Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải quan dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan

Là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật hành chính Việt Nam, pháp luật xử lý vi phạm hành chính được hình thành và phát triển ngay từ những ngày đầu thành lập nước. Mỗi thời kỳ phát triển của đất nước đều có những yêu cầu đặc biệt đối với nhu cầu quản lý về Hải quan để đáp ứng với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội cũng như bảo vệ đất nước của thời kỳ đó. Từ những nhiệm vụ yêu cầu, các chính sách về Hải quan sẽ được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật, mỗi gian đoạn sẽ có những chính sách và biện pháp quản lý khác nhau và có thể chia các giai đoạn như sau:

2.1.1. Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về hải quan từ những ngày đầu thành lập đất nước 1945 đến 1959:

Lịch sử phát triển của Ngành Hải quan Việt Nam cũng như pháp luật về Hải quan gắn liền với sự hình thành và phát triển của chính quyền cách mạng nước ta. Lịch sử pháp luật hải quan hiện đại có thể nói được bắt đầu ngay từ sau cách mạng tháng Tám với sắc lệnh số 27/SL ngày 10/9/1945 do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp, thừa ủy nhiệm của Chủ Tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký, thành lập “Sở thuế quan và thuế gián thu”. Sắc lệnh số 26/SL ngày 10/9/1945 quy định tạm giữ để thi hành các luật lệ về thuế quan cũng như tổ chức bộ máy, nhân viên thuế quan của chế độ cũ. Để xây dựng và củng cố hệ thống cơ quan thuế quan của chế độ mới, ngày 05/02/1946 Chính phủ ra Nghị định số 192/BTC quy định tổ chức của ngành thuế quan và thuế gián thu toàn quốc. Nhiệm vụ của ngành Thuế quan thời kỳ ngày là thu các loại thuế nhập cảng và xuất cảng, thu thuế gián thu. Sau đó giao thêm nhiệm vụ chống buôn lậu thuốc phiện và nhiệm vụ giải quyết các vụ vi phạm về thuế quan và thuế gián thu…

Như vậy nhìn chung ngay từ ngày đầu thành lập đất nước nhà nước ta đã rất sớm coi trọng vai trò quản lý nhà nước về Hải quan trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, đấu tranh kinh tế với địch, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước. Nhiệm vụ chính trị của việc quản lý nhà nước về Hải quan luôn luôn bám sát và phục vụ kịp thời nhiệm vụ của cách mạng, của đất nước qua từng thời kỳ. Mặc dù trong điều kiện kháng chiến, những chủ trương về quản lý xuất, nhập khẩu đều được thể chế hóa kịp thời, góp phần đưa các hoạt động xuất, nhập khẩu theo đúng pháp luật, đúng quy chế của chính quyền cách mạng. Tuy nhiên, các văn bản được ban hành đều là các văn bản pháp quy của cơ quan hành pháp, phục vụ yêu cầu trước mắt và nhanh chóng thay đổi theo yêu cầu của mỗi thời kỳ kháng chiến. Trong thời kỳ này, việc áp dụng các hình thức xử phạt các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực buôn bán từ vùng tự do ra vùng tạm chiếm, vận chuyển hàng hóa…theo quy định của thời chiến nên mang tính thời điểm.

2.1.2 Pháp luật về xử lý vi phạm pháp hành chính về Hải quan giai đoạn 1959 đến những năm đầu thập niên 80.

Đây là giai đoạn bước đầu thể chế hóa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác hải quan thành các văn bản pháp quy của Chính phủ, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan. Từ đó xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của ngành Hải quan để tạo điều kiện xây dựng nguyên tắc, chế độ nghiệp vụ, đưa hoạt động Hải quan vào nề nếp… Do các văn bản pháp quy ban hành về công tác Hải quan thời kỳ này phục vụ cho chính sách độc quyền về ngoại thương, vì vậy hải quan cũng mất đi một số tính chất đặc thù trong hoạt động của mình.

Giai đoạn này pháp luật điều chính việc xử lý vi phạm hành chính về hải quan vẫn chủ yếu áp dụng những văn bản được ban hành từ rất lâu. Cho đến đầu những năm 80 một loạt văn bản quy phạm điều chỉnh việc xử lý vi phạm được ban hành như: Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 30/6/1982; Nghị định số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 của Hội đồng Bộ trưởng quy định việc xử lý bằng biện pháp hành chính các hành vi đầu cơ, buôn lậu, làm giả kinh doanh trái phép; Thông tư liên Bộ Tư pháp – Tài chính số 01/TTLB ngày 25/01/1984 hướng dẫn thi hành Nghị định số 46/HĐBT; Thông tư số 1090/TCHQ/TH ngày 19/10/1985 của Tổng cục Hải quan hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc xử lý bằng biện pháp hành chính các vi phạm nhỏ về buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Tuy nhiên, trong thời kỳ này Nhà nước vẫn áp dụng chế độ nhà nước độc quyền về ngoại thương, ngoại hối; nền ngoại thương chủ yếu vẫn hướng vào các nước thuộc Hội đồng tương trợ kinh tế với chế độ kinh doanh theo Nghị định thư, nên các chính sách, quy định về chế độ xuất nhập khẩu cũng như về thuế xuất không có gì thay đổi so với thời kỳ trước, Các văn bản thời kỳ này không có tính thống nhất cao, còn tản mạn, nội dung lạc hậu, chưa phù hợp với sự phát triển của kinh tế – xã hội.

