Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam

2.1.1 Các quy định về chủ thể tham gia quan hệ pháp luật liên quan đến điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Như đã đề cập ở chương 1 của luận văn này, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật liên quan đến điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi bao gồm: (i) các cơ quan quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi; và (ii) Các cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi, cơ sở mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và các đơn vị cung cấp dịch vụ chứng nhận sự phù hợp, khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi. Khi tham gia quan hệ pháp luật này, các chủ thể nói trên phải tuân thủ quy định về trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh trong quá trình kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Cụ thể là:

Thứ nhất, về quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Theo Điều 23, Nghị định số 39/2024/NĐ-CP, nhà làm luật đã quy định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi của các cơ quan quản lý nhà nước như Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các cấp. Cụ thể là:

Chính phủ là cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chung, có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi trên phạm vi cả nước.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn– với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có trách nhiệm:

  1. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng chiến lược, định hướng, chính sách phát triển và sử dụng thức ăn chăn nuôi trên phạm vi cả nước.
  2. Soạn thảo, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thức ăn chăn nuôi. Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
  3. Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn chăn nuôi.
  4. Quy định số lượng tối thiểu các chỉ tiêu phải công bố trong tiêu chuẩn công bố áp dụng.
  5. Quản lý công tác khảo nghiệm và công nhận thức ăn chăn nuôi mới.
  6. Thu thập và quản lý các thông tin, tư liệu về thức ăn chăn nuôi.
  7. Ban hành danh mục các chất cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi và công bố các sản phẩm thức ăn chăn nuôi được phép lưu hành tại Việt Nam.
  8. Ban hành danh mục kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi nhằm mục đích kích thích sinh trưởng cho gia súc, gia cầm. Hướng dẫn việc sản xuất và sử dụng thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh nhằm mục đích phòng bệnh, trị bệnh cho gia súc, gia cầm.
  9. Hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng thức ăn chăn nuôi.
  10. Tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về thức ăn chăn nuôi.
  11. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.
  12. Quản lý về chất lượng thức ăn chăn nuôi theo quy định.
  13. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào các hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.
  14. Đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.
  15. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi.
  16. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm:
  17. Xây dựng kế hoạch phát triển và sử dụng thức ăn chăn nuôi tại địa phương.
  18. Chỉ đạo hướng dẫn sử dụng thức ăn chăn nuôi có hiệu quả, không gây ô nhiễm môi trường.
  19. Ban hành các chính sách khuyến khích và chỉ đạo các cơ quan chức năng của địa phương tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trên địa bàn nâng cao chất lượng và an toàn thức ăn chăn nuôi.
  20. Tuyên truyền, phổ biến và tổ chức hướng dẫn pháp luật, cung cấp thông tin về chất lượng thức ăn chăn nuôi cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và sử dụng thức ăn chăn nuôi.
  21. Xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi trên địa bàn.[12, tr.25-27]

Với các quy định trên đây, rõ ràng nhà làm luật chưa có quy định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi của mỗi cơ quan nhà nước. Điều này có thể khiến cho các quy định của pháp luật trở nên chưa rõ ràng, dẫn tới những khó khăn, vướng mắc cho quá trình thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Thứ hai, về nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Theo quy định tại các Điều 24, Điều 25, Điều 26, Điều 27, Điều 28 của Nghị định số 39, nhà làm luật đã có những quy định rất cụ thể về trách nhiệm của từng loại chủ thể là tổ chức, cá nhân tham gia vào các loại hình hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Một là, đối với tổ chức, cá nhân sản xuất thức ăn chăn nuôi, các chủ thể này có trách nhiệm công bố hợp quy về điều kiện cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi và lưu 01 bộ hồ sơ tại cơ sở; công bố tiêu chuẩn áp dụng và công bố hợp quy (nếu có) đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi theo quy định và lưu 01 bộ hồ sơ tại cơ sở. Ngoài ra, chủ thể này phải xây dựng quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng sản phẩm phù hợp; ghi và lưu nhật ký quá trình sản xuất ít nhất là 02 năm sau khi sản phẩm hết hạn sử dụng; tiến hành kiểm nghiệm, lưu kết quả kiểm nghiệm đối với nguyên liệu và thức ăn thành phẩm đáp ứng được yêu cầu kiểm soát chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất và truy xuất xử lý các vi phạm sau này. Lưu kết quả kiểm nghiệm 02 năm và lưu, bảo quản mẫu thử nghiệm đến sau khi sản phẩm hết hạn sử dụng 30 ngày.

Hơn thế nữa, chủ thể này còn phải thể hiện các thông tin về chất lượng trên nhãn hàng hóa, bao bì hoặc tài liệu kèm theo, trong đó phải ghi rõ các chất chính, kháng sinh (nếu có) theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; chấp hành sự kiểm tra, thanh tra về điều kiện sản xuất và chất lượng thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật; chỉ được sản xuất sau khi đã công bố hợp quy về điều kiện cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi; chỉ được sản xuất thức ăn chăn nuôi được lưu hành tại Việt Nam theo quy định tại Chương IV Nghị định số 39; chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng thức ăn chăn nuôi do cơ sở sản xuất; xử lý, thu hồi hoặc tiêu hủy hàng hóa thức ăn chăn nuôi không đảm bảo chất lượng, an toàn và đền bù thiệt hại gây ra cho người chăn nuôi.

Mặt khác, pháp luật cũng quy định chủ thể này phải định kỳ vào ngày 25 hàng tháng báo cáo tình hình sản xuất thức ăn chăn nuôi về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về các hoạt động liên quan đến thức ăn chăn nuôi.

