Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Từ ngàn năm nay, cuộc sống của người nông dân Việt Nam gắn liền với trồng lúa và chăn nuôi, hình thành nên nền văn minh lúa nước. Theo thống kê năm 2025, Việt Nam có gần 60 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm gần 2/3) tổng dân số và có tới 23,5triệu người làm việc trong khu vực nông nghiệp (chiếm hơn 40%) tổng số người trong độ tuổi lao động cả nước. Các số liệu thống kê này cho thấy,Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở nước ta có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, vừa đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, vừa phấn đấu để hướng tới xuất khẩu.

Trong cơ cấu Ngành nông nghiệp Việt Nam, chăn nuôi là lĩnh vực có vai trò quan trọng. Hơn 10 năm trở lại đây, ngành chăn nuôi liên tục phát triển cả về quy mô và chất lượng đàn vật nuôi, thông qua đổi mới phương thức, kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào chăn nuôi. Điều này khiến cho năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi ở Việt Nam có bước tiến vượt bậc, góp phần quan trọng trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Lĩnh vực chăn nuôi luôn duy trì tăng trưởng ở mức 3-5%/năm. Các sản phẩm của chăn nuôi cung cấp đầy đủ nguồn thực phẩm thiết yếu cho người dân và cộng đồng. Đây cũng là ngành kinh tế mang lại hiệu quả đầu tư cao, giúp cho nông dân tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, giải quyết nhiều công ăn việc làm cho người lao động ở nông thôn, góp phần từng bước làm giàu cho người dân và xã hội.

Cùng với sự tăng trưởng liên tục của ngành chăn nuôi, lĩnh vực thức ăn gia súc, gia cầm có bước phát triển vô cùng mạnh mẽ. Năm 2024, nhu cầu sử dụng thức ăn trong chăn nuôi lên đến 22 triệu tấn các loại (bao gồm thức ăn sản xuất trong nước và thức ăn nhập khẩu), năm 2025 là 25 triệu tấn. Cơ cấu chi phí trong chăn nuôi gồm có giống, thức ăn, thuốc thú y, lao động…trong đó, thức ăn chiếm đến 70-80% tổng chi phí.Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi là vô cùng quan trọng. Hiện nay, hoạt động này ở Việt Nam được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành như: Nghị định số 39/2024/NĐ-CP ngày 04/4/2024 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, có hiệu lực từ ngày 20/5/2024 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 39); Thông tư số 20/2024/TT-BNNPTNT ngày 10/11/2024 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39 và được thể chế hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Thương mại 2011, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá 2014, Luật Đầu tư năm 2022, Nghị định số 43/2024/NĐ-CP ngày 14/4/2024 của Chính phủ về nhãn hàng hóa, Nghị định số 123/2025/NĐ-CP ngày 17/9/2025 sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị định số 64/2025/NĐ-CP ngày 07/5/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản… Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Trong số các văn bản quy phạm pháp luật kể trên, có thể nhận thấy Nghị định số 39 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản là cơ sở pháp lý trực tiếp và có vai trò quan trọng nhất liên quan đến vấn đề quản lý thức ăn chăn nuôi, trong đó có vấn đề kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Theo các văn bản này, việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, theo đó tổ chức, cá nhân chỉ được kinh doanh khi đáp ứng đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, nguyên liệu đầu vào và con người. Ngoài ra, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước, thức ăn chăn nuôi nhập khẩu phải được công nhận chất lượng để xác định tính hiệu quả, đảm bảo chất lượng, an toàn đối với vật nuôi và từ đó bảo đảm an toàn đối với người tiêu dùng. Thức ăn chăn nuôi trước khi lưu hành trên thị trường phải làm hồ sơ đăng ký theo quy định và được công nhận bởi Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Thực tế cho thấy, mặc dù được kiểm soát khá chặt chẽ nhưng về phương diện quản lý, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trong những năm qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, cần được nghiên cứu để hoàn thiện chính sách quản lý đối với việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Điều này thể hiện ở chỗ, tình trạng thức ăn chăn nuôi sản xuất trong nước lưu hành trên thị trường kém chất lượng, chưa được đăng ký hoặc thức ăn chăn nuôi nhập khẩu vi phạm chất lượng vẫn được các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý.Hiện trạng này không chỉ ảnh hưởng đến người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu chân chính. Việc kiểm soát thức ăn chăn nuôi có “chất cấm”, thức ăn chứa kháng sinh ngoài danh mục được phép sử dụng chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng sử dụng sai mục đích, tồn dư “chất cấm”, kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi, ảnh hưởng đến vật nuôi, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người.

Kể từ năm 2024 cho đến nay, mặc dù Nghị định số 39 về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản do Chính phủ ban hành khắc phục được một số hạn chế, bất cập của văn bản trước đó là Nghị định số 08/2017/NĐ-CP ngày 05/02/2017 nhưng về thực chất, điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi vẫn còn nhiều vấn đề chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ, chưa hợp lý cần được rà soát, đánh giá để hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Với các lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề: “Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ ngành luật kinh tế, với mong muốn góp phần đánh giá thực trạng và từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Trong thời gian qua, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến thức ăn chăn nuôi và kinh doanh thức ăn chăn nuôi (kể cả các luận văn thạc sỹ) nhưng có thể nhận thấy các công trình nghiên cứu từ góc độ pháp lý về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi còn rất hạn chế.

Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây có đề cập đến vấn đề kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói chung và điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói riêng:

  • Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Toàn với đề tài: “Phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi của Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Thành Lợi”.
  • Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trương Thùy Vinh với đề tài: “Nghiên cứu phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi của Công ty Cổ phần Chăn nuôi Charoen Pokphand trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”.
  • Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Vũ Ninh với đề tài: “Quản lý nhà nước về sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”.
  • Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trần Quốc Hóa với đề tài: “Chính sách Marketing cho sản phẩm thức ăn gia súc của Công ty TNHH Thái Việt Agri Group tại thị trường miền Trung”.
  • Luận văn Thạc sỹ của tác giả Phạm Quang Mẫn với đề tài: “Tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi”.
  • Bài báo: “Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi” của tác giả Tuệ Văn, đăng trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ngày 16/12/2022.
  • Bài báo: “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và ngành chăn nuôi Việt Nam – Thực trạng và những chuẩn bị cần thiết” của tác giả Nguyễn Tiến Dũng – Mai Quang Hợp, đăng trên Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, số Q4, ngày 12/7/2023.
  • Bài báo: “Hoàn thiện chính sách phát triển ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi của Việt nam” của tác giả Nguyễn Đức Hải, đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, ngày 15/3/2024.
  • Bài báo: “Cần sớm bình ổn thị trường thức ăn chăn nuôi” của tác giả Anh Phường đăng trên báo Điện tử Nhân dân, ngày 06/9/2025.
  • Bài báo: “Ngành thức ăn chăn nuôi: Cạnh tranh bằng chuỗi khép kín” của tác giả Phương Bình đăng trên báo Tuổi trẻ Online, ngày 18/01/2026. Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Từ kết quả thống kê tình hình nghiên cứu như trên đây, có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận từ góc độ kinh tế hay góc độ quản lý thức ăn chăn nuôi và hầu như có rất ít nghiên cứu về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi từ góc độ pháp lý. Chính vì thế, luận văn với đề tài: “Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là một đề tài nghiên cứu có tính mới và được tiếp cận từ góc độ pháp lý, đáp ứng được các yêu cầu của Quy chế hiện hành về luận văn thạc sỹ.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài nhằm đạt được mục đích nói trên là:

  • Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
  • Nghiên cứu, đánh giá khung pháp lý hiện hành về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam bằng cách chỉ ra các hạn chế, bất cập của các quy định này từ thực tiễn thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua.
  • Đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, lý thuyết về kinh doanh thức ăn chăn nuôi và điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi; các quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi; các giải pháp liên quan đến hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào việc làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, các quy định về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và những giải pháp cần áp dụng để hoàn thiện khung pháp lý hiện hành về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể và có tính chất thông dụng trong khoa học xã hội và nhân văn như: phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, khái quát hóa, thống kê, khảo sát, tiếp cận hệ thống, phân tích thực chứng, so sánh đối chiếu… để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn mà đề tài đặt ra.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận về kinh doanh thức ăn chăn nuôi như khái niệm thức ăn chăn nuôi, các điều kiện kinh doanh và nội dung sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Đồng thời, luận văn cũng phân tích các quy định, đánh giá ưu điểm, hạn chế của Nghị định số 39 và các văn bản quy phạm pháp luật khác về hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra đề xuất xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi kể từ khi Luật Chăn nuôi có hiệu lực.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm làm 3 chương như sau:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam.
  • Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC ĂN CHĂN NUÔI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THỨC ĂN CHĂN NUÔI

1.1 Những vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Trước hết, để làm rõ khái niệm kinh doanh thức ăn chăn nuôi, cần bắt đầu từ việc làm rõ khái niệm tiền đề là “thức ăn chăn nuôi”.

Thực tiễn cho thấy kể từ khi loài người xuất hiện, tổ tiên của chúng ta đã chăn nuôi gia súc gia cầm, gắn liền với hoạt động săn bắt, hái lượm. Từ quá trình tìm kiếm, lựa chọn thức ăn để sống, từ những quan sát và bắt chước các loài động vật hoang dại, con người đã biết tìm ra các loại rau, hoa quả có trong tự nhiên để nuôi sống bản thân và cho vật nuôi ăn.

Cùng với sự phát triển của nghề chăn nuôi và sự gia tăng mối quan tâm của con người đến động vật, vai trò của thức ăn chăn nuôi ngày càng được coi trọng. Chi phí cho chăn nuôi gồm 3 yếu tố chính, đó là con giống, thuốc thú y, thức ăn,trong đó, chi phí cho thức ăn chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 70%. Việc sử dụng thức ăn không chỉ trực tiếp tác động đến năng suất, chất lượng vật nuôi mà còn gián tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Theo sự phát triển của khoa học công nghệ và nhu cầu thực tiễn, các loại thức ăn chăn nuôi ngày càng phong phú, đa dạng. Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Theo Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), tất cả những gì mà gia súc ăn vào hoặc có thể ăn vào được mà có tác dụng tích cực đối với quá trình trao đổi chất thì gọi là thức ăn gia súc. Một khái niệm khác cũng được sự chấp nhận của nhiều người, đó là quan điểm cho rằng: “Thức ăn là những sản phẩm của thực vật, động vật, khoáng vật và các chất tổng hợp khác, mà động vật có thể ăn, tiêu hóa, hấp thu để duy trì sự sống, phát triển và tạo ra sản phẩm”.

Trong pháp luật thực định, nhà làm luật đã đưa ra một định nghĩa về thức ăn chăn nuôi trong Nghị định số 39/2024/NĐ-CP ngày 04/4/2024 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thuỷ sản, có hiệu lực từ ngày 20/5/2024 (sau đây gọi tắt là Nghị định số 39), như sau:“Thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm thức ăn dinh dưỡng và thức ăn chức năng ở các dạng: Nguyên liệu, thức ăn đơn; thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh; thức ăn đậm đặc, thức ăn bổ sung, phụ gia thức ăn nhằm tạo ra thức ăn tự nhiên, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn”.[12, tr.2]

