Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh VPBank trong hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

1. Nhóm các chỉ tiêu tài chính

1.1. Chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh

VPBank do vừa mới thoát khỏi khủng hoảng do vậy dù thu nhập trước thuế và dự phòng rủi ro là cao và tăng trưởng đều đặn nhưng đều được trích hết vào dự phòng rủi ro. VPBank không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và tất yếu lợi nhuận sau thuế bằng không. Từ đó ROA và ROE đều bằng không. Như vậy đánh giá kết quả hoạt động khách hàng của VPBank không thể dựa vào ROA và ROE mà phải dựa vào các chỉ tiêu tài chính khác.

Bảng 5 : Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh của VPBank

Thông qua hệ thống số liệu về thu nhập từ lãi của VPBank đã được tính toán trong năm năm gần đây có thể nhận thấy sự thay đổi lớn của VPBank. Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Do ảnh hưởng nặng nề của giai đoạn trước đó năm 2020 thu nhập của VPBank từ lãi chỉ đạt 6,54 tỷ đồng. Thu nhập từ lãi (nguồn thu quan trọng đối với đa số ngân hàng quy mô nhỏ) của VPBank tăng nhanh chóng từ 6,54 tỷ đồng năm 2020 lên gần 22 tỷ năm 2022, và đạt 37,6 tỷ đồng một năm sau đó. Năm 2023, chỉ số này giảm nhẹ còn 34,9 tỷ.

Quy mô tài sản là chỉ tiêu quan trọng nhất và phản ánh tập trung, bao quát nhất mức độ lớn mạnh, sự phát triển của một ngân hàng. Kết thúc năm 2005, bình quân các NHTMCP có tốc độ tăng khoảng 48%-50% so với cuối năm 2023, gấp 2,5 lần tốc độ tăng chung của toàn ngành ngân hàng Việt Nam. Theo bảng thống kê trên, VPBank đạt được mức tăng trưởng trung bình so với các NHTMCP khác.

Dù tổng tài sản của VPBank liên tục tăng với tốc độ cao tuy nhiên do tốc độ tăng của thu nhập từ lãi cao hơn trong những năm 2021, 2022 do vậy các chỉ số NIM tăng cho đến trước năm 2023. Chỉ số thu nhập cận biên lãi NIM tính theo tổng tài sản, tăng đột biến sau năm 2020 gần gấp ba lần chỉ sau một năm từ 0,506% lên 1,49%, rồi tiếp tục tăng nhẹ trước khi giảm đột ngột vào năm 2023 chỉ còn 0,84%. Chỉ số NIM tính theo tổng tài sản sinh lãi bình quân cũng có những biến động tương tự và có mức giảm mạnh xuống còn 0,88 vào năm 2023 sau khi đã có hai năm tăng trưởng ấn tượng trước đó. So sánh tiêu chuẩn của một ngân hàng tốt với NIM theo tổng tài sản sinh lãi từ 1,8-3,0% thì rõ ràng không thể đưa ra đánh giá khả quan. Tuy vậy trong năm 2023, đã có nhiều biến động khách quan diễn ra nên chưa thể đưa ra kết luận vội vàng về tình hình hoạt động kinh doanh của VPBank.

Một trong những nguyên nhân khách quan là biến động trên thị trường lãi suất và sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng. Năm 2023 các ngân hàng chạy đua tăng lãi suất khiến cho lãi suất bình quân trên thị trường luôn ở mức cao. VPBank là một trong những NHTMCP đưa ra mức lãi suất hấp dẫn nhất để thu hút lượng tiền gửi từ khu vực dân cư. Chi phí vốn của VPBank do vậy tăng cao, từ 88 tỷ đồng năm 2022 lên 150 tỷ đồng năm 2023. Năm 2023 cũng là năm lạm phát tăng cao ngoài dự kiến khiến cho các ngân hàng chịu rủi ro lãi suất. Các hợp đồng tín dụng được ký kết trong năm 2022 với mức lãi suất cố định đã khiến các khách hàng đi vay hưởng lợi và ngược lại các ngân hàng cho vay chịu thiệt. Do vậy thu từ lãi tăng song tốc độ không cao bằng tăng chi phí vốn. Mặt khác VPBank luôn trích dự phòng rủi ro tất cả thu nhập thu được trong các năm, vì thế tổng chi phí của VPBank bằng đúng tổng thu nhập khiến cho chỉ tiêu chi phí trên thu nhập luôn bằng một.

Trong giai đoạn 2020-2005, tốc độ tăng tổng thu nhập luôn ở mức cao so với năm trước đó. Năm 2021 tốc độ tăng tổng thu nhập đạt 8,92% thì trong năm 2022 chỉ số này là 200%, và 52,8% vào năm 2023. Từ đó cho thấy sự phát triển nhanh chóng của VPBank trong tăng trưởng cung cấp các dịch vụ và mở rộng địa bàn hoạt động kinh doanh. Tổng chi phí và chi phí quản lý đã tăng cùng với xu thế tăng của thu nhập. Tuy vậy tỷ lệ tổng chi phí trên tổng thu nhập đã giảm một cách tương đối. Năm 2021 tỷ lệ này chỉ còn 78% thấp hơn nhiều so với 97,77% của năm trước đó. Năm 2022 và 2023 do biến động của thị trường, tỷ lệ này đã tăng nhẹ những vẫn giữ ổn định dưới 80%.

Chi phí quản lý trong giai đoạn này dù tăng đều đặn về số tuyệt đối song về tương đối đã có biến động ngược lại. Năm 2021 hiệu quả của các chính sách thắt chặt hiệu quả quản lý đã được phát huy khiến cho tỷ trọng chi phí quản lý và thu nhập ròng giảm mạnh từ 7,228 lần xuống còn 0,86 lần. Năm 2022 và 2023 tỷ trọng này lần lượt là 0,658 và 0,705. Tuy tăng nhẹ song tỷ trọng này vẫn nằm trong giới hạn an toàn và thể hiện hiệu quả trong quản lý đang được duy trì. Hơn nữa tỷ lệ chi phí trên tổng tài sản liên tục giảm từ năm 2021 đến nay thì hiệu quả quản lý tài sản đang được duy trì.

