Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – chi nhánh Thừa Thiên Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Thực trạng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Thừa Thiên Huế

Trong giai đoạn 2015-2017 Chi nhánh đã không ngừng mở rộng hoạt động cho vay đến tất cả các đối tượng khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, vừa phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng, vừa tạo thêm thu nhập cho NH. Trong đó, các DNNVV là đối tượng khách hàng được Chi nhánh đặc biệt quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các DN này vay vốn khi có nhu cầu phát triển mở rộng SXKD. Mặc dù vẫn còn một số khó khăn, song hoạt động cho vay các DNNVV đã bước đầu đạt được kết quả khá tốt.

Sau đây là phần phân tích thực trạng cho vay DNNVV tại BIDV Huế. Trước tiên, là các chỉ tiêu quan trọng phản ánh rõ tình hình cho vay đối với các DNNVV của BIDV Huế giai đoạn 2015- 2017:

2.2.1. Số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại Chi nhánh

Số lượng khách hàng DN quan hệ tín dụng với Chi nhánh năm sau cao hơn năm trước. Cuối năm 2017, Chi nhánh đã có 254 hách hàng DN. Sau đây là bảng thống kê số lượng và tỷ trọng các DNNVV trong tổng số DN có quan hệ tín dụng tại Chi nhánh:

Bảng 2.2: Số lượng các DNNVV vay vốn ại BIDV Huế

Qua bảng thống kê cho thấy số lượng các DNNVV quan hệ tín dụng với Chi nhánh tăng đều qua các năm: Trong năm 2015 có 146 DN, năm 2016 là 191 DN và năm 2017 là 232 DN. Số lượng DNNVV tăng, chứng tỏ Chi nhánh có mở rộng cho vay loại hình DN này.

Các DNNVV chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số DN có quan hệ tín dụng với Chi nhánh, giữ vững ở tỷ trọng 90%-91% trên tổng số doanh nghiệp. Có thể thấy nguyên nhân là do trong giai đoạn 2015-2017, Chi nhánh chủ trương tích cực hướng tới nhóm đối tượng khách hàng là DNNVV, cũng trong giai đoạn này tỷ trọng DN lớn trong tổng DN tăng lên đó là một dấu hiệu đáng mừng trong hoạt động cho vay của Chi nhánh vì khi củng cố, tạo được uy tín thì mới có nhiều DN tìm đến NH đặc biệt là các DN lớn.

Số lượng DNNVV tăng và chiếm tỷ trọng cao trong tổng số DN, chứng tỏ Chi nhánh có quan hệ cho vay DNNVV ngày càng phát triển về số lượng. DN lớn cũng tăng nhưng vẫn chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số DN có quan hệ vay vốn với Chi nhánh. Nếu duy trì được tốc độ tăng và ổn định thì đó là dấu hiệu cho thấy hoạt động cho vay các DNNVV đang được mở rộng. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào số lượng DN có quan hệ tín dụng với NH thì chưa thể khẳng định được việc NH có mở rộng cho vay với loại hình DNNVV hay không mà còn xem xét thêm các chỉ tiêu khác tiếp theo sau đây.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Quản Trị Kinh Doanh

2.2.2. Doanh số cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

Bảng 2.3: Doanh số cho vay DNNVV tại BIDV Huế

Doanh số cho vay DNNVV và của toàn Chi nhánh qua các năm đều tăng. Năm 2016, doanh số cho vay DNNVV tăng 613 tỷ đồng so với năm 2015 (tương ứng tăng 51.3%); tỷ trọng doanh số cho vay DNNVV trong tổng doanh số cho vay của Chi nhánh cũng tăng từ 41.2% lên 45.4%. Năm 2017, doanh số cho vay DNNVV tăng 484 tỷ đồng lớn hơn so với năm 2016 (tương ứng tăng 66.7%); tỷ trọng của nó trong tổng doanh số cho vay của Chi nhánh đạt 46.5%. Tốc độ tăng trưởng cho vay DNNVV năm 2017 cao hơn so với năm 2015.

Sau hai năm phát triển với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, năm 2017 vừa qua, tốc độ phát triển về cho vay DNNVV của chi nhánh vẫn ở mức cao nhưng không bằng những năm gần đây. Điều này có thể hiểu là do các năm 2015, 2016 chi nhánh đã phát triển quá “nóng” về mảng cho vay DNNVV, năm 2017 tuy rằng tốc độ phát triển không đạt như những năm trước đó nhưng đạt được như vậy cũng là quá tốt. Một mặt vẫn duy trì được đà phát triển, mặt khác giúp cho chi nhánh phát triển một cách ổn định sau quá trình cải tổ và phát triển mạnh mẽ.

