Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam

Nghị định số 39/2024/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi được ban hành ngày 04/4/2024. Nghị định này là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, khắc phục được một số tồn tại của Nghị định số 08 về quản lý thức ăn chăn nuôi trước đây.

Để tiếp tục tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói riêng, phát triển ngành chăn nuôi nói chung, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV đã chính thức thông qua Luật Chăn nuôi, Luật có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2027. Để hướng dẫn thực hiện Luật Chăn nuôi, cơ quan chủ trì là Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan cần xây dựng, ban hành 02 Nghị định, 07 Thông tư hướng dẫn, trong đó liên quan đến lĩnh vực quản lý thức ăn chăn nuôi, nội dung có trong Nghị định hướng dẫn và biện pháp thi hành Luật Chăn nuôi, Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi; Thông tư hướng dẫn quản lý lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, Thông tư ban hành Danh mục nguyên liệu được phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, Thông tư ban hành Danh mục hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi.

Nhằm hoàn thiện khung pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và khắc phục các khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực thi pháp luật về quản lý thức ăn chăn nuôi, cần chú ý một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất,cần sớm xây dựng một số văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành Luật Chăn nuôi. Các văn bản này gồm Nghị định, Thông tư quản lý thức ăn chăn nuôi để thay thế Nghị định số 39/2024/NĐ-CP hiện hành, vốn dĩ đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập và chưa tương thích với Luật Chăn nuôi sẽ có hiệu lực thi hành kể từ tháng 1 năm 2027.

Theo ý kiến của tác giả luận văn, trong các Nghị định, Thông tư mới hướng dẫn thi hành Luật Chăn nuôi cần tập trung vào một số nội dung chính sau đây: Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Về điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Các văn bản hướng dẫn này cần quy định dây chuyền, trang thiết bị sản xuất phải được làm bằng vật liệu dễ vệ sinh, không có nguy cơ ăn mòn, gây thôi nhiễm chất độc hại từ thiết bị sang thức ăn chăn nuôi; có biện pháp bảo quản nguyên liệu thức ăn chăn nuôi theo khuyến cáo của đơn vị cung cấp; có biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại, tạp chất, chất thải gây nhiễm bẩn để không là ảnh hưởng đến chất lượng thức ăn chăn nuôi; có trang thiết bị, dụng cụ đo lường được kiểm định, hiệu chuẩn đúng quy định; có phòng thử nghiệm hoặc thuê dịch vụ phân tích để kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất.

Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh, phải đáp ứng thêm các quy định: phải có khu vực pha trộn kháng sinh riêng hoặc có quy trình làm sạch thiết bị để tránh phát tán và gây nhiễm chéo kháng sinh trước khi sản xuất mỗi lô sản phẩm khác nhau.

Về điều kiện mua, bán thức ăn chăn nuôi: Có trang thiết bị, dụng cụ để bảo quản thức ăn chăn nuôi theo hướng dẫn của tổ chức, cá nhân sản xuất, cung cấp.Nơi bày bán, kho chứa thức ăn chăn nuôi phải tách biệt hoặc không bị ô nhiễm bởi thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, hóa chất độc hại khác. Ngoài ra, cần có biện pháp phòng, chống sinh vật gây hại.

Về điều kiện nhập khẩu thức ăn chăn nuôi: Thức ăn chăn nuôi nhập khẩu phải được kiểm tra nhà nước về chất lượng theo quy định tại khoản 4 Điều 43 của Luật Chăn nuôi.Tổ chức, cá nhân nhập khẩu thức ăn chăn nuôi phải có hoặc thuê kho bảo quản thức ăn chăn nuôi đáp ứng yêu cầu bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật và khuyến cáo của tổ chức, cá nhân cung cấp.Tổ chức, cá nhân chỉ được nhập khẩu thức ăn chăn nuôi đã được công bố thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Về điều kiện xuất khẩu thức ăn chăn nuôi: Hồ sơ, chất lượng thức ăn chăn nuôi xuất khẩu theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân, nước nhập khẩu và phù hợp với quy định của pháp luật Việt Việc xuất khẩu thức ăn chăn nuôi từ Việt Nam ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của Luật Chăn nuôi và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Về cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi: Thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi nên được quy định theo hướng: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi đối với cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi bổ sung. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc trên địa bàn.