Hai là, đối với tổ chức, cá nhân mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, các chủ thể này có trách nhiệm:Chỉ được mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi được lưu hành tại Việt Nam theo quy định tại Chương IV Nghị định số 39; kiểm tra nguồn gốc xuất xứ, thời hạn sử dụng, độ nguyên vẹn của hàng hóa thức ăn chăn nuôi; chú ý dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy (nếu có); áp dụng các biện pháp bảo quản chất lượng sản phẩm theo khuyến cáo của nhà sản xuất nhằm duy trì chất lượng hàng hóa thức ăn chăn nuôi; niêm yết giá và chấp hành sự kiểm tra về giá thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật; chấp hành sự kiểm tra, thanh tra về điều kiện kinh doanh và chất lượng thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật. Xử lý, thu hồi hoặc tiêu hủy thức ăn chăn nuôi vi phạm chất lượng, an toàn theo quy định của pháp luật và đền bù thiệt hại gây ra cho người chăn nuôi. Riêng các tổ chức, cá nhân nhập khẩu sản phẩm premix kháng sinh phải báo cáo tình hình nhập khẩu và tiêu thụ sản phẩm cho cơ quan quản lý chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để giám sát việc kinh doanh, sử dụng sản phẩm đúng mục đích và quy trình. Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Ba là, đối với tổ chức, cá nhân sử dụng thức ăn chăn nuôi, các chủ thể này có trách nhiệm: Tuân thủ các quy định của Nhà nước và hướng dẫn của nhà cung cấp thức ăn chăn nuôi về việc vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng thức ăn chăn nuôi, không sử dụng các chất cấm trong chăn nuôi; chấp hành sự kiểm tra, thanh tra về chất lượng thức ăn chăn nuôi của các cơ quan quản lý. Ngoài ra, chủ thể này phải phối hợp xử lý tiêu hủy các sản phẩm thức ăn chăn nuôi và sản phẩm chăn nuôi vi phạm về chất lượng và an toàn theo quy định của pháp luật; ghi nhật ký sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh nhằm mục đích phòng bệnh, trị bệnh theo quy định.

Bốn là, đối với tổ chức chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, chủ thể này có trách nhiệm: Chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan chỉ định về kết quả chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực thức ăn chăn nuôi; báo cáo kết quả chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực thức ăn chăn nuôi cho cơ quan chỉ định theo định kỳ hàng tháng hoặc khi có yêu cầu; lưu mẫu và bảo quản mẫu trong thời gian ít nhất 90 ngày kể từ ngày thông báo kết quả chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực thức ăn chăn nuôi cho tổ chức, cá nhân; lưu hồ sơ chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực thức ăn chăn nuôi trong thời gian ít nhất 05 năm; chấp hành sự kiểm tra, thanh tra về hoạt động chứng nhận sự phù hợp lĩnh vực thức ăn chăn nuôi của các cơ quan quản lý.

Năm là, đối với tổ chức khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi, chủ thể này có trách nhiệm: Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi; lưu hồ sơ khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi trong thời gian ít nhất 03 năm; chấp hành sự kiểm tra, thanh tra về hoạt động khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi của các cơ quan quản lý.[12, tr.27-29]

2.1.2 Các quy định hiện nay của pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Tương tự như việc quy định về trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật liên quan đến điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, nhà làm luật cũng quy định về điều kiện kinh doanh đối với từng loại hình chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong mỗi lĩnh vực. Cụ thể là:

Thứ nhất, về điều kiện kinh doanh đối với chủ thể là cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi. Theo quy định hiện hành tại Điều 7 Nghị định số 39 và Nghị định số 123/2025/NĐ-CP ngày 17/9/2025, các tổ chức, cá nhân sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi phải đáp ứng các điều kiện sau:

  • Địa điểm sản xuất, gia công phải nằm trong khu vực không bị ô nhiễm bởi những yếu tố như chất thải, hóa chất độc hại, chuồng trại chăn nuôi;
  • Địa điểm sản xuất có tường, rào ngăn cách với bên ngoài;
  • Phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về môi trường;
  • Đáp ứng yêu cầu về nhà xưởng, trang thiết bị, chẳng hạn như:

Khu vực sản xuất được thiết kế và bố trí thiết bị theo quy tắc một chiều, có sự cách biệt giữa nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra để tránh lây nhiễm chéo; có dây chuyền sản xuất phù hợp với từng loại sản phẩm thức ăn chăn nuôi; có kệ (pallet) để nguyên liệu và sản phẩm thành phẩm (trừ trường hợp nền kho, xưởng đã có giải pháp kỹ thuật đảm bảo thông thoáng, chống ẩm);

Có kho bảo quản các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cần chế độ bảo quản riêng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Đối với cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải có nơi pha trộn riêng, đảm bảo không phát tán nhiễm chéo ra bên ngoài; Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Có thiết bị, dụng cụ đo lường để giám sát chất lượng, đảm bảo độ chính xác theo quy định của pháp luật về đo lường; có giải pháp về thiết bị, dụng cụ (quạt, sàng, nam châm…) để kiểm soát các tạp chất (cát sạn, kim loại) ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu đầu vào; có giải pháp phòng, chống cháy nổ theo quy định của pháp luật và phòng, chống chuột, chim, động vật gây hại khác; có thiết bị hút bụi, xử lý chất thải phù hợp để tránh nhiễm bẩn cho sản phẩm và đảm bảo vệ sinh môi trường theo quy định.