2.2.3. Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

Dư nợ cho vay phản ánh lượng tiền vay của khách hàng tại một thời điểm nhất định. Mức dư nợ và tỷ trọng dư nợ của DNNVV tại NH là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh việc mở rộng cho vay, bởi vì khi NH thực hiện chính sách mở rộng cho vay thì thường tại bất cứ thời điểm nào dư nợ cho vay cũng đạt mức cao.

Bảng 2.4: Dư nợ cho vay DNNVV tại BIDV Huế

Cùng với sự tăng trưởng của doanh số và tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh, dư nợ cho vay DNNVV qua các năm cũng tăng lên. Năm 2015, dư nợ DNNVV chiếm 35.4% trên tổng dư nợ và 44.7% trên tổng dư nợ cho vay DN. Đối với năm 2016, dư nợ DNNVV chiếm 37.1% trong tổng dư nợ và 48.4% trên tổng dư nợ cho vay DN; số dư nợ cho vay DNNVV của năm 2016so với năm 2015 tăng 408 tỷ đồng (tương ứng tăng 31.6%). Năm 2017, tiếp tục với đà tăng trưởng ổn định, tại chi nhánh dư nợ DNNVV chiếm 37.6% trên tổng dư nợ và 53.2% trên tổng dư nợ cho vay DN; số dư nợ cho vay DNNVV của năm 2017so với năm 2016 tăng 699 tỷ đồng (tương ứng tăng 41.1%). Có thể thấy, tốc độ tăng tương đối của dư nợ cho vay DNNVV năm 2017 cao hơn so với năm 2016.

Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy, dư nợ cho vay DNNVV tăng, điều này chứng tỏ Chi nhánh đ ng ngày càng chú trọng đến hoạt động cho vay DNNVV, giải quyết nhu cầu về vốn của DNNVV, nhằm giúp DNNVV có vốn để đầu tư mở rộng và phát triển hoạt động SXKD. Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

Cũng dễ dàng nhận thấy rằng, dư nợ cho vay DNNVV chiếm tỷ trọng ngày càng cao nhưng nó chỉ chiếm hơn 1/3 tỷ trọng của tổng dư nợ cho vay (chiếm 37.6% vào năm 2017), nên con số này ũng còn khá khiêm tốn; tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV so với dư nợ cho vay DN trong năm 2015 là 44.7%, năm 2016 là 48.4% và năm 2017 là 53.2%. Những chỉ số này cho thấy hoạt động cho vay DNNVV ở Chi nhánh là rất có tiềm năng và đang được Chi nhánh k ai hác ngày càng có hiệu quả. Năm 2017, hoạt động cho vay DNNVV có được những bước phát triển mạnh mẽ như vậy là nhờ Chi nhánh đã thực hiện tốt các chính sách khách hàng, tạo lập và xác lập lại được mối quan hệ lâu dài với các DN cũ, mở rộng đầu tư kịp thời cho các đơn vị mới có điều kiện vay vốn. Ngoài ra, Chi nhánh còn chủ động áp dụng lãi suất ưu đãi với các DN làm ăn kinh doanh có hiệu quả, có uy tín tốt và thực hiện chính sách khuyến khích đối với từng cán bộ tín dụng tại Hội sở của Chi nhánh cũng như các Phòng giao dịch.

Do dư nợ cho vay là một trong các chỉ tiêu quan trọng nhất, phản ánh việc mở rộng cho vay các DNNVV nên sẽ được phân tích kỹ hơn chỉ tiêu này qua 1 số tiêu chí phân loại sau đây:

Dư nợ theo thời hạn

Thời hạn của khoản vay thường được chia ra làm ngắn hạn (<= 1 năm), trung và dài hạn (> 1 năm). Trước năm 2011, khi tiến hành cho vay các DNNVV, Chi nhánh BIDV Huế thường có xu hướng cho vay ngắn hạn (tỷ trọng trung bình khoảng 55% trong tổng dư nợ cho vay DNNVV): Bởi vì, điều này phù hợp với chính đặc điểm của DNNVV nói chung và DNNVV tại Chi nhánh nói riêng; cụ thể là DNNVV có nhu cầu vốn nhỏ, chủ yếu là vốn lưu động, chu kỳ SXKD ngắn hạn, cần thu lợi nhuận ngay. Việc xem xét dư nợ cho vay theo thời hạn tại Chi nhánh được cụ thể hoá ở bảng số

Theo số liệu về tình hình dư nợ cho vay phân theo thời hạn của chi nhánh BIDV Huế giai đoạn 2015 – 2017 cho thấy cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng dư nợ cho vay DNNVV và có xu hướng tăng dần. Chỉ tiêu này tăng từ 788 tỷ đồng năm 2015 lên đến 1139 tỷ đồng năm 2016, tăng 351 tỷ đồng (tương ứng tăng 44.5%). Đến năm 2017, dư nợ cho vay ngắn hạn đối với DNNVV đạt 1798 tỷ đồng,tăng659tỷđồng(tương ứng tăng 57.9%).Vớimứctăngtươngđốiổnđịnhquatừngnăm, cho thấy Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển – Chi nhánh Thừa Thiên Huế đã rất chú trọng vào việc phát triển tín dụng đối với loại hình DNNVV, đặc biệt là hình thức cho vay ngắn hạn. Với kỳ hạn cho vay ngắn nên quy mô của các khoản vay này cũng khá nhỏ lẻ, phù rất

