Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế -xã hội và một số tình hình về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh và là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội. Tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh: Bắc Giang ở phía Bắc, Hải Dương ở phía Đông Nam, Hưng Yên ở phía Nam và thủ đô Hà Nội ở phía Tây. Theo số liệu thống kê năm 2013 tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 823km2 với tổng dân số 1.064.256 người [43]. Nhìn từ vệ tinh, tỉnh Bắc Ninh nằm ở phía Bắc của đồng bằng châu thổ Sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng, được ngăn cách với vùng trung du và miền núi phía Bắc bởi hệ thống sông Cầu. Ngoài ra, Bắc Ninh còn có hai hệ thống sông lớn là sông Thái Bình và sông Đuống. Hệ thống sông ngòi đã tạo nên một mạng lưới vận tải đường thủy quan trọng, kết nối các địa phương trong tỉnh và nối liền tỉnh Bắc Ninh với các tỉnh khác trong vùng đồng bằng sông Hồng. Ngoài ra, chúng còn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt của dân cư trong tỉnh.
Bắc Ninh có các tuyến trục giao thông lớn, quan trọng chạy qua; nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc: đường quốc lộ 1A-1B, quốc lộ 18 (Thành phố Hạ Long – sây bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc. Trong tỉnh có nhiều sông lớn nối Bắc Ninh với các tỉnh lân cận và cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân. [46].Vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh là một trong những thuận lợi để giao lưu, trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển kinh tế – xã hội và khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh.
2.1.2. Đặc điểm về kinh tế – xã hội
Vùng đất trù phú nơi đây khi xưa vốn là “xứ Kinh Bắc”, nổi tiếng với nhiều làng nghề và các lễ hội dân gian phong phú diễn ra hàng năm. Vào năm 1822, xứ Kinh Bắc được Nhà Nguyễn đổi tên thành tỉnh Bắc Ninh. Đến tháng 10/1962, theo Nghị quyết của Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tỉnh Bắc Ninh sáp nhập với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc. Từ đó “Bắc Ninh” chỉ còn là tên của một đơn vị hành chính trong tỉnh Hà Bắc và có tên gọi là Thị xã Bắc Ninh. Sau đó, đến ngày 06/11/1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết tái lập tỉnh Bắc Ninh.
Dân số đang ở thời kỳ “cơ cấu vàng”, mức sống dân cư được nâng lên rõ rệt. Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân 15,1%/năm, trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 18,3%, dịch vụ tăng 19,1%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,2%. Đây là mức tăng trưởng bình quân cao nhất trong các kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm từ khi tái lập tỉnh tới nay. Năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 1.800USD vượt 38% mục tiêu Đại hội. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 20,4 triệu đồng, trong đó nông thôn 16,4 triệu đồng. Đến năm 2011, thu nhập bình quân đầu người đạt 2.109 nghìn đồng/tháng, gấp hơn 10 lần năm 1997 [39]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng năm 2010 ước đạt 64,8%, dịch vụ 24,2%, nông nghiệp đạt 11%. Đầu tư cho phát triển được đẩy mạnh, góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm ước thực hiện đạt trên 64.000 tỷ đồng, tăng bình quân 33,6%, hàng năm đều đạt trên 50% GDP. Công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 (2004) vượt lên vị trí thứ 9 trong toàn quốc. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,250 tỷ USD, tăng bình quân 67,2%/năm. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc. Hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ [39]. Quy mô công nghiệp tăng nhanh và giữ vai trò “đầu tầu” trong tăng trưởng kinh tế. Năm 1997, công nghiệp Bắc Ninh mới chỉ có 8.961 cơ sở sản xuất với 31.697 lao động; GTSX công nghiệp (giá cố định 1994) là 569 tỷ đồng; tỷ trọng giá trị tăng thêm chỉ chiếm 14,92% trong GDP của tỉnh. Tuy nhiên, nhờ có trình độ dân trí khá cao, nguồn nhân lực dồi dào, cơ sở hạ tầng khá tốt và đồng bộ, môi trường đầu tư liên tục được cải thiện (năm 2010, xếp thứ 6 toàn quốc) nên công nghiệp của Bắc Ninh đã nhanh chóng vươn lên và giữ vai trò “đầu tầu” trong tăng trưởng kinh tế. Năm 2011, số cơ sở sản xuất công nghiệp đã tăng lên 29.650 cơ sở (gấp 3,3 lần so với năm 1997) với 151,8 nghìn lao động (gấp 4,8 lần); GTSX công nghiệp ước đạt 62,7 nghìn tỷ (gấp 110 lần), xếp thứ 3 miền Bắc và thứ 8/63 tỉnh, thành phố; Giá trị tăng thêm (theo giá thực tế) đạt 30.373 tỷ đồng, chiếm tới 65% trong GDP của tỉnh [39].
Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 32 trường Đại học, Cao đẳng, Trung học dạy nghề và nhiều cơ sở giáo dục có quy mô lớn, chất lượng khá. Trong tỉnh hiện có hơn 650.000 lao động, trong đó đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề phát triển khá nhanh phù hợp với nền kinh tế mở cửa. Đội ngũ lao động trong tỉnh có khả năng tham gia hợp tác lao động quốc tế, đồng thời cũng là cơ hội cho các nhà đầu tư khai thác lao động khi đến Bắc Ninh đầu tư. Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian… đặc biệt là những làn điệu dân ca quan họ trữ tình nổi tiếng trong và ngoài nước.
Giáo dục, đào tạo, y tế góp phần nâng cao dân trí, sức khoẻ và tuổi thọ cho nhân dân. Kinh tế phát triển, thu ngân sách hàng năm tăng cao đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá xã hội. Quy mô trường lớp, học sinh được giữ vững; giáo viên được tăng cường cả về lượng và năng lực chuyên môn nên bình quân cứ 20 học sinh có 1 giáo viên đảm nhiệm. Hệ thống cơ sở y tế, giường bệnh được mở rộng, đội ngũ y bác sĩ tăng nhanh,… tất cả đã góp phần chăm sóc sức khoẻ, nâng cao dân trí và tuổi thọ cho nhân dân. Đến năm 2011, đã đạt 23,1 giường bệnh và 7,2 bác sĩ trên 100 dân; chỉ số phát triển con người (HDI) của Bắc Ninh (đạt sấp xỉ 0,8) đã thuộc nhóm tỉnh có trình độ phát triển cao [40].
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
2.2.1. Thực trạng thực hiện qui định của pháp luật về tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh
Thực hiện quy định của pháp luật về tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh là tổ chức phát triển hệ thống trường lớp các ngành học, cấp học theo quy định của Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp. Riêng giáo dục đại học và sau đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý.
