Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ và tác động đến xuất nhập khẩu Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt 7 năm qua, thị trường tài chính Mỹ vẫn được coi là nơi kiếm tiền an toàn nhất, cho nên tất cả các nước có tài sản đều mua trái phiếu của Mỹ. Sự bùng nổ quá mức của thị trường cho vay thế chấp ở Mỹ trong những năm kinh tế phát triển đã vỡ tan như bong bóng khi thị trường bất động sản ở Mỹ đi xuống, kéo theo sự sụp đổ của hàng loạt ngân hàng hàng đầu nước Mỹ: Lehman, Merrill Lynch… Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Là một siêu cường kinh tế, đóng góp 1/4 GDP, chiếm 15% tổng kim ngạch nhập khẩu trung bình hằng năm của thế giới1, nên tác động của kinh tế Mỹ đến thế giới là rất rõ trên các phương diện thương mại, đầu tư, tài chính. Cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính Mỹ đã kéo theo hệ thống tài chính cả thế giới chao đảo, châm ngòi cho sự suy thoái kinh tế cùng lúc ở các nước đang phát triển. Lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh thế giới, cả 3 nền kinh tế trụ cột của thế giới cùng lúc rơi vào suy thoái sau tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và sự đi xuống theo chu kỳ sau giai đoạn tăng trưởng bùng nổ. Nhật Bản đã có 3 quý liên tiếp kinh tế tăng trưởng âm do xuất khẩu sụt giảm. Khu vực đồng tiền chung euro cũng công bố suy thoái sau 2 quý năm 2008 kinh tế đi xuống. Kinh tế Mỹ tuy mới chính thức có một quý tăng trưởng âm nhưng các chuyên gia cho rằng đã bắt đầu suy thoái kể từ đầu năm 2008.

Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, chiếm 24% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam2. Vì thế, những biến động không tốt của nền kinh tế Mỹ chắc chắn sẽ có những tác động bất lợi cho kinh tế Việt Nam và xuất khẩu – đầu tư là những lĩnh vực có thể phải đương đầu với nhiều khó khăn. Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng trực tiếp nhưng với một nền kinh tế đã hội nhập thì những tác động gián tiếp là không thể tránh khỏi. Và một trong những lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ là xuất nhập khẩu. Xuất nhập khẩu của Việt Nam sụt giảm cả về kim ngạch, giá cả và thị trường.

Hơn nữa, xuất khẩu của Việt Nam lên tới 70% GDP, nhập khẩu chiếm hơn 90%3 nên suy giảm xuất nhập khẩu gây ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Chính vì vậy, việc nghiên cứu khủng hoảng tài chính Mỹ và tác động của nó đến lĩnh vực xuất nhập khẩu của Việt Nam, từ đó tìm ra giải pháp khắc phục là vô cùng quan trọng.

Với những lý do nêu trên, em xin chọn đề tài: “Khủng hoảng tài chính Mỹ và tác động đến xuất nhập khẩu

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngàng Kinh Tế

2. Mục đích nghiên cứu: Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Trước hết, nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, tìm hiểu ngưyên nhân, diễn biến và tác động của nó là bài học to lớn về kinh tế, tài chính Mỹ cũng như kinh tế toàn cầu;

Thêm vào đó, tìm hiểu tác động khủng hoảng tài chính Mỹ đến hoạt động xuất nhập khẩu để tìm ra những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài cho xuất nhập khẩu Việt Nam, hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu năm 2007 và vẫn đang tiễp diễn

Hoạt động xuất nhập khẩu Việt Nam cả về kim ngạch, giá, và thị trường xuất nhập khẩu

4. Phương pháp nghiên cứu:

Thu thập thông tin từ các nguồn thứ cấp: sách, báo, tài liệu, trang web của tổng cục thống kê, bộ công thương, quỹ tiền tệ thế giới…

Sử dụng phương pháp điều tra, đồng thới phân tích, thống kê, so sánh số liệu xuất nhập khẩu trong những năm gần đây.

Kết cấu: Đề tài được kết cấu 3 phần, không kể phần mở đầu và kết luận

Chương 1: Tổng quan về khủng hoảng tài chính Mỹ.

Chương 2: Tác động khủng hoảng tài chính Mỹ đến xuất nhập khẩu Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp khắc phục tác động khủng hoảng tài chính Mỹ đến xuất nhập khẩu Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo ThS.Nguyễn Thị Hiền trong quá trình hoàn thành đề tài. Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên trong bài viết của em không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong các thầy cô xem xét, góp ý để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn.

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ

1.1. TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của khủng hoảng tài chính

Tài chính được hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp các quỹ tiền tệ cùng với các mối quan hệ giữa chúng. Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự luân chuyển các luồng vốn tiền tệ và trong quá trình đó hình thành các quỹ tiền của tất cả các chủ thể trong xã hội mà giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên một hệ thống tài chính.

Phạm vi tài chính được chia là 2 loại

  • Nếu nằm trong phạm vi quốc gia thì hình thành tài chính quốc gia.
  • Trên phạm vi khu vực và toàn cầu thì hình thành hệ thống tài chính quốc tế.

Khái niệm về khủng hoảng tài chính tiền tệ

Sundararajan và Balino đưa ra định nghĩa tổng quát về khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1991: Một nhóm lớn các tổ chức tài chính có giá trị nguồn vốn vượt quá giá trị thị trường của các tài sản, dẫn đến hiện tượng đổ xô đến ngân hàng và sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư, sự sụp đổ của một số doanh nghiệp tài chính và cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước.

Như vậy, khủng hoảng tài chính là khái niệm bao trùm được sử dụng chung cho mọi loại khủng hoảng gắn với mất cân đối về tài chính và thường là gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh tóan tại một thời điểm nào đó. Khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra khi có hiện tượng mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản có và nghĩa vụ thanh toán về số lượng, thời hạn, chủng loại tiền.

Những dấu hiệu của khủng hoảng tài chính

  • Các Ngân Hàng Thương Mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền.
  • Các khách hàng vay vốn không thể hoàn trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
  • Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
  • Tình trạng tồi tệ của toàn bộ máy tài chính-tín dụng quốc gia.
  • Sự phá vỡ tài chính nhà nước, hệ thống thanh toán.
  • Sự phá sản các định chế tài chính trung gian.
  • Phá giá đồng nội tệ, áp lực lạm phát

Những đặc điểm nổi bật của khủng hoảng tài chính

Cầu về tiền dự trữ quá lớn khiến cho NH không thể cùng một lúc đáp ứng tất cả mọi người. Có hiện tượng khan hiếm tín dụng. Giá trị tài sản của ngân hàng giảm mạnh và gây ra hiện tượng mất khả năng trả nợ, một số NH sụp đổ và xuất hiện tình trạng đổ xô đến các NH. Các “bong bóng” giá tài sản nổ tung: sự sụt giá ban đầu trong giá trị các tài sản buộc các NH phải bán tiếp tài sản và làm giá tài sản tiếp tục giảm mạnh hơn nữa. Các khoản tín dụng hình thành trong thời điểm bùng nổ được mang ra bán tháo.

1.1.2. Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Tìm hiểu nguyên nhân của khủng hoảng tài chính thì những nghiên cứu đầu tiên chỉ ra rằng chính sự mâu thuẫn trong chính sách của Chính phủ đã từng bước tấn công vào tỷ giá cố định bởi Chính phủ phát hành tiền để trang trải cho thâm hụt ngân sách. Người dân không tin vào bản tệ nên đã chuyển sang tích trữ tài sản ngoại tệ. Dự trữ ngoại hối của Chính phủ cạn dần. Chính phủ buộc phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và tỷ giá sẽ tăng. Các nhà đầu cơ sẽ tranh nhau mua lượng dự trữ cuối cùng của Chính phủ. Cuộc chuyển giao khổng lồ này được xem là hình phạt cho những chính sách mâu thuẫn, trái ngược của Chính phủ.

Một số nguyên nhân của việc không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán là do gặp phải vấn đề thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc do cố tình chiếm dụng vốn vì điều này có thể có lợi ở khía cạnh nào đó. Tình trạng mất khả năng thanh toán bắt nguồn từ các vụ phá sản, kinh doanh thua lỗ và các vấn đề về chi tiêu của Chính phủ. Bản thân Chính phủ cũng gặp khó khăn trong việc tìm tài trợ khi gặp khó khăn về thanh toán do những kỳ vọng không sáng sủa mặc dù trong điều kiện bình thường nền kinh tế hoàn toàn có khả năng chi trả. Sự mất khả năng thanh toán thường có tính dây chuyền. Vì vậy, khủng hoảng tài chính là điều không mong muốn.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, có một sự tương quan giữa nỗ lực nhằm tự do hoá các thị trường tài chính và số lượng các cuộc khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng tài chính thường đi kèm với những nỗ lực nhằm tự do hoá thị trường tài chính. Vậy tự do hoá tài chính có nhất thiết dẫn đến khủng hoảng tài chính và việc xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính có thể là một lý do phản đối việc bãi bỏ các quy định và tự do hoá tài khoản vốn.