2.1.3 Pháp luật về hải quan và việc xử phạt vi phạm trong thời kỳ đổi mới, mở cửa từ năm 1986 đến năm 1992. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Từ những năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, lĩnh vực Hải quan cũng nằm trong tiến trình đổi mới theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI, VII và các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng… Thời kỳ này hàng loạt văn bản mới liên quan đến lĩnh vực Hải quan đã ra đời như: Nghị định số 46/HĐBT ngày 8/9/1986 sửa đổi Nghị định số 46/HĐBT; Chỉ thị số 237/CT ngày 03/12/1987 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc kiên quyết ngăn chặn và xử lý hàng nước ngoài nhập lậu và nước ta; Luật thuế xuất, nhập khẩu; Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1989; trong đó trọng tâm là Pháp lệnh Hải quan ban hành ngày 20/2/1990 thể hiện bước phát triển mới của ngành Hải quan Việt Nam.

Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 28/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1990 đã được đánh dấu bước phát triển vượt bậc của pháp luật xử lý vi phạm hành chính của nước ta. Tuy nhiên, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1989 mới chỉ giới hạn quy định về những vấn đề cơ bản, có tính chất nguyên tắc của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính như: Khái niệm vi phạm hành chính và đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp hình thức xử phạt vi phạm hành chính; thẩm quyền quy định và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; các nguyên tắc của phạt vi phạm hành chính và vấn đề thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Pháp lệnh được ban hành đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt Nam, một Pháp lệnh khung, quy định những vấn đề cơ bản, mang tính nguyên tắc vể xử phạt vi phạm hành chính được ban hành. Để thi hành Pháp lệnh này, Chính phủ đã ban hành các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước.

Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan, Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ đã ban hành Nghị định số 232/NĐ-HĐBT ngày 25/6/1992 quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan. Có thể nói đây là văn bản pháp luật đầu tiên đối với ngành Hải quan trong việc xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật hành chính về Hải quan. Tuy ra đời chậm so với Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính, nhưng Nghị định 232/NĐ-HĐBT đã cụ thể hoá thẩm quyền, các hình thức và biện pháp xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan hải quan cũng như cán bộ hải quan trong việc xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời nghị định cũng quy định cụ thể những hành vi vi phạm luật lệ hải quan nào thì bị xử phạt vi phạm hành chính. Nghị định mặc dù không quy định được chi tiết và đầy đủ các hành vi vi phạm hành chính về Hải quan phải bị xử phạt cũng như những định nghĩa về hành vi vi phạm, nhưng trong nghị định này đã quy định được một số nhóm hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan cũng như thẩm quyền xử phạt hành chính của cơ quan hải quan. Tuy chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, nhưng đây là văn bản pháp luật quan trọng để cơ quan hải quan là cơ sở pháp lý thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.Việc không quy định trong Pháp lệnh Hải quan những hành vi được coi là vi phạm hành chính về Hải quan cũng như thẩm quyền của nhân viên hải quan trong việc xử phạt vi phạm hành chính là có nguyên nhân lịch sử do việc chưa phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hải quan nói riêng, nhất là trong điều kiện một văn bản dưới hình thức một pháp lệnh không có quy định cụ thể và chi tiết về vấn đề này. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Thực trạng tình hình ban hành, thi hành và áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong giai đoạn này có thể thấy Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 chưa thể hiện rõ tinh thần ngăn chặn triệt để, xử lý nghiêm minh các vi phạm hành chính, chưa xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước và người có thẩm quyền trong xử phạt hành chính. Một số điều, khoản của Pháp lệnh quy định chưa rõ ràng, thiếu cụ thể như mức tiền phạt, cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt, thủ tục áp dụng các hình thức xử phạt, khen thưởng…dẫn đến việc áp dụng pháp luật xử phạt hành chính không thống nhất. Các biện pháp hành chính đặc biệt được quy định tại các văn bản của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, của Hội đồng Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ…trong đó nhiều quy định về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục trong các văn bản nói trên không còn phù hợp với hoàn cảnh kinh tế-xã hội đã thay đổi trong tình hình mới của đất nước. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các vi phạm hành chính, lập lại trật tự kỷ cương, đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội, thì việc sửa đổi Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính và sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản quy định về các biện pháp xử lý hành chính đặc biệt trước đây là rất cần thiết.

2.1.4 Giai đoạn năm 1992 đến

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 06/07/1995 thay thế Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 31/11/1989. Pháp lệnh này có hiệu lực từ 01/08/1995. So với Pháp lệnh năm 1989, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 có một số điểm mới chủ yếu, đó là Pháp lệnh đã quy định thêm về 05 biện pháp xử lý hành chính khác vào nội dung của văn bản: biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh; biện pháp quản chế hành chính. Pháp lệnh cũng quy định về đối tượng, thẩm quyền, trình tự và thủ tục áp dụng các biện pháp này. Bên cạnh đó, Pháp lệnh cũng đã sửa đổi một số quy định về xử phạt vi phạm hành chính trên cơ sở tổng kết đánh giá kết quả, kinh nghiệm thi hành Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 trong 5 năm thực hiện trên thực tế nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả, tính khả thi và từng bước hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở nước ta.