Bên cạnh đó, Nghị định số 39 cũng đưa ra khái niệm chi tiết về một số loại thức ăn chăn nuôi như:Thức ăn chăn nuôi thương mại là các sản phẩm thức ăn chăn nuôi được sản xuất nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường.Thức ăn chăn nuôi sản xuất để tiêu thụ nội bộ là các sản phẩm thức ăn chăn nuôi do các cơ sở hoặc cá nhân tự phối trộn dùng cho nhu cầu chăn nuôi của nội bộ cơ sở, không trao đổi và mua bán trên thị trường.Thức ăn chăn nuôi theo tập quán là các sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến đã được người chăn nuôi sử dụng từ trước đến nay như: Thóc, gạo, cám, ngô, khoai, sắn, bã rượu, bã bia, bã sắn, bã dứa, rỉ mật đường, rơm, cỏ, tôm, cua, cá và các loại khác.Thức ăn chăn nuôi mới là thức ăn lần đầu tiên được nhập khẩu, sản xuất tại Việt Nam có chứa hoạt chất mới chưa qua khảo nghiệm ở Việt Nam.Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều nguyên liệu thức ăn được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy trì sự sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng hoặc chu kỳ sản xuất.Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, thủy sản có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi và dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh.Thức ăn bổ sung là thức ăn đơn hoặc hỗn hợp của nhiều nguyên liệu cho thêm vào khẩu phần ăn để cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể vật nuôi.Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hoặc thức ăn đơn là thức ăn dùng để cung cấp một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho vật nuôi.Phụ gia thức ăn chăn nuôi là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi trong quá trình chế biến, xử lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hoặc duy trì, cải thiện đặc tính nào đó của thức ăn chăn nuôi.Chất mang là chất vật nuôi ăn được dùng để trộn với hoạt chất trong premix nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi.

Premix kháng sinh là hỗn hợp gồm không quá 02 loại kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm mục đích kích thích sinh trưởng với tổng hàm lượng kháng sinh không lớn hơn 20%.[12, tr.2, 3]

Như vậy, có thể cho rằng thức ăn chăn nuôi là một loại hàng hóa rất đặc biệt, bởi lẽ nó có những ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi và từ đó tác động đến sức khỏe con người. Chính vì thế, việc quản lý đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trở thành vấn đề bức thiết ở bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là những quốc gia có thế mạnh và coi chăn nuôi nói riêng và nông nghiệp nói chung là một trong những ngành kinh tế có vai trò chủ lực như Việt Nam.

Vậy, về phương diện lý thuyết cần phải hiểu như thế nào về khái niệm “kinh doanh thức ăn chăn nuôi”?

Để trả lời câu hỏi này, có lẽ phải làm rõ khái niệm kinh doanh là gì, trên cơ sở đó mới làm rõ khái niệm kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Kinh doanh (tiếng Anh: Business) là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đính đạt lợi nhuận qua một loạt các hoạt động như sản xuất, chế biến, bán hàng,… Hoạt động kinh doanh nói chung thường được thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh phổ biến như tập đoàn, công ty nhưng cũng có thể là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất – buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình, cá nhân kinh doanh.

Trong pháp luật thực định, chẳng hạn như Luật Doanh nghiệp năm 2021, các nhà làm luật đã định nghĩa: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi nhuận”. [30, tr.4]

Đối với lĩnh vực kinh doanh thức ăn chăn nuôi, mặc dù Nghị định số 39 không đưa ra khái niệm kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Nhưng, bằng việc phân tích khái niệm kinh doanh như trên, có thể đưa ra khái niệm về kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:Kinh doanh thức ăn chăn nuôi là hoạt động có tính chuyên nghiệp của các tổ chức, cá nhân thông qua việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng dịch vụ liên quan đến thức ăn chăn nuôi trên thị trường vì mục đích lợi nhuận.

Trong pháp luật thực định cũng như trong thực tiễn hiện nay ở Việt Nam, khái niệm kinh doanh thức ăn chăn nuôi có nội hàm khá rộng, bao gồm các hoạt động chính như:sản xuất, gia công, buôn bán, xuất khẩu, nhập khẩu, khảo nghiệm, chứng nhận hợp quy và các dịch vụ liên quan đến phân tích, xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi, theo đó mỗi hình thức kinh doanh thức ăn chăn nuôi lại được định nghĩa rất khác nhau.Cụ thể là:

  • Sản xuất thức ăn chăn nuôi là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động sản xuất, chế biến, san chia, đóng gói, bảo quản, vận chuyển thức ăn chăn nuôi.
  • Gia công thức ăn chăn nuôi là quá trình thực hiện một phần hoặc toàn bộ các công đoạn sản xuất thức ăn chăn nuôi để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt hàng.
  • Xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi là việc chủ thể kinh doanh đưa thức ăn chăn nuôi đủ tiêu chuẩn vào hoặc ra khỏi lãnh thổ Việt Nam và làm các thủ tục xuất, nhập khẩu với cơ quan hải quan để thực hiện mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.

Các dịch vụ liên quan đến thức ăn chăn nuôi là những công việc do tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ theo quy định của pháp luật thực hiện theo yêu cầu của khách hàng thông qua hợp đồng dịch vụ để được nhận tiền thù lao dịch vụ.

Vậy, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi có những đặc điểm gì để phân biệt với các hoạt động kinh doanh khác trong nền kinh tế? Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Câu trả lời cho câu hỏi này không hề đơn giản, bởi lẽ suy cho cùng thì, kinh doanh thức ăn chăn nuôi cũng chỉ là một trong số hàng nghìn hình thức kinh doanh trong nền kinh tế, có đặc điểm chung là nó gắn liền với sự vận động của nguồn vốn, một chủ thể kinh doanh không chỉ có cần vốn mà cần cả những cách thức làm cho đồng vốn của mình quay vòng không ngừng, để đến cuối chu kỳ kinh doanh số vốn lại tăng thêm.