Trong những năm vừa qua, các cấp uỷ đảng và chính quyền ở tỉnh Bắc Ninh đã quan tâm lãnh đạo trong việc củng cố và ổn định hoạt động ngành giáo dục mầm non. Về mẫu giáo, trong năm học 2013-2014 có 150 trường (tăng 02 trường so với năm học trước), bao gồm các loại hình: 145 trường Công lập; 01 trường thuộc cơ quan xí nghiệp, 04 trường tư thục. Tổng số nhóm trẻ: 912 nhóm; Trong đó nhóm trẻ tập thể 541 nhóm, nhóm trẻ tư thục 371 nhóm. Tổng số cháu nhà trẻ: 16.713 cháu (đạt 38,5%) độ tuổi. Tổng số lớp mẫu giáo: 1.661 lớp. Tổng số trẻ mẫu giáo ra lớp: 54.149 cháu (đạt 99,1%) so với độ tuổi. Trong đó trẻ 5 tuổi ra lớp là 17.935 cháu, đạt 100% so với độ tuổi [44]. Bên cạnh đó, tỉnh còn quan tâm xây dựng các trường mầm non trọng điểm. Trước đây giáo dục mầm non chưa được coi là bậc học chính thức trong hệ thống giáo dục quốc dân, nên hầu như chưa được quan tâm do thiếu cơ chế chính sách. Trường mầm non chỉ đơn thuần là nơi trông giữ trẻ, cô giáo mầm non không phải là cô giáo, mà chỉ là các cô nuôi dạy trẻ. Năm 1998, toàn tỉnh có 130 trường mầm non (tuyệt đại đa số là bán công, dân lập) với khoảng 2000 giáo viên, nhiều nơi trường mầm non là những công trình tạm bợ, chắp vá, chuyển đổi từ các công trình khác với tỷ lệ kiên cố rất thấp, chỉ khoảng trên 40% [25]. Toàn tỉnh có 2000 giáo viên mầm non nhưng chỉ có 1,82% trong biên chế, diện trong biên chế chỉ dành cho cán bộ quản lý. Trình độ chuẩn khối này tương đương sơ cấp, thế nhưng toàn tỉnh cũng chỉ có 72% giáo viên mầm non đạt chuẩn và 4,8% trên chuẩn [25]. Tuy nhiên, trong 16 năm qua, nhờ những chính sách phù hợp, một tỉnh có hệ thống giáo dục mầm non thấp kém, đến nay, giáo dục mầm non Bắc Ninh đã trở thành điểm sáng, dẫn đầu toàn quốc trên nhiều lĩnh vực: năm 1998, từ 1,82% giáo viên trong biên chế đến nay toàn tỉnh có 77,6%, tương đương 2.798 cán bộ, giáo viên trong biên chế. Năm 1998 toàn tỉnh có 72% giáo viên đạt chuẩn và 4,8% giáo viên trên chuẩn thì đến nay 100% giáo viên mầm non đã chuẩn hóa, trong đó 96% trên chuẩn. Năm 2000, toàn tỉnh có 1 trường chuẩn Quốc gia, thì nay đã có 108/150 trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức 1, chiếm 72% và 7 trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức 2 [25]. Tỉnh đã quan tâm đầu tư, đảm bảo đủ các điều kiện về cơ sở vật chất: phòng học, công trình vệ sinh, nước sạch đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ. Năm học 2013-2014, tổng số phòng học là 2.215 phòng (kiên cố 1.895 phòng, đạt 85,6%, bán kiên cố và cấp 4 là 360 phòng). Số phòng học dành cho lớp 5 tuổi là 592 (kiên cố 561 phòng, đạt 94,7%, bán kiên cố là 31 phòng, đạt 5,3%). Trong năm, Sở đã đầu tư 60 bộ đồ chơi ngoài trời cho 60 trường mầm non [42]. Trong năm học 2013-2014 có 08 trường được công nhận mới trường đạt chuẩn quốc gia mức độ I; chuyển đổi 02 trường từ mức độ I sang mức độ II. Hiện nay, số trường mầm non trong toàn tỉnh đạt các mức độ là 123 trường, đạt 79,5% (111 trường mức độ I, 12 trường mức độ II ); Thị xã Từ Sơn và huyện Yên Phong có 100% số trường mầm non đạt chuẩn quốc gia [44]. 100% trường, nhóm lớp có công trình vệ sinh phù hợp cho trẻ sử dụng, có nguồn nước sạch, bếp ăn an toàn, hợp vệ sinh [44].
Đặc biệt, năm 2012 vừa qua, khi nhiều tỉnh vẫn còn loay hoay với khái niệm phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, thì tháng 5/2012, Bắc Ninh đã về đích, trở thành tỉnh đầu tiên trong toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo tặng Cờ và Bằng công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Trong thời gian qua, ngành học phổ thông của tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện việc phát triển trường lớp khá tốt: Củng cố các trường hiện có, chia tách các trường tiểu học có quy mô lớn thành các trường có quy mô vừa phải, tách trường trung học cấp 2, 3 thành trường trung học cơ sở và trung học phổ thông riêng để dễ quản lý và thực hiện các hoạt động giáo dục, xây dựng thêm trường mới ở các địa bàn có dân cư khá tập trung.
Năm học 2011-2012, toàn tỉnh có 152 trường Tiểu học, 2.751 lớp, 82.914 học sinh, bình quân 30 học sinh/lớp (so với năm học 2010-2011 tăng 02 trường, 17 lớp, 843 học sinh). Năm học 2012-2013, khối Tiểu học của tỉnh có 153 trường với 2.787 lớp và trên 85 nghìn học sinh, bình quân 30,6 học sinh/lớp. Bậc tiểu học có số trường, số lớp và số học sinh tăng đáng kể do lực lượng công nhân các tỉnh lân cận nhập cư sang Bắc Ninh tăng mạnh trong thời gian qua [42]. Tỉnh đã triển khai có hiệu quả thí điểm và nhân rộng mô hình trường tiểu học mới VNEN. Củng cố và duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2. Năm học 2013-2014 đã xây dựng hoàn thành trường Tiểu học Suối Hoa là trường trọng điểm của tỉnh với tổng kinh phí trên 130 tỷ đồng. Toàn tỉnh có 152/153 (99,3%) trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 63 trường đạt mức độ 2 (41,2%), tăng thêm 5 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 và 01 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 [44].
Giáo dục bậc trung học có sự phát triển đáng kể với số lượng lớp và học sinh đều tăng hàng năm. Trong năm học 2000-2001, trung học cơ sở có 99 trường – 988 lớp – 34.600 học sinh, thì năm học 2012-2013 có 134 trường, 1.870 lớp, tổng số học sinh: 63.043 em. Đối với trung học phổ thông, năm học 2000-2001 có 23 trường, 527 lớp, 21.451 học sinh, thì năm học 2012-2013 có 38 trường, 985 lớp, tổng số học sinh: 41.965 em [34]. Về cơ cấu các trường phổ thông không có trường bán công và tư thục đối với tiểu học và trung học cở sở; bậc trung học phổ thông có 24 trường công lập, 14 trường tư thục. Học sinh trung học cơ sở đạt 98,4% so với số dân trong độ tuổi (11-14 tuổi); học sinh trung học phổ thông đạt 85,1% so với số dân trong độ tuổi (15-17 tuổi). Số lượng học sinh ngoài công lập ở trung học phổ thông chiếm 64% [34].
Qua số liệu trên cho thấy bình quân mỗi xã, phường, thị trấn có 1,5 trường tiểu học; mỗi xã, phường, thị trấn có 1 trường trung học cơ sở; mỗi huyện, thành phố có 4 trường trung học phổ thông. Đây là điều kiện thuận lợi cơ bản đối với việc học tập của học sinh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Đối với giáo dục thường xuyên: tính đến năm học 2012-2013, toàn tỉnh có 8 trung tâm giáo dục thường xuyên (02 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, 6 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện); số học sinh giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông là 2.085 em. 126/126 xã, phường, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng; 01 trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp đã triển khai dạy nghề phổ thông cho 4.425 học sinh (1.961 học sinh THCS, 2.464 học sinh THPT) [42].
Đối với giáo dục chuyên nghiệp, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có 11 trường đại học với 18.697 sinh viên (1.260 tuyển mới), 12 trường cao đẳng với 11.582 sinh viên (2.269 tuyển mới), 09 trường trung cấp chuyên nghiệp (8.613 tuyển mới), quy mô 18.697 học sinh [44]. Hệ thống các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học được hình thành và phát triển khá đa dạng, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nhiệm vụ xây dùng và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, cụ thể:
Hệ thống các trường trung cấp chuyên nghiệp bao gồm:
- Trường trung học y tế Bắc Ninh tại thành phố Bắc
- Trường Công nghệ kỹ thuật Bắc Ninh tại thành phố Bắc
- Trường trung cấp nghề kinh tế – kỹ thuật Hà Nội tại huyện Thuận Thành.
- Trường trung cấp nghề Thuận Thành tại huyện Thuận Thành.
- Trường trung cấp nghề kinh tế – kỹ thuật điện Hà Nội tại huyện Tiên
- Trường trung cấp thực hành kỹ thuật cao tại KCN Nam Sơn – Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh.
- Trường trung cấp nghề kinh tế kỹ thuật và thủ công mỹ nghệ truyền thống tại huyện Thuận Thành.
- Trường trung cấp y dược Bắc Ninh tại thành phố Bắc
Hệ thống các trường cao đẳng bao gồm:
- Trường cao đẳng thủy sản tại thị xã Từ Sơn.
- Trường cao đẳng thống kê Trung ương (Tổng cục thống kê) tại thành phố Bắc Ninh.
- Trường cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh tại thành phố Bắc
- Trưởng cao đẳng công nghệ Bắc Hà tại thị xã Từ Sơn.
- Trường cao đẳng nghề kinh tế-kỹ thuật Bắc Ninh tại thành phố Bắc
- Trường cao đẳng quản lý kinh tế công nghiệp tại thị xã Từ Sơn.