Để cụ thể hoá các quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/1996/NĐ-CP ngày 20/3/1996 quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan. Theo sự đổi mới một số quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, Nghị định 16/1996/NĐ – CP cũng đã quy định khá chi tiết và đầy đủ cả những định nghĩa về các hành vi vi phạm phải bị xử phạt vi phạm hành chính, thời hạn ra quyết định xử phạt, các biện pháp ngăn chặn cũng như về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và thẩm quyền tiến hành một số biện pháp cưỡng chế theo thủ tục hành chính. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Để góp phần có hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan và khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, Chính phủ đã ban hành nghị định xử phạt vi phạm hành chính số 54/1998/NĐ-CP ngày 21/7/1998 sửa đổi, bổ sung nghị định số 16/1996/NĐCP ngày 20/3/1996 và sau đó là nghị định 58/2000/NĐ-CP ngày 24/10/2000 sửa đổi, bổ sung Nghị định 54/1998/NĐ-CP. Việc liên tục sửa đổi, bổ sung các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính về Hải quan thể hiện sự quan tâm của Chính phủ đối với lĩnh vực hải quan nói chung và xử phạt vi phạm hành chính về Hải quan nói riêng. Trong giai đoạn này, thực hiện thí điểm của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực Hải quan, các nghị định này đã không quy định xử phạt đối với một số hành vi bị xử phạt trước đây như sửa vận đơn, khai sai hàng hoá có trị giá dưới 10 triệu đồng, khai sai tên hàng hoá nhưng có thuế xuất thấp hơn thuế của hàng nhập khẩu….

Tuy nhiên, qua 07 năm thực hiện Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, do tình hình kinh tế xã hội phát triển nhanh chóng và một phần cũng do chính bản thân các quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ những điểm bất cập, còn có nhiều điểm không còn phù hợp với một số luật, pháp lệnh có liên quan khác ban hành từ sau năm 1995 trở lại đây, không còn phù hợp với thực tế, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung kịp thời để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính có hiệu quả, nhằm bảo đảm sự thống nhất của pháp luật, nhất là đối với các vấn đề liên quan đến thẩm quyền xử phạt, xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo…

Để khắc phục những hạn chế tồn tại chủ yếu trên đây và để nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính trong tình hình mới thì việc nghiên cứu, xây dựng Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính mới thay thế Pháp lệnh năm 1995 là cần thiết. Vì vậy, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được UBTV Quốc hội thông qua ngày 02/7/2002, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2002; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLPHC năm 2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2008; Luật Quản lý thuế được ban hành ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Để triển khai thực hiện Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định những vấn đề chung về xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sau này được thay thế bằng Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008), Nghị định số 62/2004/NĐ-CP ngày 07/9/2004 ban hành Quy chế tạm giữ người theo thủ tục hành chính, Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Nghị định số 124/2005/NĐ-CP ngày 06/10/2005 quy định về biên lai thu tiền phạt và quản lý, sử dụng tiền nộp phạt vi phạm hành chính). Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính về Hải quan, Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa những nội dung về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan.

Nghị định 138/2004/NĐ-CP ngày 17/6/2004 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan được xây dựng trên nguyên tắc cơ bản của Pháp lệnh xử phạt hành chính năm 2002, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hải quan và những văn bản pháp luật có liên quan. Nghị định hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, góp phần đấu tranh ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan. Nội dung của nghị định xác định cụ thể, rõ ràng các hành vi vi phạm hành chính về hải quan; cụ thể hoá một số nguyên tắc xử phạt phù hợp tính chất, đặc điểm các vi phạm hành chính về hải quan, nhằm bảo đảm cho việc xử phạt được công minh, nhanh chóng và có tính khả thi. Kế thừa một số nội dung của Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan hiện hành đã phát huy tác dụng có hiệu quả.

Nghị định 138/2004/NĐ-CP đi vào thực hiện đã giải quyết được đa số các vướng mắc mà cơ quan Hải quan đã gặp phải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xử phạt vi phạm hành chính, trong đó nhiều vướng mắc đã phát sinh trong thời gian dài gây ảnh hưởng đến quá trình cải cách thủ tục hành chính về hải quan như: việc khai báo nhầm lẫn hàng hoá về số lượng với trị giá thấp nhưng vẫn bị xử phạt; việc xử phạt chỉ căn cứ vào hành vi mà không chia nhỏ mức phạt tương ứng với trị giá tang vật vi phạm cho phù hợp; một số hành vi được quy định chung chung theo loại hình xuất nhập khẩu nhưng không phân định rõ hành vi cụ thể dẫn đến khó áp dụng hoặc áp dụng không thống nhất trong ngành ….

Quá trình thực hiện Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Nghị định 138/2004/NĐ-CP lại tiếp tục phát sinh những vướng mắc bất cập như: không có điều khoản nào xác định hoặc đặt ra hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính về các lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung, lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan nói riêng. Đây vừa là hạn chế, thiếu sót, vừa là bất cập của pháp luật xử lý hành chính thời điểm này. Chính vì vậy, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đã được tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào các năm 2007 và năm 2008. Cùng với đó, trong lĩnh vực Hải quan cũng có những Nghị định mới được ban hành thay thế Nghị định 138/2004/NĐ-CP đáp ứng yêu cầu quá trình phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế đó là các Nghị định 97/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực HQ và Nghị định 18/2009/NĐ-CP ngày 18/2/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 97/2007/NĐ-CP thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với vấn đề xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

  • Sau năm năm thực hiện Nghị định 97, Nghị định 18, ngành Hải quan đã đạt được các kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Thứ nhất, Nghị định 97/2007/NĐ-CP, Nghị định 18/2009/NĐ-CP đã tạo khung pháp lý đầy đủ, tạo điều kiện cho công tác xử phạt vi phạm hành chính về hải quan được thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn quốc, việc xử phạt vi phạm hành chính về hải quan được tiến hành đúng đối tượng, nhanh chóng, kịp thời ngay tại nơi phát hiện vi phạm, công tác xử lý vi phạm hành chính được phân công, phân nhiệm rõ rệt giữa các cấp hải quan, giảm việc chuyển hồ sơ xử phạt lên cấp trên.