Ngược lại với mức tăng khá cao của dư nợ cho vay ngắn hạn thì tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn lại đang có xu hướng tăng trưởng chậm dần theo từng năm. Năm 2015 tăng 11.3% so với năm 2016 . Sang đến năm 2017, dư nợ cho vay trung và dài hạn của chi nhánh chỉ tăng ở mức 7.1% so với năm 2016 dừng ở con số. Điều này có thể lý giải bởi các DNNVV ở nước ta đa số đều có quy mô nhỏ cả về vốn, số lượng lao động, thời gian hoạt động chưa lâu, thông tin không minh bạch. Đặc biệt là doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn do giá trị TSĐB không đủ điều kiện và phù hợp với yêu cầu của ngân hàng. Chi nhánh BIDV Huế hiện nay chỉ ưu tiên cấp tín dụng trung hạn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, sản xuất hàng tiêu dùng, có uy tín và kết quả hoạt động kinh doanh tốt. Hơn nữa, ngân hàng rất hạn chế cho vay dài hạn do tính chất rủi ro cao và hầu hết các DNNVV không đủ điều kiện vay.

Tóm lại, thực tế cho thấy các DNNVV chỉ đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu của ngân hàng về những khoản vay ngắn hạn; ác khoản vay trung và dài hạn hầu như chỉ tập trung vào một số doanh nghiệp và tập đoàn lớn, có năng lực tài chính tốt, có tiềm năng phát triển trong tương lai. Trong thời gian tớ , Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thừa Thiên Huế cần mở rộng hơn các chính sách cho vay trung và dài hạn, giúp các DNNVV cải thiện lại hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát huy được thế mạnh của mình, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển chung của kinh tế đấtnước.

Dư nợ theo thành phần kinh tế

Bảng 2.6: Dư nợ cho vay DNNVV theo thành phần kinh tế tại BIDV Huế

Xu thế cho vay DNNVV ở khu vực quốc doanh theo xu hướng giảm, còn tại khu vực ngoài quốc doanh có xu hướng tăng. Hiện tượng này có thể lý giải do hai nguyên nhân sau: Thứ nhất là do chiến lược kinh doanh của Chi nhánh thực hiện theo định hướng của BIDV là chú trọng cho vay DN tư nhân, DN ngoài quốc doanh, đặc biệt là DNNVV. Thứ hai là do việc giải thể, sáp nhập của nhiều DNNVV quốc doanh thành các DN có qui mô lớn, việc cổ phần hóa và tái cơ cấu các DN Nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của đất nước khiến số lượng các DN này ngày càng giảm.

Qua bảng số liệu, có thể thấy dư nợ cho vay DNNVV ngoài quốc doanh qua ba năm 2015-2017 đều trên 79%, đây là một sự thay đổi trong chủ trương cho vay của Chi nhánh; chứng tỏ Chi nhánh đã nhận thức được khối DN ngoài quốc doanh đang hoạt động SXKD ngày càng hiệu quả hơn và giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Do đó, việc mở rộng cho vay DNNVV khu vực goài quốc doanh của Chi nhánh là đúng đắn.

Dư nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tài sản đảm bảo

Bảng 2.7: Dư nợ DNNVV theo tài sản đảm bảo BIDV Huế

Cho vay không có TSĐB tăng cả về số tuyệt đối, tương đối và tỷ trọng qua các năm. Năm 2016 tăng 162 tỷ đồng so với năm 2015, năm 2017 tăng 365 tỷ đồng so với năm 2016; năm 2016 tăng so với 2015 là 72.9% và năm 2017 tăng so với 2016 là 95%. Tỷ trọng dư nợ không có TSĐB qua các năm 2015, 2016, 2017 lần lượt là 17.2%, 22.6% và 31.2%. Việc tăng này cho thấy Chi nhánh có xu hướng nới lỏng cho vay không có TSĐB đối với các DNNVV, điều này cũng phản ánh chính sách khách hàng của Chi nhánh là căn cứ nhiều vào phân loại khách hàng. Nếu khách hàng DNNVV nào được xếp loại AAA, AA thì có thể xem xét cho vay không có TSĐB. Qua đây chứng tỏ Chi nhánh đã có những ưu đãi về TSĐB đối với các doanh nghiệp được xếp loại tín dụng cao.