- Trường cao đẳng công nghiệp – Dệt may thời trang Hà Nội cơ sở 2 tại huyện Thuận Thành.
- Trường cao đẳng nghề Viglacera tại huyện Yên
- Trường cao đẳng nghề cơ điện và xây dựng Bắc Ninh tại thành phố Bắc
- Trường cao đẳng Ngoại ngữ – Công nghệ Việt Nhật tại huyện Quế Võ.
- Trường cao đẳng Đại Việt tại KCN Tiên Sơn.
- Trường cao đẳng văn hóa – nghệ thuật – du lịch Bắc Ninh tại thành phố Bắc Ninh.
Hệ thống các trường Đại học bao gồm: Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
- Trường Đại học Chính trị – trực thuộc Bộ Quốc phòng tại thành phố Bắc Ninh.
- Trường Đại học kỹ thuật – hậu cần Công an nhân dân tại huyện Thuận Thành.
- Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy – Bộ Công an tại huyện Tiên Du (thuộc Làng Đại học II).
- Học viện Ngân hàng – Phân viện Bắc Ninh tại thành phố Bắc
- Học viện Chính sách và Phát triển tại thành phố Bắc
- Trường Đại học công nghệ Đông Á tại thành phố Bắc
- Trường Đại học Thể dụ thể thao tại thị xã Từ Sơn.
- Trường Đại học Quốc tế Bắc Hà tại thị trấn Lim, huyện Tiên
- Trường Đại học Kinh Bắc tại thành phố Bắc
- Trường Đại học Nha Trang cơ sở Bắc Ninh tại thành phố Bắc
- Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cơ sở tại thị xã Từ Sơn.
Trong thời gian tới, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh sẽ triển khai các dự án xây dựng thêm một số trường Đại học: Học viện Phụ nữ Việt Nam, Đại học Dược Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Thống kê, Đại học Việt Nhật đặt tại Làng Đại học 1.
Nhìn chung việc thực hiện qui định của pháp luật về tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh đã có nhiều cố gắng và đạt được những thành tích quan trọng, là điểm sáng trong cả nước về quy mô và định hướng tổ chức hệ thống giáo dục. Đó là một hệ thống giáo dục được xây dựng khá hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng đã được hình thành với đầy đủ các cấp học, trình độ đào tạo và phương thức giáo dục; qui mô trường lớp được mở rộng và được trải đều trên các địa phương của tỉnh, tạo điều kiện cho việc học tập của nhân dân, góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của tỉnh nhà.
Tuy nhiên, việc thực hiện qui định của pháp luật về tổ chức hệ thống giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh vẫn còn những hạn chế nhất định. Ngành học mầm non tuy có nhiều cố gắng nhưng mạng lưới trường lớp chưa phủ kín hết các thôn, công tác phát triển số lượng nhà trẻ đạt tỉ lệ chưa cao; cơ sở vật chất còn rất khó khăn. Đối với giáo dục tiểu học việc giảm thiểu các điểm trường lẻ còn chậm, hiện toàn tỉnh vẫn còn 73 điểm trường lẻ với hơn 8.300 học sinh, chất lượng dạy và học ở các điểm trường lẻ thường thấp hơn nhiều so với khu trung tâm. Ngành học phổ thông phát triển khá đều khắp nhưng qui mô còn có sự chênh lệch giữa các địa phương, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, chưa đáp ứng cho nhu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, toàn tỉnh còn 5% phòng học cấp 4, chưa có nhiều trường THPT nằm trong tốp 200 trường có chất lượng giáo dục mạnh trong toàn quốc [43].
2.2.2. Thực trạng thực hiện qui định của pháp luật đối với hoạt động giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Thực hiện qui định của pháp luật đối với hoạt động giáo dục và đào tạo là những nội dung mà các đơn vị trường học, cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân phải thực hiện một cách nghiêm túc, đầy đủ gồm những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, công tác tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục luôn được tập trung chỉ đạo thực hiện. Việc tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình là hoạt động cơ bản trong nhà trường và các cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân. Vì vậy, các cấp ủy đảng và chính quyền trong tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc những qui định về chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường.
Ngành học mầm non đã tổ chức thực hiện chu đáo chương trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ nhà trẻ và mẫu giáo. Toàn tỉnh đã thực hiện tốt quy chế nuôi dạy trẻ, 150/150 trường (100%) thực hiện có hiệu quả chương trình Giáo dục mầm non mới; số nhóm trẻ thực hiện là 493/541 nhóm trẻ tập thể (đạt 91,1%), với 9.228 cháu; 1.661 lớp mẫu giáo (đạt 100%), với 53.221 cháu. Huy động 423/517 trẻ khuyết tật được giáo dục hoà nhập tại các trường mầm non (82%) [44]. Các hoạt động chung là tổ chức đón, trả trẻ; chăm sóc giáo dục vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường; quản lý sức khỏe và an toàn cho trẻ; hoạt động vui chơi; hoạt động học tập; hoạt động lao động; tổ chức ngày hội, ngày lễ, dạo chơi tham Ngoài ra, các trường bán trú, nội trú còn hoạt động tổ chức ăn, ngủ cho trẻ.
Hầu hết các cơ sở giáo dục mầm non tỉnh Bắc Ninh đã chú ý nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ và tham gia phổ biến kiến thức khoa học về nuôi dưỡng trẻ gia đình cho ông bà, cha mẹ các cháu và cộng đồng. 08/08 Phòng Giáo dục – Đào tạo đều chỉ đạo các trường mầm non đổi mới hình thức tổ chức giáo dục trẻ 5 tuổi. Các chuyên đề giáo dục mầm non được thực hiện với nhiều hình thức phong phú, hấp dẫn thông qua việc dạy linh hoạt, lồng ghép, tích hợp và các hội thi của giáo viên và học sinh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Nhìn chung, chất lượng giáo dục mầm non được giữ vững và có mặt tiến bộ thông qua việc thực hiện có hiệu quả các chuyên đề và đổi mới nội dung phương pháp giáo dục trẻ. Công tác chăm sóc – nuôi dưỡng – bảo vệ sức khoẻ cho trẻ được duy trì tốt với nội dung trọng tâm là nâng cao chất lượng bữa ăn, tăng cường vệ sinh, tiêm chủng mở rộng, khám và theo dõi sức khoẻ định kỳ cho các cháu. Tỉ lệ trẻ được theo dõi biểu đồ tăng trưởng và khám sức khoẻ định kỳ ở nhà trẻ, mẫu giáo đạt 100%; tỉ lệ trẻ được ăn tại nhà trẻ đạt 100%, trong đó bán trú đạt 86,5%; tỉ lệ trẻ được ăn tại trường mẫu giáo đạt 92,4%, trong đó bán trú 70,4%. So với cùng kỳ năm trước tỉ lệ trẻ bán trú ở mẫu giáo tăng 3,2%. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở nhà trẻ 4.3%, mẫu giáo 5.4%; thể thấp còi ở nhà trẻ 7.1%, mẫu giáo 7.3% [41]. Tháng 5/2012, Bắc Ninh đã về đích 100% số xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, trở thành tỉnh đầu tiên trong toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo tặng Cờ và Bằng công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi.
Ngành học phổ thông thực hiện quy định của pháp luật về hoạt động giáo dục và đào tạo một cách nghiêm túc về chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Căn cứ vào kế hoạch giảng dạy và biên chế năm học, các trường xây dựng thời khóa biểu đảm bảo sự ổn định học tập, phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi, bảo đảm quyền lợi của học sinh trong học tập và rèn luyện. Ngành đang tích cực triển khai các Đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt như: Đề án phát triển trường THPT chuyên và hệ thống các trường THCS trọng điểm cấp huyện; triển khai chương trình giáo dục 10 năm môn tiếng Anh bắt buộc cho học sinh lớp 3; triển khai Kế hoạch dạy hát dân ca Quan họ Bắc Ninh trong các trường học giai đoạn 2011-2015, Kế hoạch thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013-2015”. Tham gia chương trình quốc tế đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông (PISA) vào cuối năm học.
Điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng giảm tải, tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục, phương pháp điều hành và kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông; đổi mới tổ chức thi tốt nghiệp THPT nhằm khắc phục những bất cập; triển khai tự đánh giá, đẩy mạnh triển khai đánh giá ngoài các trường tiểu học, THCS, THPT. 100% các trường THPT tổ chức dạy học giáo dục quốc phòng – an ninh theo phân phối chương trình và đánh giá xếp loại học sinh theo quy chế hiện hành. Thực hiện điều chỉnh phương pháp giảng dạy trên tinh thần tiếp tục lấy ý kiến chỉnh sửa trong năm học trước, thống nhất nội dung môn học trong toàn tỉnh. Thực hiện tốt các hướng dẫn của Bộ Giáo dục và đào tạo về giáo dục hoà nhập, từ bồi dưỡng giáo viên đến triển khai thực hiện. Kết quả: Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Tiểu học: Huy động 100% học sinh trong độ tuổi đến trường, 100% số trẻ 6 tuổi vào lớp 1; 95% trẻ khuyết tật ra học các lớp hoà nhập và tiền hoà nhập; trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học. Có 82% học sinh đã được học 2 buổi/ngày (riêng thành phố Bắc Ninh và huyện Lương Tài có 100% học sinh Tiểu học được học 2 buổi/ngày); 100% học sinh khối 3, 4, 5 được học tiếng Anh [41]. Đây là lý do chính để ngành GD-ĐT tham mưu với UBND tỉnh cấm tổ chức dạy thêm, học thêm tại khối Tiểu học, vì bản chất của buổi học thứ 2 cũng chính là học thêm. Quy định này đã nhận được sự đồng thuận cao của xã hội, vì đã được học 2 buổi/ngày thì việc dạy thêm nữa là không cần thiết, thậm chí là phản khoa học [41].
- Xếp loại hạnh kiểm: Thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của người học sinh là: 82.845/82.914 (99,9%); chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của người học sinh là: 69/82.914 ( 0,1%) [42].
- Xếp loại môn Toán: Loại trung bình trở lên: 98,6% (tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước); loại giỏi: 75,5% [42].
- Xếp loại môn Tiếng Việt: Loại trung bình trở lên 98,8% (giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước); loại giỏi: 56,8% [42].
Trung học cơ sở: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh: Loại tốt 70,63 % (tăng 1,66% so với cùng kỳ năm 2011-2012), loại khá 23,88 % (giảm 1,22% so với cùng kỳ năm trước), loại trung bình 4,93% (giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước), loại yếu 0,56 (tăng 0,04% so với cùng kỳ năm trước). Thực hiện tốt các hướng dẫn của Bộ GDĐT về giáo dục hoà nhập, từ bồi dưỡng giáo viên đến triển khai thực hiện. Hiện nay có 51 học sinh THCS của nhiều tỉnh tập trung nuôi dưỡng tại trung tâm dưỡng lão tại chùa Phật Tích – huyện Tiên Du được giáo dục hoà nhập [44].
Kết quả xếp loại học lực: Loại giỏi 17,17 % (tăng 2,28% so với cùng kỳ năm 2011-2012), loại khá 39,99 % (giảm 0,51% so với cùng kỳ năm trước), loại trung bình 36,23% (giảm 0,47% so với cùng kỳ năm trước), loại yếu 6,40 (giảm 1,26% so với cùng kỳ năm trước), loại kém là 0,22% (giảm 0,09% so với cùng kỳ năm trước) [42].
Phổ cập THCS: Huy động học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 đạt: 99,9%; học sinh tốt nghiệp THCS đạt 99,03%; tỉ lệ thanh thiếu niên (15-18) tuổi có bằng tốt nghiệp THCS: 92,93%.
Trung học phổ thông: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh: Loại tốt 66,94% (giảm 0,46% so với cùng kỳ năm 2012-2013), loại khá 23,00% (giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước), loại trung bình 7,86% ( tăng 0,36% so với cùng kỳ năm trước), loại yếu 2,20 (tăng 0,23% so với cùng kỳ năm trước) [44]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Kết quả xếp loại học lực: Loại giỏi 5,25% (giảm 0,18% so với cùng kỳ năm 2011-2012), loại khá 44,61% (tăng 0,01% so với cùng kỳ năm trước), loại trung bình 42,83% (giảm 2,13% so với cùng kỳ năm trước), loại yếu 6,83 (tăng 0,43% so với cùng kỳ năm trước), loại kém là 0,48% (tăng 0,04% so với cùng kỳ năm trước) [42].
- Giáo dục thường xuyên:
Các trung tâm giáo dục thường xuyên được tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và phát triển đội ngũ cán bộ, giáo viên cho các cơ sở giáo dục thường xuyên nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương trình giáo dục thường xuyên. Hệ thống giáo dục thường xuyên hoạt động có nền nếp, bước đầu đã có hiệu quả rõ nét. Từ năm 2010 đến nay, toàn tỉnh có 59 lớp liên kết đào tạo với 6.104 sinh viên. Các trung tâm học tập cộng đồng tổ chức được 1.286 chuyên đề với 378.064 lượt người tới dự. Tổng số chuyên đề đã thực hiện là: 1304 lớp với 379.596 lượt người dự [34]. Hệ thống các trung tâm ngoại ngữ, tin học được củng cố và mở rộng. Tăng cường thanh tra chuyên môn, tổ chức thi ngoại ngữ, tin học theo đề thống nhất của Sở; tổ chức thi đầu vào, đầu ra các lớp đại học từ xa, tại chức…, thi tốt nghiệp bổ túc văn hóa chặt chẽ… Nhìn chung, hoạt động và chất lượng của giáo dục thường xuyên chuyển biến rõ rệt.
Việc thực hiện qui định của pháp luật đối với hoạt động giáo dục và đào tạo trong giáo dục chuyên nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua đã có cố gắng đáng kể. Các trường trung học chuyên nghiệp, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp đã thực hiện việc điều chỉnh chương trình từng bộ môn cho phù hợp với những chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo hướng giảm giờ lý thuyết, tăng giờ thực hành, đổi mới nội dung và phương thức giảng dạy sát với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của địa phương, chú trọng việc rèn luyện năng lực thực hành cho học sinh.
Kết quả xếp loại đạo đức của học sinh cấp trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên: Loại tốt 39,56% , loại khá 28,39% , loại trung bình 12,76%, loại yếu 1,72%. Kết quả xếp loại học lực: Loại giỏi, khá 12,76%, loại trung bình 72,99%, loại yếu 11,51%, loại kém là 0,72% [34].
Các hoạt động giáo dục trên lớp được tiến hành thông qua việc dạy và học các môn bắt buộc và tự chọn do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Thực hiện hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do nhà trường phối hợp với lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức, bao gồm hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao nhằm phát triển năng lực toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa; các hoạt động môi trường; các hoạt động lao động công ích; các hoạt động xã hội; các hoạt động từ thiện phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Kết quả của việc thực hiện những qui định của pháp luật về hoạt động giáo dục và đào tạo trong thời gian qua của ngành học phổ thông ở tỉnh Bắc Ninh cho thấy kết quả hàng năm chất lượng đại trà ở các cấp học phổ thông được giữ vững và có mặt tiến bộ hơn nhất là các môn khoa học tự nhiên. Chất lượng mũi nhọn được nâng lên đáng kể; số học sinh chăm ngoan, khá giỏi tăng, số lượng học sinh có hạnh kiểm trung bình và học lực yếu kém giảm.
Kết quả thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2013-2014, có 38/54 thí sinh dự thi đạt giải (trong đó, có 2 giải nhất, 10 giải nhì, 12 giải ba và 14 giải khuyến khích); có 05 học sinh tham gia dự thi chọn đội tuyển đi thi quốc tế; thi tốt nghiệp phổ thông trung học kết quả đạt 99,07% trong tổng số 13.400 học sinh dự thi; có 18.200 lượt thí sinh dự thi đại học, kết quả thi vào Đại học năm 2013 đứng thứ 7 toàn quốc với tổng điểm bình quân 3 môn thi đạt 14,37 điểm, tỷ lệ đỗ Đại học đợt 1 là 40,2% (tăng 4 bậc so với năm trước, với 36 thủ, á khoa, 60 em đạt từ 27 điểm trở lên) [34].