Xuất phát từ thực tiễn hoạt động hải quan, trên cơ sở kế thừa các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính về hải quan trước đây (Nghị định 16/1996/NĐ-CP, Nghị định 54/1998/NĐ-CP, Nghị định 58/2000/NĐ-CP), Nghị định 97/2007/NĐ – CP, Nghị định 18/2009/NĐ-CP đã điều chỉnh lại việc quy định cụ thể các hành vi vi phạm và các hình thức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm. Các nhóm hành vi vi phạm được bố cục theo từng khâu của quy trình thủ tục hải quan: tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan… Các hành vi quy định tại các Nghị định cơ bản dựa trên những hành vi quy định tại Nghị định số 138/2004/NĐ-CP, nhưng có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn và đáp ứng các quy định mới của pháp luật; bổ sung các hành vi vi phạm về thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trên cơ sở quy định tại Chương XII của Luật Quản lý thuế.

Thứ hai, công tác xử phạt vi phạm hành chính về hải quan theo quy định của Nghị định 97/2007/N -CP, Nghị định 18/2009/NĐ-CP được thực hiện tương đối tốt, từng bước đi vào nề nếp, bảo đảm sự thống nhất trong toàn ngành Hải quan; là một trong những cơ sở quan trọng để thực hiện việc phân loại doanh nghiệp, phân luồng hàng hoá góp phần cải cách thủ tục hành chính về hải quan, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, nâng cao sự tuân thủ pháp luật của người khai hải quan và cán bộ, công chức hải quan.

Việc xử phạt về cơ bản được tiến hành kịp thời, đúng nguyên tắc, thủ tục, thẩm quyền, xác định đúng lỗi vi phạm, đúng căn cứ pháp lý để xử phạt và áp dụng đúng mức phạt. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt cũng được thực hiện đầy đủ theo đúng các trình tự và thẩm quyền quy định. Các vụ vi phạm phức tạp đều được Cục Hải quan địa phương báo cáo, xin ý kiến Tổng cục Hải quan, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố hoặc trao đổi với các cơ quan chức năng có liên quan để bảo đảm việc xử lý chặt chẽ, có cơ sở pháp lý. Những trường hợp vi phạm chưa xác định rõ mức độ hành chính hay hình sự đều được cơ quan hải quan trao đổi với cơ quan điều tra hoặc Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp trước khi đưa ra kết quả xử lý cuối cùng. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Thứ ba, việc tổ chức thực hiện các quyết định xử phạt, giải quyết khiếu nại quyết định xử phạt, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện trên cơ sở tuân thủ đúng nguyên tắc, trình tự của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản liên quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xét xử, người khiếu nại. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về hải quan, góp phần tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng đối với các chủ thể tham gia hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa trong việc tuân thủ pháp luật Hải quan.

Về cơ bản, Nghị định 97/2007/NĐ – CP, Nghị định 18/2009/NĐ-CP đã quy định tương đối bao quát các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan. Tuy nhiên, hiện nay phương pháp quản lý mới về Hải quan đó có sự thay đổi rất căn bản, đề cao vai trò tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật Hải quan; cùng với sự phát triển của nền kinh tế – xã hội, vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan cũng diễn ra liên tục, diễn biến phức tạp với các phương thức và thủ đoạn mới, tinh vi hơn. Nhiều vi phạm xảy ra mà Nghị định chưa kịp thời cập nhật để có chế tài xử phạt; đồng thời một số hành vi vi phạm quy định trước đây đã lạc hậu về khung phạt tiền, hình thức phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả. Một số loại vi phạm chưa được chi tiết thành những hành vi vi phạm cụ thể nên khung phạt tiền, hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả cũng chưa phù hợp với thực tiễn; còn thiếu chế tài xử phạt đối với một số hành vi vi phạm phát sinh từ các quy định mới về thủ tục hải quan; Một số hành vi vi phạm chưa có định danh rõ ràng, chưa phù hợp nên quá trình thực hiện không thống nhất trong toàn ngành Hải quan