Mặt khác,kinh doanh thức ăn chăn nuôi cũng như kinh doanh tất cả các loại hàng hóa khác trên thị trường, vốn dĩ chịu tác động, ảnh hưởng của các quy luật thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh…

Tuy vậy, về phương diện lý thuyết, có thể thấy rằng hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi có một số đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất,hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi có đối tượng kinh doanh là thức ăn chăn nuôi – một loại hàng hóa rất đặc biệt, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm chăn nuôi và qua đó tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người trong đời sống xã hội. Chính vì vậy, việc quản lý đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi trở thành nhu cầu bức thiết và một trong số các quy định về quản lý thức ăn chăn nuôi chính là quy định về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Thứ hai, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi là loại hình kinh doanh có điều kiện. Đặc điểm này xuất phát từ tình trạng thực tế là do, thức ăn chăn nuôi là một loại hàng hóa đặc biệt (hàng hoá nhóm 2 theo Điều 3, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2014), là hàng hóa có khả năng gây mất an toàn trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường. Để đảm bảo an toàn cho việc sản xuất kinh doanh các sản phẩm chăn nuôi và qua đó bảo vệ sức khỏe con người, pháp luật các nước đều có quy định rất rõ về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.[26, tr.1]

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Để làm rõ khái niệm và đặc điểm của điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trước hết cần làm rõ khái niệm “điều kiện kinh doanh” là gì?.

Theo Từ điển Tiếng Việt, điều kiện là “cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra”. Do đó, có thể hiểu điều kiện chính là những yếu tố tiên quyết, mang tính quyết định đối với sự xuất hiện của một sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó.

Từ định nghĩa nói trên về thuật ngữ “điều kiện”, có thể thấy rằng khái niệm “điều kiện kinh doanh” thực chất là những điều kiện do nhà nước chủ động đặt ra để các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng được khi tiến hành các hoạt động kinh doanh trên thị trường, với mục đích nhằm đảm bảo an toàn cho nền kinh tế cũng như cho khách hàng khi tiêu thụ, sử dụng các hàng hóa, dịch vụ được cung cấp bởi các chủ thể kinh doanh.

Thực tế cho thấy, trong pháp luật thực định Việt Nam, khái niệm “điều kiện kinh doanh” đã từng được ghi nhận tại khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2012, theo đó “điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác”.[29, tr.5]

Đến Luật Đầu tư 2021, nhà làm luật không đưa ra định nghĩa hay khái niệm về điều kiện kinh doanh mà thay vào đó, nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về ngành nghề kinh doanh có điều kiện tại khoản 1 Điều 7 trong Luật Đầu tư 2021, theo đó: “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 7, Luật Đầu tư 2021, nhà làm luật cũng liệt kê 243 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.Các điều kiện kinh doanh này chỉ có thể được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Các cơ quan nhà nước khác như, Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, các nhân khác không được ban hành quy định về điều kiện kinh doanh”.[28, tr.4]

Có thể nhận thấy rằng, các quy định về điều kiện kinh doanh nhằm tạo hiệu quả và tối ưu hóa việc nhà nước quản lý hoạt động kinh tế, tạo lập nên một khung pháp lý an toàn và hiệu quả để các chủ thể kinh doanh đảm bảo quyền tự do kinh doanh. Thông qua các chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh, Nhà nước có thể điều tiết được hoạt động sản xuất – kinh doanh, giữ được sự phát triển ổn định bền vững cho nền kinh tế. Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Từ các phân tích nên trên về điều kiện kinh doanh, có thể đưa ra khái niệm về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:

Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là những yêu cầu đặt ra từ phía Nhà nước mà các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh thức ăn chăn nuôi, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh thức ăn chăn nuôi, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.

  • Định nghĩa trên cho thấy điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, việc Nhà nước quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi luôn gắn với mục tiêu bảo đảm chất lượng sản phẩm chăn nuôi, từ đó hướng đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người vì một xã hội an toàn, phồn vinh và hạnh phúc. Để đạt được mục tiêu này, Nhà nước phải thiết lập một hành lang pháp lý chặt chẽ đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong đó có việc quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Bằng cách đó, Nhà nước buộc các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh thì mới được hành nghề kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Ngoài ra, cũng cần phải lưu ý rằng các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi do Nhà nước quy định là những điều kiện tối thiểu mà các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải đáp ứng theo quy định của pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa là các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi có thể tự xây dựng và áp dụng các điều kiện cao hơn đối với mình nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa bán ra thị trường, đồng thời nhờ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thức ăn chăn nuôi,vốn dĩ rất phức tạp.

Như vậy, có thể thấy việc quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi không nhằm mục đích kìm hãm, siết chặt quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư mà thực chất chúng tạo ra khuôn khổ pháp lý rõ ràng cho các nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh. Mục đích của các điều kiện này là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội, đồng thời cũng tạo ra môi trường cạnh tranh, bình đẳng và minh bạch cho các doanh nghiệp, loại bỏ những doanh nghiệp kém chất lượng, gian dối trong kinh doanh, bảo đảm cho doanh nghiệp kinh doanh đạt được hiệu quả.