Về các hành vi bị nghiêm cấm trong kinh doanh thức ăn chăn nuôi: Sử dụng chất cấm trong thức ăn chăn nuôi; sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi không phải là thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam; sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi nhằm mục đích kích thích sinh trưởng; thông đồng, gian dối trong thử nghiệm, khảo nghiệm, kiểm định, công bố chất lượng, chứng nhận sự phù hợp trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.

Yêu cầu đối với thức ăn chăn nuôi thương mại trước khi lưu thông trên thị trường: (i) Công bố tiêu chuẩn áp dụng và công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; (ii) Có chất lượng phù hợp tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; (iii) Sản xuất tại cơ sở có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp; (iv) Công bố thông tin sản phẩm thức ăn chăn nuôi trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; (v) Nhãn hoặc tài liệu kèm theo thức ăn chăn nuôi thực hiện theo quy định tại Điều 46 của Luật Chăn nuôi. Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Về công bố thông tin thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước: Sản phẩm thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn đậm đặc do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tự công bố thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.Sản phẩm thức ăn bổ sung phải được thẩm định để công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Quy định này không áp dụng đối với nguyên liệu đơn.

Về cơ chế quản lý thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh: Kháng sinh sử dụng trong thức ăn chăn nuôi phải là thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam.Chỉ được sử dụng kháng sinh trong sản xuất thức ăn chăn nuôi theo đơn của người có chứng chỉ hành nghề phòng, trị bệnh cho động vật theo quy định của pháp luật về thú y để phòng bệnh cho vật nuôi ở giai đoạn con non, trị bệnh cho vật nuôi nhiễm bệnh.Việc sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải tuân thủ hướng dẫn của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc cung cấp thức ăn chăn nuôi.Thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải thể hiện thông tin về tên và hàm lượng kháng sinh, hướng dẫn sử dụng, thời gian ngừng sử dụng trên nhãn sản phẩm hoặc tài liệu kèm theo sản phẩm.

Thứ hai, cần xây dựng một Nghị định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn chăn nuôi để thay thế hoặc bổ sung, sửa đổi Nghị định số 64/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản. Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Nghị định này sẽ tập trung vào việc quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả theo hướng cụ thể hơn đối với hành vi và tăng số tiền nhiều hơn trước để có tính ngăn ngừa và dăn đe, cụ thể như sau:

Vi phạm về điều kiện cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi: (i) Phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm không xây dựng tường, rào ngăn cách giữa khu sản xuất với bên ngoài; (ii) Phạt tiền các mức khác nhau đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:Không có người phụ trách kỹ thuật có trình độ chuyên môn phù hợp; không có hoặc không thuê phòng thử nghiệm để phân tích chất lượng thức ăn chăn nuôi, thủy sản trong quá trình sản xuất, gia công; không có giải pháp phòng chống chuột, chim, động vật gây hại khác; không có các thiết bị, dụng cụ đo lường giám sát chất lượng đảm bảo độ chính xác theo quy định của pháp luật về đo lường; không có thiết bị hút bụi, xử lý chất thải phù hợp để tránh nhiễm bẩn cho sản phẩm và đảm bảo vệ sinh môi trường theo quy định; không có thiết bị, dụng cụ (quạt, sàng, nam châm…) để kiểm soát các tạp chất (cát sạn, kim loại) ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu đầu vào; (iii) Phạt tiền đối với hành vi vi phạm về địa điểm sản xuất, gia công nằm trong khu vực bị ô nhiễm bởi chất thải, hóa chất độc hại, chuồng trại chăn nuôi; (iv) Phạt tiền đối với một trong những hành vi vi phạm về nhà xưởng, trang thiết bị sau đây:Không sắp xếp và bố trí theo quy tắc một chiều, không có sự cách biệt giữa nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra để tránh lây nhiễm chéo; không có kho bảo quản các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cần chế độ bảo quản riêng theo khuyến cáo của nhà sản xuất; cơ sở sản xuất, gia công sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh không có nơi pha trộn riêng.