Việc thiếu các quy định cụ thể để bảo đảm tính dân chủ, tính chính xác, khách quan trong việc xem xét, quyết định việc xử phạt, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác; thủ tục, hình thức xử phạt hạn chế đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của một công cụ pháp lý quan trọng để cùng với pháp luật hình sự góp phần tích cực vào việc giữ gìn tốt tự, kỷ cương quản lý hành chính của đất nước, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng ngừa và chống có hiệu quả đối với vi phạm hành chính, tội phạm trong thời kỳ mới. Từ đó các quy định tại Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2007, 2008 vẫn tiếp tục được hoàn thiện hướng tới xây dựng các quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, các biên pháp khắc phục hậu quả… trong một luật mang tính pháp điển hoá cao (Luật Xử lý vi phạm hành chính). Các Nghị định 97/2007/NĐ-CP và Nghị định 18/2009/NĐ-CP cũng sẽ dần hoàn thiện theo những nội dung mới phù hợp hơn, khoa học hơn đáp ứng nhu cầu quản lý hải quan hiện đại, trên cơ sở căn cứ các quy định của “ Luật Xử lý vi phạm hành chính ” mới được ban hành. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Hiện nay, các quy định của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2008 đã hết hiệu lực, được thay thế bằng Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc Hội thông qua vào ngày 20/6/2012, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013. Luật Xử lý vi phạm hành chính được ban hành với mục tiêu nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hàn chính; Quy định đầy đủ, toàn diện các vấn đề về xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm kế thừa những quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm, khắc phục một cách cơ bản những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành; Tăng cường tính công khai, minh bạch và bảo đảm dân chủ trong trình tự , thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp xử lý hành chính; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đặc biệt là người chưa thành niên; góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý hành chính, an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với vi phạm hành chính, tội phạm trong thời kỳ mới; khắc phục tối đa tình trạng thiếu thống nhất và chồng chéo trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết trong các điều ước quốc tế; đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của đời sống kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới.

Để triển khai thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính, thực hiện chương trình xây dựng pháp luật năm 2013, Tổng cục Hải qua đã được giao chủ trì soạn thảo trình Lãnh đạo Bộ Tài chính để trình Chính Phủ ban hành Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành Quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan; chủ trì soạn thảo Thông tư số 190/2013/TT-BTC ngày 12/12/2013 hướng dẫn thị hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan. Các quy định của Nghị định 127/2013/NĐ-CP và Thông tư 190/2013/TT-BTC được xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ các quy định của Luật Hải quan, Luật Quản lý thuế sửa đổi, bổ sung và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến quản lý nhà nước về Hải quan; phù hợp với các chuẩn mực trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia. Nghị định số 127/2013/NĐ-CP đã bổ sung thêm chế tài xử phạt đối với những loại hành vi vi phạm mới phát sinh, loại bỏ những hành vi vi phạm không còn phù hợp theo yêu cầu quản lý mới, điều chỉnh hình thức, mức phạt cho phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và phù hợp với việc thực hiện các quy định của Luật Quản lý thuế sửa đổi, bổ sung, Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm là công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý hải quan và thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật.

Ngoài ra, để đảm bảo cho công tác xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện thống nhất trong toàn Ngành, Tổng cục Hải quan còn ban hành Quyết định số 113/QĐ-TCHQ ngày 22/01/2014 về việc ban hành Bản hướng dẫn trình tự xử phạt vi phạm hành chính, giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong Ngành Hải quan và bản hướng dẫn sử dụng mẫu biên bản, quyết định hành chính trong ngành Hải quan.

Trải qua các giai đoạn phát triển, hệ thống văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã không ngừng được cải tiến và hoàn thiện. Hàng loạt các văn bản pháp lý được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng tiêu chuẩn cam kết pháp lý với WTO. Các văn bản pháp lý cấp cao làm xương sống cho hoạt động xử lý như Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành không ngừng được cải tiến, nâng cao về số lượng và chất lượng để phù hợp với các chuẩn mực quốc tế như công ước Kyoto, Hiệp định trị giá GATT, Công ước HS…., đáp ứng yêu cầu hội nhập, đồng bộ với hệ thống thể chế liên quan, phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Như vậy, có thể khẳng định từ khi có Luật Xử lý vi phạm hành chính, Ngành Hải quan đã làm tốt công tác xây dựng văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan. Đến nay, hệ thống văn bản về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan đã được hoàn thiện, là cơ sở quan trọng để ngành Hải quan thực hiện việc xử lý vi phạm hành chính.

2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về xử lý vi hành chính trong lĩnh vực hải quan có ảnh hưởng to lớn đến tính nghiêm minh của pháp luật nói chung và pháp luật hải quan nói riêng, bởi lẽ việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thống nhất, đồng bộ và có thính khả thi cao chỉ là điều kiện đủ để đảm bảo cho một hệ thống pháp luật có chất lượng mà vấn đề cốt yếu là việc tổ chức thi hành như thế nào để hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan phát huy hiệu quả, tác động thật sự trong đời sống xã hội, giúp hạn chế được những vi phạm trong hoạt đông quản lý của cơ quan hải quan.

Ngành Hải quan đã đặc biệt quan tâm đến công tác này suốt trong một thời gian dài. Công tác xử lý vi phạm hành chính luôn được các cấp Lãnh đạo quan tâm chỉ đạo thực hiện. Hệ thống các văn bản triển khai thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính trong ngành Hải quan đã được ban hành đồng bộ, đầy đủ. Như vậy, có thể khẳng định ngành Hải quan đã làm tốt công tác xây dựng văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan.

Bên cạnh việc xây dựng hệ thống văn bản, ngành Hải quan cũng đã triển khai rất tốt công tác tuyên truyền, tập huấn, phổ biến các quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thông qua các hình thức như: Tổ chức Hội nghị trực tuyến trong toàn Ngành cho hơn 800 cán bộ, công chức; Cử cán bộ Vụ Pháp chế đến tập huấn trực tiếp cho các đơn vị có hoạt động xuất nhập khẩu lớn; Phối hợp với VCCI tổ chức tập huấn cho khoảng hơn 400 doanh nghiệp có hoạt đồng xuất nhập khẩu tại 2 miền Bắc và Nam về Luật Xử lý vi phạm hành chính và các Nghị định thông tư liên quan đến lĩnh vực hải quan; ngoài ra thông qua trang thông tin điện tử ngành Hải quan đã giải đáp rất chi tiết các câu hỏi về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan do tổ chức, cá nhân đặt ra.