Thứ hai, điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là khá đa dạng, bao gồm: điều kiện về giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngành nghề thức ăn chăn nuôi; điều kiện về cơ sở hạ tầng để thực hiện việc kinh doanh thức ăn chăn nuôi (ví dụ: chủ thể kinh doanh phải có cửa hàng, biển hiệu, địa chỉ rõ ràng; nơi bảo quản, nơi bày bán đáp ứng các yêu cầu bảo đảm chất lượng và vệ sinh thú y theo quy định của pháp luật; nơi bảo quản, bày bán hàng phải thông thoáng, không ẩm ướt để bảo đảm chất lượng hàng hóa. Kho, tủ bảo quản và nơi bày bán thức ăn chăn nuôi phải riêng biệt; địa điểm kinh doanh phải xa bãi chứa rác thải, nơi sản xuất có nhiều bụi hoặc chất độc hại ít nhất 100m; phải có thùng, sọt có nắp đậy kín để đựng rác); điều kiện về chất lượng thức ăn chăn nuôi (chẳng hạn: thức ăn kinh doanh phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh an toàn sản phẩm theo quy định); điều kiện về chủ thể quản lý và chủ thể trực tiếp thực hiện việc mua, bán thức ăn chăn nuôi (ví dụ: người quản lý hoặc nhân viên bán hàng có chứng chỉ đã được tập huấn về thức ăn chăn nuôi hoặc có trình độ trung cấp trở lên về chuyên ngành chăn nuôi, người quản lý hoặc nhân viên bán hàng của cơ sở phải có trình độ trung cấp trở lên về một trong các chuyên ngành: chăn nuôi, thú y, sinh học hoặc có chứng chỉ tập huấn hợp pháp về thức ăn chăn nuôi do các cơ quan có thẩm quyền cấp; chỉ được kinh doanh các loại thức ăn chăn nuôi thuộc danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam, đã được công bố tiêu chuẩn chất lượng; thực hiện ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật). Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Thứ ba, do các sản phẩm thức ăn chăn nuôi được kinh doanh trên thị trường phải là các sản phẩm đã được đăng ký lưu hành nên khi quy định điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, nhà làm luật thường đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh những loại hàng hóa là thức ăn chăn nuôi nào để các cơ quan nhà nước có thể quản lý, kiểm soát được. Điều này có nghĩa là, không phải doanh nghiệp muốn sản xuất, nhập khẩu, buôn bán bất kỳ loại thức ăn chăn nuôi nào đều được mà việc kinh doanh bất kỳ sản phẩm nào cũng phải được đăng ký lưu hành và xác nhận chất lượng bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Thật vậy, theo Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa của Việt Nam, thức ăn chăn nuôi là loại mặt hàng nhóm 2 (là sản phẩm, hàng hoá trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, vẫn tiềm ẩn khả năng gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường), do đó các chủ thể kinh doanh bắt buộc phải đăng ký kinh doanh những sản phẩm này trước khi tiến hành các hoạt động kinh doanh.

Cơ sở khoa học để Nhà nước quy định thủ tục đăng ký kinh doanh thức ăn chăn nuôi là ở chỗ: Thức ăn chăn nuôi tuy là sản phẩm dùng để cho vật nuôi ăn nhưng lại có tác động đến đời sống của con người. Việc sử dụng thức ăn chăn nuôi đúng quy định, chất lượng sẽ có tác dụng đối với quá trình chăn nuôi, làm cho vật nuôi phát triển, tăng trọng lượng, mang đến chất lượng sản phẩm từ vật nuôi như thịt, trứng, sữa, gia tăng hiệu quả kinh tế. Mặt khác, mục tiêu của chăn nuôi phần lớn là tạo ra thực phẩm để phục vụ cho cuộc sống của con người. Do đó, việc sử dụng thức ăn chăn nuôi nhất là kháng sinh sẽ có thể dẫn đến tồn dư hóa chất trong sản phẩm thực phẩm vượt ngưỡng cho phép, người sử dụng loại thực phẩm này trong thời gian dài có thể gây nguy hại cho sức khoẻ. Kháng sinh sử dụng trong thức ăn và những tồn dư hóa học của nó trong thịt, trứng, sữa sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh của con người khi sử dụng các sản phẩm này. Kết quả là khi con người bị nhiễm bệnh sẽ làm khả năng chữa trị trở lên khó khăn, mất nhiều thời gian và phức tạp hơn. Chính vì những lý do nêu trên, lượng kháng sinh tồn dư trong thực phẩm sẽ là một trong các yếu tố chính để dùng làm căn cứ cho phép loại thức ăn chứa kháng sinh đó có được lưu hành trên thị trường hay không, cũng như giới hạn, định mức tối đa cho phép trong thức ăn chăn nuôi, cũng như thời gian ngưng sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh trước khi giết mổ.

1.1.3. Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo thông lệ quốc tế Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới đều có luật quy định chặt chẽ về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, nhưng trong điều kiện về kinh tế ở nước ta hiện nay thì các quy định chỉ ở mức tối thiểu, nhằm tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, các quốc gia khối EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,…Chính phủ thường quy định rất chi tiết về điều kiện sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong đó có quy định về diện tích tối thiểu đối với nhà xưởng, kho chứa hàng, địa điểm sản xuất, khoảng cách với khu dân cư; dây chuyền, trang thiết bị, máy móc sản xuất;điều kiện đào tạo chuyên môn đối với nhân viên phụ trách kỹ thuật, nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm, các bộ phận khác trong cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Đồng thời, các nước này cũng ban hành đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật bắt buộc áp dụng đối với nguyên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất thức ăn, các quy định để doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm thức ăn chăn nuôi đậm đặc, hỗn hợp hoàn chỉnh, thức ăn bổ sung đảm bảo chất lượng, không gây hại gián tiếp đến con người.

Bên cạnh đó, Chính phủ các nước cũng áp dụng các chế tài xử lý rất nặng đối với cơ sở sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm vi phạm tiêu chuẩn, chất lượng, với các mức chế tài khác nhau như phạt tiền, rút giấy phép kinh doanh, thậm chí xử lý hình sự đối với các chủ doanh nghiệp vi phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở mức động hiêm trọng. Nói chung, doanh nhân ở các nước phát triển họ đề cao tính trung thực, có trách nhiệm với sản phẩm của họ làm ra, giữ uy tín thương hiệu doanh nghiệp. Do vậy, sản phẩm họ làm ra, dịch vụ họ cung cấp đều rất tốt. Các nước đang phát triển như nước ta, cần phải mất thời gian dài nữa mới có thể làm được điều này.

