếm tỷ trọng nhập khẩu khá lớn của Ấn Độ. Vì đây là các mặt hàng có giá trị lớn Ấn Độ nhập khẩu nhiều nhằm phuc vụ cho ngành công nghiệp gia công, chế tác và xuất khẩu đồ trang sức. Bên cạnh đó, chủng loại mặt hàng nhập khẩu vào Ấn Độ ngày càng đa dạng do Chính phủ Ấn Độ đã nới lỏng việc quản lý nhập khẩu và nhiều mặt hàng đã được đưa vào danh sách hàng hoá được nhập khẩu tự do.
Thị trường xuất nhập khẩu
Mặc dù thị trường xuất khẩu của Ấn Độ rất đa dạng, nhưng các nước lớn và các nước phát triển lại chiếm tỷ lệ xuất khẩu lớn của Ấn Độ (xem bảng 1.1). Do các sản phẩm Ấn Độ xuất sang các nước đó chủ yếu là các mặt hàng có giá trị cao như: phần mềm, phần cứng máy tính; đồ trang sức, kim hoàn… điều này phù hợp với cơ cấu hàng xuất khẩu và chính sách thương mại ưu tiên xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao của Ấn Độ.
Bảng 1.1. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Ấn Độ sang một số thị trường chủ yếu
N¨m 2022, 30% hµng ho¸ xuÊt khÈu cña Ấn Độ là vào khu vực thị trường châu Á, xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Âu có tỷ trọng 23%. Khu vực thị trường Trung Đông chiếm tỷ trọng 17% và tỷ trọng của khu vực thị trường châu Mỹ là 15%.
Thị trường nhập khẩu chủ yếu của Ấn Độ là các nước có khoáng sản (đặc biệt là dầu mỏ như Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất – UAE, Ả Rập) để phục vụ cho nhu cầu nhiên liệu và sản xuất trong nước và các nước phát triển để có thể nhập khẩu máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại nhằm phát triển kinh tế.
Bảng 1.2. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Ấn Độ từ một số thị trường chủ yếu
Trung Quốc và Mỹ liên tục là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất của Ấn Độ trong nhiều năm. Trong năm 2022-2023, Ả Rập và UAE là thị trường nhập khẩu lớn thứ ba và thứ tư của Ấn Độ do nhu cầu sử dụng nhiên liệu đặc biệt là dầu mỏ của Ấn Độ ngày càng tăng cao. Khóa luận: Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Ấn Độ
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tổng quan về quan hệ giữa Việt Nam – Ấn Độ

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp thúc đẩy quan hệ giữ Việt Nam - Ấn Độ