Người phụ trách kỹ thuật có trình độ từ đại học trở lên về một trong các chuyên ngành chăn nuôi, chăn nuôi – thú y, thú y, công nghệ thực phẩm, công nghệ sinh học.

Có hoặc thuê phòng thử nghiệm để phân tích chất lượng thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất, gia công. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan ban hành quy chuẩn kỹ thuật chi tiết và cụ thể các quy định về các yêu cầu kỹ thuật đối với các tiêu chí đánh giá mức độ đáp ứng các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.[12, tr.5,6]

Thứ hai, về điều kiện kinh doanh đối với cơ sở kinh doanh mua, bán thức ăn chăn nuôi. Theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 39/2024/NĐ-CP, điều kiện kinh doanh đối với tổ chức, cá nhân mua bán thức ăn chăn nuôi bao gồm:

  • Thức ăn chăn nuôi tại nơi bày bán, kho chứa phải cách biệt với thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, hóa chất độc hại khác.
  • Cơ sở kinh doanh mua, bán thức ăn chăn nuôi phải có thiết bị, dụng cụ để bảo quản thức ăn chăn nuôi theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp.
  • Cơ sở kinh doanh mua, bán thức ăn chăn nuôi phải có giải pháp phòng chống chuột, chim và động vật gây hại khác.

Thứ ba, về điều kiện kinh doanh đối với cơ sở nhập khẩu thức ăn chăn nuôi. Theo quy định hiện hành, tổ chức, cá nhân nhập khẩu thức ăn chăn nuôi phải có hoặc thuê kho bảo quản thức ăn chăn nuôi đáp ứng các yêu cầu về điều kiện bảo quản đảm bảo chất lượng hàng hóa, bảo vệ môi trường và theo khuyến cáo của nhà sản xuất.[12, tr.7]

Thứ tư, về điều kiện kinh doanh đối với cơ sở khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi. Theo quy định tại Nghị định số 39/2024/NĐ-CP, điều kiện kinh doanh đối với cơ sở khảo nghiệm thức ăn chăn nuôi bao gồm:

  • Có hoặc thuê địa điểm, cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên ngành đáp ứng yêu cầu khảo nghiệm từng loại thức ăn trên từng đối tượng vật nuôi, có chuồng trại, cơ sở vật chất phù hợp với việc bố trí khảo nghiệm.
  • Người phụ trách kỹ thuật phải có bằng tốt nghiệp từ đại học trở lên về chuyên ngành chăn nuôi, chăn nuôi – thú y, công nghệ sinh học. [12, tr.7, 8] Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

2.1.3 Các quy định về kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Theo quy định tại Nghị định số 39/2024/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi thuộc thẩm quyền của các cơ quan nhà nước các cấp. Cụ thể là:

Thứ nhất, việc kiểm tra các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi đối với các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước như: Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Bộ ngành hữu quan và Ủy ban nhân dân các cấp.

Trên nguyên tắc, các cơ quan này thực hiện chức năng kiểm tra và xử lý vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo sự phân cấp quản lý hành chính nhà nước. Thấy vậy, theo quy định tại Khoản 2 Điều 23 Nghị định số 39/2024/NĐ-CP, nhà làm luật quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong việc sản xuất, kinh doanh và sử dụng thức ăn chăn nuôi. Mặt khác, cơ quan này cũng có trách nhiệm quản lý về chất lượng thức ăn chăn nuôi theo quy định. Trong khi đó, theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 24 của Nghị định nói trên, nhà làm luật cũng quy định các Bộ và cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và tổ chức kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi trên địa bàn. Riêng đối với tổ chức cá nhân kinh doanh thức ăn chăn nuôi, pháp luật quy định các chủ thể này có trách nhiệm chấp hành sự kiểm tra, thanh tra về điều kiện sản xuất và chất lượng thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật; đồng thời chỉ được sản xuất sau khi đã công bố hợp quy về điều kiện cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi.

Thứ hai, việc thanh tra các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi đối với các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra nhà nước và thanh tra chuyên ngành như: Thanh tra Chính phủ, thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thanh tra các Bộ ngành hữu quan và cơ quan thanh tra nhà nước cấp tỉnh trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hiện nay, thẩm quyền và thủ tục thanh tra hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong đó có việc thanh tra điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi được quy định tại Luật Thanh tra số 56/2017/QH12 ngày 15/11/2017 và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

Theo các văn bản pháp luật này, việc thanh tra đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói chung và thanh tra việc tuân thủ điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói riêng sẽ do các cơ quan thanh tra chính phủ hoặc cơ quan thanh tra chuyên ngành thực hiện. Về nguyên tắc, các cơ quan thanh tra tuy có thẩm quyền đưa ra kết luận thanh tra và đề xuất, kiến nghị cơ quan nhà nước khác áp dụng biện pháp xử lý để khắc phục hậu quả vi phạm nhưng không trực tiếp xử lý đối với hành vi vi phạm. Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Thứ ba, việc giám sát và xử lý vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi đối với các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước như: Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Bộ ngành hữu quan và Ủy ban nhân dân các cấp. Các biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi hiện nay được quy định chủ yếu là xử lý vi phạm hành chính. Ngoài ra, trường hợp các hành vi vi phạm này cấu thành một tội danh trong Bộ luật hình sự thì người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự; hoặc phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại nếu hành vi vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là nguyên nhân gây thiệt hại cho người bị thiệt hại.

