Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trước bộ luật dân sự năm 2015
Như trên đã nói, phải đến khi bộ luật dân sự năm 2015 được ban hành, điều khoản về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản mới được công nhận một cách chính thức. Tuy nhiên, trước đó, tinh thần của điều khoản này chỉ được đề cập ở một số các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật đấu thầu, Luật Kinh doanh bảo hiểm.
- Thứ nhất, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi thể hiện trong Luật đấu thầu
Điều 57 Luật đấu thầu năm 2005 (hiệu lực từ 01/04/2006 – 01/07/2014) quy định:
Việc điều chỉnh hợp đồng chỉ áp dụng đối với hình thức hợp đồng theo đơn giá, hình thức hợp đồng theo thời gian và được thực hiện theo quy định sau đây:
- Trường hợp Nhà nước thay đổi chính sách về thuế, tiền lương ảnh hưởng trực tiếp đến giá hợp đồng thì được điều chỉnh theo các chính sách này kể từ thời điểm các chính sách này có hiệu lực;
- Trường hợp có khối lượng, số lượng tăng hoặc giảm trong quá trình thực hiện hợp đồng nhưng trong phạm vi của hồ sơ mời thầu và không do lỗi của nhà thầu gây ra thì việc tính giá trị tăng hoặc giảm phải căn cứ vào đơn giá của hợp đồng;
- Trường hợp giá nhiên liệu, vật tư, thiết bị nêu trong hợp đồng do Nhà nước kiểm soát có biến động lớn ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng thì phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Việc điều chỉnh hợp đồng chỉ áp dụng trong thời gian thực hiện hợp đồng theo hợp đồng đã ký và phải được người có thẩm quyền xem xét, quyết định. Giá hợp đồng sau điều chỉnh không được vượt dự toán, tổng dự toán hoặc giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được duyệt, trừ trường hợp được người có thẩm quyền cho phép.
Trường hợp có phát sinh hợp lý những công việc ngoài phạm vi hồ sơ mời thầu thì chủ đầu tư thoả thuận với nhà thầu đã ký hợp đồng để tính toán bổ sung các công việc phát sinh và báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trường hợp thoả thuận không thành thì nội dung công việc phát sinh đó hình thành một gói thầu mới và tiến hành lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật này.
Phần nào kế thừa quy định trên, Luật Đấu thầu năm 2013 (hiệu lực từ 01/07/2014) quy định về nguyên tắc điều chỉnh hợp đồng như sau:
- Việc điều chỉnh hợp đồng phải được quy định cụ thể trong văn bản hợp đồng, văn bản thỏa thuận về điều kiện của hợp đồng (nếu có).
- Việc điều chỉnh hợp đồng chỉ được áp dụng trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực.
- Việc điều chỉnh giá hợp đồng chỉ được áp dụng đối với hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh và hợp đồng theo thời
- Giá hợp đồng sau khi điều chỉnh phải bảo đảm không vượt giá gói thầu hoặc dự toán được phê duyệt. Trường hợp dự án, dự toán mua sắm gồm nhiều gói thầu, tổng giá hợp đồng sau khi điều chỉnh phải bảo đảm không vượt tổng mức đầu tư, dự toán mua sắm được phê duyệt.
- Đối với hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, việc điều chỉnh đơn giá được thực hiện từ thời điểm phát sinh yếu tố làm thay đổi giá và chỉ áp dụng đối với khối lượng được thực hiện theo đúng tiến độ ghi trong hợp đồng hoặc tiến độ được điều chỉnh theo quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều này.
- Tiến độ thực hiện hợp đồng chỉ được điều chỉnh trong trường hợp sau đây:
- Trường hợp bất khả kháng, không liên quan đến vi phạm hoặc sơ suất của các bên tham gia hợp đồng;
- Thay đổi phạm vi công việc, thiết kế, biện pháp thi công do yêu cầu khách quan làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hợp đồng; Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
- Việc bàn giao mặt bằng không đúng với các thỏa thuận trong hợp đồng ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hợp đồng mà không do lỗi của nhà thầu gây ra.