Thành phần chính của các cuộc khủng hoảng tài chính là các thông tin không đối xứng. Thông tin không đối xứng có vai trò chính yếu trong các giao dịch tài chính. Nó đưa người vay tới những hành vi cơ hội nguy hiểm và là mầm mống cho những kỳ vọng xấu của người cho vay về người đi vay. Thông tin không cân xứng khiến cho người đi vay và người gửi tiền do họ khó khăn trong việc phân biệt giữa vấn đề thanh khoản và tình trạng mất khả năng thanh toán, qua đó dẫn đến việc người sở hữu bán đi những tài sản bằng ngoại tệ của nước gặp khó khăn.

1.1.3. Phân loại khủng hoảng tài chính Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Khủng hoảng ngân hàng

Ngân hàng là trung gian tài chính nhận tiền gửi, huy động vốn để cho vay lại nên rủi ro rất lớn cả về mặt số lượng, thời hạn và chủng loại tiền.

Ngân hàng có thể lâm vào khủng hoảng do cho vay quá mức và không thu hồi lại được dẫn đến nợ quá hạn cao làm cho ngân hàng không thể thanh toán các nghĩa vụ đến hạn.

Khủng hoảng nợ quốc gia

Trường hợp một quốc gia vay nợ nước ngoài quá nhiều và sử dụng không hiệu quả nên không trả được nợ đúng hạn, lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ hoặc xin tuyên bố vỡ nợ.

Khủng hoảng tiền tệ

Hiện tượng không đủ ngoại tệ để thanh toán các nghĩa vụ đến hạn hay đáp ứng nhu cầu (cả thực tế và giả tạo do đầu cơ) buộc chính phủ phải dùng quỹ dự trữ ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái hoặc phá giá nội tệ làm cho nội tệ mất uy tín nhanh chóng.

Khủng hoảng thị trường tài chính

Sự rối loạn nặng nề trên thị trường vốn. Ồ ạt rút tiền gửi từ các NHTM, thu hẹp đáng kể quy mô tín dụng, tăng số vụ phá sản. Giá chứng khoán biến động mạnh (tuột dốc hay leo thang quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát hay do hiệu ứng “bầy đàn” làm cho chứng khoán bị bán đổ bán tháo; thu hẹp phát hành. Xảy ra khi thị trường bị “đông cứng’ vì không có giao dịch, tạo ra sự mất cân đối giữa tiền và thị trường chứng khoán. Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Khủng hoảng thị trường tài chính không nhất thiết đi đôi với khủng hoảng hệ thống tài chính – tín dụng quốc gia. Tình trạng trở nên đặc biệt nghiêm trọng khi cả hai dạng khủng hoảng xảy ra cùng một lúc và chuyển thành khủng hoảng niềm tin vào chính quyền.

Khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế

Khủng hoảng xảy ra khi các cán cân này thâm hụt quá nặng trong thời gian dài và không có nguồn bù đắp. Khủng hoảng cán cân thanh toán khi tổng các luồng ngoại tệ ra lớn hơn luồng ngoại tệ vào (tổng cán cân vãng lai và tài khoản vốn) gây nên thâm hụt nặng nề.

Khủng hoảng cán cân thanh toán vãng lai thường xảy ra khi cán cân thương mại bị thâm hụt.

Khủng hoảng khả năng thanh khoản

Phản ánh sự mất cân đối chủ yếu liên quan tới thời hạn và chủng loại của các giấy tờ có giá và một số loại tài sản tài chính đặc thù.

Khủng hoảng ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước thâm hụt kéo dài trong khi các nguồn bù đắp bị hạn chế hoặc không thể lạm dụng hơn nữa nếu muốn tránh hậu quả vỡ nợ hay bùng nổ lạm phát.

1.1.4. Tác động khủng hoảng tài chính đến ngoại thương

Nền ngoại thương toàn cầu dựa vào lòng tin là chính. Dòng chảy hàng hoá từ nước này sang nước khác được bảo đảm nhờ vào công cụ tài chính chủ yếu là tín dụng thư. Đó là cách người bán bảo đảm người mua sẽ trả tiền hay người mua bảo đảm hàng sẽ đến đúng hẹn. Khủng hoảng tài chính xảy ra, bộ máy hoạt động suôn sẻ bấy lâu, là động lực cho quá trình toàn cầu hoá, đang bị tắc nghẽn nhiều chỗ.

Sự biến động của tỷ giá hối đoái

Khi đồng tiền một nước có thể sụt giá đến 10 – 20% trong vòng từ lúc ký hợp đồng mua bán đến khi thanh toán thì chắc chắn việc thanh toán sẽ không thể nào trôi chảy như mong đợi.

Nhiều ngân hàng trên khắp thế giới bị dính vào khủng hoảng tài chính, việc tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu sẽ bị tác động.

Giá cả hàng hoá đang sụt giảm nhanh chóng

Hàng chưa về đến cảng, người mua đã biết lỗ nặng, sẽ có một tỷ lệ không nhỏ xuôi tay đẩy khó khăn thanh toán cho ngân hàng của mình. Cả ba yếu tố này tác động lên nhau làm trầm trọng thêm theo kiểu ảnh hưởng dây chuyền.

1.1.5. Hậu quả của khủng hoảng tài chính và các giải pháp ngăn ngừa Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

1.1.5.1. Hậu quả của khủng hoảng tài chính

  • Thâm hụt ngân sách nhà nước
  • Chính sách thuế không hiệu quả
  • Tỷ trọng kinh tế ngầm cao
  • Khối lượng nợ trong và ngoài nước lớn
  • Thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế
  • Cơ cấu ngân hàng không ổn định do các doanh nghiệp nợ quá lớn
  • Cơ sở hạ tầng của thị trường chưa phát triển
  • Nguy cơ mất giá nội tệ do chính sách tỷ giá hối đoái và nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng chuyển vốn ra nước ngoài.
  • Nguy cơ tiền tháo chạy: Do thiếu các biện pháp kiểm soát dòng vốn ngắn hạn.
  • Nguy cơ vỡ nợ: Do sử dụng tiền vay ngắn hạn vào đầu tư dài hạn. Nguy cơ này nghiêm trọng khi xảy ra biến động tỷ giá hối đoái, giá bất động sản, đặc biệt là biến động giá trị của tài sản thế chấp vay ngân hàng và giá chứng khoán.
  • Nguy cơ mất chủ quyền: Chính phủ có thể phải hy sinh một số mục tiêu chiến lược để đối phó với các nguy cơ tự do hóa tài chính. Đồng thời giảm khả năng độc lập trong hoạch định các chính sách kinh tế xã hội, nhất là khi xảy ra khủng hoảng tài chính và phải chấp nhận sự trợ giúp của nước ngoài.

1.1.5.2. Các giải pháp ngăn ngừa khủng hoảng tài chính Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

  • Thực hiện tự do hóa tài chính theo lộ trình thận trọng và an toàn
  • Tăng cường giám sát tài chính và công khai hóa tài chính
  • Cơ sở của giám sát tài chính là đảm bảo an ninh tài chính (ổn định, an toàn, vững mạnh của hệ thống tài chính và toàn bộ nền tài chính quốc gia)
  • Lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia
  • Tài chính nhà nước
  • Vay nợ quốc gia
  • Duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế
  • Tài chính của các tài chính trung gian và thị trường tài chính
  • Tài chính doanh nghiệp
  • Tài chính dân cư
  • Đối tượng giám sát tài chính toàn diện:
  • Giám sát tài chính tiền tệ vĩ mô, đảm bảo an toàn với các cân đối lớn
  • Giám sát hoạt động của hệ thống các tổ chức tài chính trung gian;
  • Giám sát tài chính doanh nghiệp.

Như vậy, chúng ta phải giải toả được những hoảng sợ về thanh khoản, về tính lỏng bằng 2 chiến lược là cung cấp thanh khoản cho thị trường và thuyết phục các thành viên thị trường rằng họ không cần phải ngay lập tức bán đi các tài sản của mình. Để thị trường yên tâm thì cần có một cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoạt động tốt.