Dư nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo loại tiền

Bảng 2.8: Dư nợ DNNVV phân theo loại tiền BIDV Huế

Tỷ lệ cho vay VNĐ chiếm một tỷ trọng lớn trong cho vay DNNVV, tỷ trọng này qua các năm 2015, 2016 và 2017 lần lượt là: 88%, 90.2% và 92.9%; dư nợ VNĐ năm sau cao hơn năm trước. Điều này chứng tỏ Chi nhánh cho các DNNVV vay vốn chủ yếu bằng VNĐ; một phần là do DNNVV hoạt động SXKD trong nước là chủ yếu. Dư nợ cho vay DNNVV bằng ngoại tệ có tăng về giá trị tuyệt đối, nhưng tốc độ tăng của tổng dư nợ cho vay DNNVV cao hơn nhiều nên tỷ trọng qua các năm đều giảm.

2.2.4. Doanh số thu nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

Doanh số thu nợ DNNVV có thể được hiểu là số tiền mà các DNNVV trả cho NH trong kỳ từ các khoản vay. Sau đây là bảng doanh số thu nợ DNNVV của Chi nhánh:

Về tổng thể, doanh số thu nợ DNNVV của Chi nhánh có xu hướng tăng dần qua các năm; được biểu hiện bởi tỷ trọng của doanh số thu nợ DNNVV trong tổng doanh số thu nợ. Cụ thể, năm 2015 là 36.4% thì đến năm 2017 tăng lên đến 37.9%. Doanh số thu nợ DNNVV ở năm 2016 tăng 31 tỷ đồng so với năm 2015 (tương ứng với tăng12.7%); năm 2017 tăng 45 tỷ đồng so với năm 2015 (tương ứng tăng 16.5%).

Mặc dù tỷ trọng doanh số thu nợ DNNVV trong tổng doanh số thu nợ của Chi nhánh tăng và tỷ trọng doanh số cho vay DNNVV trong tổng doanh số cho vaycũng tăng đều qua các năm. Nhưng, chúng tavẫn phải xem xét thêm các chỉ tiêu khác để có thể đánh giá được kế hoạch trả nợ của khách hàng và việc thu hồi nợ của Chi nhánh; cụ thể là các chỉ tiêu quan trọng sau đây:

2.2.5. Nợ quá hạn

Các chỉ tiêu liên quan nợ quá hạn phản ánh chất lượng khoản vay, thực trạng cho vay có hiệu quả không và xu hướng cho vay của NH như thế nào.. Khoản vay khi đến hạn không trả được có thể là nợ xấu hoặc không phải nợ xấu. Nếu vì nguyên nhân khách quan như khoản thu hồi, khoản phải thu của các DNNVV chậm hơn dự tính hoặc do nguyên nhân khác như tai nạn, thiên tai,… nhưng đã mua bảo hiểm là các khoản nợ có thể thu hồi được. Do các nguyên nhân chủ quan, DN làm ăn thua lỗ, lạm dụng quỹ, sử dụng vốn kém hiệu quả,… thì khoản nợ quá hạn đó khó thu hồi và được xem là nợ xấu. Sau đây là bảng chỉ tiêu nợ quá hạn DNNVV so với tổng nợ quá hạn của DNNVV tại Chi nhánh:

Nợ quá hạn của doanh nghiệp nhỏ và vừa so với tổng nợ quá hạn

Bảng 2.10: Nợ quá hạn của DNNVV so với tổng nợ quá hạn BIDV Huế

Qua bảng số liệu cho thấy trong giai đoạn 2015-2017 nợ quá hạn DNNVV thấp hơn nhiều so với tổng nợ quá hạn, nợ quá hạn DNNVV có xu hướng giảm; cụ thể, năm 2016 dư nợ DNNVV có tăng hơn năm 2015 nhưng sang năm 2017 nó lại giảm trở lại; nhìn vào biểu đồ ta thấy nợ quá hạn DNNVV so với nợ quá hạn DN là chiếm tỷ trọng rất nhỏ, điều này có thể nói phần lớn nợ quá hạn là nợ quá hạn DN lớn. Nhìn chung, tỷ trọng nợ quá hạn của DNNVV so với tổng nợ quá hạn là giảm; cụ thể năm 2015 là 14%, năm 2016 tăng ở mức 23%, năm 2017 giảm trở lại ở mức 21.6%. Nợ quá hạn năm 2016 tăng mạnh so với năm 2015 nhưng lại giảm trở lại trong năm 2017. Nguyên nhân là: Trong năm 2015, Chi nhánh đã đẩy mạnh công tác quản trị cho vay, thu nợ; năm 2016, dư nợ cho vay DNNVV tăng mạnh cả về trị số tuyệt đối và tỷ trọng dự nợ DNNVV trong tổng dư nợ; ngoài ra, do tình hình kinh tế – xã hội trong năm 2016 vẫn còn nhiều khó khăn, làm ảnh hưởng không nhỏ tới tình hình SXKD của các DNNVV nên một phần của khối DNNVV không trả nợ vay NH đúng thời hạn; năm 2017 Chi nhánh đã tiếp tục tăng cường, đẩy mạnh công tác thu nợ và một phần cũng do tình hình kinh tế – xã hội có khởi sắc nên đã giúp cho chỉ tiêu nợ quá hạn DNNVV của Chi nhánh giảm trở lại.