Tuy vậy tốc độ gia tăng chi phí nói chung và chi phí quản lý nói riêng trong năm 2023 không phải là một tín hiệu tốt và đang tiềm ẩn rủi ro cho hoạt động của VPBank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

1.2. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Hoạt động kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro, lợi nhuận càng lớn thì mức rủi ro càng cao tương ứng. Vì vậy khi đánh giá khả năng cạnh tranh của một ngân hàng luôn phải xét đến yếu tố rủi ro. Đối với VPBank, bài học về rủi ro trong kinh doanh này được rút ra từ những năm đầu với chính sách quản lý sai lầm của mình. Yếu tố đầu tiên cần quan tâm khi xét tới yếu tố rủi ro chính là vốn tự có và tổng vốn điều lệ.

Vốn tự có của VPBank tăng đều trong giai đoạn đầu từ chỉ hơn 20 tỷ đồng năm 1993, ở mức của một NHTM cỡ vừa và đến gần 175 tỷ đồng ba năm sau đó. Năm 2022, vốn điều lệ của các NHTMCP tăng bình quân 31,5%, bỏ xa mức tăng của VPBank. Đây là một thách thức lớn VPBank phải vượt qua trong những năm hoạt động tiếp theo.

Trong khi đó, từ đầu năm 2006 đồng loạt các NHTMCP đều có sự điều chỉnh vốn điều lệ. Nâng mức vốn điều lệ lên 1.000 tỉ đồng đang là đích ngắm của nhiều NHTMCP trong lộ trình tăng vốn từ nay đến năm 2010. Khởi đầu là ACB chính thức tăng vốn điều lệ từ 948,32 tỷ đồng lên 1.100 tỷ đồng. Tiếp đó là VIB Bank tăng vốn điều lệ từ 595 tỷ đồng lên trên 711 tỷ đồng. Eximbank cũng tăng vốn điều lệ lên 815 tỷ đồng. Mới đây nhất, Habubank được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận tăng vốn điều lệ từ 500 tỷ đồng lên 900 tỷ đồng, trong đó có 250 tỷ đồng dành cho cổ đông cũ và 150 tỷ đồng cho các cổ đông mới. Đối với một ngân hàng vốn “kín tiếng” như Habubank việc tăng vốn lên gấp ba (năm 2005 mới chỉ đạt 300 tỷ) trong vòng chưa đầy 4 tháng năm 2006 là sự kiện rất đáng chú ý. Theo kế hoạch, trong năm 2006, Habubank sẽ tăng vốn điều lệ lên tối thiểu là 1.000 tỷ đồng. Như vậy, có thể thấy thách thức nâng cao vốn điều lệ đối với VPBank là khá lớn để theo kịp với các NHTMCP khác đã bắt đầu tăng tốc chuẩn bị cho giai đoạn cạnh tranh hội nhập khi Việt Nam gia nhập WTO. Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Các tập đoàn tài chính và ngân hàng nước ngoài với tiềm lực hùng hậu cả về vật chất lẫn kinh nghiệm sẽ có cơ hội bình đẳng hoạt động trên thị trường ngân hàng Việt Nam. Thị trường ngân hàng vốn đã là sân chơi cạnh tranh khốc liệt sẽ càng trở nên khốc liệt hơn nữa. Các NHTM quốc doanh có quy mô lớn cũng đang tích cực gia tăng vốn điều lệ thông qua cổ phần hóa và tăng sức ép cạnh tranh lên hoạt động của các NHTMCP. Các NHTMCP trong đó có VPBank sẽ gặp phải những thách thức lớn hơn, khi trong tương lai thị trường ngân hàng sẽ chỉ có chỗ cho các đại gia.

Bảng 8: Các chỉ tiêu phản ánh quy mô vốn điều lệ của VPBank

Trong 5 năm từ 2020 đến 2005, do chính sách hiệu quả của HĐQT mà tốc độ huy động vốn luôn đạt rất cao. Quy mô tổng tài sản tăng cao đạt 5821,4 tỷ đồng năm 2005. Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn chủ của VPBank lại tương đối thấp. Vì thế mà tỷ lệ giữa vốn chủ và tổng tài sản liên tục giảm từ 13% năm 2020 xuống chỉ 4,2% năm 2005. Đây có thể xem như một thành quả của VPBank trong tăng quy mô tài sản song rủi ro cũng vì vậy mà tăng theo.

Tính đến tháng 8 năm 2006, VPBank đã nâng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng và tiếp tục nâng lên 1178 tỷ đồng vào đợt hai dự kiến vào cuối năm 2006. Như vậy VPBank sẽ cải thiện được tỷ lệ an toàn của mình. Đợt nâng vốn lần này thể hiện sự lớn mạnh nhanh chóng của VPBank, cuối năm 2006 theo kế hoạch VPBank sẽ chính thức đứng vào “câu lạc bộ 1000 tỷ” nhóm các NHTMCP có vốn trên 1000 tỷ đồng như Sacombank, ACB, Techcombank, Eximbank,…