Công tác tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan thời gian qua đã đạt được kết quả đáng ghi nhận. Đặc biệt, để phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật hành chính về Hải quan các lực lượng trong ngành đã tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở các bộ cũng như cá nhân, doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật hải quan.

Kết quả của việc tổ chức thực hiện đã tạo chuyển biến đáng kể, góp phần ổn định hoạt động xuất, nhập khẩu tạo thuận lợi cho việc thông quan diễn ra nhanh tróng. Tuy nhiên, việc tổ chức thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn trong ngành Hải quan còn nhiều vấn đề tồn tại. Những tồn tại này tập trung vào một số điểm sau:

Tổ chức bộ máy làm công tác xử lý còn hạn chế về nguồn lực, luôn có biến động, phần lớn cán bộ là kiêm nhiệm các công việc khác. Vì vậy, tính chuyên sâu chưa cao nên không thể có kiến thức pháp luật vững vàng để đáp ứng được yêu cầu trong thực tế.

Hoạt động kiểm tra công tác xử phạt vi phạm của cấp trên đối với cấp dưới còn hạn chế, hệ thống thông tin đồng bộ về vi phạm pháp luật hải quan trong toàn ngành Hải quan chưa được cập nhật đầy đủ, kịp thời.

Cán bộ, công chức ngành Hải quan đã được đào tạo, có trình độ, am hiểu pháp luật, nhưng chưa được đào tạo cơ bản về công tác tố tụng hành chính, hình sự, hạn chế về kinh nghiệm chuyên môn nên còn lúng túng khi xử lý các vụ việc phức tạp.

Bộ máy tổ chức của ngành Hải quan để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật Hải quan và Luật xử lý vi phạm hành chính về công tác xử lý pháp luật hải quan gồm: Tổng cục Hải quan – Cục Điều tra chống buôn lậu – Cục Kiểm tra sau thông quan và Vụ Pháp chế; Cục Hải quan Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Phòng tham mưu chống buôn lậu và xử lý; Chi cục cửa khẩu, cán bộ kiêm nhiệm. Theo thống kê của ngành Hải quan trong 5 năm thực hiện nghị định 97/2007/NĐ-CP, Nghị định 18/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực Hải quan toàn Ngành đã phát hiện và xử lý được tổng số 95.246 vụ vi phạm, trung bình mỗi năm khoảng hơn 000 vụ vi phạm. Với số vụ vi phạm bị bắt giữ và xử lý lớn như vậy, thì lực lượng cán bộ làm công tác xử lý hiện nay không thể đảm đương được công việc. Trong thực tế đã có rất nhiều vụ việc do không đủ cán bộ và trình độ để tham mưu, cán bô công chức phải kiêm nhiệm nhiều công tác cùng lúc nên dẫn đến việc xử lý vi phạm không đúng người, không đúng hành vi gây ra tình trạng khiến nại các quyết định xử phạt, thậm chí kiện ra tòa hành chính.

Như đã nêu ở trên, ngoài những mặt đã đạt được việc tổ chức thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan vẫn còn nhiều bất cập, khó khăn. Nguyên nhân do chưa có sự chú trọng của Lãnh đạo các cấp, việc đào tạo, sắp xếp cán bộ, đơn vị tham mưu đến từng cấp có thẩm quyền chưa phù hợp.

2.3. Thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập cùng với việc chuyển đổi phương pháp quản lý, nhiều cơ chế chính sách cũng như quy trình, quy định đang trong quá trình hoàn thiện, đây là cơ hội cho các đối tượng núp danh nghĩa doanh nghiệp lợi dụng để hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và thực hiện các hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan. Đặc biệt việc chấp hành pháp luật về xử lý vi phạm có vai trò rất quan trọng nó làm cho các quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm phát huy được vai trò tích cực trong đời sống xã hội: bảo đảm trật tự quản lý hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu. Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thực sự là một vấn đề đáng quan tâm vì nó thể hiện tính nghiệm minh của pháp luật trong lĩnh vực này. Tuân thủ pháp luật đòi hỏi các tổ chức, cá nhân tuyệt đối không được thực hiện những hành vi mà các quy định pháp luật hành chính cấm không cho phép làm. Tuy nhiên, thực tế hiện nay các cơ quan, tổ chức và công dân chấp hành pháp luật vi phạm hành chính chưa triệt để, nghiêm túc. Ngay trong ngành Hải quan, mặc dù công tác hướng dẫn, kiểm tra xử lý vi phạm hành chính về hải quan đã được quan tâm và đạt được những kết quả nhất định, các văn bản quy phạm ban hành tương đối đầy đủ, các chế tài thể hiện rõ tính răn đe, mức xử phạt tương đối cao ở một số loại hình vi phạm nhưng số lượng vi phạm hành chính vẫn còn khá cao và các vụ việc phức tạp tương đối nhiều gây ảnh hưởng đến hoạt động quản lý trong lĩnh vực hải quan. Thực trạng việc chấp hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan hiện nay có thể khái quát trên một số nét chính như sau:

Biểu 2.1. Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan giai đoạn 2010-2013 và 3 tháng đầu năm 2014. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