2.3. Các nhân tố chủ quan tác động đến hoạt động cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Huế Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

2.3.1. Chính sách cho vay và quy trình tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thứ nhất, ngoài chính sách giảm lãi suất 1% cho các DNNVV so với các DN lớn, và mới đây Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã ra công văn số:598 /BIDV-KHDNNVV về việc hướng dẫn triển khai cơ chế tín dụng đặc thù dành cho KHDNNVV nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, thu hút, mở rộng nền khách hàng DNNVV.

Thứ hai, về thủ tục cho vay DNNVV tại BIDV Huế nhanh gọn, dễ hiểu , áp dụng đặc thù riêng cho DNNVV, tuân thủ theo quy định cho vay DN. Việc, thiết kế danh mục hồ sơ pháp lý, hồ sơ vay vốn và hồ sơ bảo đảm tiền vay cụ thể hóa cho từng đối tượng như DNTN, Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, từng loại ngành nghề nhằm tiết giảm hồ sơ và thời gian cho vay vốn. Quy định về BĐTV đã có nới lỏng trong những năm gần đây đã tạo ra sự phát triển mạnh về cho vay DNNVV tại Chi nhánh.

Ngoài ra, nhờ áp dụng quy định về phân cấp thẩm quyền thống nhất từ BIDVTW đến Chi nhánh và được Chi nhánh cụ thể hóa từ giám đốc đến cấp phó phòng quan hệ khách hàng DN, quản lý rủi ro tín dụng, quản trị tín dụng.. nên tùy thuộc quy mô vay, thời hạn vay và nhóm nợ quy trình cho vay DNNVV có thể được rút gọn: Không phải thông qua thẩm định rủi ro (Khoản vay <14 tỷ đồng); Không phải thông qua hội đồng tín dụng (Khoản vay ngắn hạn <70 tỷ đồng; Khoản vay dài hạn <28 tỷ đồng); có những khoản vay quyền quyết định ngang cấp các phó phòng.

2.3.2. Các phương thức cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

Bên cạnh những phương thức cho vay DNNVV của NHTM hiện nay, ngoài các phương thức cho vay đa dạng như Vietcombank, ABBank,… BIDV Huế còn mở rộng các loại hình tín dụng đối với DNNVV. Cụ thể: Tài trợ DNNVV tại khu công nghiệp, tài trợ DN dệt may, cho vay mua ô tô, tài trợ chuổi cung ứng thủy sản, cho vay bước nhảy doanh thu, các gói hỗ trợ lãi suất…Qua đó, Chi nhánh đã và đang thực hiện đa dạng hoá đối tượng khách hàng và mở rộng khách hàng DNNVV.

2.3.3. Quy mô vốn của ngân hàng

Theo kết quả kinh doanh các năm 2015 -2017, huy động vốn, dư nợ và lợi nhuận đều có xu hướng tăng trưởng mạnh và ổn định. Có thể thấy tiềm lực của BIDV Huế mạnh nhất hệ thống ngân hàng tại Thành phố Huế hiện tại với dư nợ cho vay hiện tại đạt hơn 6600 tỷ đồng (3/2018) . Nguồn vốn dồi dào đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc cạnh tranh cho vay, cải thiện cơ sở vật chất và đầu ư phát triển mạng lưới . Tuy nhiên, việc sắp xếp vị trí, quy hoạch, đào tạo và tuyển cán bộ chưa hiệu quả còn chưa hợp lý; một số lĩnh vực cho vay có hiệu quả cao nhưng chưa được tập trung đầu tư về con người, cụ thể là cho vay xuất nhập khẩu, cho vay DNNVV có vốn đầu tư nước ngoài …

2.3.4. Chính sách marketing ở ngân hàng

Quảng bá thương hiệu, marketing còn yếu, điểm mạnh mới chỉ ở vấn đề lãi suất cho vay và bán chéo sản phẩm dịch vụ, có nhiều sản phẩm dịch vụ để cung cấp nhưng tiếp thị và thuyết phục khách hàng chưa tốt nên thị phần còn bé (thị phần về dư nợ dưới 10%). Đến cuối năm 2017, BIDV Huế chưa hoàn toàn xây dựng được là một thương hiệu NH bán lẻ năng động, mới đang trong quá trình chuyển dần từ bán buôn sang bán lẻ. BIDV Huế chưa có tổ hay phòng marketing.