Vấn đề giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ đã được các cấp quản lý giáo dục có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục. Công tác giáo dục chính trị, đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng cho các học sinh được nhà trường, gia đình và xã hội đặc biệt quan tâm tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Công tác giáo dục quốc phòng đã được quan tâm đúng mức; đội ngũ giáo viên quốc phòng đang được chuẩn hóa và tăng cường; nội dung giáo dục quốc phòng đã được thực hiện ở tất cả các trường trung học phổ thông trong tỉnh. Ngành giáo dục đã chủ trương phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể như Tư pháp, Công an, Tỉnh đoàn… triển khai các chương trình lồng ghép về giáo dục dân số, giáo dục môi trường, giáo dục an toàn giao thông, phòng chống ma túy, AIDS và các tệ nạn xã hội… đã góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, xây dựng đời sống văn hóa, hình thành nhân cách cho học sinh, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Công tác giáo dục hướng nghiệp được quan tâm hơn trước, số học sinh học nghề phổ thông tăng hàng năm, công tác tư vấn hướng nghiệp đã được thực hiện ở một số địa phương có kết quả tốt.
Thứ hai, công tác quản lý nhà giáo, cán bộ nhân viên được chú ý thực hiện một cách chu đáo. Nhận thức rằng đây là lực lượng nòng cốt, chủ lực mang tính quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ và nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường, do đó các cấp ủy đảng và chính quyền ở tỉnh Bắc Ninh đã quan tâm xây dựng và quản lý đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Số lượng và chất lượng của đội ngũ này ngày một tăng lên đáp ứng được yêu cầu giảng dạy và quản lý đối với công tác giáo dục ở tỉnh nhà. Tính đến năm 2013-2014, toàn tỉnh có 16.349 cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên (1.066 cán bộ quản lý, 13.743 giáo viên và 1.540 nhân viên hành chính); tỷ lệ đạt chuẩn 100%, trên chuẩn đạt 70,86%. Mầm non có 4.603 cán bộ quản lý và giáo viên, tỷ lệ đạt 1,58 giáo viên/lớp, trình độ đạt chuẩn là 100%, trên chuẩn là 86%; Tiểu học có 4.408 cán bộ quản lý và giáo viên, tỷ lệ đạt 1,46 giáo viên/lớp; trình độ đào tạo đạt chuẩn 100%, trên chuẩn là 86%; THCS có 4151 cán bộ quản lý và giáo viên, giáo viên có trình độ đạt chuẩn là 100%, trên chuẩn là 76,4%; THPT có 4.151 cán bộ quản lý và giáo viên, giáo viên có trình độ đạt chuẩn là 100%, trên chuẩn là 76,4%. THPT có 1.890 cán bộ quản lý và giáo viên, trình độ đạt chuẩn là 100%, trên chuẩn là 27,4%; GDTX có 149 cán bộ quản lý và giáo viên, đạt trình độ trên chuẩn là 66,67%; Trường CĐSP có 32 cán bộ quản lý, đạt chuẩn 100%, trên chuẩn là 84% [42].
Công tác quản lý đội ngũ nhà giáo thực hiện khá tốt trong nhiều khâu, từ việc đào tạo, bồi dưỡng, phân công công tác, đánh giá năng lực hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện các chế độ, chính sách… đều tiến hành chu đáo, đảm bảo nguyên tắc phân cấp quản lý, chặt chẽ trong tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đề bạt…
Công tác tuyển sinh và quản lý người học được các trường, cơ sở đào tạo thực hiện nghiêm túc, đúng qui định và có nền nếp. Việc quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị được chú ý, công tác quản lý tài chính được chấp hành tốt theo qui định của Nhà nước.
Thứ ba, cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục phục vụ yêu cầu dạy và học tập được chú ý. Trong năm học 2013-2014, tỉnh đã triển khai mua sắm 74 bộ thiết bị dạy học trang bị cho 74 trường mầm non; 30 bộ đồ chơi ngoài trời cho 30 trường mầm non; 126 máy tính trang bị cho 03 trường tiểu học, 01 trường THCS, 74 trường mầm non, mua sắm 09 bộ thiết bị thực hành thí nghiệm Lý, Hóa, Sinh trang bị cho 03 trường THPT xây dựng trường chuẩn quốc gia, 01 phòng tin học, 01 phòng ngoại ngữ; mua sắm 103 bộ thiết bị dạy học ngoại ngữ trang bị cho 95 trường tiểu học và 08 trường THCS trọng điểm, 31 bộ thiết bị màn hình thông minh trang bị cho 23 trường THPT công lập và 08 trường THCS trọng điểm; mua sắm 24 bộ phần mềm cổng thông tin, tích hợp phần mềm quản lý văn bản trực tuyến trang bị cho các Phòng GD &ĐT, các đơn vị trực thuộc và Văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo. Các trường chuẩn được trang bị thiết bị phòng nhạc, đồ dùng dạy học theo danh mục tối thiểu của Bộ GD&ĐT; 100% trường THCS được trang bị máy vi tính, 88,9% số trường có phòng tin học, 100% số trường được trang bị thiết bị thực hành Lý, Hóa, Sinh và các thiết bị đồ dùng khác theo danh mục tối thiểu của Bộ. Tổng kinh phí chi mua sắm trang thiết bị dạy học và bồi dưỡng giáo viên là 143,865 tỷ đồng [42]. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Qua tình hình thực hiện qui định của pháp luật đối với hoạt động giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua đã thực sự làm cho giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà chuyển biến theo hướng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đưa hoạt động giáo dục – đào tạo đi đúng quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước, thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và tỉnh nhà.
Tuy nhiên việc thực hiện qui định của pháp luật đối với hoạt động giáo dục và đào tạo còn những hạn chế, đó là: việc huy động trẻ ra nhóm trẻ trong trường mầm non còn thấp (đạt 44,5%); chất lượng chăm sóc , giáo dục trẻ ở một số nhóm trẻ tư thục và một số lớp mẫu giáo ở các điểm lẻ còn hạn chế. Chất lượng giáo dục mũi nhọn còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng và điều kiện đầu tư của tỉnh . Cơ sở vật chất trường học còn thiếu (các trường THPT: Yên Phong 2, Lương Tài 2, Quế Võ 2, Ngô Gia Tự, Thuận Thành 2 và các trường mầm non còn thiếu phòng học ). Một số huyện còn nhiều phòng học cấp 4 (Thuận Thành, Yên Phong, Lương Tài, Gia Bình). Việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày hoặc trên 6 buổi/tuần ở một số trường THCS và THPT trong tỉnh còn khó khăn; công tác quản lý, khai thác, sử dụng thiết bị dạy học tuy đã được cải thiện nhưng ở hầu hết các đơn vị hiệu quả còn thấp. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia ở một số đơn vị còn gặp khó khăn. Chất lượng đào tạo của các trường trung học chuyên nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh.
2.2.3. Thực trạng thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Thực hiện Luật Giáo dục năm 2005, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục năm 2009 và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cấp chính quyền ở tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thể hiện trên một số công việc sau đây:
Một là, xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo được các cấp, các ngành ở tỉnh Bắc Ninh quan tâm. Trong khi TP Hà Nội và các tỉnh nằm trong vùng Thủ đô đang khẩn trương triển khai quy hoạch, lập các dự án đô thị đại học nhằm đón các trường đại học, cao đẳng di dời khỏi trung tâm Hà Nội thì từ năm 2006, tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt quy hoạch Khu liên hợp đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ (Khu Đại học 1 tại TP Bắc Ninh, quy mô 193,27 ha). Nối đó, năm 2010, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch khu đại học 2 tại huyện Tiên Du, quy mô 499,05 ha và đang dự kiến khu đại học 3. Tổng quy mô của cả 3 khu đại học là 2.100ha, dự kiến thu hút khoảng 15 vạn sinh viên [40]. Có thể nói, Bắc Ninh đã đi trước các địa phương trong vùng. Trong giai đoạn 2011 – 2015, Bắc Ninh tiếp tục xác định: Phát triển các khu đô thị quan trọng theo hướng hiện đại, văn minh, sinh thái vừa là nhiệm vụ trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài, trong đó cần ưu tiên phát triển các khu đô thị đại học. Tỉnh Bắc Ninh định hướng phát triển các khu đại học thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tầm cỡ quốc gia và quốc tế; hình thành và phát triển khu đô thị đại học hiện đại, văn minh với hàm lượng cao về kinh tế tri thức; là một nhân tố đột phá về phát triển đô thị, góp phần quan trọng trong chương trình phát triển đô thị toàn tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Hai là, việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo.