Một bước đột phá trong việc huy động vốn của VPBank là ngày 21/3/2006, ngân hàng chính thức công bố thoả thuận bán cổ phần cho ngân hàng Singapore OCBC (Oversea Chinese Banking Corporation). Ngay khi nâng vốn điều lệ từ 310 tỷ đồng lên 500 tỷ đồng, VPBank bán 10% cổ phần cho OCBC với giá 250 tỷ đồng, theo đó vốn điều lệ được nâng lên trên 750 tỷ. Với thỏa thuận được ký kết, OCBC Bank cam kết hỗ trợ VPBank về mặt kỹ thuật, công nghệ, đào tạo trong các lĩnh vực cho vay tiêu dùng, thẻ, các biện pháp quản trị rủi ro và công nghệ thông tin. Khi thương vụ này hoàn thành, OCBC Bank sẽ là ngân hàng đầu tiên ở Đông Nam Á mua cổ phần của ngân hàng Việt Nam. Tổng giám đốc VPBank Lê Đắc Sơn cho biết việc tăng vốn điều lệ được hoàn tất trước 30/4/2006. Như vậy, tính toán trên cơ sở vốn điều lệ là 500 tỷ đồng, 10% cổ phần mà VPBank bán cho OCBC Bank có giá gấp hơn 4,5 lần mệnh giá. Có thể nói đây là một bước đi đột phá hết sức đáng ghi nhận của VPBank, cũng theo xu hướng chiến lược mà nhiều NHTMCP lớn cũng đang theo đuổi. Các đối tác ngân hàng nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng Việt Nam đều có tầm cỡ trên thế giới, cụ thể NHTMCP lớn nhất Sacombank bán cổ phần cho ANZ, ACB bán 10% cổ phần cho Standard Chartered Bank, NHTMCP lớn thứ ba Techcombank chọn đối tác là HSBC và Eximbank với Ngân hàng Duestch của Đức. Việc bán cổ phần cho các tổ chức tài chính nước ngoài mang lại nguồn lực to lớn, sức sống mới cho hoạt động ngân hàng, góp phần nâng cao NLCT của NHTMCP so với NHTM Nhà nước.

Bên cạnh chỉ tiêu tổng vốn điều lệ, tỷ lệ an toàn vốn cũng là chỉ tiêu hết sức quan trọng ảnh hưởng tới công tác đánh giá rủi ro của hoạt động ngân hàng.

Tỷ lệ vốn ngắn hạn dùng cho vay trung và dài hạn của VPBank luôn giữ ở mức rất thấp 0% vào năm 2020 và 2021, và chỉ ở xấp xỉ 1,5% trong hai năm sau đó.

Trong điều kiện nền kinh tế trong nước phải đối đầu với nguy cơ lạm phát cao và khả năng lãi suất bình quân tăng cao, các ngân hàng có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn cao sẽ chịu mức rủi ro lãi suất lớn. Như vậy duy trì tỷ lệ này thấp sẽ giúp VPBank hạn chế được rủi ro lãi suất trên thị trường.

Bảng 9: Các chỉ tiêu đánh giá mức độ rủi ro trong hoạt động của VPBank

Tỷ lệ khả năng chi trả phản ánh tính thanh khoản trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Trong giai đoạn hoạt động từ 2020 đến nay VPBank đã thành công trong việc duy trì khả năng thanh toán tốt, chỉ tiêu về khả năng thanh toán luôn vượt xa yêu cầu của NHNN. Trong năm 2023 chỉ tiêu này ở mức 247,3% gần gấp 2,5 lần tiêu chuẩn. Như vậy rủi ro thanh khoản đối với VPBank là tương đối thấp.

Tỷ lệ an toàn vốn của VPBank có xu hướng biến động ngược lại với các chỉ tiêu trên khi tiến gần hơn đến giới hạn tối thiểu 8%. Chỉ tiêu này giảm từ 21,2% năm 2020 xuống còn 8,2% trong năm 2023. Trong cùng thời gian này vốn điều lệ của VPBank không đổi giữ ở mức 174,9 tỷ đồng, do vậy quy mô tài sản rủi ro đã tăng lên với tốc độ gần như gấp đôi qua các năm. Dù vậy đây cũng là xu hướng khách quan do tác động của việc mở rộng thị trường trong thời gian gần đây của VPBank. Năm 2023, dù vốn điều lệ tăng song không nhanh bằng quy mô tài sản rủi ro, do vậy chỉ tiêu này tiếp tục giảm còn 8,2%. Tỷ lệ an toàn vốn của VPBank vẫn nằm trong tiêu chuẩn an toàn của NHNN và khả quan hơn nhiều NHTM trên thị trường. Tuy nhiên nếu thị trường của VPBank mở rộng nhanh chóng như hiện nay, tỷ lệ an toàn tối thiểu có thể sẽ không được đảm bảo trong thời gian tới khi vốn điều lệ không được tăng lên tương xứng.

Tỷ lệ tài sản sinh lời trên tổng tài sản là chỉ tiêu đem đến nhiều đánh giá khả quan nhất cho hoạt động của VPBank. Năm 2020, ảnh hưởng của thời kỳ khủng hoảng vẫn còn rất rõ nét thể hiện ở việc tài sản sinh lời chỉ chiếm 66% tổng tài sản. Ngay trong năm tiếp theo nhờ nỗ lực của VPBank trong việc lành mạnh hóa tín dụng và tăng cường xử lý nợ xấu nợ khó đòi, tỷ lệ này đã tăng dần và đạt 77,15%. Năm 2022 và 2023 tiếp tục thể hiện thành công của VPBank trong xử lý nợ khiến tỷ lệ tài sản sinh lời đạt mức 95%. Đây được xem như bằng chứng về sự phục hồi nhanh chóng của VPBank sau khủng hoảng, là kết quả của đề án cải tổ hoạt động của ngân hàng từ năm 2000.