  • Thứ nhất đánh giá tổng quan tình hình vi phạm những năm gần đây:

Qua số liệu thống kê của ngành Hải quan giai đoạn 2010-2013 và 03 tháng đầu năm 2014 cơ quan Hải quan đã bắt giữ, xử lý 80.531 vụ vi phạm. Những mặt hàng thường xảy ra vi phạm hành chính chủ yếu là hàng tiêu dung, vật tư thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất, các sản phẩm sắt thép, đồ gỗ, hàng may mặc…Do đặc thù của vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan là mục đích của việc thực hiện hành vi vi phạm hành chính để trục lợi nên số lượng các vụ vi phạm có xu hướng tăng dần trong cả giai đoạn và đặc biệt tăng đột biến năm 2012 với tổng số 21.524 vụ vi phạm. Mặc dù hệ thống pháp luật ngày càng được bổ sung hoàn chỉnh nhưng đi cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và hội nhập kinh tế thì càng có nhiều đối tượng cố ý thực hiện hành vi vi phạm với các thủ đoạn tinh vi hơn, từ năm 2010 – 2013 và 03 tháng đầu năm 2014, toàn quốc có 22.854 doanh nghiệp vi phạm, trung bình mỗi năm khoảng 5000 doanh nghiệp vi phạm.

Như vậy số liệu thống kê cho thấy số lượng vụ vi phạm hàng năm có chiều hướng gia tăng trong khi số lượng doanh nghiệp vi phạm tương đối ổn định và chưa có chiều hướng giảm.

Biểu 2.2. Cơ cấu các nhóm vi phạm pháp luật hành chính

  • Thứ hai đánh giá về cơ cấu các nhóm vi phạm theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành trong lĩnh vực Hải quan:

Nhóm vi phạm về thời hạn làm thủ tục hải quan và khai hải quan: đây là nhóm có số lượng vi phạm chiếm tỉ lệ cao nhất năm 2012 là 68% tương đương 14.555 vụ vi phạm, năm 2013 là 76% tương đương 14.982 vụ. Nhóm vi phạm này chủ yếu là vi phạm về thời hạn khai hải quan, vi phạm về thời hạn nộp hồ sơ, chứng từ và một số loại vi phạm khác. Các nguy cơ vi phạm của nhóm này thường là không chủ ý, nguyên nhân chủ yếu do hạn chế kiến thức, năng lực của các tổ chức, cá nhân trong thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hoặc tùy tiện trong làm thủ tục khai hải quan, dẫn đến những vi phạm về khai hải quan, khai thuế bao gồm cả những nhầm lẫn về số học dẫn đến sai lệch về số tiền thuế phải nộp; vi phạm về thời hạn làm thủ tục hải quan hoặc thời hạn nộp thuế… Tuy nhiên hành vi này cũng dễ bị nhầm lẫn với những hành vi vi phạm về trị giá hoặc phân loại hàng hóa (nhằm mục đích gian lận về thuế). Mặc dù hậu quả của những vi phạm này không nghiêm trọng, nhưng nó lại có tác động ảnh hưởng lớn đến môi trường hoạt động hải quan. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Nhóm vi phạm về chính sách quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu: hiện nay hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đang chịu sự điều tiết của hệ thống chính sách, bao gồm các quy định, hướng dẫn, chỉ đạo của Chính phủ (Nghị định 12/2006/NĐ-CP của Chính Phủ về Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài), các quy định, hướng dẫn, chỉ đạo của các Bộ, Ngành chức năng (quản lý chuyên ngành), các quy định, hướng dẫn, chỉ đạo của Tổng cục Hải quan về quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Các đối tượng thường “lách” kẽ hở của chính sách quy định hoặc trốn tránh, tre giấu bằng các thủ đoạn khác nhau để nhằm đạt được những lợi ích, lợi thế bất hợp pháp. Một số phương thức thủ đoạn vi phạm chủ yếu được cơ quan hải quan phát hiện trong thời gian qua như: khai báo hàng hóa thuộc diện rủi ro thấp, miễn kiểm tra (thực nhập hàng hóa thuộc diện quản lý) hoặc cất giấu hàng cấm trong hàng hóa thuộc diện miễn kiểm tra, tẩy sửa giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa… Đây là nhóm vi phạm có tỉ lệ cao thứ hai năm 2012 ngành Hải quan đã thống kế có 3.854 vụ vi phạm chiếm 18% và đến năm 2013 tình hình có chuyển biến tích cực số vụ vi phạm này đã giảm xuống còn 642 vụ chỉ chiếm 3% tổng số vụ vi phạm do càng ngày các chính sách quản lý hàng hóa càng được quy định rõ ràng chi tiết cụ thể hơn.