Hàng năm trên cơ sở nội dung chỉ thị, quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ năm học và tình hình kinh tế – xã hội của địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học với những nội dung cụ thể, thiết thực. Trong năm học 2012-2013, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra Chỉ thị số 05/2012/CT-UBND ngày 15/7/2012 về việc đẩy mạnh phát triển sự nghiệp giáo dục trong năm học 2012-2013. Điều đó đã thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh đối với ngành giáo dục – đào tạo, yêu cầu các cấp chính quyền và đoàn thể có trách nhiệm quản lý, phối hợp với ngành giáo dục để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học. Quyết định số 86/2012/QĐ-UBND ngày 15/11/2012 quy định dạy thêm, học thêm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ; Quyết định số 153/2013/QĐ-UBND ngày 25/4/2013 về việc phê duyệt Đề án tăng cường đầu tư kinh phí nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên và mua sắm trang thiết bị đồ dùng dạy học đồng bộ theo hướng chuẩn hóa , hiện đại hóa trang bị cho các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông công lập thuộc tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2013-2017; Quyết định số 176/2013/QĐ-UBND ngày 13/5/2013 về việc thực hiện Chương trình sữa học đường trong các trường mầm non ; Quyết định số 194/2014/QĐ-UBND ngày 22/5/2014 về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2014-2020, tầm nhìn 2030; Quyết định số 61/2012/QĐ-UBND ngày 21/9/2012 về quy chế tuyển chọn giáo viên trường THPT Chuyên, trường THCS trọng điểm; Quyết định số 58/2012/QĐ-UBND quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Sở Giáo dục và Đào tạo; Quyết định số 26/QĐ-UBND ngày 21/3/2012 phân cấp quản lý nhà nước cho Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố về việc quản lý toàn diện các trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở và đơn vị Phòng Giáo dục – Đào tạo đóng trên địa bàn huyện, thành phố… Ngoài ra, còn rất nhiều văn bản hành chính: Kế hoạch, Hướng dẫn, Công văn, Đề án, Chương trình… để kịp thời điều chỉnh các nội dung công tác giáo dục và đào tạo. Cùng với các văn bản quy phạm do Trung ương ban hành , công tác xây dựng văn bản của tỉnh đã thực sự tạo ra được hành lang pháp lý đối với công tác giáo dục và đào tạo tỉnh nhà. Góp phần giúp cho công tác giáo dục và đào tạo dần đi vào nền nếp, nghiêm túc.
Ba là, chính sách đối với cán bộ, giáo viên, HĐND, UBND tỉnh Bắc Ninh đã quan tâm thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục. Tăng cường phân cấp quản lý và giao quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ cho các cơ sở giáo dục. Chỉ đạo các đơn vị thực hiện đầy đủ, kịp thời, minh bạch các chế độ chính sách của Nhà nước đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (đặc biệt chế độ trợ cấp, phụ cấp: trợ cấp, phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường THPT Chuyên Bắc Ninh, các trường THCS trọng điểm, phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo được điều động công tác ở cơ quan quản lý giáo dục; phụ cấp công vụ cho cán bộ, công chức công tác ở Sở và Phòng Giáo dục&Đào tạo). UBND tỉnh đã ban hành quyết định hưởng phụ cấp chức vụ cho 100% cán bộ lãnh đạo trung tâm học tập cộng đồng các xã, phường, thị trấn trong tỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Bốn là, công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã được các cấp ủy và chính quyền tỉnh Bắc Ninh quan tâm tổ chức để nâng cao nhận thức về chính trị, hiểu biết về pháp luật cũng như nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Hầu hết cán bộ, giáo viên các cấp được tham gia học tập bồi dưỡng chính trị, nghiên cứu tìm hiểu về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế – xã hội và các nghị quyết của tỉnh đảng bộ Bắc Ninh… Công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên được đặc biệt chú ý và đạt nhiều kết quả trong việc chuẩn hóa và nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên. Năm học 2002-2003 tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ở mầm non là 39,6%, tiểu học 79,6%, trung học cơ sở 94,0%, trung học phổ thông 99,0%, thì đến năm học 2013-2014 tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn giáo dục mầm non là 99,7%, tiểu học là 100%, trung học cơ sở là 99,8%, trung học phổ thông là 100%, toàn ngành có 638 thạc sỹ, 05 tiến sỹ [44]. Việc đào tạo giáo viên họa, thể dục, tin học, kỹ thuật cũng được quan tâm thích đáng.
Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn được tổ chức thường xuyên, chu đáo, đặc biệt là về nội dung và phương pháp giảng dạy các lớp thay sách, thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa theo Nghị quyết của Quốc hội và Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Tỉnh quan tâm chỉ đạo các nhà trường, các cơ sở giáo dục hướng dẫn đánh giá cán bộ quản lý và giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, Chuẩn hiệu trưởng các cấp và Chuẩn Giám đốc trung tâm giáo dục thường xuyên, Chuẩn nghiệp vụ sư phạm theo đúng quy trình các bước của văn bản hướng dẫn hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tổ chức thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo chuẩn, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
Năm là, công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trong thực hiện nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, công tác thanh tra, kiểm tra được quan tâm một cách đáng kể cả về mặt tổ chức biên chế đến việc cấp kinh phí, xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra. Việc xây dựng bộ máy và cán bộ được chú ý để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thanh tra từ Sở đến Phòng Giáo dục – Đào tạo. Thanh tra viên phải là cán bộ quản lý hoặc giáo viên dạy giỏi từ huyện trở lên, có uy tín và có tinh thần trách nhiệm cao. Hiện nay, số lượng thanh tra viên ở Sở Giáo dục – Đào tạo: 06 chuyên trách và 43 kiêm nhiệm; ở Phòng Giáo dục – Đào tạo: 08 chuyên trách và 265 kiêm nhiệm. Đến tháng 8/2014, Thanh tra Sở sẽ trình Giám đốc Sở ký quyết định bổ nhiệm cộng tác viên thanh tra mới theo Nghị định số 42/2013/NĐ-CP và Thông tư số 39/2013/TT-BGDĐT. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Thực hiện nội dung thanh tra giáo dục khá đa dạng như thanh tra công tác quản lý của thủ trưởng các đơn vị, thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành (về công tác quản lý các khoản thu và chi ngoài ngân sách, quản lý tài chính công, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, chế độ chính sách đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh của đơn vị; việc dạy thêm, học thêm, sử dụng văn bằng, chứng chỉ, công tác tuyển sinh…), thanh tra giáo viên. Qua thanh tra, kiểm tra đã chấn chỉnh những sai trái, lệch lạc, giúp cho các đơn vị khắc phục để tiến bộ, được dư luận đồng tình, đánh giá cao. Hàng năm tiến hành thanh tra toàn diện từ 02 Phòng Giáo dục – Đào tạo, 08 trường trung học phổ thông, 02 trường trung học chuyên nghiệp, 20 trường mầm non, 55 trường tiểu học, 23 trường trung học cơ sở; thanh tra giáo viên mầm non 420 người, tiểu học 950 người, trung học cơ sở 762 người, trung học phổ thông 180 người [21].
Việc tổ chức tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo được các cấp quan tâm giải quyết theo đúng quy định của pháp luật như: bố trí nơi tiếp dân, lịch tiếp dân, nội quy tiếp dân, các loại hồ sơ được lưu trữ, ghi chép đầy đủ; đơn thư được tổng hợp, chuyển đơn theo thẩm quyền, báo cho người đứng đơn kịp thời, thường xuyên yêu cầu cơ sở báo cáo kết quả giải quyết đơn thư theo thẩm quyền. Trong năm học 2013-2014, tổng số đơn thư đã nhận: 18 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết, số đơn thư đã giải quyết xong: 13, số đơn thư đang giải quyết: 05 [44].
Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện những trường hợp vi phạm trong quản lý tài chính, quản lý chuyên môn, thực hiện quy chế chuyên môn… đã được xử lý nghiêm minh, kịp thời, góp phần xây dựng trật tự kỷ cương trong nhà trường, nâng cao chất lượng dạy và học.
Sáu là, công tác sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng được thực hiện một cách thường xuyên. Trong thực hiện nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo luôn gắn liền với việc tổ chức sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá và rút kinh nghiệm. Công việc này được tiến hành chu đáo và trở thành nền nếp.