Nợ quá hạn cũng luôn được xem xét đến như một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới mức độ rủi ro trong hoạt động của một ngân hàng. Những sai lầm trong giai đoạn trước đó đã để lại gánh nặng cho VPBank là tỷ lệ nợ quá hạn kỷ lục 71% so với tổng dư nợ cuối năm 1996. Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn của VPBank cũng được cải thiện đáng kể sau khi thực hiện nhiều biện pháp thu hồi nợ và siết chặt quản lý rủi ro tín dụng ngay từ công tác xét duyệt. Năm 2021 phát sinh nợ xấu mới ở mức 9,8 tỷ đồng chỉ chiếm dưới 1% tổng dư nợ mới phát sinh. Bên cạnh đó nợ xấu của các năm trước cũng được xử lý triệt để giảm chỉ còn 29,48%. Tính đến cuối năm 2022 VPBank tiếp tục duy trì tỷ lệ phát sinh nợ quá hạn thấp chỉ 0,13%. Đây là kết quả của cơ chế cấp tín dụng chặt chẽ trên nguyên tắc thống nhất cả ba cấp xét tín dụng là cán bộ, phòng và ban/hội đồng tín dụng. Các khoản tín dụng được thông qua đều có tài sản đảm bảo hợp lệ do vậy đa số nợ xấu phát sinh đều được giải quyết ngay trong năm. Thêm vào đó là hoạt động hiệu quả của phòng thu hồi nợ của VPBank với các biện pháp kiên quyết mạnh mẽ như khởi kiện các con nợ, hợp tác với các Đại sứ quán tìm kiếm các con nợ đã trốn ra nước ngoài,… Đến hết ngày 31/12/2023, nợ quá hạn của VPBank chỉ còn 0,5%, giảm nhanh chóng từ 13,2% trong năm trước đó. Theo một số chuyên gia của một số tổ chức tiền tệ quốc tế và chuyên gia ngân hàng thương mại trong nước cho rằng, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại thực tế hiện nay đang ở mức 7-8%, riêng các ngân hàng thương mại Nhà nước đang ở mức trên 10%, thậm chí có chuyên gia cho rằng phải ở mức trên 15%. Như vậy có thể thấy VPBank đã đạt được tỷ lệ nợ xấu khá lý tưởng so với các NHTM khác.

1.3. Các chỉ tiêu phản ánh lãi suất và phí dịch vụ

Trên thị trường ngân hàng, lãi suất là một trong những vũ khí cạnh tranh quan trọng. Xu hướng chung là các NHTMCP thường đưa ra mức lãi suất hấp dẫn hơn các NHTM quốc doanh. VPBank nằm trong nhóm các NHTMCP có mức lãi suất huy động cao nhất đối với các kỳ hạn. Liên tục thay đổi lãi suất, VPBank luôn là một trong những ngân hàng có biểu lãi suất huy động hấp dẫn nhất trên thị trường. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng nguồn vốn huy động nhanh chóng của VPBank trong những năm gần đây.

Phí dịch vụ của VPBank nhìn chung không khác biệt so với các NHTMCP khác. So với các NHTMCP lớn như Sacombank, ACB, Techcombank, VPBank hoàn toàn không có lợi thế từ quy mô cung cấp dịch vụ. Các NHTMCP lớn đã dần khẳng định vị trí của mình trong cung cấp các dịch vụ mới như dịch vụ thẻ thanh toán, dịch vụ môi giới bất động sản. Trong khi đó các NHTM nhà nước với lợi thế về vốn và hệ thống chi nhánh rộng khắp các dịch vụ mà họ đưa ra có ưu thế hơn hẳn các NHTMCP. Do vậy chi phí của các dịch vụ này luôn được các NHTMCP xem xét giảm tối đa để đảm bảo thu hút khách hàng. Chính vì thế phí dịch vụ không thể tiếp tục giữ vai trò là công cụ cạnh tranh quan trọng như trước đây. Tuy nhiên trên thực tế phí dịch vụ của VPBank đang cao hơn so với phí các NHTMCP khác áp dụng.

2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng dịch vụ của VPBank Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Trong khi điểm mạnh của các ngân hàng nước ngoài là dịch vụ (chiếm tới trên 40% tổng thu nhập) thì tình trạng “độc canh” tín dụng vẫn còn phổ biến ở hầu hết các ngân hàng Việt Nam. Sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, thiếu các định chế quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như quản trị rủi ro, quản trị tài sản nợ, tài sản có, nhóm khách hàng, loại sản phẩm, kiểm toán nội bộ. Hiện nay, hoạt động của các tổ chức tín dụng Việt Nam ngày càng có những thay đổi căn bản về cả số lượng và chất lượng dịch vụ. Nhờ đó, cơ cấu thu nhập của các tổ chức tín dụng (TCTD) đã có sự chuyển đổi hợp lý theo hướng giảm dần doanh thu từ hoạt động tín dụng ngân hàng, cùng với tăng dần doanh thu từ các hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng.

Bên cạnh yếu tố giá cả, chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố được xem xét đầu tiên khi đánh giá chất lượng hoạt động của một ngân hàng. Khi cạnh tranh bằng việc giảm chi phí đã không còn đem lại hiệu quả, các NHTM tập trung vào nâng cao chất lượng dịch vụ được cung cấp. Đối với các NHTM, các hoạt động đa dạng hóa các dịch vụ và tiện ích ngân hàng mang ý nghĩa sống còn trong việc huy động vốn và cho vay, góp phần bảo đảm khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng gay gắt và đầy thách thức của thị trường. Nhận thức được xu hướng này, VPBank đã chú trọng phát triển các sản phẩm ngân hàng bán lẻ có chất lượng cao.

2.1. Các yếu tố hữu hình

Địa điểm, thiết bị,…được sử dụng cung cấp dịch vụ là các yếu tố đầu tiên để lại ấn tượng cho khách hàng. Với VPBank hoạt động giao dịch với khách hàng được chuyên môn hoá tới các phòng ban. Cụ thể đối với các khách hàng sử dụng các dịch vụ thông thường sẽ được tiếp cận ngay với bộ phận giao dịch ngay từ lúc bước vào chi nhánh. Với các khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp thì được phụ trách bởi hai phòng tín dụng khách hàng doanh nghiệp và tín dụng khách hàng cá nhân (A/O doanh nghiệp và A/O cá nhân).