Vi phạm về chất lượng trong sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi: Phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm sản xuất, gia công sản phẩm thức ăn chăn nuôi có hàm lượng định lượng mỗi chỉ tiêu chất lượng thấp hơn mức tối thiểu hoặc cao hơn mức tối đa so với tiêu chuẩn đã công bố hoặc ghi trên nhãn hàng hóa hoặc mỗi chỉ tiêu an toàn vượt quá so với quy định trong quy chuẩn tương ứng hoặc trong tiêu chuẩn đã công bố. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm không lưu mẫu, không lưu kết quả kiểm nghiệm. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm không có quy trình sản xuất kiểm soát chất lượng sản phẩm; không ghi và lưu nhật ký quá trình sản xuất. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm sản xuất, gia công mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi chưa được phép lưu hành tại Việt Nam đối với thức ăn chăn nuôi. Phạt tiền đối với hành vi vi phạm sản xuất, gia công sản phẩm thức ăn chăn nuôi có hàm lượng định lượng mỗi chỉ tiêu chất lượng không phải chất chính thấp hơn mức tối thiểu hoặc cao hơn mức tối đa so với tiêu chuẩn đã công bố hoặc ghi trên nhãn hàng hóa. Phạt tiền đối với một trong những hành vi vi phạm sản xuất, gia công mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi như sau: Có mỗi chỉ tiêu vi sinh vật gây hại vượt ngưỡng tối đa quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc trong tiêu chuẩn đã công bố; Có hàm lượng định lượng mỗi chất gây mất an toàn cao hơn mức tối đa từ 5% trở lên so với quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc trong tiêu chuẩn đã công bố. Phạt tiền đối với cơ sở có hành vi vi phạm tiếp tục sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi trong thời gian cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi.

Vi phạm về điều kiện cơ sở mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi: Phạt tiền với các mức khác nhau đối với một trong các hành vi vi phạm về điều kiện cơ sở mua bán thức ăn chăn nuôi sau: Để chung thức ăn chăn nuôi với thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoặc các loại hóa chất độc hại khác đối với cơ sở mua bán thức ăn chăn nuôi; không có hoặc không thuê kho bảo quản thức ăn chăn nuôi. Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Vi phạm về chất lượng trong mua bán thức ăn chăn nuôi: Phạt tiền đối với hành vi vi phạm mua bán sản phẩm thức ăn chăn nuôi có hàm lượng định lượng mỗi chỉ tiêu chất lượng không phải chất chính thấp hơn mức tối thiểu hoặc cao hơn mức tối đa so với tiêu chuẩn đã công bố hoặc ghi trên nhãn hàng hóa. Phạt tiền đối với một trong những hành vi vi phạm mua bán mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi như sau: Có mỗi chỉ tiêu vi sinh vật gây hại vượt ngưỡng cho phép quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc tiêu chuẩn đã công bố; Có hàm lượng định lượng mỗi chất gây mất an toàn cao hơn mức tối đa so với quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc trong tiêu chuẩn đã công bố.

Vi phạm về chất lượng trong nhập khẩu thức ăn chăn nuôi: Phạt tiền đối với hành vi vi phạm nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có hàm lượng định lượng mỗi chỉ tiêu chất lượng không phải là chất chính thấp hơn mức tối thiểu hoặc cao hơn mức tối đa so với tiêu chuẩn đã công bố hoặc ghi trên nhãn hàng hóa. Phạt tiền đối với một trong những hành vi vi phạm nhập khẩu sau đây: Hành vi vi phạm nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi chưa được phép lưu hành tại Việt Nam (trừ trường hợp nhập khẩu để giới thiệu tại các hội chợ, triển lãm hoặc nghiên cứu, làm mẫu phân tích, nhập khẩu để sản xuất, gia công nhằm mục đích xuất khẩu); hành vi vi phạm nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi hết hạn sử dụng.