Nhóm vi phạm các quy định về kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: Loại hình này mặc dù tỷ lệ vi phạm không cao chỉ chiếm khoảng 2% tổng số vi phạm nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, gây ảnh hưởng cho uy tín quốc gia và nền kinh tế, thường loại hình này khi phát hiện là những vụ án lớn liên quan đến hình sự. Ví dụ như: Trong việc chuyển tải hàng hóa vào Việt Nam để xuất khẩu đi nước thứ ba. Chuyển tải hàng hóa qua Việt Nam được hiểu là việc các đối tượng lợi dụng các hình thức chuyển tải hàng hóa giữa phương tiện nhập cảnh và xuất cảnh; quá cảnh hàng hóa qua Việt Nam hoặc lợi dụng các hoạt động tạm nhập – tái xuất, gia công, sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam để trốn tránh sự kiểm soát luồng đi của các quốc gia nhập khẩu, nổi lên là một số mặt hàng có xuất xứ Trung Quốc như hàng may mặc, thủy hải sản, hàng nông sản thực phẩm lợi dụng hình thức gia công để chuyển tải hàng hóa qua Việt Nam sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba, chủ yếu là Mỹ và Châu Âu. Những loại hàng hóa này thường bị giới hạn bởi “hàng rào kỹ thuật” hoặc bị đánh thuế cao bởi các quốc gia trên.

Nhóm vi phạm về kiểm soát hải quan không ảnh hưởng đến thuế, nhóm vi phạm này chiếm tỉ lệ khoảng 5% tổng số vụ vi phạm. Đối với nhóm này thì những vụ việc điển hình như: xuất, nhập khẩu tài liệu, văn hóa phẩm, vật phẩm mang nội dung chống phá Nhà nước, văn hóa phẩm đồi trụy, vũ khí, chất nổ…; hoặc gian lận qua việc sử dụng sai mục đích của hàng hóa nhập khẩu; hàng viện trợ, hàng miễn thuế; lợi dụng chính sách miễn thuế đối với hàng hóa cư dân biên giới trong giới hạn trị giá 000.000 đồng để thuê người thu gom hàng hóa vận chuyển vào nội địa; hoặc lợi dụng hoạt động chuyển cửa khẩu để cất giấu, tẩu tán hàng… hay các vi phạm về hàng giả và sở hữu trí tuệ xảy ra khá phổ biến ở nước ta hiện nay như: nhập khẩu hàng giả, hàng nhái, hàng không đảm bảo chất lượng, hàng hóa vi phạm quyền bảo vệ sở hữu trí tuệ đã được đăng ký tại Việt Nam. Tuy vậy, hành lang pháp lý cùng với chính sách và các biện pháp quản lý chưa rõ ràng nên số lượng các vụ vi phạm được phát hiện trong thời gian qua chưa phản ánh đúng tình hình tực tế loại hình vi phạm nay. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

Vi phạm các quy định pháp luật về thuế: Năm 2012 cơ quan Hải quan đã phát hiện và xử lý 526 vụ chiếm 2% tổng số vụ vi phạm còn năm 2013 là 636 vụ chiếm 3% tổng số vụ vi phạm. Tuy tỉ lệ vi phạm ít nhưng đây là loại hình vi phạm khá phổ biến ở các nước đang phát triển đặc biệt ở Việt Nam. Đối tương khai hải quan lợi dụng quy định của pháp luật về thủ tục khai hải quan để khai sai mã hàng hóa hoặc khai mã dễ nhầm lẫn hoặc mã loại hàng khác; khai trị giá hải quan thấp hơn so với giá giao dịch thực tế; khai báo sai hoặc giả mạo xuất xứ để được hưởng ưu đãi về thuế hoặc né tránh việc áp dụng các biện pháp quản lý của cơ quan hải quan. Ngoài ra có thể khai cao hơn so với trị giá giao dịch để hưởng hoàn thuế cao hơn số thuế thực tế được hoàn trả hoặc nhận bồi hoàng về thuế với một lượng cao hơn khi xuất khẩu những hàng hóa có xuất xứ địa phương được hưởng việc bồi hoàn theo quy định của pháp luật hoặc để hợp thức trốn tránh các khoản thuế nội địa… Như đã phân tích ở trên khi xử lý nhóm hành vi này, cơ quan hải quan sẽ rất rẽ bị nhầm lẫn với hành vi vi phạm quy định về khai hải quan làm ảnh hưởng đến công tác xử phạt vi phạm hành chính cũng như truy thu tiền thuế phải nộp.

Bên cạnh các nhóm hành vi trên trong quá trình phát hiện và xử lý vi phạm cơ quan Hải quan còn phát hiện và xử lý một số vụ vi phạm khác mà những hành vi này mới xuất hiện chưa được pháp luật quy định cụ thể, nhóm những hành vi này chiếm khoản 7 % tổng số hành vi vi phạm. Ví dụ như những vi phạm liên quan đến lĩnh vực an ninh, vi phạm liên quan đến việc chấp hành các quy định của cơ quan Hải quan.

Như vậy hàng năm cơ quan Hải quan phát hiện, bắt giữ và xử lý một lượng lớn các vi phạm hành chính, số lượng vi phạm ngày càng tăng mặc dù hệ thống các văn bản quản lý được ban hành tương đối đầy đủ và các chế tài xử lý mang tính răn đe mạnh nhưng do lợi nhuận từ hoạt động xuất nhập khẩu mà các tổ chức cá nhân vẫn thường xuyên vi phạm. Việc xử lý vi phạm hành chính phải thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. Với khối lượng văn bản ban hành nhiều, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến chế độ, chính sách quản lý, chính sách thuế chưa kịp xây dựng, hoàn thiện đồng bộ đã dẫn đến nảy sinh bất cập, sơ hở thiếu sót gây khó khăn cho công tác quản lý. Trước bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về tài chính, tâm lý hám lợi…; đặc biệt cơ chế tạo thuận lợi trong hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh cũng trở thành cơ hội để doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật. Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan

One thought on “Luận văn: Thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan”

  1. Pingback: Luận văn: Vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464