Địa điểm giao dịch của VPBank được bố trí hợp lý và hài hoà đồng thời cũng được đặt trong các khu vực dân cư đông đúc thuận lợi cho khách hàng. Biểu tượng của VPBank xuất hiện với tần suất cao, từ biển hiệu đến bút giấy và bảng tên trên áo các nhân viên tạo ấn tượng đối với khách hàng. Các phương tiện thiết bị phục vụ cho hoạt động cung cấp dịch vụ cũng được VPBank chú trọng đầu tư nâng cấp.

2.2. Đội ngũ các nhân viên cung cấp dịch vụ Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Một trong những thế mạnh lớn nhất của VPBank là đội ngũ nhân viên có trình độ cao, trẻ trung nhiệt tình và năng động. Khách hàng đến với VPBank ngay lập tức sẽ được chăm sóc bởi các nhân viên có tác phong chuyên nghiệp.

Tính đến năm 2005, VPBank có 782 lao động (tăng 298 người so với năm 2023) được sử dụng, trong đó có 440 nữ và 342 nam. Tất cả các lao động trong ngân hàng đều đáp ứng được yêu cầu của công việc về chuyên môn nghiệp vụ, 15 người trình độ trên đại học, 602 người trình độ đại học (chiếm 78% tổng nhân sự VPBank).

Những lao động mới được nhận vào làm việc tại ngân hàng được đào tạo nghiệp vụ ngân hàng kỹ lưỡng trước khi được sử dụng làm việc chính thức. Ngoài ra, những nhân viên đang làm việc trong ngân hàng còn được đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng cho phù hợp với tình hình hoạt động của ngân hàng trong từng thời kỳ. Trong năm 2005 trung tâm đào tạo của VPBank đã tổ chức 14 khóa đào tạo, có 10 khóa cơ bản về nghiệp vụ cho cá nhân tân tuyển. Tống số 635 lượt người được đào tạo trong khóa học nội bộ và 19 lượt học viên được cử đi đào tạo tại các trung tâm bên ngoài tổ chức. Công tác đào tạo của VPBank đang được tổ chức có bài bản và đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Hệ thống lương của VPBank được xây dựng trên nguyên tắc lương phải gắn liền và dựa trên kết quả đánh giá về trình độ, năng lực, hiệu suất, chất lượng công việc của mỗi nhân viên và tinh thần, thái độ thực thi chức trách, nhiệm vụ được phân công của họ. Từ đó chất lượng công việc của các ngân hàng được đảm bảo. Năm 2005 VPBank chính thức đồng phục hóa toàn bộ bộ máy nhân viên. Hình ảnh các nhân viên trẻ trung và chuyên nghiệp đã trở thành biểu tượng mới tạo nên niềm tin cho khách hàng khi đến với VPBank.

2.3. Tính tiếp cận được của các dịch vụ

Địa điểm giao dịch của VPBank được bố trí hợp lý và hài hoà, đồng thời cũng được đặt trong các khu vực dân cư đông đúc thuận lợi cho khách hàng. Đặc biệt với các chi nhánh và phòng giao dịch mới đều được đặt trên các địa điểm khang trang bề thế tạo ra niềm tin cho khách hàng về sự vững mạnh của ngân hàng. Hội sở mới của VPBank được khai trương ngay tại trung tâm của Hà Nội, càng làm tăng thêm vị thế của VPBank trong suy nghĩ của các khách hàng, cũng như đối thủ cạnh tranh. Tính đến 05/01/2006 toàn hệ thống VPBank có mạng lưới 31 điểm giao dịch gồm hội sở chính, 12 chi nhánh cấp I, 14 chi nhánh cấp II, 4 phòng giao dịch. VPBank có quan hệ với 89 ngân hàng nước ngoài tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hệ thống các chi nhánh mới thành lập trong năm 2023-2005 đã mở rộng nhiều lần, nâng cao độ bao phủ thị trường của VPBank. Tuy nhiên quy mô hoạt động của VPBank vẫn chưa thể so sánh với các NHTMCP lớn và NHTM Nhà nước. Hơn nữa, trên thực tế chỉ có các chi nhánh lớn của VPBank mới thực sự có được lợi thế. Các chi nhánh nhỏ như Hải Phòng và Đà Nẵng có quy mô rất nhỏ, không thể đảm nhận các giao dịch phức tạp. Điều này dẫn đến các dịch vụ của VPBank không thể được cung cấp rộng rãi dù hệ thống các chi nhánh đang được mở rộng rất nhanh.

2.4. Độ an toàn và chính xác trong các nghiệp vụ Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Từng trải qua khủng hoảng nặng nề và kéo dài với hậu quả nghiêm trọng từ các thông tin trong quá khứ, hình ảnh và uy tín của VPBank bị giảm sút nghiêm trọng. Ý thức được điều này VPBank luôn nỗ lực cải thiện uy tín của mình thông qua các dịch vụ được cung cấp có độ an toàn và chính xác cao. Tất cả nghiệp vụ được thực hiện trong một quy trình được giám sát chặt chẽ từ các cấp quản lý cao hơn. Đối với từng nhân viên cũng nỗ lực hết mình đảm bảo nghiệp vụ mình thực hiện an toàn và chính xác. Các chứng từ giao dịch cũng được kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu lập và được lưu trữ trong 20 năm. Do vậy mức độ chính xác và an toàn của các dịch vụ VPBank cung cấp được đánh giá là khá tốt.

Ngày 12/01/2005, VPBank nhận được công văn của Chi nhánh Califonia thuộc hệ thống Union Bank thông báo VPBank đã đạt được tỷ lệ STP rất cao (STP – Straight Through Processing) – đây là một chuẩn quốc tế về độ chính xác của điện chuyển tiền trong thanh toán quốc tế (hoạt động chuyển tiền, tài trợ thương mại,…). Và đến tháng 12 năm 2005, VPBank cũng chính thức được trao Chứng nhận đạt tỷ lệ điện chuẩn này từ The Bank of New York (Mỹ). VPBank là một trong những ngân hàng có tỷ lệ STP cao nhất Việt Nam và là một trong số 5 ngân hàng ở Việt Nam được The Bank of New York trao chứng nhận này. Những thành tích này đã góp phần năng cao uy tín và năng lực cạnh tranh của VPBank so với các NHTM trên thị trường.