2.3.5. Thông tin và trang thiết bị công nghệ Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

Thông tin năng lực DNNVV chưa đa dạng, độ tin cậy chưa cao. Thông tin về DNNVV của BIDV Huế có được từ nguồn hồ sơ vay vốn của khách hàng, thông tin từ Trung tâm tín dụng của NHNN, quá trình giám sát việc trả nợ, kiểm tra sử dụng vốn sau giải ngân và một số thông tin khác.

Thông tin khách hàng tại BIDV Huế lưu dữ liệu tại hai nơi là trên hệ thống mạng BIDV và trên hồ sơ giấy tờ lưu trữ. Việc có được thông tin đầy đủ về một khách hàng trong Chi nhánh cũng như BIDV chưa được tự động hóa, còn ở dạng bán tự động; phải qua nhiều phòng, tổ và mất thời gian tổng hợp.

Trang thiết bị công nghệ thông tin đối với ngân hàng là đặc biệt quan trọng giúp quản lý, điều hành và giám sát mọi hoạt động ngân hàng; ngoài ra còn các chức năng bảo mật thông tin, bảo vệ tái sản ngân hàng…Tại BIDV Huế, trang thiết bị công nghệ thông tin hiện đại phần nào đã đáp ứng các lĩnh vực cơ bản của NH. Tuy nhiên, một số công tác như báo cáo, xử lý số liệu, thu thập thông tin còn ở dạng bán tự động hoặc thủ công; nhiều công việc chưa có lập trình phần mềm để hỗ trợ ví dụ như công tác phân loại nợ, giám sát thu nợ, thẩm định tài chính…

2.3.6. Trình độ của đội ngũ cán bộ nhân viên trong ngân hàng

Đội ngũ, cán bộ nhân viên trong ngân hàng thường xuy n được BIDV Huế động viên tự nâng cao trình độ nghiệp vụ và trau dồi đạo dức nghề nghiệp. Hằng năm, Chi nhánh đều cử cán bộ tham gia các khóa học ngắn hạn hoặc học trực tuyến và thực hiện thi kiểm tra. Tuy nhiên, đây chỉ mới dừng lại ở từng nghiệp vụ chuyên môn của từng phòng; thiếu những khóa học bổ sung kiến thức tổng hợp về cho vay DNNVV cũng như các hoạt động ngân hàng khác. Việc chia sẻ kiến thức lĩnh hội được về các lĩnh vực của từng phòng chuyên môn trong quy trình cho vay là chưa phát huy hiệu quả tối đa.

2.3.7. Đảm bảo rủi ro đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

Việc cho vay các DNNVV tại BIDV Huế, được xem là có rủi ro cao so với cho vay DN lớn do đặc điểm của khối DNNVV thường phụ thuộc vào một vài khách hàng, trình độ kỹ năng quản trị kém, quy mô nhỏ nên dễ kết thúc, tính cạnh tranh kém. Tuy nhiên, về khía cạnh phân tán rủi ro, BIDV Huế đánh giá rằng: Cho vay nhiều DNNVV sẽ phân tán rủi ro hơn là tập trung cho vay một vài DN lớn.

Với xu hướng mở rộng cho vay DNNVV, đối với các đơn vị có quan hệ uy tín, xếp hạng tín dụng A trở lên BIDV Huế đã dần dần áp dụng việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản song tỷ lệ này chưa đáng kể. Ngoài ra, những doanh nghiệp có quan hệ tín dụng lâu dài, tình hình tài chính, sản xuất ổn định thì sẽ được xem xét cho vay với tỷ lệ tài sản đảm bảo thấp và lãi suất ưu tiên.

Song song, việc quản lý rủi ro thông qua BĐTV là TSĐB, BIDV Huế còn thực hiện quản lý rủi ro thông qua việc giám sát tuân thủ quy trình, thủ tục, chính sách cho vay và giám sát s u giải ngân, kiểm tra mục đích sử dụng vốn. Ngoài ra, định kỳ BIDV Huế thực hiện việc kiểm tra chéo theo phương thức xác suất chọn mẫu để kịp thời chấn chỉnh đổi ngũ cán bộ tín dụng và tổ chức rút kinh nghiệm sấu sắc. Tuy nhiên, BIDV chưa có hình thức quản lý rủi ro xa hơn là sâu sát, quan tâm thực sự hoạt động SXKD của khách hàng DNNVV, tư vấn cho khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hơn là chỉ phát vay, kiểm soát thuần túy.

2.4. Đánh giá chung cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triể Thừa Thiên Huế Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

2.4.1. Kết quả đạt được

Trong thời gian vừa qua, tình hình KTXH trong nước và thế giới biến động không ngừng đã gây không ít khó khăn cho môi trường kinh doanh của các NH nói chung và cho hoạt động của BIDV Huế nói riêng. Mặc dù vậy, vượt lên những thử thách đó, BIDV Huế vẫn đạt được những thành tựu nhất định trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh, đặc biệt là hoạt động cho vay đối với các DNNVV.