Ở Trung Quốc, một quốc gia láng giềng, có nền văn hóa tương đồng với Việt Nam, tuy nhiên họ có điều kiện kinh tế, khoa học kỹ thuật phát triển hơn nước ta. Điều kiện về kinh doanh thức ăn chăn nuôi khá chặt chẽ, chi tiết,quy định từ Điều 4 đến Điều 23, Luật Chăn nuôi. Cụ thể, Trung Quốc quy định rất chi tiết về điều kiện sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi, trong đó có quy định cả về diện tích nhà xưởng tối thiểu với cơ sở sản xuất thức ăn hỗn hợp phải có tối thiểu là 1000 m2, với thức ăn bổ sung là 500 m2 và với 3 vị trí cán bộ phụ trách: trưởng bộ phận kỹ thuật, trưởng bộ phận KCS, trưởng bộ phận sản xuất trong các cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi là phải có bằng đại học hoặc chứng chỉ chuyên môn phù hợp và không được phép kiêm nhiệm và phải chịu sự kiểm tra sát hạch của cơ quan chuyên môn khi đăng ký thủ tục cấp chứng nhận cở sở đủ điều kiện sản xuất thức ăn chăn nuôi; chế độ quản lý chất lượng và kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng hết sức chặt chẽ.[36]

Ở Thái Lan,một nước láng giềng khác, điều kiện kinh tế của nước này cũng phát triển hơn Việt Nam,cơ quan chuyên môn là Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã ban hành quy định về tiêu chuẩn chất lượng đối với từng loại nguyên liệu, thức ăn chăn nuôi. Đây cũng được coi là một trong những văn bản quy phạm pháp luật, một loại điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi của đất nước chùa vàng. [37] Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Ở Việt Nam, do những đặc thù về trình độ phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa kinh doanh nên pháp luật hiện hành đã quy định các điều kiện kinh doanh đối với một số ngành nghề chỉ ở mức độ tối thiểu, trong đó có có ngành nghề kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Nhà làm luật quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi xuất phát từ lý do đảm bảo sự an toàn cho xã hội và vì sức khỏe cộng đồng.

Sở dĩ như vậy là bởi vì, kinh doanh thức ăn chăn nuôi được coi là một ngành nghề mà hoạt động kinh doanh có thể ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, đến sức khỏe con người. Kinh doanh thức ăn chăn nuôi có thể là quá trình sử dụng các nguyên liệu đầu vào để sản xuất hoặc khảo nghiệm, phân tích thức ăn chăn nuôi. Các nguyên liệu đầu vào này có thể gặp như hóa chất hoặc các vi sinh vật, các nguyên liệu này đòi hỏi phải được quản lý, sử dụng theo một điều kiện, quy trình nhất định, bởi các thiết bị đáp ứng nhu cầu để đảm bảo không bị phát tán vào môi trường xung quanh, đồng thời không gây ra ảnh hưởng tới những người trực tiếp thực hiện việc sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi như những người công nhân trực tiếp sản xuất, những người làm công tác phân tích, khảo nghiệm, kiểm nghiệm. Mặt khác, kinh doanh thức ăn chăn nuôi cũng có thể tạo ra những chất thải có hại cho môi trường, cho sức khỏe của cộng đồng xung quanh nếu không được xử lý tốt, đúng quy trình.

Đồng thời, thức ăn chăn nuôi là một mặt hàng đòi hỏi phải được bảo quản trong một môi trường, độ ẩm, nhiệt độ nhất định để có thể giữ nguyên hàm lượng chất dinh dưỡng. Do đó, các điều kiện về bảo quản như hệ thống kho bãi, thiết bị bảo quản cũng là một trong các điều kiện cần thiết đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Ngoài ra, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi có tác động đến người tiêu dùng thông qua sản phẩm mà họ cung cấp ra thị trường. Nhưng bản thân người tiêu dùng lại không có khả năng kiểm tra được mọi sản phẩm mà mình mua. Có những trường hợp, thức ăn chăn nuôi được cung cấp ra thị trường không đảm bảo chất lượng nhưng người tiêu dùng không thể kiểm tra được nên không biết để tránh không mua. Vì vậy, Nhà nước phải quy định người quản lý hoặc người phụ trách kỹ thuật của các cơ sở kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải có trình độ chuyên môn nhất định và có đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng.

Về phương diện hình thức, bằng chứng để chứng minh năng lực này là thông qua văn bằng, chứng chỉ chuyên môn do các cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý chuyên ngành về thức ăn chăn nuôi cấp cho người tham gia kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

1.2 Những vấn đề lý luận pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

  • Về khái niệm pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Xét từ góc độ lý luận pháp luật, theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu lý luận pháp luật tại Việt Nam thì pháp luật chính là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội.

Theo cách tiếp cận đó, pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi thực chất chỉ là một “tiểu chế định pháp luật” bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Tiểu chế định pháp luật này có đối tượng điều chỉnh là quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước về kinh tế giữa một bên là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với bên kia là các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Tương ứng với đối tượng điều chỉnh như vậy, phương pháp điều chỉnh được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh quan hệ xã hội này – quan hệ quản lý hành chính nhà nước, chính là phương pháp mệnh lệnh. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đang hướng đến mục tiêu xây dựng một “nhà nước phục vụ”, “Chính phủ kiến tạo” thì việc sử dụng phương pháp mệnh lệnh để điều chỉnh quan hệ xã hội này không chỉ nhằm tạo ra “quyền uy” cho các cơ quan quản lý nhà nước và tạo ra “nghĩa vụ phục tùng” cho các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi mà còn nhằm mục tiêu hướng dẫn, hỗ trợ các chủ thể kinh doanh thực hiện đúng pháp luật. Rõ ràng, việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật này không ngoài mục đích nhằm quản lý, kiểm soát hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thông qua đó góp phần đảm bảo an toàn xã hội nói chung và bảo vệ sức khỏe cộng đồng nói riêng.

Từ kết quả phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như sau:

Pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là tập hợp các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm xác định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi mà các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng khi thực hiện các hoạt động sản xuất, buôn bán, xuất, nhập khẩu, dịch vụ phân tích, khảo nghiệm, kiểm nghiệm và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi. Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

  • Về nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật đối với điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Xét từ khía cạnh lý thuyết, việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ xã hội về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói riêng luôn phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Những nguyên tắc này xác định giới hạn can thiệp của Nhà nước bằng pháp luật đối với một lĩnh vực nhất định, trong đó có lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh doanh thức ăn chăn nuôi (chẳng hạn như thông qua việc quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi).