2.5. Thời gian chờ dịch vụ được cung cấp

Đối với dịch vụ cấp tín dụng các hồ sơ đã đáp ứng được đủ các yêu cầu về tài sản đảm bảo và các giấy tờ hợp lệ khác thì sẽ được cấp tín dụng trong vòng 5-6 ngày (đối với khách hàng doanh nghiệp) và 3-4 ngày (đối với khách hàng cá nhân). Tuy nhiên so với các NHTMCP khác, độ nhanh nhạy và chủ động tìm kiếm khách hàng cho vay là năng động hơn VPBank. Theo ông Phạm Linh, Giám đốc kinh doanh VIBank TPHCM, cho biết đối tượng ưu tiên mà VIBank nhắm đến là các doanh nghiệp hoạt động ổn định và có ý tưởng kinh doanh tốt. Sau khi tìm hiểu kỹ đối tác, VIBank sẽ cung cấp trọn gói cho doanh nghiệp các dịch vụ như tư vấn lập kế hoạch, tìm hiểu thị trường, cung ứng vốn…Các ngân hàng Á Châu (ACB), Phương Đông (OCB), Sài Gòn (SCB)… cũng đã thay đổi góc nhìn, đi tìm doanh nghiệp cho vay – thay vì doanh nghiệp phải tìm đến ngân hàng như bấy lâu nay. Doanh nghiệp có nhu cầu về vốn sẽ được cán bộ ngân hàng trực tiếp tìm đến tư vấn, triển khai hợp đồng cho vay tại nhà. Hiện nay nhiều ngân hàng còn xây dựng hẳn một đội ngũ nhân viên chuyên tiếp thị cho vay, mời chào khách hàng mới tìm hiểu các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của mình. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) sử dụng “chiêu” đánh vào tâm lý các doanh nghiệp với mong muốn được đồng hành cùng ngân hàng trên bước đường kinh doanh. Đó là cách tiếp cận khách hàng rất chuyên nghiệp mà một số NHTMCP đã thực hiện, VPBank cần phải học hỏi và đi theo xu hướng này.

Với dịch vụ chuyển tiền, quy trình VPBank thực hiện là phức tạp và mất nhiều thời gian. Các khoản tiền chuyển trong nước đều phải fax về hội sở, do vậy thời gian chờ của dịch vụ là khá dài. Nguyên nhân chủ yếu vẫn do mức độ áp dụng công nghệ thông tin của VPBank vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

Dịch vụ mở L/C chỉ được tiến hành tại các chi nhánh lớn và hội sở, tuy nhiên quy trình thực hiện cũng phức tạp. Các L/C do phòng A/O doanh nghiệp lập rồi giao lại cho phòng thanh toán quốc tế thực hiện. Quy trình này dẫn đến sự chồng chéo nghiệp vụ làm ảnh hưởng đến tiến độ cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

3. Mức độ áp dụng công nghệ vào ngân hàng Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Công nghệ thông tin được xem như là mạch máu đảm bảo hoạt động thông suốt của mỗi một ngân hàng. Các NHTMCP lớn như Sacombank, Techcombank, ACB đã tiến rất xa trong cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại nhờ vào việc áp dụng công nghệ thông tin. Các dịch vụ ngân ngân hàng hiện đại như thẻ ghi nợ, ATM, e-banking,…đã được triển khai và bước đầu khẳng định thế mạnh đi trước về công nghệ của các ngân hàng lớn. Trong khi đó VPBank vẫn đang trong giai đoạn bắt đầu cung cấp dịch vụ một cách dè dặt trên nền công nghệ được đầu tư chưa tương xứng.

Đối với các NHTM việc quảng bá hình ảnh thông qua Website đã trở nên phổ biến và thu được hiệu quả cao. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tốc độ phát triển internet cao thứ hai thế giới với tỷ lệ dân số truy cập thường xuyên lên đến 10% đặc biệt là tại các thành phố lớn. Tuy nhiên chưa đánh giá cao vai trò bộ mặt ngân hàng của trang web, website của VPBank được xây dựng và kết cấu rất sơ sài. Các thông tin về ngân hàng không được cập nhật. Tính đến đầu năm 2006, VPBank mới chỉ công khai trên web số liệu của năm 2023 và các báo cáo có từ năm 2022. Thêm vào đó các thông tin về sự phát triển của VPBank trong vòng 6 tháng gần đây cũng không được cập nhật đầy đủ trong khi đối với nhiều ngân hàng thông tin được cập nhật hàng ngày.

Tính cho đến nay lộ trình phát hành thẻ connect24 của VPBank dường như chưa bắt đầu dù kế hoạch đã thông qua từ năm 2022. Bộ phận thẻ được thành lập mới đầu năm 2006 hoàn toàn chưa thể có được bề dày kinh nghiệm cũng như tổ chức tốt như tại các NHTMCP khác. Hiện tại VPBank mới đảm nhận thanh toán cho thẻ Master và Visa, nhưng mức thu phí cao hơn so với dịch vụ cùng loại đã được 10 ngân hàng còn lại trong liên minh thẻ cung cấp. Dù vậy muộn vẫn hơn không, phòng tổng hợp công nghệ dưới sự chỉ đạo của Ban điều hành hiện đang tích cực chuẩn bị công nghệ nền cho việc phát hành thẻ thanh toán thương hiệu VPBank, thẻ ATM và Visa trong năm 2006. Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Hệ thống công nghệ thông tin là mạch máu của hoạt động ngân hàng. Trong những năm phục hồi, dù tình hình tài chính khó khăn VPBank luôn cố gắng đầu tư vào công nghệ thông tin với mức độ hợp lý, đảm bảo cho ngân hàng không bị tụt hậu. Các máy tính được lắp đặt cho các chi nhánh mới đều là các máy có nhãn hiệu IBM và có cấu hình mạnh. Đồng thời hệ thống máy tính tại các chi nhánh cũ cũng thường xuyên được nâng cấp. Chi phí cho mua sắm các thiết bị thông tin luôn tăng đều đặn với tốc độ 20-30% năm. Trung tâm tin học được thành lập giữ nhiệm vụ quan trọng thiết kế chương trình tin học quản lý hệ thống các mạng giao dịch và các máy tính trong mạng nội bộ của ngân hàng. Bên cạnh đó các cán bộ nhân viên của VPBank cũng thường xuyên được đào tạo, trang bị kiến thức công nghệ thông tin qua các khoá học ngắn hạn do các giảng viên chuyên ngành thực hiện.

