Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của Thẩm phán và thực tiễn thi hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta từ 1945 đến nay
2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1980
Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời sau cách mạng tháng tám thành công, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật khi nhà nước non trẻ được hình thành cũng như để giữ vững ổn định trật tự xã hội, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật hình sự và tố tụng hình sự như: Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945 và sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 về thành lập các Tòa án quân sự; sắc lệnh ngày 10/10/1945 về tổ chức các đoàn luật sư…
Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng; địa vị pháp lý, các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, của người bào chữa và các chủ thể tham gia tố tụng khác; trình tự và thủ tục tiến hành điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Đặc biệt là sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách đầy đủ và tương đối hoàn chỉnh về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự. Những văn bản pháp luật này là một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp của nước ta với một nền tư pháp nhân dân của chế độ mới.
Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 đã quy định hệ thống Tòa án gồm: Tòa án sơ cấp, Tòa án đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm; Thẩm phán được chia làm hai ngạch: Thẩm phán sơ cấp làm việc ở Tòa sơ cấp, Thẩm phán đệ nhị cấp làm việc ở Tòa đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm. Các Thẩm phán đệ nhị cấp lại chia thành hai loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội. Thẩm phán xét xử có thể được chuyển sang làm Thẩm phán buộc tội và ngược lại. Theo Điều 27 Sắc lệnh 13 quy định Thẩm phán có quyền hạn rất lớn trong xét xử, mặc dù quy định khi xét xử phải có sự tham gia của phụ thẩm “khi xét xử ngoài Chánh án chủ tọa phiên toà còn có hai phụ thẩm” nhưng quyền hạn của Phụ thẩm còn hạn chế “khi Chánh án hỏi ý kiến của Phụ thẩm về tội trạng các phạm nhân và về hình phạt rồi tự mình quyết định”. Thẩm phán là người quyết định sau khi hỏi ý kiến của phụ thẩm. Ngoài ra, Chánh án còn có quyền tuyên phạt đối với hai phụ thẩm.
- Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 quy định: Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Sau khi nghe các bị can, người làm chứng, cáo trạng của ông biện lý và sau cùng nghe lời bàn cãi của các bị can, ông Chánh án, hai Thẩm phán và hai Phụ thẩm nhân dân lui vào phòng nghị án đề cùng xét xử về tất cả các vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trường hợp tăng tội, giảm tội [16, Điều 31].
- Nhưng tại Sắc lệnh 51/SL ngày 17/4/1946 quy định về quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán như sau:
Ông Chánh án chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ điều khiển cuộc thẩm vấn và bảo vệ trật tự phiên tòa; ông Chánh án nếu cần có thể mở phiên toà ngoài trụ sở của Tòa án, nơi cách xa tòa; mỗi khi tuyên án tử hình, Chánh án bắt buộc phải báo cho tội nhân biết rằng hắn có quyền xin ân giảm và hỏi hắn cố muốn đệ đơn xin không [16].
Về vai trò pháp lý của Thẩm phán trong thời kỳ đầu của Nhà nước ta là cơ sở ban đầu cho việc hoàn thiện hoạt động xét xử sau này.
Hiến pháp 1946 đã ghi nhận một số nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước ta, trong đó bao gồm cả các nguyên tắc của tố tụng hình sự, đó là: các phiên tòa đều phải công khai, trừ những trường hợp đặc biệt trong khi xét xử các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật; các cơ quan khác không được can thiệp. Như vậy Hiến pháp 1946 và Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 xác định Tòa án là cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, giữ một vị trí độc lập trong tổ chức bộ máy nhà nước, đến 1950 Sắc lệnh 85/SL được ban hành, quy định cơ cấu cơ quan Tòa án có sự thay đổi, phụ thẩm nhân dân đổi thành Hội thẩm nhân dân, trong xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.
Năm 1954, nước ta bước vào một giai đoạn mới cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược đó là xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam tiến tới thống nhất đất nước. Những thay đổi cơ bản của đất nước và xã hội đòi hỏi cần phải có các văn bản pháp luật mới để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh. Hiến pháp năm 1959 và các văn bản pháp luật khác trong đó có văn bản pháp luật tố tụng hình sự được ban hành trong thời gian này đã kịp thời đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội theo hướng dân chủ hoá các quy định để điều chỉnh các quan hệ trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngày 14/7/1960 Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức tòa án nhân dân và quy định phân cấp hệ thống Tòa án gồm có: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và trong trường hợp đặc biệt, Quốc hội thành lập các Tòa án đặc biệt. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Nhiệm vụ của công tác xét xử trong giai đoạn này là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, bảo vệ trật tự xã hội, tài sản công cộng và quyền lợi hợp pháp của nhân dân góp phần đảm bảo sự nghiệp đấu tranh giải phóng thống nhất đất nước. Song qua các văn bản pháp luật đó chúng ta cũng xác định được vai trò pháp lý của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng và được thể hiện ở những nguyên tắc tố tụng như: sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Tòa án trong đó Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân và khi tham gia xét xử ngang quyền với với nhau; Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Ngày 27/9/1974 Tòa án nhân dân Tối cao ban hành thông tư 16 – TATC ban hành kèm theo Bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về hình sự đã quy định rõ vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự như: tại phiên tòa sơ thẩm, chủ tọa phải kiểm tra căn cước của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có trách nhiệm bồi thường và những người có tài sản, quyền lợi liên quan đến việc phạm pháp; giải thích quyền và nghĩa vụ để những người tham gia tố tụng biết; giới thiệu thành viên Hội đồng xét xử, đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, người phiên dịch, thư ký phiên tòa; điều hành phần xét hỏi, tranh luận và giữ gìn trật tự phiên tòa; tại phần xét hỏi, chủ tọa hỏi trước, các Hội thẩm hỏi bổ sung; ở phần nghị án, Hội đồng xét xử cùng thảo luận và biểu quyết theo đa số; Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ tuyên đọc bản án. Quy định trên hầu như được giữ nguyên đến khi chúng ta ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và khẳng định Thẩm phán giữ vai trò, vị trí trung tâm trong hoạt động xét xử, Thẩm phán là người điều khiển phiên tòa với nhiều trọng trách vừa chứng minh tội phạm, vừa quyết định hình phạt, vừa đảm bảo phiên tòa diễn ra đúng luật định và Thẩm phán còn phải giúp Hội thẩm nắm được pháp luật, đường lối, chính sách, đồng thời phải tích cực phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân khi tham gia xét xử tại phiên tòa.
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992 Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Trong giai đoạn này Hiến pháp năm 1980 đã được Quốc hội Khóa VI thông qua ngày 18/12/1980, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 thông qua ngày 03/7/1981, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thông qua ngày 28/6/1988. Những văn bản pháp luật trên đã cụ thể hoá các quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án bằng cách quy định một cách hệ thống các vấn đề cơ bản của tố tụng hình sự, trong đó có hoạt động của Thẩm phán.