1.2. KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

1.2.1. Tình hình nước Mỹ trước khủng hoảng chính

Những yếu kém của nền kinh tế Mỹ đã bộc lộ rõ từ trước năm 2000. Thiếu hụt cán cân thanh toán nước ngoài đã tới trên 400 tỷ từ 2000, trên 4% GDP và tiếp tục tăng mức thiếu hụt, đạt 811 tỷ năm 2006 bằng 6% GDP. Năm 2007, đồng đô la mất giá, có làm giảm mức thiếu hụt xuống 734 tỷ nhưng cũng ở mức rất cao4. Các nước khác nếu thiếu hụt ở mức 3% GDP thì đã phải lo lắng bằng mọi cách nhằm điều chỉnh để giảm mức thiếu hụt này.

Nền kinh tế Mỹ trong hơn 10 năm, có lợi thế là được sự tin tưởng của cả thế giới, nên tiền đổ vào để cho dân chúng đầu tư và tiêu sài. Để dành của dân chúng Mỹ vào năm 2006 chỉ có 34 tỷ, gần như 0% GDP, và tỷ lệ để dành thấp này chỉ khoảng 1-2% đã kéo dài từ cả chục năm nay. Đầu tư của Mỹ bằng 19% GDP, chủ yếu dựa vào lợi nhuận công ty, nhưng đến 30% số tiền đầu tư là do vay mượn nước ngoài5. Tình hình tài chính của Mỹ chẳng khác gì một nước đang phát triển không kiểm soát nổi hầu bao mình.

Mỹ đang mất vốn vì giá xuống thì đầu tư của các nền kinh tế của những nước này cũng sẽ không thể không bị cụt vốn theo. Nói thế không có nghĩa là mọi người có tiền trên thế giới đầu tư vào Mỹ sẽ lo sợ, ồ ạt rút khỏi Mỹ vì thực sự họ cũng sẽ khó kiếm chỗ thay thế an toàn và tạo ra lợi nhuận, nhưng việc rút ra một phần cũng tạo ảnh hưởng không nhỏ.

Tiền đổ vào làm thị trường chứng khoán và tài sản lên giá quá mức giá trị của nó. Điều này thì ai cũng biết, nhưng rất nhiều người vẫn không tin là giá có thể xuống. Đặc biệt là các nhà kinh doanh tiền tệ, họ phải thổi phồng vì càng lên giá, càng say sưa với thị trường thì giao dịch càng tăng, vay mượn càng nhiều và phí dịch vụ càng lớn. Giá cổ phiếu Mỹ đã qua thời kỳ điều chỉnh, đặc biệt là giá các công ty công nghệ thông tin được thổi phồng, chỉ số Nasdaq lên trên 5000 năm 2000 và hiện nay chỉ còn trên 2000, bằng ½ trước đây. Chỉ số Dow Jones ít bị ảnh hưởng của việc thổi phồng, cũng giảm từ cao điểm gần 12000 năm 2000, xuống tới mức 7540 và sau đó phục hồi để sau 7 năm mới trở lại thời năm 20006. Bong bóng thị trường chứng khoán đã tự nó giải quyết bằng cách xuống giá, và để nhằm giữ nền kinh tế khỏi tuột dốc, Cục dự trữ Liên bang (Fed) đã giữ lãi suất ở mức rất thấp và lại kéo dài thời gian quá lâu, đầu tư vào nhà cửa tiếp tục tăng, giá nhà cửa trở thành bong bóng. Trong 5 năm qua giá nhà khắp nơi tăng, thấp nhất ở các bang hẻo lánh nhiều đất cũng tăng ít nhất 17%, và ở nơi có nhiều đầu cơ tăng hơn gấp đôi. Nếu kể từ năm 1980, giá nhà ở những bang như New York, California, Massachussets tăng 5, 6 lần, trong khi lương danh nghĩa ở những vùng trên chỉ tăng gần 3 lần. Kể từ năm 1997 đến nay những nơi này tăng giá 3 lần7.

Nước Mỹ đang gặp phải 3 vấn đề lớn về tài chính.

Sự phát triển không kiểm soát của thị trường cho vay địa ốc dưới chuẩn, có nghĩa là không cần đặt cọc, không cần đủ thu nhập để chi trả mà vẫn được vay.

Cho vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng quá mức mà tuần qua City Group là nạn nhân đầu tiên về thẻ tín dụng, lỗ 18 tỷ, mà chỉ một phần nhỏ là nợ dưới chuẩn vì tháng 9 vừa qua họ chỉ có 2,7 tỷ nằm trong khoản dù hiện nay giá trị còn lại chỉ còn 5%8.

Khủng hoảng tín dụng đã lan rộng đế cả khu vực đầu tư địa ốc văn phòng, chứ không chỉ tập trung vào khu nhà ở. Các công trình xây dựng có thể trở thành dở dang vì không kiếm được tiền cho xây dựng tiếp tục. Giá nhà nói chung trong thời gian vừa qua đã xuống 7%, nhưng nhiều nhà kinh tế cho rằng giá nhà sẽ tiếp tục xuống vào năm 2008 và có thể tiếp tục vào năm 2009, và có thể tới mức 30%.

1.2.2. Diễn biến của khủng hoảng tài chính Mỹ Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Tháng 6/2007: Hai quỹ phòng hộ của Bear Stearns – ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ – sụp đổ sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ.

Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản. Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn. Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành. Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra. Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác. Ở Anh quốc, ngân hàng Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng đòi rút tiền gửi của mình ra. Ngày 14/9/2007: Lần đầu tiên trong hơn 1 thế kỷ, khách hàng ùn ùn kéo đến bủa vây để đòi rút tiền ở một ngân hàng lớn tại Anh – Ngân hàng cho vay thế chấp Northern Rock – ngân hàng lớn thứ 5 tại Anh.

Trước tình hình đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường tín dụng chẳng hạn như thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ, trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ và trái phiếu cơ quan chính phủ Mỹ đảm bảo theo tín dụng nhà ở. Tháng Chín 2007, Cục Dự trữ Liên bang còn tiến hành giảm lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng từ 5,25% xuống 4,75%. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã bơm 205 tỷ Dollar Mỹ vào thị trường tín dụng để nâng cao mức thanh khoản.

Ngày 15/10/2007: Citigroup – Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ – công bố lợi nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới 6,5 tỷ USD. Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11.

Tháng 12 năm 2007, cuộc khủng hoảng tiến sang nấc trầm trọng hơn khi những báo cáo kinh tế cuối năm cho thấy sự điều chỉnh của thị trường bất động sản diễn ra lâu hơn dự tính và quy mô của khủng hoảng cũng rộng hơn dự tính. Tình trạng đói tín dụng trở nên rõ ràng. Hệ thống dự trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng 2 năm 2008 nhưng không có hiệu quả như mong đợi.

Ngày 11/1/2008: Bank of America – ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn hoá thị trường – đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi quá lớn.

16-17/3/2008: Bear Stearns được bán cho Ngân hàng Đầu tư Mỹ JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổ phiếu. Ngân hàng dự trữ liên bang New  York cố cứu Bear Sterns, nhưng không nổi. Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá 10 dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn. Sự sụp đổ của Bear Stern đã đẩy cuộc khủng hoảng lên nấc thang trầm trọng hơn. Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

  • 29/4/2008: Deutsche Bank lần đầu tiên trong năm năm công bố một khoản thua lỗ trước thuế sau khi buộc phải trích lập dự phòng 4,2 tỷ USD cho các khoản nợ xấu và các chứng khoán được đảm bảo bởi các khoản thế thấp bất động sản.
  • 11/7/2008: Chính quyền liên bang Mỹ đoạt quyền kiểm soát Ngân hàng IndyMac Bancorp. Đây là một trong những vụ đóng cửa ngân hàng lớn nhất từ trước tới nay sau khi những người gửi tiền đã rút ra hơn 1,3 tỷ USD trong vòng 11 ngày.
  • 31/7/2008: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD, nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD. Deutsche Bank trở thành một trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.

Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản. Tiếp sau Lehman là một số công ty khác. Tháng 9 năm 2008, Thượng viện Mỹ thông qua Đạo luật Ổn định Kinh tế Khẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng Tài chính Mỹ chi tới 700 tỷ USD cứu nền tài chính của nước này bằng cách mua lại các khoản nợ xấu của ngân hàng, đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản.