Theo quy định tại Điều 6 và Điều 8 Nghị định số 64/2025/NĐ-CP ngày 07/5/2025 của Chỉnh phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thủy sản, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:

  • Đối với hành vivi phạm về điều kiện cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi, người vi phạm bị xử phạt như sau:
  • Phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm không xây dựng tường, rào ngăn cách giữa khu sản xuất với bên ngoài.

Phạt tiền từ 000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

  1. Không có người phụ trách kỹ thuật có trình độ chuyên môn phù hợp;
  2. Không có hoặc không thuê phòng thử nghiệm để phân tích chất lượng thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất, gia công;
  3. Không có giải pháp phòng chống chuột, chim, động vật gây hại khác;
  4. Không có các thiết bị, dụng cụ đo lường giám sát chất lượng đảm bảo độ chính xác theo quy định của pháp luật về đo lường;
  5. Không có thiết bị hút bụi, xử lý chất thải phù hợp để tránh nhiễm bẩn cho sản phẩm và đảm bảo vệ sinh môi trường theo quy định;
  6. Không có thiết bị, dụng cụ (quạt, sàng, nam châm…) để kiểm soát các tạp chất (cát sạn, kim loại) ảnh hưởng đến chất lượng nguyên liệu đầu vào; Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
  7. Không có bác sỹ thú y có chứng chỉ hành nghề phòng, trị bệnh cho động vật theo quy định của pháp luật về thú y tại cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh nhằm mục đích phòng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm.
  8. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm về địa điểm sản xuất, gia công nằm trong khu vực bị ô nhiễm bởi chất thải, hóa chất độc hại, chuồng trại chăn nuôi.
  9. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm về nhà xưởng, trang thiết bị sau đây:
  10. Không sắp xếp và bố trí theo quy tắc một chiều, không có sự cách biệt giữa nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra để tránh lây nhiễm chéo;
  11. Không có kho bảo quản các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, thủy sản cần chế độ bảo quản riêng theo khuyến cáo của nhà sản xuất;
  12. Cơ sở sản xuất, gia công sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh không có nơi pha trộn riêng.
  13. Hình thức xử phạt bổ sung:Đình chỉ hoạt động sản xuất, gia công từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều 6 Nghị định số 64/2025/NĐ-CP.
  14. Đối với hành vi vi phạm về điều kiện cơ sở mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, người vi phạm bị xử lý như sau:
  15. Phạt tiền từ 000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm về điều kiện cơ sở mua bán thức ăn chăn nuôi sau:
  16. Không có thiết bị, dụng cụ để bảo quản thức ăn chăn nuôi theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp;
  17. Không có giải pháp phòng chống chuột, chim và động vật gây hại khác.
  18. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm để chung thức ăn chăn nuôi với thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoặc các loại hóa chất độc hại khác đối với cơ sở mua bán thức ăn chăn nuôi.
  19. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm không có hoặc không thuê kho bảo quản thức ăn chăn nuôi đáp ứng các yêu cầu về điều kiện bảo quản đảm bảo chất lượng hàng hóa, bảo vệ môi trường và theo khuyến cáo của nhà sản xuất đối với cơ sở nhập khẩu thức ăn chăn nuôi.

Như vậy, với các quy định trên đây, rõ ràng nhà làm luật đã cố gắng thể hiện tính minh bạch của pháp luật bằng cách mô tả rõ các hành vi vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, từ đó giúp các cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện đúng các quy định về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.[18, tr.4-8]

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

2.2.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Nhờ có chủ trương và cơ chế chính sách hợp lý, tạo sức hấp dẫn cho thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam mà sau hơn 30 năm từ khi có chính sách mở cửa thị trường, đã đưa Việt Nam từ nhóm nước lạc hậu về công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, chủ yếu sử dụng thức ăn đơn, phụ phẩm nông nghiệp trở thành nhóm nước phát triển nhất trong khu vực.Năm 1992, cả nước chỉ có khoảng 400 ngàn tấn thức ăn chăn nuôi công nghiệp quy đổi, đến năm 2022 đã đạt 19 triệu tấn (đứng thứ nhất trong khối ASEAN và thứ 12 trên thế giới, trên Thái Lan, Hàn Quốc), công nghệ và chất lượng thức ăn chăn nuôi cũng không ngừng được cải thiện với giá cả cạnh tranh. Ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi cũng là lĩnh vực thu hút đầu tư và hội nhập quốc tế rất cao, có thể nói Việt Nam đã có mặt hầu hết những công ty, tập đoàn hàng đầu thế giới về năng lực sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Đến nay, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng với quốc tế và đã tham gia nhiều Công ước, Hiệp định Thương mại quốc tế như Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Đối tác Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)…Môi trường đầu tư, kinh doanh, hệ thống pháp luật, thực hiện đơn giản thủ tục hành chính đang đòi hỏi phải cải cách mạnh mẽ để phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi.

Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số kết quả chính trong quá trình thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:

Thứ nhất, về tình hình sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước.