Một số nguyên tắc của tố tụng hình sự được quy định trong Bộ luật liên quan trực tiếp tới hoạt động của Thẩm phán, đó là: nguyên tắc Tòa án xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết định theo đa số; chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia; khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 quy định: ‘Trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” [34, Điều 1]. Như vậy, quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong giai đoạn này đã được mở rộng, cụ thể hơn, cao cả và nặng nề hơn [26, tr.84].
Quyền và nhiệm vụ của Thẩm phán theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 khi giải quyết một vụ án hình sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa và sau khi xét xử như sau:
- Một là: Nghiên cứu hồ sơ để xem xét những vấn đề cần chứng minh trong vụ án, việc định tội danh có đúng hay không.
- Hai là: Tiến hành những việc khác để mở phiên tòa như triệu tập người tham gia phiên tòa, trích xuất bị cáo đang bị tạm giam…
- Ba là: Giải quyết khiếu nại và yêu cầu của người tham gia tố tụng.
Và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán phải ra một trong số các quyết định sau:
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử;
- Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
- Quyết định tạm đình chỉ vụ án;
- Quyết định đình chỉ vụ án.
Trước đây theo Hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về trình tự sơ thẩm hình sự theo Thông tư số 16 ngày 27/9/1974 thì trong những trường hợp cần yêu cầu điều tra bổ sung hoặc cần thay đổi biện pháp ngăn chặn, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ tố tụng thì Tòa án phải họp trù bị với Viện Kiểm sát rồi mới ra quyết định. Nhưng Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 không quy định họp trù bị là một thủ tục bắt buộc cho nên đây chỉ là việc phối kết hợp giữa các cơ quan tố tụng mà thôi.
Thông tư liên ngành số 01-TT/LN ngày 08/12/1988 giữa Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 thì những trường hợp cần trao đổi là: Khi Tòa án thấy cần trả hồ sơ để Viện Kiểm sát điều tra bổ sung, đổi tội danh nặng hơn hoặc áp dụng khung hình phạt nặng hơn; khi Tòa án thấy cần đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; khi cần nhập hoặc tách vụ án; khi cần chuyển vụ án cho Tòa án khác giải quyết; khi chuẩn bị xét xử vụ án điểm hoặc vụ án phức tạp và những trường hợp cần thiết khác. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
So với quy định của các văn bản pháp luật trong giai đoạn 1945 – 1980 thì sự độc lập trong việc giải quyết vụ án hình sự trong quá trình tố tụng trong giai đoạn này đã có những quy định cụ thể hơn,chặt chẽ hơn. Trong giai đoạn này, các quy định về trình tự tố tụng xét xử tại phiên tòa không có nhiều thay đổi so với Bản hướng dẫn năm 1974; Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định “Chủ tọa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa” [35, Điều 181, Khoản 2]. Thực tế cho thấy, trong giai đoạn kỳ này thì vai trò của Thẩm phán và hội đồng xét xử rất quan trọng, tại phiên tòa Thẩm phán nhân danh công lý, nhân danh Nhà nước vừa là người làm sáng tỏ bản chất vụ án, vừa là người buộc tội vừa là người gỡ tội, còn vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa thị mờ nhạt.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 quy định khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 17); Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 18); việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự (Điều 19); Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 159); đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân (Điều 160). Như vậy, pháp luật đã giành cho Thẩm phán những quyền năng pháp lý đặc biệt đồng thời cũng là những trách nhiệm nặng nề trước pháp luật. Ngoài ra, pháp luật tố tụng hình sự còn quy định các điều kiện bảo đảm cho Thẩm phán có thể hoàn thành được vai trò và chức năng pháp lý của mình trong hoạt động tố tụng hình sự của mình.
Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ của Tòa án trong tố tụng hình sự, có thể thấy rằng ngoài nhiệm vụ xét xử Thẩm phán còn có nhiệm vụ làm sáng tỏ bản chất vụ án, vừa là người buộc tội vừa là người gỡ tội. Như vậy, khẳng định rằng vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng được pháp luật trao rất nhiều quyền. Về hạn chế, đôi khi Thẩm phán lại làm thay công việc của Kiểm sát viên tại phiên tòa, do vậy mục tiêu vô tư khách quan của Thẩm phán tại phiên toà bị ảnh hưởng vì làm mất sự cân bằng giữa bên buộc tội và bên bào chữa.
2.1.3. Giai đoạn từ năm 2002 đến nay Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Qua thực tiễn tổ chức thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đến năm 2002 cho thấy nhiều quy định của Luật cần được nghiên cứu, sửa đổi để tạo cơ sở pháp lý cho việc hoàn thiện tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân, nhằm đảm bảo cho Tòa án nhân dân thực hiện tốt chức năng của mình. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước đã xây dựng những định hướng lớn về đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân, ngày 02/4/2002 Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 và trên cơ sở Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đây được coi là bước cải cách tư pháp lớn đối với ngành Tòa án nhân dân đó là việc thay đổi cách quản lý các Tòa án nhân dân địa phương và các Tòa án quân sự về tổ chức từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp sang Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quản lý có sự phối hợp chặt chẽ với Hội đồng nhân dân địa phương và Bộ Quốc phòng.
Trong giai đoạn này thì việc cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu và tạo cơ sở vững chắc cho công cuộc cải cách tư pháp thì các văn bản pháp luật được ban hành từng bước và có lộ trình thực hiện nhất định như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự ở giai đoạn này đã đạt được những thành công nhất định. Thẩm phán trong hoạt động xét xử đáp ứng được nhu cầu đề ra và đã xây dựng được hình ảnh về đội ngũ cán bộ nhà nước nói chung và cán bộ tư pháp nói riêng trong sạch, liêm khiết, tận tâm với nghề được quần chúng nhân dân tin yêu.
2.2. Vai trò của Thẩm phán trong thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
2.2.1. Vai trò của Thẩm phán trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật luật tố tụng hình sự
Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam đã có nhiều sửa đổi và bổ sung nhưng vẫn còn một số ít những quy định chưa phù hợp với tình hình thực tế, do đó ít nhiều gây khó khăn cho các Thẩm phán trong thực tiễn áp dụng. Mặt khác, việc áp dụng pháp luật của một số ít Thẩm phán còn chưa triệt để, dẫn tới hoạt động xét xử còn có nhiều hạn chế. Về phần này, tác giả không đề cập tới những kết quả đã đạt được mà chỉ nêu ra một số vấn đề cần quan tâm trong việc thực hiện vai trò của Thẩm phán trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
- Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử:
Chuẩn bị xét xử vụ án hình sự nhằm đưa ra phiên tòa những việc chưa được điều tra hoặc không được khởi tố vụ án hình sự. Chuẩn bị xét xử được bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng của Viện Kiểm sát chuyển sang. Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Khoản 1 Điều 45 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) quy định nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán như sau:
- Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
- Tham gia xét xử các vụ án hình sự;
- Tiến hành các hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử;
- Tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án;
Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại khoản 1 Điều 39, thì tại Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (khoản 2 Điều 45 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) Thẩm phán còn có những nhiệm vụ quyền hạn sau: Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
- Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
- Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;
- Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa; đ) Tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án;
- Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình [35, Điều 45, Khoản 2].