  • 7/9/2008: Cục Dự trữ Liên bang và Bộ Tài chính Mỹ đoạt quyền kiểm soát hai tập đoàn chuyên cho vay thế chấp Fannie Mae và Freddie Mac nhằm hỗ trợ thị trường nhà đất Mỹ.
  • 11/9/2008: Lehman Brothers tuyên bố đang nỗ lực tìm kiếm đối tác để bán lại chính mình. Cổ phiếu của ngân hàng đầu tư này tụt giảm 45%.
  • 14/9/2008: Bank of America cho biết sẽ mua Merrill Lynch với giá 29 USD/cp sau khi từ chối đề nghị mua lại của Lehman Brothers.
  • 15/92008: Đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào Tháng 9 năm 2001. Lehman Brothers sụp đổ đánh dấu vụ phá sản lớn nhất tại Mỹ; Merrill Lynch bị Bank of America Corp thâu tóm; American International Group – tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới mất khả năng thanh toán do những khoản thua lỗ liên quan tới nợ cầm cố.
  • 16/9: Ngân hàng trung ương các nước trên thế giới đã đổ hàng tỉ USD vào các thị trường tiền tệ với nỗ lực hạ nhiệt tình trạng căng thẳng và ngăn chặn sự đóng băng của hệ thống tài chính toàn cầu. Cổ phiếu AIG giảm gần một nửa. Fed công bố kế hoạch bơm 85 tỷ USD vào AIG và nắm giữ 80% cổ phần.
  • 19/9: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh sạch hệ thống tài chính.
  • 20-21/9: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. Hai ngân hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall.
  • 23/9: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs; Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
  • 25/9: Washington Mutual Inc., một trong những ngân hàng lớn nhất Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase & Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
  • 29/9: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ. Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm gần 780 điểm – mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.

1.2.3. Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính Mỹ Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

1.2.3.1. Chứng khoán hóa

Chứng khoán hóa được hiểu là việc tái cơ cấu một tập hợp những khoản phải thu và đưa chúng về dạng thức có thể chuyển nhượng được. Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khoán hóa chính là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại. Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao.

Mục tiêu của chứng khoán hóa chính là nhằm tách biệt rủi ro mất khả năng thanh toán của người chủ sở hữu tài sản/các khoản phải thu ban đầu và rủi ro của chính các tài sản hay các khoản phải thu đó. Trong quá trình chứng khoán hóa, rủi ro mất khả năng thanh toán không hề bị triệt tiêu mà nó chỉ đơn giản chuyển từ các ngân hàng sang cho nhà đầu tư. Để đổi lại, nhà đầu tư có quyền hưởng lợi đối với các luồng tiền phát sinh từ khoản vay và tài sản thế chấp. Rõ ràng là quy trình này có xu hướng khuyến khích các ngân hàng nới lỏng những quy định về cho vay của mình để có thể cho vay được nhiều hơn và sinh lời mà không phải chịu rủi ro.

Những chứng khoán phát hành trên cơ sở những tập hợp nợ có thế chấp đó được gọi là chứng khoán có thế chấp bảo đảm (MBS). Trong vài năm trở lại đây thị trường bất động sản Mỹ liên tiếp hạ nhiệt, người đi vay đã không có khả năng trả được nợ lại cũng rất khó bán bất động sản để trả nợ, và kể cả bán được thì giá trị của bất động sản cũng đã giảm thấp tới mức không đủ để thanh toán các khoản còn vay nợ. Hậu quả là một số lớn hợp đồng cho vay bất động sản dùng để bảo đảm cho các trái phiếu MBS là nợ khó đòi, các trái phiếu MBS mất giá trên thị trường thứ cấp, thậm chí không còn mua bán được trên thị trường, khiến cho các ngân hàng, các nhà đầu tư nắm giữ những trái phiếu này không những bị lỗ nặng và mất cả khả năng thanh toán. Theo ước tính của nhiều chuyên gia trong 22.000 tỷ USD giá trị bất động sản tại Mỹ thì có tới hơn 12.000 tỷ USD là tiền đi vay, trong đó khoảng 4.000 tỷ USD là nợ xấu10.

Trầm trọng hơn nữa là những “hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi- CDS”. Các hợp đồng này do các tổ chức tài chính và các công ty bảo hiểm quốc tế bán ra, theo đó bên mua CDS được bên bán bảo đảm sẽ hoàn trả đầy đủ số nợ cho vay nếu bên vay không trả được nợ. Ở Mỹ tổng số CDS ước tính khoảng 35000 tỷ USD, và toàn thế giới khoảng 54600 tỷ USD11. Tập đoàn tài chính và bảo hiểm hàng đầu thế giới AIG bị đổ vỡ, một phần là do đầu tư vào MBS và phần lớn là do các hợp đồng CDS này.

Chính quy trình chứng khoán hóa những khoản vay mua nhà có chất lượng tín dụng thấp – chứ không phải bản thân các khoản vay – đã gây ra cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu. Trong cuộc khủng hoảng này, một vòng luẩn quẩn diễn ra giữa: mất khả năng thanh toán của người đi vay – rủi ro mất tiền của người đầu tư trái phiếu – sụt giảm giá tài sản thế chấp – sụt giá trái phiếu có thế chấp được phát hành thông qua thủ tục chứng khoán hóa – suy giảm khả năng thanh khoản của ngân hàng. Như vậy, về mặt bản chất, chứng khoán hóa là một kỹ thuật tài trợ hết sức hiệu quả đối với các ngân hàng nhưng lại khiến họ trở nên phụ thuộc hơn vào tính linh hoạt của thị trường vốn. Đồng thời, việc bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán trong quá trình này là một vấn đề cần được quan tâm hơn nữa.

1.2.3.2. Vay nhà đất Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Có 3 yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản.

Bắt đầu từ năm 2001, Cục Dự trữ liên bang Mỹ đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạ lãi suất cho vay tiền mua bất động sản (mặc dù những loại lãi suất cho vay tiền mua nhà do các ngân hàng thương mại ấn định bao giờ cũng cao hơn nhiều so với lãi suất cơ bản của Fed, nhưng mức độ cao hay thấp của chúng bao giờ cũng phụ thuộc vào lãi suất cơ bản). Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn 1%12.

Chính sách chung của chính phủ lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn được thực hiện thông qua hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac. Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp, rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch.

Có sự biến đổi các khoản cho vay thành các công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản ngoài sự tham gia của các ngân hàng thương mại hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa còn có sự tham gia của các nhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc.

Với 3 lý do trên, thị trường bất động sản trở nên rất nhộn nhịp, có rất nhiều người thu nhập thấp hoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đi mua nhà. Để có thể được vay, nhóm người này thường phải trả lãi suất cao hơn và thường được cho mượn dưới hình thức lãi suất điều chỉnh theo thời gian. Tóm lại, nhóm người này thuộc vào thành phần được cho vay với loại lãi suất dưới chuẩn. Bất kể khả năng trả được nợ của nhóm vay dưới chuẩn, khoản tiền cho vay dành cho nhóm này đã tăng vùn vụt. Theo các ước tính thì nó tăng từ 160 tỉ USD ở năm 2001 lên 540 tỉ vào năm 2004 và trên 1.300 tỉ vào năm 200713. Fannie Mae đã mạnh tay hơn trong việc mua lại các khoản cho vay đầy mạo hiểm do phải đối đầu với cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác, chẳng hạn như Lehman Brothers. Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Vì dễ vay cho nên nhu cầu mua nhà lên rất cao, kéo theo việc lên giá bất động sản liên tục. Giá nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001 (năm bắt đầu cắt mạnh lãi suất) đến 200514. Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá nhà sẽ tiếp tục lên. Hệ quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị thực và khả năng trả nợ sau này vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà vẫn có lời. Do đó, một bong bóng đã thành hình trong thị trường bất động sản.

Khi lãi suất tăng, dù không nhiều, tiền mượn mua nhà mất khả năng chi trả. Các ngân hàng, công ty tài chính, không những ở Mỹ mà ở khắp thế giới đang mất vốn lớn và có thể đi đến phá sản. Tháng 10 và 11 năm 2008, tập đoàn City Group khai mất 8,4 tỷ USD vốn, công ty Morgan-Stanley mất 3,7 tỷ USD vốn15 và nhiều ngân hàng như Bank of America và nhiều quĩ tài chính khác mất vốn lên hàng tỷ. Nhiều tên tuổi khác sẽ tiếp tục khai mất vốn vì đây chỉ là khởi đầu của khủng hoảng.