Việt Nam hiện là quốc gia có sản lượng tiêu thụ thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước lớn nhất ASEAN, đứng thứ 4 Châu Á, 12 thế giới, năm 2025 đạt khoảng 25 triệu tấn. Năm 2025, trước xu hướng đi xuống liên tục của giá lợn hơi nội địa trong giai đoạn đầu năm, người chăn nuôi tiếp tục giảm đàn nên sản lượng thức ăn cho lợn được ước tính giảm thêm hơn 11%, xuống còn 8,79 triệu tấn. Đối với thức ăn cho gia cầm, sản lượng năm 2025 tăng khoảng 7,4% cho gà và 15% cho vịt do giá gà trắng năm 2025 khá tốt và đàn gà vẫn có xu hướng được mở rộng. Tính chung năm 2025, sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp cho gia súc, gia cầm đạt 16,5 triệu tấn, giảm nhẹ 2,5% so với năm 2024.[22] Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

  • Bảng 2.1. Số liệu sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp giai đoạn 2016-2025
  • Bảng 2.2. Sản lượng thức ăn chăn nuôi theo chủng loại năm 2023-2025 (triệu tấn)
  • Bảng 2.3: Tổng nguồn cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nội địa và nhập khẩu năm 2025 (nghìn tấn)
  • Bảng 2.4. Thống kê sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu được phép lưu hành tại Việt Nam (tính đến 28/02/2025)

Các số liệu tại Bảng 2.1, Bảng 2.3, Bảng 2.3, Bảng 2.4 cho thấy tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp ở nước ta liên tục tăng, sản lượng đạt đỉnh là năm 2023, một năm chăn nuôi tăng trưởng mạnh, không bị ảnh hưởng nhiều bởi dịch bệnh, nhu cầu cung thực phẩm cao, do thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện, số lượng khách du lịch đến Việt Nam tăng cao. Đối tượng vật nuôi sử dụng nhiều thức ăn là con lợn, chiếm khoảng 70% tổng lượng tiêu dùng thịt. Hiện nay, Việt Nam sử dụng nguyên liệu thức ăn nhập khẩu là chủ yếu, lý giải cho điều này là do diện tích đất tự nhiên của nước ta không nhiều, vị trí địa lý, khí hậu không phù hợp để trồng các loại cây giầu đạm, năng lượng và cho năng suất cao như đậu tương, ngô.

  • Bảng 2.5. Thống kê sản phẩm thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước được phép lưu hành tại Việt Nam, đăng ký năm 2024, 2025
  • Bảng 2.6. Số liệu các hồ sơ nhập khẩu thức ăn chăn nuôi qua Cổng hải quan một cửa quốc gia (năm 2024, 2025)

Bảng 2.5, Bảng 2.6 cho thấy, trong hơn 3 năm trở lại đây, cơ quan chuyên ngành là Cục Chăn nuôi thực hiện đơn giản hóa một số thủ tục hành chính liên quan đến nhập khẩu, đăng ký lưu hành thức ăn chăn nuôi qua Cổng kết nối Hải quan một cửa, dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Qua đó, tiết kiệm thời gian, giảm chi phí cho doanh nghiệp, mặt khác là điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý của cơ quan nhà nước, tạo nên nền hành chính văn minh, minh bạch.

  • Bảng 2.7: Danh mục bổ sung hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi
  • Bảng 2.8: Danh mục hàm lượng kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn gia súc, gia cầm với mục đích kích thích sinh trưởng tại Việt Nam

Trong Bảng 2.7, Bảng 2.8 là Danh mục hàm lượng hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng và được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm. Có thể nói, các Thông tư này được ban hành hết sức kịp thời, đúng thời điểm xảy ra tình trạng có một bộ phận người chăn nuôi lạm dụng sử dụng hóa chất, kháng sinh. Qua đó, đề phòng nguy cơ loài người đứng trước thảm họa kháng kháng sinh, ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người.

Thứ hai, về các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam năm 2025.

Yếu tố đầu tiên tác động trực tiếp đến thị trường kinh doanh thức ăn chăn nuôi là cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung. Thực tế cho thấy cuộc chiến này đã đẩy giá khô đậu tương thế giới giảm mạnh.Từ tháng 4/2025 đã có những dấu hiệu đầu tiên về một cuộc chiến tranh thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc. Hai bên liên tục đưa ra các phát biểu đe dọa áp thuế lẫn nhau, tuy nhiên thời điểm này thị trường vẫn cho rằng hai nước sẽ cố gắng đàm phán để tránh một cuộc chiến bởi chiến tranh thương mại sẽ gây ra tác động tiêu cực đến bản thân mỗi nước và cả thế giới là điều mà ai cũng có thể nhìn thấy. Tuy nhiên, đến ngày 15/6/2025, Mỹ đã công bố danh sách 800 mặt hàng nhập khẩu chiến lược từ Trung Quốc (trong đó có ô tô), tổng trị giá 50 tỷ USD bị áp mức thuế 25% từ ngày 6/7. Đây là phát đạn đầu tiên đánh dấu cuộc chiến tranh thương mại kéo dài giữa hai cường quốc kinh tế Mỹ-Trung mà đến cuối tháng 1/2026 vẫn chưa thể giải quyết. Sau quyết định áp thuế của Mỹ thì Trung Quốc cũng đã có hành động trả đũa với mức thuế tương tự lên nhiều mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ, trong đó có đậu tương. Nhiều lô hàng đậu tương được Trung Quốc ký mua trước đó của Mỹ đã bị hủy hợp đồng, các nhà nhập khẩu Trung Quốc chuyển hướng sang mua đậu tương từ Nam Mỹ và một số thị trường khác để thay thế nguồn cung từ Mỹ. Lập tức giá đậu tương và khô đậu tương CBOT lao dốc mạnh, thị trường ngô cũng bị ảnh hưởng theo.