Về lý thuyết, nguyên tắc (hay nguyên lý) chung trong việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ “tư” nói chung và quan hệ kinh doanh nói riêng là Nhà nước chỉ can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh khi hoạt động này có nguy cơ phương hại đến lợi ích công hay trật tự công và việc can thiệp cũng chỉ dừng lại ở mức đủ để bảo vệ lợi ích công và trật tự công cộng.

Đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, nguyên tắc này cũng không phải là ngoại lệ, theo đó Nhà nước dùng pháp luật để quy định về các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và việc quy định các điều kiện này cũng phải dừng lại ở giới hạn đủ để bảo vệ lợi ích công và trật tự công, đó chính là sự an toàn cho xã hội, hạnh phúc cho người dân và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

1.2.2 Cấu trúc pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Nói đến cấu trúc pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là nói đến các bộ phận cấu thành của chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, cụ thể bao gồm:

  • Các quy định về chủ thể tham gia quan hệ quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Về lý thuyết, nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ những chủ thể nào tham gia vào quan hệ quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi và thẩm quyền (quyền hạn, trách nhiệm hoặc quyền và nghĩa vụ) của các chủ thể đó trong quan hệ quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Nói cách khác, nhiệm vụ của nhóm quy phạm pháp luật này là quy định rõ thành phần chủ thể và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể đó trong quan hệ quản lý nhà nước về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi để làm cơ sở pháp lý cho việc thực hiện trong thực tiễn.

  • Các quy định về nội dung điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Về lý thuyết, nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi bao gồm những điều kiện nào (ví dụ, điều kiện về vốn, điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện về nhân lực và trình độ chuyên môn, điều kiện về kinh nghiệm kinh doanh thức ăn chăn nuôi…), nội dung các điều kiện đó ra sao và mối quan hệ giữa các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi do pháp luật quy định. Thực tế cho thấy, việc quy định các điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi như thế nào sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi, bởi lẽ nếu các điều kiện đó là quá khó khăn và ngặt nghèo thì các chủ thể kinh doanh không đáp ứng được, do đó họ sẽ không thể gia nhập thị trường kinh doanh thức ăn chăn nuôi nhằm đạt được các mục đích đầu tư và kinh doanh. Ngược lại, nếu những điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi là quá đơn giản và dễ dàng, điều này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo đảm sự an toàn cho xã hội cũng như hạnh phúc của người dân.

  • Các quy định về thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi.

Về lý thuyết, nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định rõ thẩm quyền và thủ tục thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Việc thiết kế các quy định này nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi, thông qua đó giảm thiểu các chi phí giao dịch cho các bên liên quan (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể kinh doanh thức ăn chăn nuôi) trong quá trình thực hiện pháp luật. Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

1.2.3 Nguồn của pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Quản lý hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói chung và quản lý chất lượng thức ăn chăn nuôi nói riêng là vấn đề rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm và môi trường trong chăn nuôi của nước ta. Để tạo lập một hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ và hiệu quả cho hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, cần có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đa dạng, đồng bộ do Nhà nước ban hành. Về lý thuyết, các văn bản quy phạm pháp luật ấy chính là nguồn của pháp luật về kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói chung và chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi nói riêng.

Ở Việt Nam, chế định pháp luật về điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi được thể hiện thông qua các văn bản chủ yếu sau đây:

  • Nghị định số 08/2017/NĐ-CP ngày 05/02/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi;
  • Nghị định số 39/2024/NĐ-CP ngày 04/4/2024 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản;
  • Nghị định số 43/2024/NĐ-CP ngày 14/4/2024 của Chính phủ quy định về nhãn hàng hóa;
  • Nghị định số 127/2014/NĐ-CP ngày 01/8/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;
  • Nghị định số 132/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
  • Nghị định số 107/2024/NĐ-CP ngày 01/7/2023 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ đánh giá sự phù hợp;
  • Nghị định số 185/2020/NĐ-CP ngày 15/11/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
  • Nghị định số 64/2025/NĐ-CP ngày 07/5/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thủy sản;
  • Thông tư số 66/2018/TT-BNNPTNT ngày 10/10/2018 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định chi tiết một số điều Nghị định số 08/2017/NĐ-CP ngày 05/02/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi;
  • Thông tư số 28/2021/TT-BNNPTNT ngày 04/9/2021 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam;
  • Thông tư số 42/2022/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành danh mục bổ sung hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam; Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.
  • Thông tư số 06/2023/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2023 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục hàm lượng kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn gia súc, gia cầm với mục đích kích thích sinh trưởng tại Việt Nam;
  • Thông tư số 01/2024/TT-BNNPTNT ngày 16/01/2024 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bổ sung danh mục hóa chất, kháng sinh cấm nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh và sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam;
  • Thông tư số 20/2024/TT-BNNPTNT ngày 10/11/2024 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản.

Các văn bản nêu trên cũng phù hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từng thời kỳ và thực tiễn quản lý, đặc biệt điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi quy định tại Nghị định số 39 phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2013, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2021, Luật Đầu tư năm 2021, phù hợp với tập quán thương mại quốc tế và các Điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập.

1.2.4 Vai trò của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Cùng với quá trình phát triển của ngành chăn nuôi, hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi đang ngày càng phát triển. Điều đó thể hiện ở chỗ, trong những năm qua rất nhiều nhà máy sản xuất, đại lý thức ăn chăn nuôi, doanh nghiệp nhập khẩu thức ăn chăn nuôi được thành lập và đi vào hoạt động đóng góp nhiều cho nền kinh tế của đất nước, phục vụ cho người tiêu dùng thuận lợi và kịp thời. Nếu không có ngành kinh doanh này, con người sẽ rất vất vả trong việc tìm mua thức ăn chăn nuôi, tìm hiểu thông tin về thức ăn chăn nuôi, xảy ra hiện tượng độc quyền trong phân phối, đẩy giá thức ăn chăn nuôi tăng cao.