Vi phạm về sản xuất, gia công, mua bán sản phẩm thức ăn chăn nuôi hết hạn sử dụng: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với hành vi vi phạm mua bán mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi hết hạn sử dụng ghi trên nhãn hoặc bao bì hàng hóa có giá trị số tiền nhất định.

Vi phạm về khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi: Phạt tiền đối với một trong các hành vi vi phạm về khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi theo mức phạt sau đây: Cơ sở khảo nghiệm không có người phụ trách kỹ thuật có trình độ chuyên môn phù hợp hoặc không lưu đầy đủ hồ sơ khảo nghiệm theo quy định; cơ sở khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi không có hoặc không thuê địa điểm, cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp với việc khảo nghiệm từng loại thức ăn trên từng đối tượng vật nuôi; cơ sở khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi không có chuồng trại phù hợp để khảo nghiệm; cơ sở khảo nghiệm không thực hiện đúng quy trình, nội dung hoặc đề cương đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; vi phạm công bố kết quả khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi không trung thực. Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Vi phạm về sử dụng chất cấm, kháng sinh trong chăn nuôi; sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi: (i) Phạt tiền đối với các hành vi vi phạm về chất cấm, kháng sinh sau đây: Sử dụng chất cấm trong chăn nuôi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; (ii) Phạt cảnh cáo đối với hành vi không ghi nhật ký sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh nhằm mục đích phòng bệnh, trị bệnh theo quy định; (iii) Phạt tiền đối với một trong những hành vi sản xuất, gia công, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh không ghi rõ tên và hàm lượng kháng sinh, hướng dẫn sử dụng, thời gian ngưng sử dụng trên bao bì hoặc tài liệu kèm theo.Truy cứu trách nhiệm hình sự, chuyển hồ sơ để Cơ quan điều tra tiếp tục xử lý đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng trong sử dụng chất cấm (sử dụng, buôn bán số lượng lớn).

Bên cạnh đó, căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung: đình chỉ hoạt động có thời hạn, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Các biện pháp khắc phục hậu quả:buộc thu hồi, tái chế, chuyển đổi mục đích sử dụng, tái xuất, tiêu hủy chất cấm, hủy kết quả khảo nghiệm sản phẩm thức ăn chăn nuôi; thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.Tại Điều 317 Bộ luật hình sự năm 2022, cũng đã đề cập tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hành vi sử dụng chất cấm, kháng sinh trong chăn nuôi. Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Thứ ba, kiến nghị chính sách của Nhà nước để tổ chức, cá nhân thực hiện tốt điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

  • Nhà nước với vị trí quyền lực đặc biệt của mình, cần thực hiện một số nội dung công việc như sau:

Đầu tư kinh phí cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo, khuyến công, khuyến nông và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về dinh dưỡng, chế biến thức ăn chăn nuôi.

Thực hiện tốt quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi; khuyến khích khai thác và chế biến các loại thức ăn bổ sung từ nguồn nguyên liệu trong nước, qua đó nhằm giảm tỷ lệ nhập khẩu.

Hỗ trợ nâng cao năng lực các phòng phân tích phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát chất lượng thức ăn chăn nuôi; hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thức ăn chăn nuôi; hỗ trợ cho các doanh nghiệp được vay vốn ngân hàng để đầu tư thiết bị phòng phân tích kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi và mặt bằng để xây dựng hệ thống kho cảng chuyên dùng phục vụ xuất, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi; cho doanh nghiệp vay vốn với lãi suất ưu đãi đầu tư công nghệ sau thu hoạch để sơ chế và bảo quản nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước.