So sánh hai giai đoạn trước và sau khi chiến tranh thương mại nổ ra, có thể thấy giá khô đậu tương đã giảm rất mạnh. Trung bình 5 năm tháng đầu năm 2025 giá khô đậu tương CBOT đạt 402 USD/tấn thì giai đoạn 7 tháng cuối năm giá đã giảm xuống mức 350 USD/tấn, tức chênh lệch tới hơn 50 USD/tấn. Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Các doanh nghiệp nhập khẩu Việt Nam tranh thủ việc giá đậu tương và khô đậu tương Mỹ giảm đã ký mua khá nhiều từ thị trường này. Trong năm 2025, lượng khô đậu tương nhập khẩu từ Mỹ của Việt Nam đạt gần 560 nghìn tấn, tăng mạnh so với mức 200 nghìn tấn của năm ngoái. Giá khô đậu tương thế giới giảm nên khô đậu tương về Việt Nam trong 5 tháng cuối năm cũng đã có chiều hướng giảm, giúp doanh nghiệp giảm chi phí mua nguyên liệu, bớt một phần khó khăn cho các nhà máy trong giai đoạn khó khăn hiện nay.

Yếu tố thứ hai tác động đến thị trường thức ăn chăn nuôi chính là sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa USD với VND có chiều hướng tăng mạnh, từ đó làm đội chi phí nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi lên cao. Năm 2025, tỷ giá USD/VND tăng mạnh do FED đã có bốn lần tăng lãi suất cho vay, tổng cộng lãi suất cho vay đã tăng 1%, lên mức 2,5%. Xu hướng tăng bắt đầu từ tháng 2, sang tháng 4 tỷ giá có điều chỉnh giảm nhẹ nhưng nhanh chóng tăng trở lại trong tháng sau đó. Đặc biệt, từ tháng 7, khi Mỹ-Trung bắt đầu áp thuế trả đũa lẫn nhau giá USD đã tăng rất mạnh, tỷ giá USD/VND vượt mốc 23.300 đồng và có thời điểm gần chạm mốc 23.400 đồng.Các tháng cuối năm tỷ giá tiếp tục dao động ở mức cao. Tỷ giá tăng mạnh khiến cho chi phí nhập khẩu hàng hóa nói chung và nguyên liệu nói riêng tăng theo.[20, tr.76]

Theo đánh giá của Cục Chăn nuôi về quản lý thức ăn chăn nuôi và an toàn thực phẩm trong chăn nuôi: Trong năm 2025, các đơn vị chức năng trên toàn quốc chưa phát hiện vấn đề sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; việc lạm dụng hóa chất công nghiệp và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhiễm vi sinh vật có hại được giám sát chặt và kiểm soát tốt hơn. Cục Chăn nuôi phối hợp các đơn vị liên quan lấy mẫu, phân tích và xử lý hành vi vi phạm… Căn cứ quy định hiện hành Cục đã ban hành quyết định xử lý các hành vi vi phạm của tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi. Tính đến ngày 25/12/2025, đã xử lý vi phạm hành chính 41 trường hợp vi phạm với tổng số 53 lô hàng vi phạm, trong đó có 3 lô bị phạt cảnh cáo, 01 lô phạt chuyển đổi mục đích sử dụng, đề nghị công bố lại 14 lô, tái chế 11 lô, tái xuất 20 lô và tiêu hủy 4 lô; tổng số tiền xử phạt là 2.139 triệu đồng.Đặc biệt, trong tháng 8,9 năm 2025 có nổi lên vấn đề phát hiện một số cơ sở kinh doanh bã bia làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đã sử dụng Ure làm tăng tỉ lệ Protein giả trong thức ăn chăn nuôi. Cục Chăn nuôi đã phối hợp tích cực với Thanh tra Bộ có biện pháp xử lý dứt điểm và thông tin để cảnh báo, ngăn chặn hành vi vi phạm này để bảo vệ sản xuất.[22] Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Từ các số liệu thống kê và kết quả phân tích nêu trên, có thể đưa ra một số ý kiến kết luận ban đầu về kết quả thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:

Một là, Nghị định số 39/2024/NĐ-CP đã tạo sự thống nhất trong phạm vi toàn ngành về các khái niệm đối với thức ăn chăn nuôi, trong đó có phân định rõ các loại thức ăn chăn nuôi để nhất quán trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý về thức ăn chăn nuôi mà hiện nay trong thực tế đang được hiểu khác nhau giữa các cơ quan quản lý bộ, ngành và các địa phương gây khó, dễ cho việc chấp hành các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Hai là, về chính sách phát triển thức ăn chăn nuôi: Chính phủ đưa ra những quan điểm định hướng chính về các chính sách có liên quan đến lĩnh vực thức ăn chăn nuôi mà nhà nước cần khuyến khích phát triển nhằm phát huy tiềm năng của nền nông nghiệp nhiệt đới và công nghiệp chế biến khác, bằng chủ trương xã hội hoá tối đa để huy động mọi thành phần kinh tế ở trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất kinh doanh và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi, đồng thời tránh việc hiểu không đúng về sự bảo trợ của Nhà nước đối với ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi mà thực tế hiện nay phần lớn nguồn lực đầu tư cho ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi đều do tư nhân và nước ngoài đầu tư. Những chính sách này tạo môi trường và động lực cạnh tranh thúc đẩy hoạt động đầu tư kinh doanh phát triển ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi mà đã được nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển áp dụng thành công, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.