Số lượng DNNVV vay vốn, được cấp vốn tại Chi nhánh đã tăng đều qua các năm, đây là một dấu hiệu tích cực. Điều đó chứng tỏ NH đang duy trì thu hút được các DNNVV. Từ những khách hàng có quan hệ tín dụng tốt với NH đã mở rộng thêm được quan hệ với những khách hàng mới là bạn hàng của những khách hàng cũ và khách hàng quen thuộc. Như số liệu đã nêu ở trên, hiện có 232 DNNVV có quan hệ với Chi nhánh, tập trung vào các DN xây dựng- công nghiệp, thương mại và dịch vụ, lâm thủy sản,…

Doanh số cho vay đối với DNNVV trong các năm đều tăng và chiếm tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng cho vay DN lớn, tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân; dư nợ cho vay đối với DNNVV trong các năm đều tăng và chiếm tỷ trọng lớn hơn tỷ trọng cho vay khách hàng cá nhân. Chủ trương mở rộng cho vay của Chi nhánh đã được khẳng định và bước đầu đạt được những dấu hiệu đáng mừng trong việc mở rộng quy mô.

Về cơ cấu cho vay, BIDV Huế đã rất tích cực trong việc mở rộng cho vay ngắn hạn, phù hợp với ưu điểm của DNNVV ở Việt Nam và thích hợp với thực tế cơ cấu huy động vốn hiện có của Chi nhánh. Chủ trương mở rộng cho vay ngắn hạn giúp các DNNVV có điều kiện mua nguyên liệu đầu vào, giải quyết vấn đề thiếu vốn lưu động, duy trì hoạt động SXKD. Đây là một trong những cố gắng của Chi nhánh khi tình trạng huy động vốn chủ yếu là ngắn hạn và đồng thời vẫn đảm bảo an toàn, đem lại lợi nhuận khá cho NH.

Chi nhánh cũng đã duy trì tính đa dạng hoá đối tượng khách hàng. NH không chỉ chú trọng cho vay các DNNVV trong khu vực kinh tế Nhà nước mà còn thường trực ý thức việc mở rộng cho vay đối với các DN ngoài quốc doanh. Cơ cấu dư nợ của các DNNVV thuộc khu vực ngoài quốc doanh có xu hướ g tăng và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong khối này (trên 79%).

Chất lượng của các khoản vay đối với DNNVV được nâng cao, tỷ trọng nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay DNNVV có xu hướng giảm; tỷ lệ nợ xấu cũng tương tự và đảm bảo nhỏ hơn quy định của NHNN. Chi nhánh đã luôn quan tâm, phát triển tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng thông qua việc tập huấn, nâng cao chất lượng cho vay, thẩm định dự án, kiểm tra, theo dõi trước, trong và sau khi cho vay để đảm bảo an toàn cho các khoản vay.

Khi cho vay đối với các DNNVV, Chi nhánh luôn tư vấn, hướng dẫn miễn phí, nhiệt tình cho khách hàng về thủ tục vay vốn và sử dụng vốn vay có hiệu quả nhất. Đối với những khách hàng lâu năm, nếu gặp khó khăn hoặc cần vốn cho những dự án lớn thì NH có thể ưu tiên cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay với các DN khác và quy trình cho vay cũng đơn giản, nhanh chóng hơn để giúp các DN có được nguồn vốn kịp thời, giải quyết khó khăn và đảm bảo dự án đầu tư được thực hiện đúng tiến độ. Việc này sẽ tạo được mối quan hệ tốt hơn với khách hàng, từ đó mà đối tượng khách hàng của NH ngày càng tăng cả về quy mô và chất lượng.

Quy trình cho vay linh hoạt, hoạt động kiểm tra, giám sát chéo được tăng cường. Ngoài ra cũng có bộ phận kiểm tra định kỳ và thường xuyên đối với hoạt động cho vay. Thời hạn xử lý hồ sơ vay được tiến hành nhanh chóng, nếu không cho vay đều trả lời lại bằng văn bản theo quy định.

Như vậy, đạt được những kết quả đáng khích lệ trên là nhờ sự chỉ đạo sáng suốt của tâp thể lãnh đạo từ Hội sở chính và Chi nhánh, sự cố gắng phấn đấu của toàn thể đội ngũ cán bộ nhân viên của Chi nhánh trong việc mở rộng, nâng cao chất lượng tín dụng và sự hỗ trợ củ Nhà nước, cũng như sự tiến bộ của các DNNVV. Những chuyển biến tích cực đó là điều kiện cho các DNNVV tiếp cận dễ dàng hơn với kênh dẫn vốn quan trọng, đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của DN.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

a. Từ BIDV Huế

Thứ nhất, thiếu nguồn lực và phát triển mạng lưới chậm. Giai đoạn 2015-2017, mặc dù Chi nhánh đã đạt được những kết quả hả quan nhưng xét trên toàn hệ thống của BIDV cả nước thì vẫn còn nhiều chi nhánh hoạt động chưa hiệu quả trong khi vẫn phải đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận: Chi nhánh có xu hướng tiết kiệm chi phí, hạn chế đầu tư nên dẫn đến cơ sở vật chất không đảm bảo đầy đủ; p át riển mạng lưới chậm, đầu tư về nhân lực chưa hiệu quả.