Năm 2000 cùng với quyết tâm cải tổ hoạt động của VPBank, phần mềm B2K-được phát triển trên nền Win2000 và SQL7.0 và Visual Basic 6 bắt đầu được áp dụng. B2K là một phần mệm hiệu quả xứng đáng với đầu tư ban đầu của VPBank. Năm 2022 VPBank tiếp tục đầu tư nâng cấp B2K lên B2K advance nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu tăng trưởng dịch vụ của mình. Tuy nhiên cả B2K advance và các phần mềm sử dụng cho nghiệp vụ điều chuyển vốn giữa các chi nhánh thường xuyên gặp các lỗi kỹ thuật.

Mạng nội bộ của VPBank có mức độ bảo mật cao đảm bảo được yêu cầu trong hiện tại. Tuy nhiên với sự phát triển tràn lan của các virus và thế hệ tin tặc mới chưa thể yên tâm với mức độ bảo mật hiện nay trên nền Win2000 mà VPBank đang áp dụng. Đặc biệt khi VPBank tiến hành triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại như hệ thống ATM, thì yêu cầu đổi mới công nghệ đang trở nên bức thiết.

Ngày 24/4/2006, VPBank đã chính thức ký hợp đồng mua phần mềm hệ thống ngân hàng lõi – Core banking T24 của hãng Temenos (Thụy Sỹ), một nền tảng công nghệ để phát triển các sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao. Sau Sacombank, Habubank, MilitaryBank và VIBank, VPBank là NHTMCP thứ 5 tại Việt Nam trang bị phần mềm hiện đại này, tạo cơ sở cho việc gia tăng tiện ích của các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng. Lựa chọn triển khai T24 là một bước tiến quan trọng trong quá trình hiện đại hóa hạ tầng công nghệ của VPBank. Theo đó, VPBank đang chuẩn bị một kế hoạch sản phẩm khá phong phú được gia tăng tiện ích nhờ sử dụng hệ thống này, sẽ ra mắt khách hàng trong vài tháng tới: Thẻ, Phone banking, Internet banking,…Theo ông tổng giám đốc Lê Đắc Sơn, VPBank đã đầu tư hàng triệu USD cho hệ thống này và dự kiến sau 9 tháng, chi nhánh đầu tiên của VPBank sẽ vận hành trên nền tảng Core banking và sau 18 tháng, VPBank sẽ hoàn thành triển khai Core banking trên toàn hệ thống.

Tuy nhiên có thể nói, việc áp dụng và hiện đại hóa công nghệ ngân hàng còn là một hạn chế lớn của các ngân hàng Việt Nam nói chung, NHTMCP cũng như VPBank nói riêng. Dù đã có nhiều cố gắng song rõ ràng các ngân hàng này đang bị đối thủ cạnh tranh là các ngân hàng nước ngoài bỏ khá xa trong áp dụng công nghệ hiện đại.

4. Mức độ đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ ngân hàng

Yêu cầu đối với một ngân hàng hiện đại là phải luôn đáp những nhu cầu sản phẩm mới cho khách hàng. Đặc biệt trong thời điểm hiện tại khi các ngân hàng không chỉ chạy đua về phí dịch vụ mà còn chạy đua trong cung cấp dịch vụ mới. VPBank nằm trong số các ngân hàng chưa có danh mục dịch vụ đa dạng, đầy đủ. Tuy vậy VPBank luôn cố gắng khắc phục khó khăn do giai đoạn trước để lại nhằm mục tiêu đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Ngày 29/07/2021, VPBank chính thức cung cấp dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union. VPBank là một trong số ba ngân hàng đầu tiên của Việt Nam làm đại lý chuyển tiền nhanh cho dịch vụ thuận tiện và toàn cầu này. Hơn nữa, theo tin mới nhất, kể từ ngày 26/5/2006, khách hàng là cá nhân hoặc tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có thể cầm cố cổ phiếu của các NHTMCP để vay tiền tại VPBank. Ông Lê Đắc Sơn – Tổng giám đốc VPBank cho biết, thời hạn cho vay cầm cố bằng cổ phiếu ngân hàng có thể lên tới 60 tháng và mức cho vay tối đa có thể lên tới 200% mệnh giá cổ phiếu. Mức cho vay cụ thể được xác định trên cơ sở thị giá cổ phiếu, nhu cầu và thời hạn vay vốn của khách hàng. 9 NHTMCP mà VPBank nhận cầm cố là: ACB, Sacombank, EAB, Eximbank, Techcombank, MilitaryBank, VIBank, Habubank và OCB. Đó cũng là một chiến lược mới của VPBank nhằm thu hút thêm khách hàng, linh hoạt hoá hoạt động ngân hàng và mở rộng thêm khả năng tiếp cận, tăng mối liên kết giữa các NHTMCP với nhau.