Trong năm năm qua, kể từ năm học 2000 – 2001 đến nay, với sự phấn đấu trong công tác và giảng dạy, ngành giáo dục tỉnh Bắc Ninh đã được các cấp khen thưởng gồm: Huân chương lao động: 03, Cờ thi đua Chính phủ: 05, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ: 25, Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo: 182, Huy chương vì sự nghiệp giáo dục – đào tạo: 1352, Cờ thi đua của Uỷ ban nhân dân tỉnh: 18, Bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh: 705… Riêng năm học 2012-2013, ngành Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Cờ đơn vị tiêu biểu xuất sắc trong dịp tổng kết 5 năm thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Trong 05 năm học từ năm học 2009-2010 đến nay, phong trào thi giáo viên dạy giỏi các cấp được duy trì và tổ chức thường xuyên với kết quả như sau: mầm non: 60 người; tiểu học: 72 người, trung học cơ sở: 65 người, trung học phổ thông: 123 người, trung học chuyên nghiệp: 25 người [44].
Việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua đã có những cố gắng nhất định, tác động tích cực trong việc đưa pháp luật về giáo dục và đào tạo vào cuộc sống xã hội, thúc đẩy các hoạt động giáo dục và đào tạo trở nên sinh động và hiệu quả hơn, Thực tế đó đã chứng minh và làm cho xã hội nhận thấy được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các cấp uỷ đảng và chính quyền trong việc đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà. Qua đó khuyến khích, động viên toàn xã hội quan tâm chăm lo sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và của tỉnh nhà.
Tuy nhiên, việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế, bất cập, đó là: Công tác quản lý các hoạt động giáo dục và đào tạo của các cấp có mặt còn trì trệ, chưa thật sự đổi mới và sáng tạo, hiệu quả quản lý còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới; một số văn bản pháp quy về giáo dục và đào tạo chưa được ban hành kịp thời; việc kiểm tra, đôn đốc bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật vẫn chưa được coi trọng đúng mức; công tác thanh tra vẫn còn bất cập, đặc biệt là công tác thanh tra chuyên môn, chậm phát hiện và thiếu kiên quyết trong xử lý và khắc phục các biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong ngành giáo dục; việc quản lý dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường, các trung tâm, các luyện thi còn lúng túng ít hiệu quả, công tác xã hội hóa còn những biểu hiện phiến diện, chỉ thiên về huy động sự đóng góp tài lực của nhân dân; việc phân công, phân cấp và cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục và đào tạo với các cấp, các ngành khác trong tỉnh chậm được thể chế hóa; công tác bồi dưỡng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tuy được quan tâm, song hiệu quả và chất lượng còn thấp.
2.2.4. Nguyên nhân của những kết quả, tồn tại và một số kinh nghiệm Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
- Nguyên nhân của những kết quả đạt được
Việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Những kết quả đạt được trên đây là do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, trên cơ sở văn bản chỉ đạo của Trung ương, cấp ủy đảng và chính quyền tỉnh Bắc Ninh đã đề ra được nhiều chủ trương, biện pháp cụ thể, thiết thực đối với việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo. Khẳng định rằng những kết quả đạt được của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua là các cấp ủy đảng đã có nhận thức đúng đắn quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo. Các cấp uỷ đảng đã coi việc nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục và đào tạo là nguyên tắc quản lý các hoạt động xã hội, là hình thức tốt nhất để đưa pháp luật về giáo dục và đào tạo vào đời sống thực tiễn, nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Từ đó, đã kịp thời lãnh đạo các cấp chính quyền, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và nhân dân trong tỉnh tổ chức thực hiện tốt những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo.
Những kết quả đạt được trên đây còn nhờ có sự quan tâm của các cấp chính quyền đối với việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo. Sự quan tâm này được thể hiện trong việc xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động về giáo dục và đào tạo; cấp kinh phí đảm bảo cho các hoạt động giáo dục và đào tạo; tổ chức các lớp đào tạo và bồi dưỡng về chính trị, pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đầu tư về cơ sở vật chất; quyết định các chế độ, chính sách đãi ngộ; tổ chức công tác thi đua khen thưởng… Đây là nguyên nhân mang tính chỉ đạo, lãnh đạo xuyên suốt trong quá trình thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua.
Thứ hai, đó là sự nỗ lực, quyết tâm phấn đấu của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục cũng như các tầng lớp nhân dân trong tỉnh; đồng thời có sự phối hợp và giúp đỡ có hiệu quả của các sở, ban, ngành, mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, các tổ chức… trong tỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Các cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo các cấp đã thực hiện khá tốt chức năng tham mưu đối với cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, chủ động tổ chức thực hiện những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó là sự phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi của các sở, ban, ngành, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức… ở tỉnh đối với ngành giáo dục – đào tạo.
Bên cạnh đó, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp đủ về số lượng, cơ cấu tương đối hợp lý, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, chuẩn nghề nghiệp, đào tạo cơ bản đảm bảo yêu cầu, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn cao ở các cấp học. Hơn nữa, cán bộ, giáo viên ngành giáo dục Bắc Ninh rất nhiệt tình và tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm trong công tác giảng dạy và quản lý. Đội ngũ này không chỉ truyền đạt các kiến thức chuyên môn mà còn thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức, lý tưởng cho học sinh; giải thích các đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong xã hội và nhân dân; đặc biệt là đội ngũ giáo viên đã vượt qua những khó khăn, thử thách chung của ngành giáo dục, đóng góp công sức vào sự nghiệp trồng người. Các tầng lớp nhân dân trong tỉnh đã ra sức phát huy truyền thống hiếu học, tích cực phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục thế hệ trẻ; nhiệt tình trong việc đóng góp công sức, tiền của để xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo cho công tác dạy và học; hăng hái hưởng ứng và tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường.
Thứ ba, việc chấp hành và vận dụng các quy định của pháp luật về giáo dục và đào tạo của các cấp ủy đảng và chính quyền, các cấp quản lý giáo dục được đảm bảo và phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương.
Với những thuận lợi và khó khăn do sự tác động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội, tình hình về giáo dục và đào tạo của tỉnh Bắc Ninh, các cấp uỷ đảng và chính quyền ở Bắc Ninh đã chấp hành nghiêm túc những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo, vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo phù hợp với tình hình địa phương, nhằm phát huy hiệu quả cao nhất trong thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo. Nhiều nơi đã chú trọng việc phát huy vai trò của những người có uy tín và học vấn trong cộng đồng dân cư, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên để tham gia và giám sát các hoạt động giáo dục và đào tạo ở địa phương. Từ sự chấp hành và vận dụng như vậy nên việc tổ chức và thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
Thứ tư, truyền thống hiếu học của người dân Kinh Bắc đã được duy trì và phát huy mạnh mẽ; tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh tiếp tục được ổn định và phát triển; đời sống nhân dân đã được cải thiện một bước cả về vật chất và tinh thần.
Trong thời gian qua truyền thống hiếu học của Bắc Ninh đã được phát huy mạnh mẽ, thể hiện trong từng gia đình, từng dòng họ, từng cộng đồng dân cư. Nhân dân đã không tiếc tiền của, công sức đầu tư và khuyến khích động viên con em vượt qua khó khăn, chăm chỉ học tập, hỗ trợ và tạo điều kiện cho các nhà trường trong việc thực hiện phong trào dạy tốt, học tốt. Toàn xã hội không chỉ đóng góp tiền của, công sức mà còn cả về trí tuệ cho việc xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Trên cơ sở tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh tiếp tục được ổn định và phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện một bước đáng kể cả về vật chất và tinh thần, nên sự đóng góp và hỗ trợ của nhân dân đối với việc phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở tỉnh nhà được biểu hiện sinh động hơn, hiệu quả hơn, từ đó đã góp phần tích cực vào việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, làm cho giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển vững chắc hơn.
Thứ năm, công tác quản lý có nhiều đổi mới, phong cách làm việc từ Sở đến cơ sở trong các cuộc họp, hội nghị, sinh hoạt nghiêm túc, khoa học hơn; xác định trọng tâm, trọng điểm từng công việc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học; công tác tham mưu đã bám sát chương trình công tác tháng, có nhiều chủ trương mới, chỉ đạo sát thực tế, tạo sự đồng thuận, đoàn kết trong toàn ngành và xã hội; tổ chức các kỳ thi có nhiều đổi mới, đảm bảo an toàn, nghiêm túc và đạt kết quả cao. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua là do những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, tư duy về giáo dục và đào tạo còn chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước, cũng như đòi hỏi của sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế – xã hội và giao lưu, hội nhập khu vực và quốc tế.