Thứ hai, quảng bá thương hiệu, marketing trước đây còn yếu. Đến giữa năm 2017, BIDV Huế chưa hoàn toàn xây dựng được một thương hiệu NH bán lẻ năng động, đang trong quá trình chuyển dần từ bán buôn sang bán lẻ là do chưa có định hướng chiến lược và chương trình hành động cụ thể hóa để xây dựng thương hiệu mạnh và marketing thuyết phục khách hàng. Điều này dẫn đến khả năng cạnh tranh phát triển cho vay DNNVV.

Thứ ba, thu thập thông tin năng lực DNNVV chưa đa dạng, độ tin cậy chưa cao. Thông tin về DNNVV của BIDV Huế có được là chưa thể để đánh giá đầy đủ, chính xác năng lực và rất khó kiểm soát việc sử dụng vốn vay của khách hàng. Vì DNNVV là những khách hàng nhỏ lẻ, trải rộng khắp địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; vẫn còn những DN không thực sự hoạt động SXKD, vi phạm pháp luật, gây ô nhiểm môi trường, sử dụng vốn vay sai mục đích…BIDV vẫn chưa nâng cấp phần mềm quản lý hoạt động kinh doanh của mình kể từ khi hiện đại hóa hệ thống năm 2006.

Thứ tư, quy chế, quy trình thủ tục cho vay. Về nguyên tắc, BIDV Huế phải áp dụng quy chế, quy trình và thủ tục cho vay đảm bảo phải tuân thủ theo pháp luật của Nhà nước, NHNN và BIDV. Tuy nhiên, quy trình cho vay DNNVV tại BIDV Huế vẫn phải tuân thủ theo quy trình cho vay DN của BIDV nên thủ tục vay vốn dù đã được tối ưu nhưng vẫn còn những vướng mắc. Ngoài ra, việc phát triển cho vay DNNVV phần nào bị hạn chế bởi điều kiện TSĐB theo quy chế bảo đảm tiền vay và chính sách khách hàng của BIDV.

b. Từ phía DNNVV

Thứ nhất, xuất phát từ c ính quy mô DNNVV của DN: Vốn chủ sở hữu nhỏ, năng lực tài chính chưa cao, giá trị tài sản thấp, nếu DN chưa tạo được uy tín bằng năng lực kinh doanh thì rất khó tiếp cận được vốn vay từ các NH.

Thứ hai là các DNNVV thiếu các dự án hoặc phương án SXKD khả thi. Hầu hết khu vực DNNVV đều là các DN tự doanh, tham gia trên thị trường không có định hướng chiến lược, không xây dựng được kế hoạch SXKD lâu dài, thiếu các thông tin thị trường nên khó tiếp cận, nắm bắt được cơ hội đầu tư … Hơn nữa, chủ DN còn hạn chế về sự hiểu biết cơ chế chính sách pháp luật; quản lý ài chính thiếu minh bạch, không phản ánh thực tế tình hình SXKD của DN. Điều này làm NH gặp khó khăn trong việc tiếp nhận hồ sơ vay, kiểm tra, thẩm định yếu tố tài chính; ảnh hưởng quá trình DNNVV tiếp cận nguồn vốn tín dụng của NH.

c. Nguyên nhân khác

Từ phía Nhà nước: Cơ chế pháp lý còn thiếu đồng bộ, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng của NH mặc dù đã được bổ sung, sửa đổi thường xuyên nhưng khi triển khai vẫn còn nhiều thủ tục vướng mắc, chưa đáp ứng được những đòi hỏi thực tế.

Công tác quản lý Nhà nước đối với các DNNVV chưa chặt chẽ, lơi lỏng dẫn đến tình trạng phát triển các DNNVV theo chiều rộng, tăng về số lượng nhưng không đồng thời về chất lượng; trong giai đoạn nền kinh tế gặp khó khăn, đã có rất nhiều DNNVV bị phá sản, tạm thời dừng hoặc thu hẹp hoạt động SXKD; một số DNNVV lợi dụng tình trạng cấp giấy đăng ký kinh doanh dễ dàng, thủ tục phá sản còn rườm rà phức tạp, để lách luật, trốn, gian lận thuế,… Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Biện pháp đẩy mạnh vay vốn DN tại ngân hàng BIDV

One thought on “Khóa luận: Thực trạng cho vay DN nhỏ và vừa tại Ngân hàng BIDV

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát chung về phát triển Ngân hàng BIDV

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464