3.2 Các giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam, ngoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần chú ý áp dụng một số điều kiện sau:

Thứ nhất, cần tăng cường đội ngũ cán bộ hoạt động trong cơ quan quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi từ trung ương đến địa phương: Ở Trung ương, Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nên giữ nguyên biên chế vì hiện tại có quá ít công chức (hiện có 48 người), giữ nguyên biên chế viên chức ở Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm và kiểm định chăn nuôi.Ở địa phương, cần hoàn thiện việc thành lập Chi cục Chăn nuôi và Thú y, trên cơ sở tổ chức lại Chi cục Thú y và Phòng Chăn nuôi ở Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (theo Thông tư liên tịch số 14, ngày 25/3/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Nội vụ), tính đến cuối năm 2025 có 55/63 tỉnh, thành phố thực hiện. Tăng số lượng cán bộ công chức phụ trách chăn nuôi, thức ăn chăn nuôi ở Chi cục Chăn nuôi Thú y thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện lực lượng này quá mỏng, thậm chí cán bộ quản lý chăn nuôi nhưng không được đào tạo đúng chuyên môn.

Thứ hai, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi: Các lực lượng hiện đang thực hiện nhiệm vụ này là Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Chăn nuôi, Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quản lý thị trường, Công an môi trường (PC49). Mặt khác, cần tiếp tục xã hội hoá hoạt động kiểm tra xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, đơn vị chứng nhận sự phù hợp thức ăn sản xuất trong nước. Trung tâm Khảo, kiểm nghiệm và kiểm định chăn nuôi thuộc Cục Chăn nuôi giữ vai trò trọng tài khi có tranh chấp về chất lượng sản phẩm, là đơn vị tham chiếu quốc gia và khu vực. Nâng cao hơn nữa năng lực kiểm nghiệm chất lượng thức ăn chăn nuôi ở các phòng thử nghiệm, chú trọng nhu cầu đánh giá, phát hiện vi phạm các chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu vệ sinh an toàn sản phẩm.

Thứ ba, cần thường xuyên tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Thường xuyên tập huấn, phổ biến kiến thức pháp luật mới về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi cho cán bộ phụ trách ở Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quản lý thị trường, Cảnh sát môi trường PC49. Mặt khác, cũng cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, người chăn nuôi.Đẩy mạnh việc tiếp nhận, cung cấp thông tin, mở rộng quan hệ giao lưu với các nước trong khu vực, quốc tế trong lĩnh vực dinh dưỡng chăn nuôi và kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình thực thi pháp luật, các cơ quan ban ngành, cũng như các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp cần chủ động, linh hoạt phối, kết hợp các giải pháp như đã trình bày ở trên để tạo ra tổng thể các giải pháp hữu hiệu.

  • Tiểu kết Chương

Từ kết quả nghiên cứu được rút ra từ Chương 1 và Chương 2, nội dung Chương 3 của Luận văn đề cập đến các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật Chăn nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi được đề cập đến trong chương này chủ yếu là các biện pháp sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế. Những giải pháp này là cần thiết để tạo ra sự phát triển lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng trong kinh doanh thức ăn chăn nuôi, phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi, đồng thời đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi cũng diễn ra hết sức sôi động, thu hút nhiều doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào các khâu nhập khẩu, logistics, sản xuất, phân phối sản phẩm. Các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi đóng vai trò quan trọng, đó là cơ sở để doanh nghiệp xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh, thực hiện đúng các quy định của nhà nước, mặt khác là cơ sở để các cơ quan nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Pháp luật đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển hoặc kìm hãm sự phát triển và là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội nói chung. Vì thế, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi sẽ tiếp tục phát triển như thế nào phụ thuộc vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong thời gian sắp tới.Theo đó, tác giả đã đi sâu, tìm hiểu bản chất khái niệm, các vấn đề có tác động đến điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, chỉ ra những mặt được cũng như những tồn tại, hạn chế của pháp luật về sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong thời gian qua, đề xuất một số nội dung quản lý, những điều kiện bắt buộc trong văn bản pháp lý hướng dẫn Luật Chăn nuôi.

Việc xây dựng, ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật Chăn nuôi nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là yêu cầu cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của ngành chăn nuôi nói chung và lĩnh vực thức ăn chăn nuôi nói riêng, không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước, thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ vật nuôi, con người, qua đó góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế chung của đất nước./. Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật

One thought on “Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi”

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464