Khoản 1 Điều 176 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 277 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) quy định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa phải tiến hành những công việc sau:
- Nghiên cứu hồ sơ vụ án để Thẩm phán nắm vững nội dung vụ án để từ đó có hướng giải quyết vụ án đúng đắn, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Nghiên cứu để ra một trong các quyết định trong giai đoạn này theo quy định của pháp luật.
- Lập kế hoạch xét hỏi cũng như dự kiến các tình huống xảy ra tại phiên tòa và hướng giải quyết [35, Điều 277].
Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử này và thực tiễn áp dụng cho thấy hoạt động của các Thẩm phán vẫn còn mắc phải sai sót, hạn chế như: Việc nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán chưa kỹ mà đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, sau đó phải ra quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung với những lý do chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật; không yêu cầu điều tra bổ sung trong trường hợp cần thiết phải điều tra bổ sung và quyết định hoãn phiên toà không đúng quy định; trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo khoản có tình tiết nặng hơn trong cùng một điều luật không thuộc trường hợp trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 298 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) thì ‘Tòa án có quyền xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật” [35].
Khoản 2, điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Khoản 2 Điều 174 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) “Tòa án chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần” [35]. Theo kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1993:
Khi trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung, Tòa án cần nêu đầy đủ những vấn đề cần được điều tra bổ sung. Nếu Viện kiểm sát trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án không nêu rõ lý do của việc không điều tra bổ sung hoặc nêu không đầy đủ lý do của việc không điều tra một số vấn đề nào đó mà Tòa án đã nêu ra, thì Tòa án có quyền trả lại hồ sơ một lần nữa để yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung [14]. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Từ hướng dẫn này cho thấy Tòa án chỉ được trả hồ sơ đến lần thứ hai trong trường hợp những vấn đề nêu trong lần trả hồ sơ lần thứ nhất không được Viện Kiểm sát đáp ứng mà không có lý do, không thể trả hồ sơ mà mỗi lần trả có yêu cầu điều tra bổ sung khác nhau hoặc trong trường hợp khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự Thẩm phán không phát hiện ra những vi phạm trong quá trình điều tra vụ án của cơ quan điều tra dẫn đến vụ án bị huỷ, ở đây trách nhiệm chính thuộc về Thẩm phán và rõ ràng từ khi nhận hồ sơ và quá trình nghiên cứu của Thẩm phán vẫn chưa coi trọng phần tố tụng mà chủ yếu tập trung phần nội dung và hướng giải quyết vụ án.
- Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong phiên toà hình sự:
Dù ở cấp xét xử nào hay thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì sự tham gia của Thẩm phán trong Hội đồng xét xử luôn là điều bắt buộc, đây vừa là quyền nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ của người Thẩm phán.
Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 301 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) quy định tại phiên tòa khi xét xử phải bảo đảm việc xét xử công khai, trực tiếp, bằng lời nói và thực hiện việc tranh tụng tại phiên tòa Trong quá trình xét xử, Thẩm phán làm nhiệm vụ Chủ tọa phiên tòa điều khiển và giữ kỷ luật tại phiên tòa, khi bắt đầu phiên tòa chủ toạ đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải đọc một cách rõ ràng và chính xác, dõng dạc thể hiện được tính uy nghiêm nơi xét xử làm cho bị cáo và những người dự phiên tòa thấy được tính chất nghiêm trọng của vụ án. Nhưng trong thực tiễn ở một số tòa án địa phương cấp huyện, do khối lượng thụ lý các vụ án hình sự nhiều, mỗi lần mở phiên tòa, Tòa án thường xét xử nhiều vụ án, do vậy nhiều Thẩm phán thường đọc tất cả các quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng một lúc là không đúng với quy định của pháp luật. Trong trường hợp có nhiều vụ án cùng xử trong một phiên tòa, thì khi xét xử xong vụ thứ nhất, Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa mới được quyền đọc quyết định đưa vụ án thứ hai ra xét xử. Cũng trong phần khai mạc, Chủ tọa phiên tòa tiến hành kiểm tra căn cước của bị cáo, những người được triệu tập tới phiên tòa và giải thích quyền và nghĩa vụ của họ. Nhưng thực tế hiện nay, do khối lượng nhiều, cộng với áp lực công việc mà Thẩm phán đang đảm nhận thì việc kiểm tra căn cước chỉ mang tính chất hình thức qua loa. Ví dụ khi kiểm tra căn cước của bị cáo Chủ toạ phiên tòa chỉ hỏi rõ họ, tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú, trình độ văn hóa, họ tên cha mẹ, đã có tiền án tiền sự hay chưa…? công việc này chỉ dừng lại ở việc hỏi và đáp, ngoài ra không hề có bất kỳ biện pháp đối chiếu, so sánh về căn cước của những người được kiểm tra vì vậy không thể tránh được những thiếu sót.
Tại điểm 1.3 mục mục 1 phần III của Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau: Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người được triệu tập đến phiên tòa, chủ tọa phải giải thích đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ quy định tại điều luật tương ứng của Bộ luật tố tụng hình sự, ví dụ: Đối với bị cáo phải giải thích đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ quy định tại Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời cần công bố thêm quy định tại Điều 188 Bộ luật tố tụng hình sự cho bị cáo biết; đối với người bị hại phải giải thích đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự… [35].
Tuy nhiên tại các phiên tòa, một số ít Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa thường không thực hiện đúng các quy định này, việc giải thích và phổ biến quyền và nghĩa vụ của những người được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa được tiến hành rất sơ sài, qua loa và không phổ biến đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã được ghi nhận trong các điều luật tương ứng. Ngay trong giáo trình về kỹ năng xét xử các vụ án hình sự để đào tạo nghiệp vụ xét xử cho Thẩm phán tại Học viện tư pháp, cũng đưa ra cách thức khác nhau.
Ví dụ: khi hướng dẫn về kỹ năng giải thích quyền và nghĩa vụ của bị cáo, giáo trình có liệt kê bị cáo có 10 quyền trong đó có quyền “sau phiên tòa, được đề nghị xem biên bản phiên tòa” [20, tr.280-281] mà những quy định này không được ghi nhận tại điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự, hay trong giáo trình cũng không hề nhắc tới việc phổ biến Điều 188 Bộ luật tố tụng hình sự theo như hướng dẫn trong Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Về nghĩa vụ, Điều 50 (Điều 61 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định “Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã” [35]. Không hề có quy định bị cáo phải chấp hành nội quy phiên tòa như trong giáo trình đào tạo Thẩm phán hướng dẫn khi phổ biến nghĩa vụ cho bị cáo, đối với những người tham gia tố tụng khác cũng tương tự như vậy, dẫn đến việc áp dụng không đồng bộ, thống nhất giữa các Thẩm phán hiện nay trong quá trình xét xử các vụ án hình sự.