Ba là, những quy định về điều kiện nhà xưởng, trang thiết bị và con người trong hoạt động sản xuất, gia công và mua bán thức ăn chăn nuôi nhằm đảm bảo cho sản phẩm thức ăn chăn nuôi sản xuất ra đạt các yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm là rất cần thiết, phù hợp với quy định của ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2021 sửa đổi, cũng như kinh nghiệm của hầu hết các nước trên thế giới đều coi hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi bao gồm: sản xuất, mua bán thức ăn chăn nuôi là phải theo các điều kiện mà người tham gia phải đáp ứng yêu cầu quy định trước khi chính thức vào kinh doanh và phải duy trì trong quá trình sản xuất, gia công và mua bán khi đi vào hoạt động.Các quy định về điều kiện nêu trong văn bản do Chính phủ ban hành là những quy định tối thiểu so với các nước trong khu vực, nhằm tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi.

Những quy định về nhà xưởng và con người trong hoạt động sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi ở các nước là phải được tiền kiểm, bắt buộc đảm bảo khi đi vào sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi. Trong thực tế hiện nay, những quy định này ở Việt Nam đã được nêu trong các quy chuẩn kỹ thuật, nhưng còn sơ sài và là hậu kiểm, nên phần lớn là thực hiện không tốt dẫn đến thực trạng có quá nhiều cơ sở sản xuất, gia công và mua bán thức ăn chăn nuôi không đáp ứng được yêu cầu về nhà xưởng, con người (nhóm đối tượng này chủ yếu thuộc các doanh nghiệp nhỏ, các cơ sở tự phối trộn trong nước) nhưng vẫn hoạt động và đưa ra thị trường những sản phẩm thức ăn chăn nuôi kém chất lượng gây thua thiệt cho người chăn nuôi, gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường. Do vậy, những điều kiện quy định về nhà xưởng, trang thiết bị và chuyên gia kỹ thuật quy định trong Nghị định có tác động tích cực cho vấn đề chất lượng và an toàn sản phẩm thức ăn chăn nuôi, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nền công nghiệp thức ăn chăn nuôi của Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn.

Ở nước ta hiện nay số lượng doanh nghiệp và người dân tham gia hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi đang rất lớn so với nhu cầu và ngày càng gia tăng, nhất là những cơ sở nhỏ lẻ, những cơ sở gia công. Nếu không có những quy định chặt chẽ về điều kiện ban đầu về nhà xưởng, trang thiết bị và chuyên gia kỹ thuật thì rất khó cho việc đảm bảo chất lượng và an toàn sản phẩm thức ăn chăn nuôi như hiện nay. Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Bốn là, nội dung đăng ký thức ăn chăn nuôi được phép lưu hành tại Việt Nam quy định trong Nghị định đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp, người sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi chấp hành quy định này. Trong đó, đề cao hơn trách nhiệm của người sản xuất với chất lượng sản phẩm mà họ tạo ra, thông qua các tiêu chuẩn công bố áp dụng, còn Nhà nước chỉ bắt buộc người sản xuất tuân thủ những quy định trong các Quy chuẩn kỹ thuật là những yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến an toàn sản xuất, an toàn thực phẩm và môi trường (theo tinh thần của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật). Mặt khác, quy định các sản phẩm thức ăn chăn nuôi được phép lưu hành và những sản phẩm được nhà nước xếp trong nhóm thức ăn chăn nuôi cũng là những căn cứ pháp lý để thực hiện các nội dung quản lý và chính sách đặc thù của Nhà nước liên quan đến lĩnh vực thức ăn chăn nuôi (ví dụ chính sách thuế VAT, thuế nhập khẩu hàng hóa là thức ăn chăn nuôi…).

Năm là, những quy định về nội dung và chế độ kiểm tra nêu trong Nghị định đã chỉ rõ nội dung, đối tượng và chế độ kiểm tra đối với thức ăn chăn nuôi thương mại và thức ăn chăn nuôi tự phối trộn; đối với thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước và thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, xuất khẩu. Những quy định này có tác động tích cực đảm bảo môi trường kinh doanh được minh bạch, giảm phiền hà cho người sản xuất kinh doanh, nhưng vẫn đảm bảo được vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Trong đó, đặc biệt là áp dụng chế độ miễn giảm kiểm tra thức ăn chăn nuôi nhập khẩu đã có tác động rất tích cực đối với hoạt động xuất, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam thời gian qua, được các doanh nghiệp, Cơ quan Hải quan và các đối tác quốc tế đánh giá rất cao. Vừa tạo thông thoáng, giảm thiểu thời gian kiểm tra thông quan, nhưng vẫn đảm bảo kiểm tra đánh giá chất lượng được từng lô hàng nhập khẩu và phân loại được các đối tượng, nguồn hàng chất lượng thức ăn chăn nuôi tốt nhập khẩu vào Việt Nam và ngược lại để gia tăng tần suất và mức độ kiểm tra…