Thị trường bất động sản xuống dốc làm ngành xây dựng đình đốn, thất nghiệp gia tăng. Chưa kể việc giá nhà giảm khiến giá trị tài sản của nhiều người dân Mỹ giảm xuống từng ngày, đẩy họ vào tình thế buộc phải “thắt lưng buộc bụng” và cắt giảm chi tiêu. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoàng bất động sản chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng ở thị trường cho vay dưới chuẩn, từ đây, tiếp tục ảnh hưởng đến thị trường tài chính, gây ra hiệu ứng đô mi nô làm nền kinh tế có nguy cơ đứng bên bờ vực suy thoái

1.2.3.3. Một số nguyên nhân khác

Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân thấp. Thống kê năm 1998 cho thấy tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập gia đình tại một số nước phát triển như sau: Bỉ 15,6% – Pháp 13,6% – Nhật 13,6% – Tây Ban Nha 12,1% – Đức 11,8% – Ý 11,4% – Ireland 10% – Mỹ 4%16. Thậm chí tiết kiệm của dân Mỹ còn thường xuyên xuống mức âm. Điều này có thể giải thích rằng người Mỹ không chỉ tiêu hết số tiền họ kiếm được mà còn thâm hụt vào khoản tiết kiệm hoặc vay tín dụng ngân hàng để tiêu xài. Tiết kiệm thấp đẩy lãi suất lên cao .Điều này khiến cho chi phí đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị và chi phí khác tăng cao. Hậu quả là không chỉ khu vực sản xuất kinh doanh mà toàn bộ hoạt động kinh tế trở nên kém cạnh tranh. Bên cạnh đó, khi lãi suất tăng đã hấp dẫn nguồn tiền (đô la Mỹ) từ nước ngoài đổ vào Mỹ. Nhưng số tiền này ko được dẫn qua kênh sản xuất mà dẫn qua kênh tiêu dùng nên thâm hụt cán cân thanh toán nặng nề

Nợ nước ngoài khổng lồ: do tiết kiệm thấp, đồng đôla tăng giá 1 thời gian dài từ trước nên thâm hụt thương mại trầm trọng. Từ đó làm bất an các nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt trong hoàn cảnh đồng đôla Mỹ đã và đang mất giá so với nhiều đồng tiền lớn khác như đồng euro, đồng yên nhật hay đồng nhân dân tệ, các nhà đầu tư rất có khả năng yêu cầu chính phủ Mỹ phải nâng cao lãi suất trái phiếu, hoặc thậm chí, rút vốn khỏi thị trường Mỹ và chuyển hướng sang đầu tư hay dự trữ bằng các đồng tiền có giá khác. Bởi từ lâu đã quá phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ của nước ngoài, những nguy cơ trên đây đều có khả năng đẩy nước Mỹ vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, thậm chí vào một thời kì suy thoái.

1.2.4. Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

1.2.4.1. Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đối với Mỹ

Thị trường tài chính- chứng khoán

Cuộc khủng hoảng đã gây ra những hậu quả tiêu cực to lớn và lâu dài tới nền kinh tế Mỹ: làm đóng băng nhiều khu vực của thị trường tài chính, gây ra suy giảm mạnh mẽ trên thị trường chứng khoán, trầm trọng hoá cuộc khủng hoảng bất động sản, và tạo ra làn sóng cắt giảm hàng nghìn việc làm.

Nhiều ngân hàng sụp đổ trong số 5 tập đoàn đầu tư tài chính lớn nhất của Mỹ đổ vỡ. Cơn bão tài chính đã đổ bộ vào phố Wall làm sụp đổ các cây cổ thụ ngân hàng đầu tư, từng có thời là biểu tượng sức mạnh của nền kinh tế Mỹ. Đó là sự xóa sổ các đại gia ngân hàng như Bear Stearns, Lehman Brothers và Merill Lynch, 3 trong 5 tập đoàn đầu tư tài chính hàng đầu của phố Wall – Trung tâm tài chính lớn nhất của Mỹ. Sau khi Bear Stearns bị JPMorgan Chase mua lại, Merill Lynch bị Bank of America thâu tóm, và Lehman Brothers tuyên bố phá sản, danh sách trên chỉ còn lại Goldman Sachs và Morgan Stanley.

Không chỉ những ngân hàng lớn, cả hệ thống ngân hàng Mỹ đều đang gặp khó với số lượng các ngân hàng đóng cửa ngày càng tăng. Năm 2007, chỉ có 3 ngân hàng Mỹ bị các nhà chức trách đóng cửa thì đến năm 2008, 25 ngân hàng M ỹ đổ vỡ. Và chỉ tính đến ngày 19/4/2009, nước Mỹ đã có thêm 25 ngân hàng nữa đóng cửa 17( bằng với số ngân hàng đóng cửa của cả năm 2008). Với tốc độ ngày càng gia tăng như hiện nay, có thể khẳng định gần như chắc chắn số ngân hàng đổ vỡ năm nay ở Mỹ sẽ vượt xa số ngân hàng “ra đi” trong năm 2008. Ngày 26/2/2009, Tập đoàn Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) công bố một báo cáo đáng ngại về thực trạng của ngành ngân hàng Mỹ. Theo đó, số ngân hàng Mỹ có nguy cơ “sập tiệm” của FDIC bao gồm 252 ngân hàng. Đây là con số ngân hàng Mỹ bên miệng vực đổ vỡ cao nhất kể từ năm 1995 trở lại đây, chiếm khoảng 3% trong tổng số khoảng 8.500 ngân hàng và tổ chức tiết kiệm mà FDIC đang đứng ra bảo hiểm18.

Các ngân hàng Mỹ chịu thua lỗ lớn. Theo báo cáo của FDIC, quý 4/2008 là quý thua lỗ đầu tiên của ngành ngân hàng Mỹ từ năm 1990 trở lại đây. Trong quý, các ngân hàng của nước này đã lỗ 26,2 tỷ USD19. Đây cũng là con số thua lỗ một quý lớn chưa từng có trong vòng 25 năm kể từ khi FDIC bắt đầu theo dõi kết quả kinh doanh hàng quý của các ngân hàng.

Thị trường chứng khoán chao đảo

Hình 1: Chỉ số bình quân công nghiệp Dow-Jones 2006-2008

Hậu quả trực tiếp của sự ra đi các tập đoàn đầu tư tài chính hàng đầu Mỹ đã khiến cho TTCK Mỹ chao đảo, nhiều cổ phiếu rớt giá thê thảm.

Trước khi phá sản cổ phiếu của ngân hàng Lehman giảm 95% xuống còn 20 xu. Cổ phiếu của Bank of America giảm 14%. Cổ phiếu của Exxon Mobil Corp. và Valero Energy Corp. giảm 3,7% . Từ đầu năm tới nay cổ phiếu của AIG giảm tới 91%. Cổ phiếu của hai ngân hàng Fannie và Freddie cũng giảm mạnh vào đầu tháng 9 tới 90% buộc Chính phủ Mỹ phải nhảy vào cứu20. Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm các cổ phiếu tài chính đã rớt giá trên 70% và hàng triệu người Mỹ và Anh mất nhà cửa. Ngày 17/9 cổ phiếu ngân hàng đầu tư Morgan Standley đã có mức sụt giảm mạnh nhất trong lịch sử 24% và rớt xuống mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua là 21,75USD/cổ phiếu. Đây là ngân hàng thương mại lớn thứ tư ở Mỹ với tổng giá trị tài sản trên 24 tỷ USD21.

Thị trường lao động

Hình 2: Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ từ 2004 đến nay

Các ngân hàng sụp đổ, nhiều công ty phá sản khiến cho tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ tăng liên tục.Năm 2008, 2.6 triệu người đã mất việc, số thất nghiệp này là lớn nhất kể từ năm 1945. Bộ Lao động Mỹ công bố cho thấy trong tháng 1/2009, nước Mỹ mất thêm gần 600000 việc làm – nâng tỷ lệ thất nghiệp ở nước này lên mức 7,6%, cao nhất trong 16 năm qua. Nay số người thất nghiệp quá lớn và một viễn tượng kinh tế khá bi quan, các gia đình người dân nói chung đều có khuynh hướng dè sẻn, tiết kiệm, không tiêu xài như trước, thành ra ảnh hưởng dây chuyền đến cả nền kinh tế.

Hàng loạt tổ chức tài chính trong đó có những tổ chức tài chính khổng lồ và lâu đời bị phá sản đã đẩy kinh tế Mỹ vào tình trạng khan hiếm tín dụng. Đến lượt nó, tình trạng khan hiếm tín dụng lại ảnh hưởng đến khu vực sản xuất khiến doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, sa thải lao động, cắt giảm các hợp đồng nhập đầu vào. Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Mỹ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC.

Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thể bị giảm phát. Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá. Do dollar Mỹ là phương tiện thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua dollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá. Điều này làm cho xuất khẩu của Mỹ bị thiệt hại. Tháng 12, xuất khẩu giảm 6% xuống 133,8 tỷ USD. Doanh số tại thị trường quốc tế của các mặt hàng ô tô, các phụ kiện và động cơ của Mỹ đã giảm xuống mức thấp nhất từ tháng 11/200422.

Các gia đình Mỹ thu hẹp chi tiêu cũng làm giảm nhập khẩu của Mỹ. Tháng 12/2008, giá trị nhập khẩu giảm 5,5% từ 183,9 tỷ USD xuống 173,7 tỷ USD, thấp nhất từ tháng 9/2005, chủ yếu là do nhu cầu mua ô tô của người Mỹ sụt giảm và giá dầu xuống thấp.Nhập khẩu các mặt hàng quần áo, nội thất và đồ tiêu dùng cũng giảm23.

Tăng trưởng kinh tế

Khó khăn và bất ổn trên thị trường tài chính Mỹ đã làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế khổng lồ này. Theo đánh giá của cựu Giám đốc FED Alan Greenspan thì nền kinh tế Mỹ đang lâm vào khủng hoảng “thế kỷ”. Ông cho rằng tình trạng này sẽ kéo dài chừng nào mà giá nhà ở Mỹ chưa đi vào ổn định. FED cũng cảnh báo rằng nền kinh tế Mỹ vẫn còn đối diện với “nguy cơ sụt giảm”, lạm phát và thất nghiệp gia tăng. Số liệu thống kê cho hay chỉ số tiêu dùng quý II/2008 chỉ tăng có 0,1%. Theo dự báo của IMF đưa ra đầu tháng thì kinh tế Mỹ năm nay chỉ tăng 0,5% và 0,6% trong 2009, thấp hơn nhiều so với dự báo của IMF cách đây 3 tháng24.

Hình 4: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Mỹ 2004-2008

1.2.4.2. Tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ đối với kinh tế thế giới Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Thị trường tài chính- chứng khoán

Hệ thống tài chính bị đổ vỡ hàng loạt với số lượng các ngân hàng bị đổ vỡ, sáp nhập, giải thể hoặc quốc hữu hoá tăng nhanh chóng. Không chỉ hơn 50 ngân hàng của Anh mà các ngân hàng châu Âu cũng chịu ảnh hưởng nặng nề. Các Ngân hàng ở Anh đã chịu ảnh hưởng lớn nhất từ cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp cho vay nhà ở tại Mỹ. Điển hình trong số đó là Ngân hàng Northern Rock Bank bị khoản nợ xấu lên tới 191,6 tỉ USD (hết tháng 7- 2008). Cuối tháng 9-2008 có thêm Fortis của Bỉ và Luc-xăm-bua, Dexia của Bỉ và Pháp; đầu tháng 10-2008 có thêm ngân hàng Hypo Real Estate của Đức cũng lâm vào khủng hoảng khiến chính phủ các nước đó phải cứu trợ bằng các biện pháp tài chính cần thiết. Từ ngày 15/9/2008 đến 6/1/2009, ở Mỹ đã có 14 ngân hàng, tính chung các nước như Mỹ, Châu Âu và Nhật là 23 ngân hàng26.

Bảng 1: Diễn biến TTCK toàn cầu (từ ngày 12/9/08 đến 12/01/2009)

Nhiều thị trường chứng khoán trên thế giới gặp phải đợt mất giá chứng khoán nghiêm trọng. Chỉ tính riêng từ khi bắt đầu khủng hoảng các thị trường chứng khoán toàn cầu suy giảm mạnh. Trong năm 2008, cũng do tác động cuộc khủng hoảng nên thị trường chứng khoán tài chính toàn cầu đã mất khoảng 17.000 tỷ USD. Thị trường chứng khoán các nước mới nổi giảm 54,72%, thị trường các nước phát triển giảm 42,72%. Mức sụt giảm cao nhất rơi vào các nước Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc khoảng hơn 70%27. Đợt sụt giảm trên thị trường chứng khoán Nga diễn ra trong tháng 9-2008 đã làm “bốc hơi” tới 800 tỉ USD giá trị cổ phiếu trên thị trường.

Ngày 8-10-2008, theo sự giảm sút chung toàn cầu, thị trường chứng khoán châu Á trải qua một ngày “hết sức đen tối”. Hàng loạt thị trường chứng khoán châu Á trong tình trạng bị “rơi tự do”. Chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản giảm tới 9,4%, xuống còn 9.203,32 điểm. Đây là mức giảm lớn nhất trong một phiên trên thị trường này kể từ năm 1987. Chỉ số Hangseng của Hồng Công giảm 5,2%. Chỉ số Sensex của Ấn Độ giảm 4,3%. Chỉ số Kospi của Hàn Quốc giảm 5,8%. Chỉ số chính của thị trường chứng khoán Đài Loan giảm 5,8% và của Singapore giảm 5,5%. Thị trường chứng khoán In-đô-nê-xi-a phải tạm dừng giao dịch sau khi chỉ số chứng khoán nước này giảm hơn 10%28. Chỉ số trên các thị trường chứng khoán Thượng Hải, Ma-lai-xi-a… cũng ở trong tình trạng sụt điểm mạnh. Theo Trung tâm tài chính quốc tế Hàn Quốc (KCIF), từ tháng 6 đến tháng 9-2008, các nhà đầu tư nước ngoài đã rút gần 15 tỉ USD khỏi thị trường chứng khoán Hàn Quốc, mức rút vốn lớn nhất trong các thị trường trọng yếu tại châu ; rút 11,3 tỉ USD khỏi thị trường chứng khoán vùng lãnh thổ Đài Loan; 5,3 tỉ USD khỏi thị trường chứng khoán Ấn Độ. Riêng trong tháng 9-2008, các nhà đầu tư nước ngoài đã bán ra lượng cổ phiếu trị giá 8,2 tỉ USD. Tại các thị trường chứng khoán lớn trong khu vực, như: Hàn Quốc, Đài Loan, Phi-lip-pin, Thái Lan, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a,… các nhà đầu tư cũng suy giảm lòng tin.

Thị trường lao động

Cùng với kinh tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp đang gia tăng mạnh và lan rộng ở nhiều nước, dẫn đến những bất ổn xã hội. Trong bản báo cáo về lao động trên thế giới năm 2009 vừa công bố, tổ chức lao động quốc tế (ILO) dự báo rằng, khủng hoảng kinh tế có thể làm tăng thêm 51 triệu người thất nghiệp và trong trường hợp tồi tệ nhất, trong năm 2009, toàn thế giới sẽ có tới 230 triệu người không có việc làm29. Kinh tế đi xuống kéo theo các hoạt động kinh doanh của nhiều tập đoàn trì trệ. Nhiều công ty và hãng lớn trên thế giới đã phải công bố cắt giảm việc làm để tiết kiệm chi tiêu, khiến tỷ lệ thất nghiệp ở tất cả các nền kinh tế lớn đều tăng vọt.

Theo ước tính của ILO, Bắc Phi và Trung Đông có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất vào cuối năm 2008 – 10,3% và 9,4%. Kế tiếp là vùng Trung Âu và Đông Nam Âu, cũng như các quốc gia thuộc Liên Xô trước đây, kết thúc năm 2008 với tỉ lệ thất nghiệp 8,8%. Ở Nam Á, tỉ lệ thất nghiệp trong năm 2008 là 5,4%, còn ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương là 5,7%. Đồng thời, Đông Á là khu vực có tỉ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới, với 3,8%.

Ngoại thương toàn cầu

Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế suy thoái, xuất khẩu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng xuất khẩu ở Đông Á. Khi sản lượng hàng hóa và tiêu dùng ở Mỹ giảm sẽ dẫn đến sụt giảm nhập khẩu hàng tiêu dùng và các hàng hóa khác. Sự nhập khẩu của Mỹ chính là sự xuất khẩu của các nước khác. Kịch bản đó cho thấy tăng trưởng kinh tế của Mỹ giảm thì tăng trưởng kinh tế của nhiều nước khác cũng giảm. Các nền kinh tế quan trọng như Canada, Trung Quốc, Nhật Bản, Mexico, Hàn Quốc và nhiều nước Đông Nam Á phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ.