- Việc xét xử phải đảm bảo sự có mặt của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa bao gồm: Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định, trừ trường hợp pháp luật quy định được vắng mặt. Trong trường hợp những người này vắng mặt tuỳ từng trường hợp mà Tòa án phải hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử bình thường, nhưng phải đảm bảo sự thật khách quan của vụ án, tránh những sai sót, thiếu căn cứ pháp lý dẫn đến kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
- Việc xét hỏi tại phiên tòa (Điều 307 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015): Sau khi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung nếu có. Hội đồng xét xử đặc biệt là Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý. Căn cứ vào kế hoạch xét hỏi đã được chuẩn bị từ trước, việc xét hỏi được tiến hành theo trình tự Chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó đến các Hội thẩm nhân dân, tiếp đến là Kiểm sát viên, người làm chứng, người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm những tình tiết để làm sáng tỏ vụ án, các câu hỏi được đạt ra phải rõ ràng, dễ hiểu, không được dùng các lời nói xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người được xét hỏi, đồng thời phải đặt ra nhiều loại câu hỏi khác nhau, hỏi thẳng vào vấn đề hướng bị cáo và những người được hỏi tập trung làm sáng tỏ vấn đề còn mâu thuẫn trong vụ án
Nhìn chung các Thẩm phán đã thực hiện tốt kỹ năng, trình tự việc xét hỏi và trình tự xét hỏi. Có trường hợp Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo trước rồi hỏi người bị hại hay người làm chứng sau hoặc ngược lại và đôi khi cũng có Thẩm phán khi vào phần bắt đầu thẩm vấn từ bị cáo đầu vụ với vai trò phạm tội chính, nhưng cũng có khi lại xét hỏi từ những bị cáo đồng phạm trước. Việc áp dụng phương pháp xét hỏi nào phụ thuộc vào hồ sơ vụ án cũng như kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp của người Thẩm phán nhưng kết quả vẫn đảm bảo vụ án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khách quan và có tính thuyết phục cao. Tuy nhiên, hiện nay một số phiên tòa vẫn còn có những hạn chế do thói quen trước đây của Thẩm phán theo kiểu tố tụng lối mòn cũ, Thẩm phán do nghiên cứu hồ sơ từ trước do vậy cách hỏi đôi khi còn nghiêng về việc buộc tội theo cáo trạng, chưa làm rõ các tình tiết gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thẩm phán thường lấn sân của Kiểm sát viên, do vai trò của Kiểm sát viên tại phiên toà chưa cao, nhiều khi Thẩm phán làm thay cả công việc buộc tội của công tố viên, các câu hỏi của Thẩm phán còn dài dòng, thậm chí không đúng trọng tâm làm cho người được xét hỏi khó nắm bắt được vấn đề trọng tâm.
Khi xét hỏi Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa cần hạn chế tới mức tối thiểu việc đặt ra những câu hỏi yêu cầu người bị xét hỏi trả lời có hay không có hành vi phạm tội. Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa không được khẳng định công khai tại phiên tòa việc khai báo của những người được xét hỏi là đúng hay sai. Đặc biệt trong trường hợp lời khai của họ tại phiên tòa khác với lời khai tại cơ quan điều tra, việc khẳng định lời khai đúng hay sai, bị cáo có thành khẩn hay không thành khẩn khai báo hành vi phạm tội hoàn toàn phụ thuộc vào niềm tin nội tâm của Thẩm phán khi đánh giá chứng cứ trong vụ án.
Không phải trong trường hợp nào, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa hay thành viên trong Hội đồng xét xử cũng có quyền công bố lời khai tại cơ quan điều tra của họ, việc công bố lời khai tại phiên toà phải tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 208 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (Điều 308 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015), vì trong thực tế khi công bố lời khai tại cơ quan điều tra, các Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa thường quên không hỏi lý do tại sao lời khai tại phiên tòa lại khác với lời khai tại cơ quan điều tra. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Trong khi tiến hành việc xét hỏi tại phiên tòa, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử tránh việc đôi co với bị cáo trong trường hợp họ phản cung hoặc không nhận tội mà trong trường hợp này Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa phải hướng để cho đại diện Viện Kiểm sát thực hiện việc xét hỏi nhằm bảo vệ cáo trạng.
Một vấn đề cấp bách hiện nay là các cơ quan Tòa án địa phương do cơ sở vật chất chưa được trang bị đầy đủ nên trong những vụ án có nhiều đồng phạm, việc cách ly các bị cáo cũng như các nhân chứng, là rất khó thực hiện, điều này ít nhiều ảnh hưởng đến tính khách quan trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
Việc tranh luận tại phiên tòa (Điều 322 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015): Tranh luận tại phiên tòa là một trong những thủ tục quan trọng để xem xét đánh giá chứng cứ, tình tiết có liên quan đến vụ án một cách khách quan, toàn diện và tranh luận tại phiên tòa là một trong những bước tiến quan trọng để đưa tố tụng nước ta từ tố tụng xét hỏi sang tố tụng tranh tụng theo tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp.
Trong giai đoạn tranh luận, với vai trò là người tổ chức, điều hành, là người trọng tài của cuộc tranh luận công khai thì Hội đồng xét xử nói chung, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa nói riêng phải đảm bảo cuộc tranh luận không đi chệch hướng trọng tâm cần phải giải quyết vụ án, cũng không để cuộc tranh luận diễn ra tẻ nhạt hoặc quá căng thẳng đến mức các bên xúc phạm danh dự, uy tín của nhau tại phiên tòa.
Thực tiễn trong nhiều trường hợp những người tham gia tố tụng còn không nhận thức được tranh luận là gì và vai trò của tranh luận là như thế nào mà diễn biến phiên tòa thường tập trung vào phần xét hỏi. Việc tranh luận hiện nay vẫn diễn ra một cách hình thức để đảm bảo thủ tục tố tụng chứ chưa phải là tranh luận theo đúng nghĩa của nó, trong phần tranh luận đòi hỏi Hội đồng xét xử phải thực sự trở thành trọng tài khách quan, lắng nghe ý kiến của các bên để tìm ra sự thật của vụ án. Nhưng thực tế, do nhận thức pháp luật còn hạn chế các bên thường không tranh luận gì, do đó việc tranh luận tại các phiên tòa ở một số địa phương diễn ra rất nhanh chóng và không có gì khác so với phần xét hỏi.