Các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương chưa quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo trong tình hình mới, chưa cụ thể hoá kịp thời và đầy đủ trong việc hoạch định một số chính sách để thực hiện tốt các qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh.
Bên cạnh đó, các cấp, các ngành cũng chưa nhận thức một cách đầy đủ để có giải pháp đối với những vấn đề mới nảy sinh trong mối quan hệ giữa kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động; giữa việc mở rộng qui mô trường, lớp giữa các vùng với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo; giữa việc đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân và khả năng hạn hẹp của nền kinh tế địa phương; giữa đầu tư của Nhà nước với đóng góp của nhân dân; giữa tình trạng phân hoá giàu nghèo và yêu cầu bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo.
Thứ hai, cơ chế quản lý về giáo dục và đào tạo chưa tương thích với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của địa phương. Việc đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước còn dàn trải, không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển của giáo dục và đào tạo; trong khi đó việc thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục còn phiến diện, chưa có chính sách đủ mạnh để huy động các nguồn đầu tư khác trong xã hội. Chính sách về học phí có nhiều điểm chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, dẫn đến tình trạng có một số địa phương và nhà trường đặt ra quá nhiều khoản thu, gây bức xúc trong xã hội.
Công tác chỉ đạo điều hành còn nhiều yếu kém, bất cập. Các cấp chính quyền ở nhiều địa phương vẫn còn thiếu chủ động trong việc thực hiện các chủ trương và giải quyết các vấn đề cụ thể về giáo dục và đào tạo, chưa quan tâm đầy đủ trong việc khắc phục bệnh thành tích và tiêu cực trong giáo dục và đào tạo. Quản lý của ngành giáo dục và đào tạo ở các địa phương đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập còn lúng túng, một mặt chưa tạo điều kiện để các trường phát triển, mặt khác chưa ngăn chặn kịp thời tình trạng lơị dụng chính sách xã hội hoá về giáo dục nhằm thu lợi bất chính.
Thứ ba, trình độ kiến thức, năng lực nghiệp vụ của một bộ phận giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục còn những mặt hạn chế nhất định. Một số cơ quan quản lý giáo dục ở các cấp chưa làm tốt chức năng tham mưu với các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, nhất là về mặt quản lý nhà nước, nên còn thiếu những chủ trương, biện pháp cụ thể, thiết thực và kịp thời để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà được tiếp tục ổn định và phát triển hơn nữa.
Sự phối hợp trong quản lý giữa các cấp quản lý giáo dục và đào tạo với các ban ngành liên quan, cũng như sự phối hợp giữa nhà truờng với gia đình và xã hội có lúc chưa chặt chẽ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Việc chấp hành các qui định về chế độ công tác, thực hiện lề lối làm việc trong cơ quan quản lý giáo dục cũng như trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác chưa thật nghiêm túc; có nơi còn có hiện tượng buông lỏng quản lý về cơ sở vật chất, tài chính. Việc xử lý kỷ luật đối với các vi phạm những qui định trong hoạt động giáo dục và đào tạo còn chậm, chưa triệt để.
Thứ tư, tình trạng dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường, dạy trước chương trình lớp 1 chưa được các cấp quản lý và các địa phương quan tâm, phối hợp đồng bộ trong việc kiểm tra, xử lý; chế tài xử lý chưa đủ mạnh; sự phối kết hợp giữa các lực lượng quản lý còn thiếu hiệu quả; chưa phát huy được hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra về dạy thêm, học thêm của các cấp quản lý giáo dục. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Thứ năm, nhiều đơn vị chưa quyết tâm thực hiện kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng trường chuẩn quốc gia.
Thứ sáu, bên cạnh các nguyên nhân chủ yếu đã nêu trên, cần kể đến các nguyên nhân khách quan làm tăng thêm các hạn chế, bất cập của lĩnh vực giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh, đó là: Kinh phí của tỉnh dành cho giáo dục và đào tạo còn hạn chế so với yêu cầu hoạt động; Tâm lý khoa cử, bằng cấp vẫn còn chi phối nặng nề việc dạy, học và thi cử ở tất cả các cấp học, ngành học; Thái độ chưa coi trọng các trường ngoài công lập đã làm hạn chế việc đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục – đào tạo.
- Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
Từ thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, luôn quan tâm phát huy truyền thống hiếu học, tích cực khắc phục những khó khăn, chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại; tập hợp và động viên sức mạnh của cộng đồng xã hội, huy động mọi tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện nghiêm túc pháp luật về giáo dục và đào tạo. Phát động rộng rãi, duy trì thường xuyên phong trào “dạy tốt, học tốt”, “kỷ cương- tình thương-trách nhiệm”, “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực”, và các phong trào khác trong nhà trường, làm tốt công tác phối hợp đối với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương cũng như đối với gia đình người học và xã hội trong việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo.
Hai là, phải nhận thức đúng đắn quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, nắm bắt được những nội dung, tư tưởng và cụ thể hoá các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng, văn bản pháp luật của Quốc hội, văn bản pháp qui của Chính phủ và của Bộ Giáo dục và Đào tạo một cách kịp thời, tổ chức thực hiện nghiêm túc và vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện, tình hình của địa phương; phải đề ra được những chính sách, cơ chế thực hiện phù hợp để thu hút đông đảo cơ quan nhà nước, các tổ chức, cán bộ và nhân dân tích cực tham gia việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh.
Ba là, phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, tăng cường sự quản lý điều hành của các cấp chính quyền nhằm huy động mọi nguồn lực của địa phương, nâng cao hiệu quả quản lý điều hành công tác thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo, phải tạo ra được sự hưởng ứng chung, nâng cao trách nhiệm của cộng đồng nhằm thực hiện chu đáo những qui định của pháp luật về giáo dục và đào tạo, làm cho giáo dục thực sự là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân, thực hiện tốt chủ trương xã hội hoá giáo dục.
Bốn là, phải thường xuyên tăng cường công tác quản lý Nhà nước, coi đây là khâu đột phá trong giáo dục, tăng cường sự kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo dục và đào tạo. Xử lý kịp thời và nghiêm minh những vi phạm trong thực hiện pháp luật, thường xuyên và kịp thời tổ chức công tác sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện và nhân rộng các điển hình tiên tiến, làm tốt công tác thi đua, khen thưởng.
Năm là, luôn quan tâm xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm phẩm chất chính trị, đạo đức tác phong, có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, lương tâm nghề nghiệp trong sáng, là lực lượng nòng cốt trong thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo. Đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống nhân dân cả về vật chất lẫn tinh thần, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
Sáu là, tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm nổi trội, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả; các cơ sở giáo dục phải chủ động, tích cực đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương giải quyết những khó khăn, vướng mắc, bất cập, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục; cán bộ giáo viên phải đề cao trách nhiệm người đứng đầu, sâu sát, gương mẫu, quyết liệt trong việc tổ chức, triển khai nhiệm vụ.
Bảy là, đẩy mạnh triển khai các cuộc vận động và phong trào thi đua trong ngành với những giải pháp sáng tạo, linh hoạt phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của địa phương để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục toàn diện.
- Kết luận chương 2
Từ việc nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua cho thấy những nội dung của pháp luật về giáo dục và đào tạo đã được tổ chức thực hiện khá nghiêm túc và có tác dụng tốt trong đời sống xã hội, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những vi phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo, tích cực, chủ động đưa sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh Bắc Ninh ổn định và phát triển, có những bước tiến đáng kể so với các tỉnh lân cận trong khu vực.
Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật về giáo dục và đào tạo ở tỉnh Bắc Ninh vẫn còn những tồn tại và hạn chế nhất định. Một số nội dung của pháp luật về giáo dục và đào tạo chưa được bảo đảm thi hành có hiệu quả trong đời sống xã hội, công tác quản lý ở một số lĩnh vực còn hạn chế, cơ sở vật chất trường học còn thiếu, công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia ở một số đơn vị còn gặp khó khăn… Luận văn: Thực trạng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Bắc Ninh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