Bởi sự suy giảm của hai nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc gây ra sự sụt giảm mạnh nhu cầu về các mặt hàng như dầu, năng lượng, thực phẩm và khoáng sản. Giá những mặt hàng này giảm sẽ làm tổn thương hoạt động xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng của các nhà xuất khẩu hàng hóa ở Châu Á, Mỹ Latinh và Châu Phi. Ví dụ trường hợp Chile, nhà sản xuất đồng lớn nhất thế giới, vật liệu được sử dụng rộng rãi để sản xuất các con chip máy tính và dây điện. Khi nhu cầu của Mỹ và Trung Quốc giảm, xuất khẩu đồng của Chile sẽ giảm và giá đồng cũng sẽ giảm. Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Hình 5: Chỉ số vận tải Baltic Dry 2004-2008

Hiện nay các ngân hàng khắp thế giới đang siết chặt tín dụng để tránh rủi ro, và điều họ nghĩ đến đầu tiên là tín dụng thương mại. Hiện nay tổng giá trị ngoại thương toàn cầu lên đến 14 ngàn tỉ USD, 90% số này được tài trợ bằng tín dụng30. Tờ MoneyWeek trích lời Steve Rodley, giám đốc Global Maritime Investments, cho biết: “Toàn bộ thị trường vận tải hàng hải đã sụp đổ”. Nhiều chủ tàu cho biết không thể thuyết phục ngân hàng mở tín dụng thư như trước, đặc biệt cho loại hàng giá cả lên xuống thất thường vì họ không chịu nhận chúng làm vật thế chấp. Ai mở được tín dụng thư thì bạn hàng lại chê, chỉ chấp nhận những ngân hàng tên tuổi vì sợ rủi ro ngân hàng sụp tiệm trước khi được thanh toán. Ngân hàng lớn nhân cơ hội này mở tín dụng thư với phí cao hơn trước gấp ba lần31.

Tăng trương kinh tế

Nền kinh tế Mỹ là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế toàn cầu – chiếm khoảng 25% GDP thế giới, đóng góp 60% vào tăng trưởng kinh tế thế giới và chiếm phần lớn hơn trong các giao dịch tài chính toàn cầu. Theo IMF kinh tế thế giới năm nay chỉ tăng trưởng 3,7%, thấp hơn 1,25% so với năm 200732.

Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Mỹ chịu tác động nghiêm trọng cả về tài chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mức trở thành khủng hoảng tài chính ở một số nước như Iceland, Nga. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng. Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày thành lập. Kinh tế khu vực đồng euro sẽ tăng 1,4% trong 2008 và 1,2% trong 2009, trong đó kinh tế Anh tăng 1,6% trong 200833. Theo dự báo của ADB nền kinh tế Ấn Độ sẽ giảm xuống 7,4% trong 2008 so với dự báo 8% hồi tháng 4/2008, chấm dứt 5 năm tăng trưởng cao của nước này34.

Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ, nên cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giá dầu giảm mạnh. Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ.

Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu mỏ cho sản xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá dầu mỏ giảm. Điều này lại làm cho các nước xuất khẩu dầu mỏ bị thiệt hại. Đồng thời, do lo ngại về bất ổn định xảy ra đã làm cho nạn đầu cơ lương thực nổ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng cao trong thời gian cuối năm 2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộc khủng hoảng giá lương thực toàn cầu.

1.2.5. Phản ứng của chính phủ Mỹ trước khủng hoảng tài chính Mỹ Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

1.2.5.1. Giải pháp từ cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)

Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra, Fed bắt đầu can thiệp bằng cách hạ lãi suất và tăng mua MBS. Đến khi tình hình phát triển thành khủng hoảng tài chính từ tháng 8 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã tiếp tục tiến hành các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài chính. Cụ thể là lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng đã được giảm từ 5,25% qua 6 đợt xuống còn 2% chỉ trong vòng chưa đầy 8 tháng (18/9/2007-30/4/2008). Lãi suất này sau đó còn tiếp tục giảm và đến ngày 16/12/2008 chỉ còn 0,25%, mức lãi suất gần 0 hiếm thấy.

Fed còn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở (mua lại các trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ mà các tổ chức tài chính nước này có) và hạ lãi suất tái chiết khấu. Giữa tháng 12 năm 2008, Fed tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ mặt lượng.

Tháng 12 năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã lập ra và giao cho Fed chủ trì chương trình Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 28 đến 84 ngày theo lãi suất cao nhất mà các tổ chức tài chính trả qua đấu giá. Tính đến tháng 11 năm 2008, đã có 300 tỷ dollar được FED đem cho vay theo chương trình này. FED còn tiến hành cho vay thế chấp đối với các tổ chức tài chính với số tiền tổng cộng tới 1,6 nghìn tỷ tính đến tháng 11 năm 2008.

FED vừa công bố hai chương trình cho vay mới trị giá 800 tỷ USD để mua lại các khoản nợ liên quan đến cho vay thế chấp và hỗ trợ vốn vay nhằm cứu vãn thị trường Mỹ. FED sẽ mua ngay 100 tỷ USD các khoản nợ trực tiếp từ hai công ty Fannie Mae và Freddie Mac và mua 500 tỷ USD những hợp đồng bảo hiểm của các khoản vay cho địa ốc và bán ra cho các nhà đầu tư.

1.2.5.2. Giải pháp từ chính phủ

Ngày 13/2/2008, Tổng thống George W. Bush đã ký “Economic Stimulus Act of 2008” theo đó chính phủ sẽ áp dụng một chương trình kích cầu tổng hợp trị giá 168 tỷ dollar chủ yếu dưới hình thức hoàn thuế thu nhập cá nhân. Trước tình hình khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, chính quyền Bush đã trình quốc hội thông qua gói tài chính 700 tỷ dollar. Ban đầu Hạ viện Hoa Kỳ do Đảng Dân chủ Hoa Kỳ chiếm đa số bác bỏ vì cho rằng không thể phí tiền để cứu không được quá nhiều tổ chức tài chính gặp khó khăn. Song sau khi kế hoạch sử dụng 700 tỷ dollar được điều chỉnh sang hướng chi cho cả các chương trình phục vụ đông đảo người dân nhằm kích thích tiêu dùng (như trợ giúp cho người thất nghiệp, hỗ trợ dinh dưỡng cho người nghèo và người thu nhập thấp, phát triển cơ sở hạ tầng), qua đó vực dậy nền kinh tế, nó đã được Thượng viện thông qua.

Ngày 3 tháng 10 năm 2008, Tổng thống Bush đã ký “Emergency Economic Stabilization Act of 2008” cho phép thực hiện gói kích thích 700 tỷ dollar này. Mục địch của gói kích thich này là: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD lên 250.000 USD…TT Bush đề nghị Dự luật cứu nguy tài chính trị giá 700 tỷ USD chia ra nhiều đợt, để mua tài sản của những ngân hàng và những công ty đầu tư đang gặp khó khăn. Tài sản ở đây là những món nợ xấu, tiền cho vay mua nhà (mortgage related) nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng có tiền cho vay để kích thích nền kinh tế có cơ hội đầu tư và phát triển…với điều kiện ngân hàng phải đưa lại cổ phiếu cho bộ Tài chính quản lý, chính phủ phải kiểm soát tiền lương và tiền thưởng của các Giám đốc ngân hàng không thể thả nổi như các trường hợp trước … Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Barack Obama, tổng thống thứ 44 của Mỹ, sau khi trúng cử đã nêu ra một chương trình kích thích kinh tế trong đó Mỹ sẽ tiến hành kích cầu bằng:

Những dự án phát triển cơ sở hạ tầng chưa từng có kể từ 1950

Nâng cấp hệ thống sử dụng năng lượng của các văn phòng cơ quan chính phủ Hoa Kỳ theo hướng tiết kiệm năng lượng; Đầu tư lớn cho phát triển công nghệ nhất là thông tin y tế điện tử, hệ thống máy tính cho các trường phổ thông và phát triển mạng Internet băng thông rộng.

Cấp thêm ngân sách cho Chương trình bảo hiểm y tế

Cấp thêm 50 tỷ dollar ngoài khoản 20 tỷ dollar đã được đồng ý cho ngành công nghiệp ô tô với điều kiện là ngành này phải cải tổ đáng kể.

Trợ giúp trực tiếp và khẩn cấp cho người sở hữu nhà, thay vì cứu trợ các tổ chức tài chính cho vay nhà ở thế chấp vô trách nhiệm

Phản ứng nhanh, mạnh với khủng hoảng tài chính bằng tất cả các công cụ mà nước Mỹ có.