Thủ tục nghị án và tuyên án (Điều 326, 327 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015): Việc nghị án và tuyên án là thủ tục cuối cùng trong phiên tòa sơ thẩm. Việc nghị án và tuyên án được thực hiện bởi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Thẩm phán biểu quyết sau cùng, người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
Trong phòng nghị án Chủ tọa phiên tòa nêu các vấn đề cần thảo luận và những quy định của pháp luật để Hội đồng xét xử thảo luận và biểu quyết (về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, những vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, yêu cầu cơ quan tổ chức áp dụng các biện pháp phòng ngừa). Qua việc nghị án nếu có những tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưa đầy đủ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại phần xét hỏi và tranh luận. Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa lập biên bản ghi các ý kiến đã thảo luận và Quyết định của Hội đồng xét xử, tất cả các vấn đề thảo luận và biểu quyết được coi là bí mật công tác. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Sau khi bản án được thông qua, khi tuyên án Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử nhưng thông thường Chủ tọa phiên tòa là người đọc bản án và sau đó giải thích việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo. Khi tuyên án phải thể hiện được tính uy nghiêm, mức độ quan trọng của vụ án.
- d) Một số quyết định khác của Hội đồng xét xử tại phiên toà:
Quyết định chấp nhận thay đổi hoặc không chấp nhận thay đổi những người tiến hành tố tụng: Theo quy định tại khoản 2 điều 199 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (Khoản 2 Điều 299 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) thì việc thay đổi này sẽ do Hội đồng xét xử quyết định bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản, trong trường hợp quyết định chấp nhận đề nghị thay đổi mà không có thành viên khác dự khuyết tham gia phiên tòa thì Hội đồng phải ra quyết định hoãn phiên tòa về vấn đề trên.
Quyết định Hoãn phiên tòa: Hoãn phiên tòa sơ thẩm hình sự là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên tòa sơ thẩm hình sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn khi có căn cứ theo Điều 194 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 297 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015).
Quyết định khởi tố vụ án: Khoản 1 Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Khoản 4 Điều 153 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) quy định ” Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mà cần phải điều tra” [35]. Theo nguyên tắc của luật tố tụng hình sự hiện nay chúng ta chỉ có hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm và tái thẩm không có quyền khỏi tố vụ án và trong trường hợp này nếu qua việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm thẩm mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mà cần phải điều tra thì Hội đồng xét xử có quyền tiến hành khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp khi phát hiện ra hành vi tội phạm mới tại phiên tòa, không phải trường hợp nào Hội đồng xét xử cũng ra quyết định khởi tố vụ án, đối với những trường hợp tội phạm mới đó có liên quan trực tiếp tới vụ án đang xét xử thì thông thường Hội đồng xét xử trả hồ sơ để Viện Kiểm sát điều tra bổ sung theo điều 199 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 299 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) và chỉ khi đó là những hành vi tội phạm mới không liên quan đến vụ án đang giải quyết thì Hội đồng xét xử mới ra quyết định khởi tố vụ án “tội phạm mới tại phiên tòa được hiểu là hành vì phạm tội từ trước đến thời điểm xét xử đều chưa bị phát hiện [20, tr.581]. Hội đồng xét xử chỉ có quyền khởi tố vụ án chứ không có quyền khởi tố bị can. Đối với những hành vi của bị can mà đã được các cơ quan điều tra, truy tố, đình chỉ mà tại phiên tòa có dấu hiệu của tội phạm thì Hội đồng xét xử không được ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại khoản 4 điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Khoản 4 Điều 157 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) “người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật” [35] hoặc Hội đồng xét xử chỉ được khởi tố vụ án tại phiên toà là khi phát hiện người phạm tội mới tại phiên tòa. Tuy nhiên, đối với những trường hợp này Hội đồng xét xử thường ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Về việc ra bản án: Mục IV, Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn các mẫu văn bản tố tụng trong đó mẫu bản án hình sự, trong quá trình áp dụng và thực hiện, hầu hết các Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của nội dung này. Tuy nhiên qua nghiên cứu các bản án hình sự ở một số tòa án địa phương vẫn còn có những sai sót về hình thức, thể thức trình bày. Một số ý kiến của các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật có ý kiến cho rằng do công nghệ thông tin phát triển hơn nữa để tiết kiệm thời gian, nên quy định bản án chính không cần viết tay, mà các Thẩm phán có thể đánh máy vì hiện nay công nghệ thông tin đã được phổ biến, áp dụng rộng rãi trong các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương. Đối với ngành Tòa án địa phương hầu hết được nhà nước trang bị máy vi tính để làm việc, mặt khác chúng ta đang muốn nâng cao tính dân chủ trong công tác xét xử, công khai hóa các bản án, việc Thẩm phán viết bản án thông qua máy vi tính sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và làm tăng tính hiệu quả của công việc. Mặt khác, bản án sẽ bổ sung kịp thời được những tình tiết phát sinh tại phiên tòa từ đó bản án có tính thuyết phục cao, còn để đảm bảo tính chính xác thì khi ban hành bản án Thẩm phán phải có trách nhiệm rà soát lại bản án trước khi ký ban hành.
2.2.2. Vai trò của Thẩm phán trong việc thực hiện các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự
- Nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Đây là nguyên tắc Hiến định được quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Điều 16 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 23 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015). Nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật hầu như được các quốc gia khác thực hiện và áp dụng. Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân thì nguyên tắc trên càng đòi hỏi phải tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Tòa án độc lập như thế nào thì tại Hiến pháp năm 2013 quy định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” [33, Điều 2, Khoản 3] và theo đó Tòa án phải báo cáo công tác và chịu sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân địa phương thì tính độc của Tòa án rõ ràng bị hạn chế, kèm theo đó là tính độc lập của Thẩm phán.
Bên cạnh việc phải chịu giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân địa phương thì Tòa án phải chịu sự giám sát lãnh đạo của Đảng. Đây là một yếu tố khách quan và Đảng ta là Đảng cầm quyền hoạch định cho đường lối phát triển của đất nước và nắm hoạt động của bộ máy nhà nước, tất nhiên Tòa án không nằm ngoài số đó.
Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua đường lối chính trị và giới thiệu đảng viên tham gia vào các chức danh của Nhà nước, chính vì điều này ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán khi xét xử, hoạt động của Tòa án phải thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc. Nhưng để tạo ra một cơ chế độc lập cho Thẩm phán trong mối liên hệ với tổ chức Đảng là điều cần thiết và mặc dù cấp ủy Đảng không can thiệp trực tiếp vào việc giải quyết vụ án cụ thể nhưng tùy thuộc vào yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương trong từng giai đoạn mà cấp ủy đòi hỏi việc xét xử các vụ án hình sự theo hướng nghiêm khắc hơn đối với một số tội phạm cụ thể. Thực tế hiện nay phải thừa nhận rằng còn đâu đó ở một số địa phương còn xảy ra tình trạng Cấp uỷ Đảng và Tòa án cấp trên trực tiếp chỉ đạo một số vụ án cụ thể và như vậy sự độc lập của Thẩm phán sẽ bị chi phối, ảnh hưởng đến hoạt động chuyên môn. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xét xử còn thể hiện qua khâu tổ chức cán bộ, các Thẩm phán bổ nhiệm mới hay tái bổ nhiệm đều phải có ý kiến thảo thuận của Ban Thường vụ cấp uỷ cùng cấp cho nên họ có thái độ rất thận trọng trong việc giữ mối quan hệ với Cấp ủy Đảng điều đó ảnh hưởng rất lớn đến tính độc lập của Thẩm phán cho nên trong quá trình hoạt động xét xử của mình Thẩm phán cũng cần xây dựng những mối quan hệ hài hòa để tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan, cá nhân và tổ chức.
Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” [36, Điều 9]. Trong thực tiễn xét xử đã có rất nhiều Thẩm phán đã thực hiện tốt nguyên tắc này, mặc dù trong Hội đồng xét xử thì số lượng Hội thẩm nhân dân luôn chiếm đa số nhưng không phải vì thế mà mất đi tính độc lập của Thẩm phán, với trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trong mọi tình huống cụ thể Thẩm phán luôn giữ vai trò chủ động để có thể vận dụng pháp luật để đưa ra những ý kiến đúng đắn của mình.
Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật còn được hiểu pháp luật quy định như thế nào thì Thẩm phán phải thực hiện đúng như vậy. Các cấp Tòa án hiện nay vẫn còn tồn tại việc duyệt án hay thỉnh thị án, xét về bản chất đây là việc làm cần thiết để lãnh đạo Tòa án nắm bắt được nội dung vụ án để có thể điều hành hoạt động xét xử cũng như giúp cho Thẩm phán báo cáo quan điểm xử lý vụ án trước người có trách nhiệm và rà soát lại quan điểm bằng ý kiến tập thể để tránh những thiếu sót không đáng có. Việc duyệt án trước khi xét xử đương nhiên và bắt buộc tại các Tòa án, nhiều Thẩm phán cho rằng việc duyệt án xong coi như vụ án đã được xử xong, lại có trường hợp thông qua việc duyệt án thì Chánh án mà áp đặt quan điểm bắt buộc Thẩm phán phải trung thành với quan điểm đó. Về việc thỉnh thị án ở bất kỳ giai đoạn nào vẫn là điều cần thiết, vì Tòa án cấp trên ngoài việc giám đốc xét xử Tòa án cấp dưới còn có chức năng hướng dẫn và bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất trong ngành và địa phương mình. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Hàng năm Ngành Tòa án vẫn duy trì công tác rút kinh nghiệm đối với các bản án bị cải, sửa, huỷ thông qua công tác giám đốc án, để đánh giá những bài học kinh nghiệp, và đề ra những định hướng xét xử đúng đắn và đảm bảo thống nhất chung trong phạm vi toàn quốc. Ngành Tòa án không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình nếu không có sự phối hợp với các cơ quan chuyên môn khác, sự phối hợp này thể hiện khi các cơ quan cùng họp bàn và đề ra những giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc mà các Tòa án gặp phải trong quá trình xét xử.
Hoạt động xét xử của Tòa án luôn mang tính chất tập thể. Ở một số địa phương nhất là các tỉnh miền núi nhận thức hiểu biết pháp luật của các Hội thẩm nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc đặt ra, hầu hết các Hội thẩm nhân dân làm công tác kiêm nhiệm, chưa được trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản về pháp luật mà chỉ sau khi được bầu họ mới được tập huấn trong một thời gian ngắn và hơn nữa do yêu cầu của công việc chuyên môn các Hội thẩm nhân dân không có điều kiện cập nhật kiến thức pháp lý là điều thực tế đang diễn ra hiện nay. Nên việc tham gia Hội đồng xét xử và đưa ra phán quyết đối với các Hội thẩm nhân dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sống chứ chưa hoàn toàn dựa trên các quy định của pháp luật phần nào ảnh hưởng đến tính độc lập xét xử của các Hội thẩm nhân dân. Chế độ đãi ngộ đối với Hội thẩm nhân dân chưa thoả đáng cũng ảnh hưởng đến sự nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân khi tham gia hoạt động xét xử.
Khoản 3 Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Khoản 2 Điều 326 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) quy định “Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa….” [35], Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Quá trình nghiên cứu hồ sơ và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có trong hồ sơ và chứng cứ tại phiên tòa. Bản án của Tòa án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa.
Nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân còn bị rằng buộc bởi mối quan hệ giữa họ với những người tham gia tố tụng khác, các mối quan hệ khác… ít nhiều cũng ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả xét xử làm cho Thẩm phán trong một số ít trường hợp không tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật và đây chính là những quy định đã làm hạn chế tính độc lập và tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không có nghĩa là Thẩm phán và Hội thẩm xét xử tùy tiện mà độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải dựa vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án, chứ không được áp đặt ý chí chủ quan của mình. Điều này đòi hỏi có tính chất bắt buộc đối với Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ và ràng buộc với nhau. Độc lập là điều cần cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử còn tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập khi xét xử. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến xét xử tùy tiện. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
- Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, quyết định theo đa số và nguyên tắc khi xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia
Nguyên tắc trên được quy định tại khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 8, 10 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; Điều 15, 17 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 22, 24 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015).
Nguyên tắc xét xử tập thể đòi hỏi trong thực tiễn không bao giờ có vi phạm, nhưng nguyên tắc quyết định theo đa số còn nhiều vấn đề bất cập. Hội thẩm nhân dân khi tham gia xét xử do nhận thức hay do bị tác động mà biểu quyết không đúng vấn đề nội dung pháp luật quy định, trong khi đó Hội thẩm nhân dân chiếm đa số nên bản án được tuyên theo hướng đa số. Cũng có trường hợp Thẩm phán cũng muốn áp dụng tội danh hay hình phạt nhẹ hơn nhưng lại thuyết phục Hội thẩm biểu quyết đa số theo hướng đó, còn bản thân Thẩm phán thì biểu quyết ngược lại.