Tính cho đến thời điểm hiện tại, ngoài hình thức tiết kiệm thông thường, VPBank đã cung cấp các sản phẩm huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như:

  • Tiền gửi tiết kiệm an sinh
  • Tiền gửi tiết kiệm VNĐ có bù đắp trượt giá USD
  • Tiền gửi tiết kiệm VNĐ có đảm bảo USD
  • Tiền gửi tiết kiệm rút gốc linh hoạt

Đặc biệt là hình thức tiền gửi tiết kiệm có bù đắp trượt giá USD được VPBank cung cấp đầu tiên trong hệ thống các NHTMCP từ năm 2021. Hình thức này đã tạo nên bước đột phá trong cơ cấu dịch vụ tiết kiệm vào thời điểm đó, nhờ vậy VPBank đã thu hút được lượng vốn lớn từ tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân và hộ gia đình. Thêm vào đó VPBank thường xuyên đưa ra các hình thức khuyến mại như tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm tích lũy điểm thưởng. Tuy nhiên các hình thức huy động này hoàn toàn không mới, các ngân hàng đối thủ trên thị trường đều đã và đang áp dụng. Hơn nữa nhiều hình thức tiết kiệm khác các ngân hàng đã thực hiện nhưng VPBank thì chưa như tiết kiệm bậc thang, tiền gửi bậc thang. Do vậy các sản phẩm huy động của VPBank là chưa đa dạng đối với sản phẩm cùng loại của các NHTM khác trên thị trường.

Các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cá nhân cũng chỉ dừng lại ở mức cơ bản như cho vay tiêu dùng, mua nhà, du học, chuyển tiền trong nước và quốc tế,…các dịch vụ này cũng đã quá quen thuộc đối với các NHTMCP khác. Trong khi các dịch vụ hiện đại như phone-banking, internet-banking, thẻ tín dụng đã được các NHTMCP lớn như Sacombank, Techcombank, ACB cung cấp thì tại VPBank các dịch vụ này mới đang ở mức nghiên cứu và đề xuất. Dịch vụ thẻ thanh toán mới được bắt đầu triển khai sau một thời gian dài nằm trong đề án, trong khi các ngân hàng đối thủ đã kịp xây dựng cả một hệ thống các máy ATM và các địa điểm chấp nhận thẻ dầy đặc chấp nhận thẻ đa dạng.

Đối với các khách hàng doanh nghiệp trong khi các dịch vụ của VPBank cung cấp tài khoản, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, vẫn chỉ ở mức cơ bản thì các NHTMCP lớn đã có bước tiến dài trong cung cấp các dịch vụ này. Thêm vào đó mức độ chuyên môn hoá vào từng phân đoạn thị trường thị trường nhỏ của VPBank không rõ ràng. Các sản phẩm của VPBank có tính phổ biến cao, không khác biệt so với các NHTM khác cung cấp. Trong khi các dịch vụ ngân hàng mới như hợp đồng quyền chọn vẫn chỉ nằm trên các văn bản nghiên cứu của VPBank thì các đối thủ đã và đang triển khai mạnh mẽ.

Như vậy mức độ đa dạng hoá sản phẩm của VPBank còn thấp so với các NHTMCP khác trên thị trường, và càng yếu hơn khi so sánh với hệ thống các NHTM quốc doanh hùng mạnh. Trong khi các dịch vụ ngân hàng hiện đại như home-banking, phone-banking, internet-banking, các dịch vụ thẻ đã được cung cấp rộng rãi thì VPBank gần như vẫn giậm chân tại chỗ với các dịch vụ cơ bản. Nếu không nỗ lực lớn, trong tương lai gần khi các NHTM và công ty tài chính nước ngoài gia nhập vào thị trường Việt Nam, VPBank sẽ gặp khó khăn vô cùng lớn khi mở rộng cung cấp dịch vụ nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung.

5. Thị phần hoạt động kinh doanh của ngân hàng Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

Bảng 10 : Phân loại khách hàng có quan hệ với VPBank

VPBank xác định khách hàng mục tiêu của mình là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đó đặc biệt chú trọng đến khách hàng là doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ. Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với VPBank còn ở mức hạn chế.Trong số các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với VPBank, chiếm đa số là các công ty tư nhân và các công ty TNHH. Số lượng các doanh nghiệp nhà nước là rất nhỏ và giảm một cách tương đối. Số lượng các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với VPBank dù ít nhưng đang có mức tăng trưởng đều đặn qua các năm. Tuy nhiên nếu VPBank muốn tiếp tục duy trì và củng cố vị trí của mình thì thị trường cần phải được mở rộng hơn trong thời gian tới.

Cùng nhịp với tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam, trong những năm gần đây số lượng các doanh nghiệp tăng mạnh trong mọi thành phần, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại. Thị trường của VPBank nhờ vậy mà tăng trưởng theo. Tuy nhiên vẫn chưa có bước đột phá trên thị phần VPBank nắm giữ, do vậy VPBank chưa thể có được vị thế vững chắc như các NHTMCP lớn.

Như vậy qua đánh giá về thị phần thì VPBank còn rất hạn chế về cả quy mô lẫn chất lượng. Trong giai đoạn phát triển tới VPBank cần quan tâm đúng mức tới công tác phát triển thị trường trong nỗ lực duy trì và phát triển ngân hàng.

Qua chương II này, có thể thấy được khái quát vị trí cũng như NLCT của VPBank trên thị trường ngân hàng Việt Nam. Đó là một NHTMCP cỡ vừa đang không ngừng nỗ lực vươn lên tự khẳng định mình, dành vị thế đáng kể so với các ngân hàng trong nước, cổ phần cũng như quốc doanh. Tuy vẫn còn những mặt hạn chế cần khắc phục, ta vẫn có thể khẳng định sức mạnh cũng như nguồn lực to lớn của VPBank trong quá trình hoạt động và cạnh tranh trên thị trường. Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của VPBANK

One thought on “Khóa luận: Thực trạng đánh giá năng lực của NH VPBANK

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan về cạnh tranh thị trường của VPBANK

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464