Sáu là, thực hiện chủ trương của Nhà nước về phân cấp, phân quyền và xã hội hóa nhằm gia tăng nguồn lực xã hội đầu tư sản xuất kinh doanh và kiểm soát chất lượng, an toàn thức ăn chăn nuôi, Nghị định đã thể hiện rất triệt để chủ trương này: Phân cấp, phân quyền cơ bản các nội dung quản lý nhà nước về thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước cho các địa phương thực hiện, cụ thể được hướng dẫn chi tiết trong Thông tư hướng dẫn Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; chỉ định các tổ chức chứng nhận sự phù hợp tham gia hoạt động đánh giá, chứng nhận hợp quy các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong sản xuất và đánh giá chứng nhận sự phù hợp về tiêu chuẩn công bố chất lượng áp dụng của nhà nhập khẩu cũng như hợp quy của các sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Bảy là, tác động với công tác cải cách hành chính: Nội dung của Nghị định đã đơn giản, giảm thiểu tối đa các thủ tục hành chính trong hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi và minh bạch rõ ràng những thủ tục hành chính cần phải thực hiện. Hạn chế tối thiểu việc các doanh nghiệp, người kinh doanh phải tiếp xúc trực tiếp với cán bộ công chức mà thông qua đường bưu điện và cổng thông tin điện tử. Hiện nay 100% các giao dịch về hoạt động đăng ký kiểm tra, xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu đã được thực hiện trên Cổng thông tin Hải quan một cửa cấp độ 4, giảm rất nhiều thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp, người dân tham gia hoạt động này. Giải pháp này đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gấp rút hoàn thiện cơ sở dữ liệu và hạ tầng thông tin để đưa hoạt động đăng ký, công nhận sản phẩm thức ăn chăn nuôi được phép lưu hành tại Việt Nam lên mạng thông tin điện tử. Nghị định số 39/2024/NĐ-CP đã đưa hoạt động quản lý của Việt Nam vào tốp đầu của các nước ASEAN và trong khu vực.

2.2.2 Những hạn chế trong quá trình thực hiện quy định về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, vẫn còn một số tồn tại trong quá trình thực hiện quy định về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong Nghị định số 39/2024/NĐ-CP. Những khó khăn, vướng mắc này được thể hiện ở một số khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, quy mô các cơ sở sản xuất, gia công thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện còn thấp và chủ yếu sản xuất hàng hóa nhỏ, vốn đầu tư ít.

Nhiều cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, gia công có quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít không đáp ứng được một hoặc nhiều điều kiện theo quy định, phổ biến là chưa đáp ứng đúng các điều kiện về nhà xưởng, trang thiết bị; trình độ được đào tạo của cán bộ phụ trách kỹ thuật không đúng chuyên môn hoặc dưới mức quy định; không có hoặc không thuê đơn vị thử nghiệm tiến hành phân tích chất lượng thức ăn chăn nuôi trong quá trình sản xuất, gia công. Các cơ sở này là doanh nghiệp trong nước, sản xuất, gia công ở các tỉnh có nền tảng chăn nuôi chưa phát triển, hộ gia đình nhỏ, lẻ.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn về nguồn vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, đó chính là những bất cập trong chính sách của Nhà nước nói chung và chính sách cho vay của các tổ chức tín dụng nói riêng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (trong đó có những doanh nghiệp kinh doanh thức ăn chăn nuôi). Vấn đề này cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để có giải pháp khắc phục về hệ thống chính sách trong thời gian tới.

Thứ hai, nhiều cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi (ví dụ các đại lý, cửa hàng thức ăn chăn nuôi, các cơ sở nhập khẩu thức ăn chăn nuôi…) chưa đáp ứng đúng điều kiện kinh doanh. Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Các vi phạm chủ yếu là không có khu cách biệt, còn để lẫn thức ăn chăn nuôi với các loại thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; không có hoặc thiếu thiết bị, dụng cụ để bảo quản thức ăn chăn nuôi theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp.Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có kho hoặc thuê kho bảo quản thức ăn chăn nuôi chưa đáp ứng các yêu cầu về điều kiện bảo quản đảm bảo chất lượng hàng hóa, bảo vệ môi trường và theo khuyến cáo của nhà sản xuất: diện tích kho quá nhỏ, không thông thoáng…

Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân không thể không nhắc đến, đó là việc đầu tư cơ sở vật chất để đáp ứng các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi do pháp luật quy định là rất tốn kém, trong khi nguồn tài chính của các cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi còn hạn chế và các chủ thể này thường rất khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng thương mại từ các ngân hàng hay các chương trình tín dụng nhà nước từ các tổ chức tài chính của Nhà nước.

Thứ ba, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm của cơ quan chuyên môn chưa được thực hiện thường xuyên và hiệu quả quản lý đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi còn thấp.

Các cơ quan quản lý chuyên ngành không đủ lực lượng, hoặc cử cán bộ chưa đúng chuyên môn tham gia đoàn kiểm tra, do đó không kiểm tra hết được cơ sở, không nắm bắt và xử lý đúng các vi phạm về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi của cơ sở nhập khẩu, sản xuất, đại lý. Từ đó, dẫn đến vi phạm kéo dài, người chăn nuôi chịu thiệt thòi về sử dụng thức ăn chăn nuôi giả, kém chất lượng hoặc bắt tay với doanh nghiệp “cơ hội” cung cấp “chất cấm”, kháng sinh cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên, chính là do năng lực thực tế của các cơ quan chức năng hiện nay còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn quản lý nền kinh tế hiện đại.

  • Tiểu kết chương

Trong Chương 2, luận văn đã khái quát những nét chủ yếu của Nghị định số 39, Thông tư số 20/2024/TT-BNNPTNT ngày 10/11/2024 hướng dẫn thực hiện Nghị định này, phân tích một số điểm mới của Nghị định so với các quy định trước đây và chỉ ra một số ưu điểm cũng như hạn chế của Nghị định số 39/2024/NĐ-CP. Bên cạnh đó, Chương 2 cũng đã phân tích về những thành tựu, hạn chế của quá trình áp dụng pháp luật về kinh doanh thức ăn chăn nuôi từ trước đến nay. Đây cũng là cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng, ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật Chăn nuôi nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

One thought on “Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi”

  1. Pingback: Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464