Tuyên án theo đa số là cơ chế đương nhiên của việc xét xử tập thể. Nguyên tắc xét xử tập, quyết định theo đa số ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động nghiệp vụ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đặc biệt trong việc nghị án. Nhưng trong thực tế qua nghiên cứu biên bản nghị án trong các hồ sơ hình sự đã xét xử ở một số tòa án địa phương, có thể nhận thấy tại các biên bản này chỉ ghi rất đơn giản và chú trọng tới vấn đề tội danh và hình phạt, còn các nội dung như án phí hay xử lý vật chứng thường bị bỏ sót. Điều 222 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 326 Bộ Luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015) quy định “Chỉ có Thẩm phán và hội thẩm có quyền nghị án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một..” [35] quy định là như vậy nhưng trên thực tế đa số các biên bản nghị án không ghi ý kiến thảo luận của Hội đồng xét xử mà chỉ ghi “Sau khi thảo luận Hội đồng xét xử nhất trí…”. Như vậy, việc tiến hành nghị án của Hội đồng xét xử được thể hiện qua biên bản nghị án còn nhiều thiếu sót, tất cả những thiếu sót này trong công tác áp dụng pháp luật là những việc mà bản thân mỗi Thẩm phán cũng như các thành viên trong Hội đồng xét xử nên thay đổi để việc áp dụng pháp luật được chính xác. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Việc thực hiện và áp dụng nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm ngang quyền với nhau trong xét xử, nhưng trên thực tế việc ngang quyền chưa thể hiện đúng bản chất của nó. Hiện nay, do trình độ nhận thức pháp luật của Hội thẩm chưa cao (Hội thẩm còn làm công tác kiêm nhiệm) và hơn nữa trong mọi trường hợp thì trình độ chuyên môn xét xử của các Hội thẩm nhân dân chưa thể tương xứng với trình độ xét xử của Thẩm phán, trong một vụ án hình sự, khi nhận được hồ sơ, Thẩm phán có ít thời gian để nghiên cứu hồ sơ, có nhiều trường hợp các Hội thẩm nhân dân không hề đọc hồ sơ, chỉ xem qua cáo trạng để tham gia xét xử hay nếu có thì chỉ nghiên cứu sơ sài hoặc đọc một vài lời khai có trong hồ sơ vụ án. Việc nghiên cứu hồ sơ của các Hội thẩm nhân dân pháp luật chưa quy định là bắt buộc, nên công việc này hoàn toàn phụ thuộc vào trách nhiệm và sự nhiệt tình của các Hội thẩm nhân dân. Mặt khác, chế độ chịu trách nhiệm trong trường hợp án bị cải, sửa, huỷ đối với hội thẩm là không có mà trách nhiệm xét xử trong những vụ án hình sự vẫn đặt lên vai của Thẩm phán và tương ứng với trách nhiệm đó là quyền của Thẩm phán, như vậy có thể hiểu rằng đương nhiên các Hội thẩm nhân dân lại trao quyền lực của mình cho Thẩm phán và đồng nghĩa các ý kiến của Thẩm phán thường được các Hội thẩm nhân dân đồng ý, nhất trí. Một suy nghĩ lối mòn, duy ý trí các Hội thẩm nhân dân cho rằng về nghiệp vụ chuyên môn xét xử họ không bằng được Thẩm phán, cũng như về thời gian để nghiên cứu hồ sơ chưa kỹ bằng Thẩm phán, nếu trong hoạt động xét xử có sai sót gì thì Thẩm phán mới là người chịu trách nhiệm còn các Hội thẩm nhân dân không phải chịu trách nhiệm gì. Do đó, có người nói Hội thẩm là những người “nghị gật”, Thẩm phán đưa ra ý kiến như thế nào cũng nghe, và không có lập trường chứng kiến riêng của mình.
Tất cả những vấn đề hạn chế của các Hội thẩm nhân dân đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguyên tắc ngang quyền cũng như nguyên tắc độc lập trong xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
Đánh giá về sự đóng góp của Hội thẩm cho hoạt động xét xử: trong số 280 người được hỏi thì 64 ý kiến cho rằng Hội thẩm tham gia có hiệu quả vào xét xử; 142 ý kiến cho rằng họ không đóng góp gì nhiều do hạn chế về kiến thức chuyên môn; 104 ý kiến cho rằng Hội thẩm hầu như không có ý kiến nào độc lập, do vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng xét xử [8, tr.173].
Ngành Tòa án hiện nay đang rất chú trọng tới việc nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm, kỹ năng thực hành xét xử cho các Hội thẩm nhân dân. Nhưng để đảm bảo thực hiện đầy đủ đúng bản chất các nguyên tắc trên trong hoạt động tố tụng hình sự là vấn đề cần phải có lộ trình và thời gian để chúng ta có đội ngũ các Hội thẩm nhân dân có kiến thức pháp luật vững vàng, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ khi tham gia xét xử các vụ án hình sự.
2.2.3. Vai trò của Thẩm phán với việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
- Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 12/03/2014 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định:
Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp; từng bước xã hội hóa một số hoạt động tư pháp và tăng quyền hạn, trách nhiệm tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán để họ chủ động thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trong hoạt động tố tụng, hoàn thiện việc tăng thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện…, từng bước đổi mới tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân các cấp [5].
Trên tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong giai đoạn hiện nay hệ thống các cơ quan Tòa án đã tổ chức được nhiều phiên tòa xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp, những phán quyết của Thẩm phán đã bảo đảm khách quan, nghiêm minh, đúng pháp luật, được dư luận xã hội đồng tình. Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa điều khiển phiên tòa đảm bảo nâng cao chất lượng việc tranh tụng dân chủ giữa Kiểm sát viên với Luật sư và những người tham gia tố tụng, dần từng bước khắc phục việc xét xử oan sai, bỏ lọt tội phạm; đảm bảo thời hạn xét xử theo luật định; tỷ lệ các bản án, quyết định của Tòa án bị cải, sửa, hủy đã giảm; việc kết án oan, sai cũng từng bước được hạn chế theo từng năm.
Về hình thức thực hiện: Trong quá trình xét xử Thẩm phán làm nhiệm vụ Chủ tọa phiên tòa, điều khiển và giữ kỷ luật tại phiên tòa. Khi bắt đầu phiên tòa, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử một cách rõ ràng, chính xác, dõng dạc thể hiện tính uy nghiêm của pháp luật. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Về thủ tục bắt đầu phiên tòa: Trình tự, thủ tục phiên toà bảo đảm sự trang nghiêm, đảm bảo để những người tham gia tố tụng thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đáp ứng và giải quyết những đề nghị của những người tham gia phiên tòa như: đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu mời Luật sư bào chữa, triệu tập thêm người làm chứng khi có căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Về kỹ năng xét hỏi và điều khiển quá trình xét hỏi: Xét hỏi tại phiên tòa là bước điều tra công khai, có sự tham gia của tất cả những người tham gia tố tụng nhằm kiểm tra các chứng cứ và làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án. Căn cứ vào kế hoạch xét hỏi đã được chuẩn bị, việc xét hỏi được tiến hành theo trình tự, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, người bào chữa… những người tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị với Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm những tình tiết cần làm sáng tỏ bản chất của vụ án. Việc xét hỏi của Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa đã bám sát quá trình diễn biến tại phiên toà, chủ động, kịp thời xử lý những tình huống phát sinh và tạo điều kiện cho bị cáo và những người tham gia tố tụng trong việc đưa ra các chứng cứ, tài liệu, yêu cầu nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, việc ép cung mớm cung và xét hỏi mang tính chất hình thức đã được dần khắc phục.