Kinh doanh thức ăn chăn nuôi là một hoạt động vô cùng quan trọng của nền kinh tế và sẽ ngày càng phát triển, nhưng ngành kinh doanh này cũng đặt ra nhiều thách thức cho người quản lý. Bởi lẽ nếu để ngành kinh doanh này tự do phát triển theo những quy luật trên thị trường thì nó sẽ bị bóp méo và gây ra những hậu quả khôn lường. Các doanh nghiệp luôn luôn hướng đến việc tối đa hóa lợi nhuận, vì vậy họ có thể sản xuất ra nhiều loại thức ăn chăn nuôi (nhất là thức ăn bổ sung) với các tên gọi khác nhau, nhưng thực chất có giá trị dinh dưỡng gần như nhau để đa dạng sản phẩm, các đại lý của họ dễ bán hàng; hay các cá nhân, thương lái lén lút cung cấp “chất cấm” cho người chăn nuôi trộn vào thức ăn của vật nuôi, để vật nuôi tăng trọng nhanh, tăng độ đạm (đạm giả), thịt của vật nuôi sau khi giết mổ có màu sắc tươi sáng, bắt mắt người tiêu dùng…, từ đó thu được nhiều lợi nhuận; hay thức ăn chăn nuôi có chứa hóa chất, kháng sinh không được phép sử dụng, sử dụng quá liều, sử dụng 02 loại kháng sinh trở lên (không đúng quy định tại Thông tư số 06/2023/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2023) để có tác dụng điều trị bệnh, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe con người, khi sử dụng thực phẩm có từ các vật nuôi này.

Mặt khác, vì mục đích lợi nhuận mà các doanh nghiệp dễ thực hiện các hành vi gian dối như sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, lừa dối khách hàng và ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, ép giá, độc quyền sản phẩm. Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Quá trình kinh doanh thức ăn chăn nuôi cũng giống như các ngành kinh doanh khác, đều tác động đến môi trường xung quanh. Việc sử dụng các nguyên liệu đầu vào là các hóa chất các vi sinh vật gây bệnh để sản xuất thành các thức ăn chăn nuôi có khả năng gây ra những sự cố môi trường, gây ra nguy cơ lây nhiễm bệnh cho những người trực tiếp sản xuất cũng như cộng đồng xung quanh. Đồng thời, chất thải của quá trình sản xuất thức ăn chăn nuôi cũng là một nguồn gây ô nhiễm nếu không được quản lý tốt.

Thực tế nêu trên đã nảy sinh nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi. Ngược lại, pháp luật cũng có những vai trò, tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi, từ đó giúp hoạt động này đi vào quỹ đạo quản lý của nhà nước, đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh trên thương trường.

Ở mức độ khái quát, có thể nhận thấy vai trò của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh thức ăn chăn nuôi được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, tạo ra hành lang pháp lý để các tổ chức, cá nhân thực hiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi một cách bình đẳng và thuận lợi: Với các quy định của pháp luật về quá trình sản xuất, đăng ký lưu hành thức ăn chăn nuôi và các tiêu chuẩn, điều kiện quy định trong văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở để các nhà sản xuất đối chiếu và thực hiện, đồng thời cũng là căn cứ quản lý, giám sát và xử lý các sai phạm trong hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi của các nhà sản xuất. Các quy định pháp luật chính là công cụ giúp người tiêu dùng nhận biết được sản phẩm mình đang sử dụng có đảm bảo chất lượng hay không, từ đó, sẽ có sự lựa chọn và có tiêu chí để phân biệt được thức ăn chăn nuôi thật và thức ăn chăn nuôi kém chất lượng.

Thứ hai, tạo hành lang pháp lý cho việc đảm bảo lợi ích của các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi ở trong và ngoài nước. Các quy định về xuất, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi đảm bảo kiểm soát được nguồn gốc xuất xứ của thức ăn chăn nuôi trên thị trường, ngăn chặn tình trạng thức ăn chăn nuôi chưa được phép lưu hành, thức ăn chăn nuôi không đúng nguồn gốc xuất xứ. Đồng thời, cũng tạo ra một sân chơi bình đẳng giữa các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước và nhà sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

Trên cơ sở đó, pháp luật góp phần tạo nên một hệ thống phân phối thức ăn chăn nuôi quy mô, đáp ứng đầy đủ các điều kiện để phục vụ tối đa nhu cầu của người tiêu dùng; đảm bảo chất lượng các sản phẩm thức ăn chăn nuôi lưu hành trên thị trường; hạn chế tình trạng nâng giá, độc quyền sản phẩm. Bên cạnh đó, pháp luật cũng góp phần mở rộng, xã hội hóa một số các hoạt động từ trước mang tính độc quyền của nhà nước như phân tích, kiểm nghiệm, xác nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Quy định điều kiện để các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động này, huy động được nguồn vốn trong xã hội, giảm thiểu gánh nặng cho các cơ quan kiểm nghiệm của Nhà nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất, phân phối nhanh chóng đưa các sản phẩm lưu thông trên thị trường.

Tiểu kết chương

Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về lý luận kinh doanh thức ăn chăn nuôi có thể rút ra một số kết luận sau:

  • Kinh doanh thức ăn chăn nuôi là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Các tổ chức cá nhân kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mới được phép sản xuất, buôn bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi.
  • Thức ăn chăn nuôi là một trong những hàng hóa nhóm 2 có khả năng gây khả năng gây mất an toàn, gây hại cho người, động vật, môi trường. Do đó, quản lý chất lượng đối với thức ăn chăn nuôi không chỉ để nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp mà còn là yếu tố đảm bảo an toàn cho sức khỏe con người.

Vì vậy, việc nghiên cứu về kinh doanh thức ăn chăn nuôi phải đảm bảo nghiên cứu toàn diện cả 02 vấn đề trên. Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

One thought on “Luận văn: Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi theo pháp luật”

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp PL điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464