Ngày 17/2/2009, Barack Obama đã ký “American Recovery and Reinvestment Act”. Đạo luật này cho phép Chính phủ thực hiện gói kích thích thứ hai kể từ khi khủng hoảng nổ ra. Gói kích thích này trị giá 787 tỷ dollar. Nội dung của kế hoạch này bao gồm có hai mảng chính là tăng chi tiêu của Chính phủ và cắt giảm thuế cho người dân và doanh nghiệp. Kế hoạch tại Thượng viện giảm 40 tỷ USD hỗ trợ cho các tiểu bang so với kế hoạch tại Hạ viện, đồng thời giảm mức cắt giảm thuế cho tầng lớp có thu nhập trung bình so với mức ông Obama đề xuất. Thượng viện còn đưa ra các ưu đãi thuế mới để khuyến khích người dân mua nhà và xe hơi trong vòng 1 năm tới.

Mục đích của gói kích cầu này là

Gói kích cầu dành 36% để cắt giảm thuế, và 64% cho các chương trình xã hội.

Từ tháng 4 năm 2009, thuế suất thuế thu nhập sẽ giảm và đây là chương trình giảm thuế có hiệu lực nhanh nhất tại Mỹ, 2 tháng sau khi được ký phê duyệt. Theo đó, mỗi gia đình Mỹ tiết kiệm được khoảng 65 USD mỗi tháng và 95% hộ gia đình sẽ nằm trong diện này. Trong lúc đó, Chính phủ Mỹ dự kiến nâng thuế suất đối với người có thu nhập cao từ 35% hiện nay lên 39,5%, áp dụng với những người có thu nhập 250.000 USD mỗi năm trở lên.

Khi nhậm chức Tổng thống vào tháng 1 vừa qua, ông Obama thừa kế từ chính phủ của cựu tổng thống Bush một nền kinh tế đang khủng hoảng sâu sắc, ngân sách thâm hụt hơn 1000 tỷ USD và dự kiến mức thâm hụt còn tăng tiếp khi gói 787 tỷ USD được giải ngân. Để đối phó, ngoài việc nâng thuế suất đối với người có thu nhập cao, ông Obama dự kiến giảm một nửa chi phí cho chiến tranh Iraq. Chính quyền của Tổng thống Obama kỳ vọng có thể giảm một nửa lượng thâm hụt ngân sách khổng lồ 1.300 tỷ USD vào cuối nhiệm kỳ của ông vào năm 2012.

1.2.6. Bài học từ những cuộc khủng hoảng tài chính đối với hoạt động ngoại thương Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

1.2.6.1. Đại suy thoái năm 1930

Cuộc đại suy thoái 1930 ghi dấu ấn là giai đoạn suy sụp kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử hiện đại. Bắt đầu vào năm 1929 và kết thúc vào thởi điểm chuyển giao giữa hai thập niên 30 và 40, cuộc suy thoái có sức ảnh hưởng hủy diệt với kinh tế toàn cầu. Mọi khía cạnh của nền kinh tế từ sản xuất, tiêu dùng, thương mại, thu nhập cá nhân, hoạt động tiêu dùng, thị trường lao động, lạm phát đều chịu ảnh hưởng xấu. Các nước phụ thuộc nhiều vào công nghiệp chịu tác động sâu sắc nhất. Ngoài ra khu vực nông nghiệp cũng điêu đứng khi giá ngô, một trong những nông sản chính tại phương tây, giảm tới 60%.

17/6/1930, chính phủ Mỹ ban hành đạo luật thuế Smoot-Hawley, đánh thuế tối đa 53% với 900 sản phẩm và 70 nông sản. Hàng rào thuế quan này đã được dựng lên để bảo vệ nền công nghiệp của Mỹ khỏi bị nhấn chìm bởi hàng hóa nhập khẩu và hành động này đã làm cho các nước khác thêm giận và quyết định trừng phạt trả đũa của các nước khác đối với xuất khẩu của Mỹ. Chỉ trong vòng 2 năm, 25 quốc gia phản ứng lại bằng cách tăng thuế quan làm xuất khẩu Mỹ từ 5.29 tỷ USD năm 1929 xuống 1.6 tỷ USD năm 1932, thương mại toàn cầu giảm 66%. Và bài học rút ra là không nên dựng hàng rào thuế quan trong thời kỳ suy thoái.

1.2.6.2. Khủng hoảng tài chính Đông Á

Khủng hoảng tài chính Đông Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á. Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan.

Khủng hoảng tài chính Đông Á làm người ta nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải có một hệ thống tài chính – ngân hàng vững mạnh, minh bạch. Các quy định an toàn và sự giám sát thận trọng cần liên tục hoàn thiện phù hợp với sự thay đổi của môi trường; hệ thống cảnh báo sớm và những hành động sửa sai nhanh chóng có ý nghĩa rất quan trọng; quản trị công ty và các quy tắc của thị trường cũng như cơ sở hạ tầng pháp lý và tài chính cần được tạo lập để thuận lợi cho việc giải quyết sớm khủng hoảng. Để ngăn chặn tình trạng suy thoái trầm trọng hơn, cần kịp thời nới lỏng chính sách thắt lưng buộc bụng.

1.2.6.3. Khủng hoảng tài chính Mỹ Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

Bài học lớn nhất rút ra từ cuộc khủng hoảng này là: không nên tiến hành mua lại công việc kinh doanh khi không hiểu kỹ về nó. AIG bắt đầu cung cấp dịch vụ bảo hiểm khả năng vỡ nợ tín dụng cho các chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp, trong khi họ gần như không hiểu biết gì về nó. Merrill Lynch lặp lại sai lầm tương tự khi quyết định rót vốn vào các khoản đầu tư mà bản thân chúng đều là các khoản nợ khó đòi. Và Ngân hàng Mỹ có thể cũng không tránh khỏi sai lầm này khi đồng ý mua lại Merrill Lynch, mà toàn bộ hoạt động môi giới chứng khoán, ngân hàng đầu tư và danh mục đầu tư của Merrill Lynch đều vượt quá chuyên môn của Ngân hàng Mỹ.

Khi xảy ra khủng hoảng, tính thanh khoản có thể biến mất ngay trong chốc lát. Quỹ phòng chống rủi ro từng cho rằng, khi các vấn đề nảy sinh, họ hoàn toàn có thể tháo gỡ từng vấn đề một cách ổn thỏa. Nhưng trên thực tế lúc đó đã không còn sự hiện diện của bất kỳ một khách hàng nào nữa – mọi người mua đều đã ra đi. Điều tương tự cũng xảy ra với Merrill Lynch, WaMu và một số tập đoàn khác. Tâm lý hoang mang, sợ hãi lan nhanh trong thị trường tới nỗi không một ai muốn bỏ tiền ra mua lại các khoản nợ của họ – dù ở bất kỳ mức giá nào. Trong khi đó, lúc Ngân hàng Mỹ (Bank of America) quyết định thực hiện thương vụ mua lại Merrill Lynch với mức giá hời – 50 tỷ USD, cũng chính là lúc họ thu về được một khoản nợ xấu lên tới 64 tỷ USD, mà theo tính toán thì cuối cùng nó sẽ vượt quá cả chi phí thực của vụ mua bán.

Những nước nhỏ không thể chỉ trông chờ vào xuất khẩu và coi đây là một yếu tố tăng trưởng lâu dài, mà phải dần dần chuyển đổi để đẩy mạnh tiêu thụ nội địa, chuyển đổi từ sản xuất để xuất khẩu qua các dịch vụ. Việt Nam cũng cần rút ra các bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ. Nếu để hệ thống tiền tệ phát triển tự phát với sự xuất hiện các công cụ tài chính càng tinh vi, phức tạp thì càng khó quản lý. Thị trường chứng khoán phải được phát triển từng bước và phải có đủ cơ chế công khai thông tin và việc thực thi các luật lệ phải có tính minh bạch. Phát triển thị trường tài chính một cách vội vàng sẽ dễ phát sinh khủng hoảng. Đối với Việt Nam hiện nay, mục tiêu tối thượng của hệ thống tiền tệ là phải làm sao góp phần tăng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất và xuất khẩu, huy động vốn trong dân và giúp những doanh nghiệp tiếp cận với vốn. Thêm vào đó, hệ thống tiền tệ phải hoàn toàn nằm trong khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước. Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Tổng về tình hình khủng hoảng tài chính Mỹ

One thought on “Khóa luận: Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động đến Việt Nam

  1. Pingback: Khóa luận: Biện pháp khắc phục khủng hoảng tài chính Mỹ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464