Về kỹ năng điều khiển tranh luận tại phiên tòa: Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, thì tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Chủ tọa phiên tòa vừa là người tiến hành tố tụng vừa là người điều khiển toàn bộ hoạt động tố tụng tại phiên tòa của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác. Với vai trò của người điều khiển phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải là người tổ chức, người chỉ huy cao nhất đối với mọi hoạt động tố tụng và hành vi tố tụng tại phòng xử án, đồng thời chịu trách nhiệm chính về những vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự quy định đối với Hội đồng xét xử.
Để tổ chức và điều khiển phiên tòa đạt kết quả, chủ tọa phiên tòa chỉ giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng cho những người tham gia tố tụng, tuyệt đối không được giải thích, bình luận, đánh giá hành vi phạm tội, các tình tiết là yếu tố định tội, yếu tố định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Không giải thích cho bị cáo nếu khai báo thành khẩn thì được giảm nhẹ hình phạt; không được nhận xét bị cáo ngoan cố; không được mạt sát hoặc có những lời lẽ có tính chất phê phán đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Tranh tụng tại phiên tòa chính là sự đối đáp giữa một bên buộc tội (Kiểm sát viên hoặc người bị hại) và một bên gỡ tội hoặc giữa hai bên có quyền và lợi ích đối lập nhau bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu bằng cách hỏi đáp và tranh luận. Nếu trong quá trình hỏi đáp, người hỏi và người đáp được đánh giá, bình luận, nhận xét nội dung câu hỏi cũng như nội dung câu trả lời, thì quá trình hỏi đáp cũng là quá trình tranh luận, người hỏi và người đáp nêu những quan điểm của người tham gia vào việc hỏi đáp về một vấn đề cụ thể, đồng ý hay phản đối ý kiến của người khác. Điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa là điều khiển quá trình này, mà chủ yếu là điều khiển việc đối đáp giữa Kiểm sát viên với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác hoặc giữa những người tham gia tố tụng có quyền, lợi ích đối lập nhau. Thẩm phán phải nắm chắc các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; đọc kỹ hồ sơ vụ án; dự kiến các tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa và chủ động tìm biện pháp giải quyết khi tình huống đó xảy ra. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Tranh luận tại phiên tòa là một trong những bước tiến quan trọng để đưa pháp luật tố tụng nước ta từ tố tụng xét hỏi sang tố tụng tranh tụng theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Việc nghị án và tuyên án: Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. Chỉ có Hội đồng xét xử, tức là chỉ có Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm nhân dân mới được nghị án, Kiểm sát viên và Thư ký không được tham gia vào việc quyết định của bản án. Trong phòng nghị án các vấn đề thảo luận được chia theo từng vấn đề một và mỗi vấn đề được giải quyết bằng cách biểu quyết theo đa số, khi nghị án Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được đảm bảo tính khách quan trong việc ra bản án, quyết định, mọi thành viên trong Hội đồng xét xử phải biểu quyết và Thẩm phán phải biểu quyết sau cùng. Tất cả vấn đề được thảo luận và biểu quyết được coi là bí mật công tác.
Sau khi bản án được thông qua, Hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Khi tuyên án Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa phải thể hiện được tính uy nghiêm, mức độ quan trọng của bản án.
- Với những kết quả đạt được trong thực tiễn xét xử, hoạt động xét xử của Thẩm phán còn một số hạn chế sau:
Một là: trên thực tế còn có nhiều Hội đồng xét xử, nhất là Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa vẫn điều hành phiên tòa chủ yếu theo cách thức thẩm vấn, xét hỏi thiên về buộc tội áp đặt trên cơ sở hồ sơ điều tra, truy tố đối với bị cáo. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại tòa chưa coi việc tranh luận là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình nên chỉ tranh luận chiếu lệ thậm chí không tranh luận và theo xu hướng giữ nguyên nội dung cáo trạng. Một số Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa còn bị động, lúng túng trong quá trình điều khiển phiên tòa nhất là các vụ án có nhiều Luật sư tham gia….
Hai là: việc Cơ quan điều tra ra kết luận điều tra và Viện Kiểm sát ra cáo trạng truy tố hồ sơ vụ án theo hướng buộc tội cũng đồng thời là hướng Tòa án phải theo trong khi tiến hành phiên tòa làm cho Tòa án có phần nào thiên về ý kiến của Viện Kiểm sát hơn là ý kiến của bên bị cáo. Do vậy, để thực hiện triệt để hơn nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa hướng trước mắt và lâu dài cần phải sửa đổi, bổ sung các quy định về tố tụng theo hướng trao nghĩa vụ chứng minh cho các bên tranh tụng chứ không phải cho cơ quan Tòa án. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Ba là: Kỹ năng và trình độ điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa của một số ít Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới; còn một bộ phận không nhỏ các Thẩm phán còn hạn chế về năng lực, chậm đổi mới về nhận thức, thậm chí một số Thẩm phán bản lĩnh chính trị không vững vàng, sa sút về phẩm chất đạo đức dẫn đến vi phạm pháp luật.
Bốn là: Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ định kỳ hàng năm cho đội ngũ cán bộ ngành Tòa án đã có chuyển biến về nội dung và chất lượng nhưng việc tiến hành còn chậm, không đồng bộ, hiệu quả, chất lượng chưa đạt yêu cầu đề ra.
Năm là: việc triển khai thực hiện nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của các cơ quan Tòa án, và Thẩm phán ở một số địa phương đôi khi còn mang tính hình thức, chưa thật sự bảo đảm các bản án, phán quyết của Tòa án được căn cứ vào kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên tòa.
Kết luận Chương 2 Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Qua phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vai trò của Thẩm phán và thực tiễn thi hành, có thể nói Thẩm phán có vai trò quyết định trong các vụ án hình sự, Thẩm phán là thành phần không thể thiếu trong bất kỳ một phiên tòa nào, Thẩm phán chuẩn bị cho phiên tòa xét xử, Thẩm phán là thành viên trong mỗi Hội đồng xét xử để quyết định một người có tội hay không có tội và quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Thẩm phán cũng tham gia là thành viên xem xét một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và Thẩm phán chính là nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng của việc xét xử, bảo đảm cho hoạt động xét xử của Tòa án đúng theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật thực định và nghiên cứu về thực trạng việc áp dụng các quy định pháp luật về vai trò của Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự. Thẩm phán với tư cách là nhân vật trung tâm trong hoạt động xét xử của Tòa án, Thẩm phán là người đại diện cho nền công lý nhà nước, nhân danh nhà nước, Thẩm phán phải có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình trong toàn bộ quá trình hoạt động tố tụng để đảm bảo cho các phán quyết của Thẩm phán được công minh, đúng pháp luật
Bên cạch những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập, những việc chưa đồng nhất với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì vai trò của người Thẩm phán trong hoạt động tố tụng hình sự phải có những thay đổi, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử các vụ án hình sự của các cơ quan Tòa án nói chung và Thẩm phải nói riêng trước yêu cầu cải cách tư pháp. Luận văn: Pháp luật Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự Việt Nam