- Trường hợp điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng mà không làm kéo dài tiến độ hoàn thành dự án thì các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận, thống nhất việc điều chỉnh. Trường hợp điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng làm kéo dài tiến độ hoàn thành dự án thì phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Có thể nói, nhà làm luật đã khá tiến bộ khi đưa quy định điều chỉnh hợp đồng khi một số điều kiện thực hiện hợp đồng thay đổi, để hạn chế, phân chia rủi ro của các bên trong hợp đồng xây dựng, nhưng quy định này vẫn còn nhiều điểm hạn chế, bất cập, cụ thể:
- Một là về phạm vi áp dụng điều khoản
Dựa vào phương thức thanh toán mà hợp đồng xây dựng được phân loại thành bốn hình thức khác nhau: hình thức trọn gói, hình thức theo đơn giá, hình thức theo thời gian và hình thức theo tỷ lệ phần trăm (theo Luật Đấu thầu năm 2003) hoặc hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh và hợp đồng theo thời gian (theo Luật Đấu thầu năm 2013). Mặc dù hợp đồng được thỏa thuận theo hình thức nào, các bên cũng đều có khả năng phải chịu rủi ro do hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi nhưng trong Luật Đấu thầu năm 2003 cũng như Luật Đấu thầu năm 2013, việc điều chỉnh hợp đồng đều không được áp dụng đối với hợp đồng theo hình thức trọn gói.
- Hai là về điều kiện, hoàn cảnh các bên được điều chỉnh hợp đồng
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 57 Luật Đấu thầu năm 2003 thì chỉ khi các yếu tố sau đây thay đổi, tác động đến giá hợp đồng thì việc điều chỉnh giá của hợp đồng mới được diễn ra: chính sách nhà nước thay đổi về thuế, tiền lương; khối lượng, số lượng tăng hoặc giảm trong quá trình thực hiện hợp đồng nhưng trong phạm vi của hồ sơ mời thầu và không do lỗi của nhà thầu gây ra; giá nhiên liệu, vật tư, thiết bị nêu trong hợp đồng do Nhà nước kiểm soát có biến động lớn. Như vậy, mặc dù có rất nhiều yếu tố thay đổi, tác động đến quá trình các bên thực hiện hợp đồng, nhưng chỉ những yếu tố trên thay đổi, tác động đến giá hợp đồng thì một bên mới được điều chỉnh hợp đồng. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tuy nhiên, Luật Đấu thầu năm 2013 quy định việc điều chỉnh hợp đồng phải được các bên quy định cụ thể trong hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Như vậy, theo luật này, trường hợp hoàn cảnh có sự thay đổi làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện hợp đồng thì việc điều chỉnh hợp đồng cũng không được thực hiện. Quy định này là chưa hợp lý. Bởi lẽ, không phải bên nào khi tham gia hợp đồng cũng đủ năng lực để dự trù được hết các khả năng có thể diễn ra, tác động đến quá trình thực hiện hợp đồng. Do vậy, pháp luật phải đóng vai trò là công cụ hạn chế, phân chia rủi ro cho các bên bằng cách dự trù giải pháp giải quyết cho các bên khi tranh chấp xảy ra. Bởi vậy, thiết nghĩ cần thiết quy định lại theo hướng của bộ luật dân sự năm 2015 hoặc theo hướng Luật Đấu thầu cũ, theo đó cho phép các bên điều chỉnh hợp đồng khi có hoàn cảnh khách quan xảy đến, tác động đến việc thực hiện hợp đồng; việc hợp đồng có quy định hay không không phải là điều kiện để các bên hoặc một bên đưa ra điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi.
- Ba là nội dung hợp đồng được điều chỉnh
Điều 57 Luật Đấu thầu 2003 chỉ quy định hai nội dung của hợp đồng được điều chỉnh khi có một trong các sự kiện được liệt kê tại Khoản 1 Điều 57 diễn ra, đó là giá và phạm vi công việc của hợp đồng. Trên tinh thần kế thừa và phát triển Luật Đấu thầu năm 2003, Luật Đấu thầu năm 2013 quy định việc điều chỉnh hợp đồng áp dụng cho ba nội dung cơ bản của hợp đồng: đơn giá, khối lượng công việc và tiến độ thực hiện. Trường hợp điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng mà không làm kéo dài tiến độ hoàn thành dự án thì các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận, thống nhất việc điều chỉnh. Trường hợp điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng làm kéo dài tiến độ hoàn thành dự án thì phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Có thể nói, với nội dung này, pháp luật đã có sự phát triển, mở rộng hơn, tạo điều kiện hơn để các bên thực hiện thỏa thuận, điều chỉnh hợp đồng khi các nội dung cũ không còn phù hợp. Tuy nhiên, sự liệt kê này của Luật Đấu thầu năm 2013 vẫn là chưa đầy đủ. Như vậy, trong trường hợp có những sự thay đổi về nguyên vật liệu, trang thiết bị để thực hiện công việc, tác động đến cách thức thực hiện hợp đồng, thời hạn thực hiện hợp đồng thì nếu một bên đề nghị điều chỉnh hợp đồng để phù hợp với hoàn cảnh, bên còn lại không đồng ý thì bên đề nghị cũng khó có cơ sở đề yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
- Bốn là thẩm quyền điều chỉnh hợp đồng.
Tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư, xây dựng cơ bản năm 2009, Khoản 2 Điều 57 được sửa đổi như sau: Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Việc điều chỉnh hợp đồng chỉ áp dụng trong thời gian thực hiện hợp đồng theo hợp đồng đã ký và phải được chủ đầu tư xem xét, quyết định. Giá hợp đồng sau điều chỉnh không dẫn đến làm tăng tổng mức đầu tư được duyệt, trừ trường hợp được người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép.
Như vậy, khi xảy ra một trong những trường hợp được liệt kê tại Khoản 1 Điều 57 Luật Đấu thầu thì hợp đồng có thể được điều chỉnh. Tuy nhiên, việc có điều chỉnh hợp đồng hay không, nội dung điều chỉnh thế nào lại do “chủ đầu tư xem xét, quyết định”. Thiết nghĩ dù được thỏa thuận, thực hiện trong lĩnh vực xây dựng nhưng hợp đồng xây dựng bản chất là sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và tự do ý chí. Do vậy, việc điều chỉnh, thay đổi nội dung hợp đồng cần phải được sự thống nhất thỏa thuận của các bên. Tuy nhiên, điều luật lại chỉ cho phép nhà đầu tư được quyền xem xét, quyết định về việc điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, tức là đã đặt nhà đầu tư và các nhà thầu thi công, xây dựng ở vị thế không ngang bằng nhau, điều này không phù hợp với nguyên tắc mọi chủ thể tham gia hợp đồng đều bình đẳng.
Bên cạnh đó, trong trường hợp có nhiều yếu tố tác động đến giá và khối lượng công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng khiến việc tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể gây thiệt hại lớn cho đơn vị thi công, nhưng mang lại lợi ích lớn cho chủ đầu tư. Trong trường hợp này, vì là bên có thẩm quyền quyết định nên nhà đầu tư có thể không quan tâm đến khó khăn của đơn vị thi công, không đồng ý với đề xuất điều chỉnh hợp đồng của các đơn vị này. Như vậy, sự bất bình đẳng trên có thể khiến cho các đơn vị thi công phải chịu tổn thất lớn. Điều này có thể là nguyên nhân tạo ra sự bất bình đẳng về mặt lợi ích của các bên so với mục đích, mong muốn của các bên tại thời điểm giao kết.
- Thứ hai, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi được quy định tại Luật Kinh doanh Bảo hiểm
Điều 20 Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000 quy định về thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm như sau:
- Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm.
- Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm.
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Rủi ro trong tương lai chính là đối tượng mà người mua bảo hiểm muốn “chuyển giao” lại cho doanh nghiệp bảo hiểm để hưởng một khoản tiền hay khoản bồi thường do doanh nghiệp chi trả, và cũng là đối tượng mà doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận để nhận những khoản phí được bên mua bảo hiểm đóng ở thời điểm hiện tại. Do vậy, số lượng, tính chất, mức độ và loại rủi ro được bảo hiểm chính là một trong những cơ sở quan trọng, cơ bản nhất để các bên thỏa thuận phí bảo hiểm. Khi những rủi ro này tăng hoặc giảm sẽ tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của mỗi bên tham gia bảo hiểm. Trong khi đó, hợp đồng bảo hiểm thường là những hợp đồng dài hạn. Với tính chất là “mua bán rủi ro”, lại có kỳ hạn dài, hợp đồng bảo hiểm càng phải chịu nhiều yếu tố tác động đến phí bảo hiểm và các rủi ro được bảo hiểm. Chính bởi lẽ đó, quy định tại Điều 20 Luật Kinh doanh Bảo hiểm trích dẫn trên, pháp luật cho phép một bên có quyền yêu cầu giảm, tăng phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm nếu có sự thay đổi của những yếu tố làm tăng hoặc giảm rủi ro được bảo hiểm. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Có thể thấy, quy định này đã mang “bóng dáng” của điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã được công nhận từ lâu trong pháp luật thế giới. Tuy nhiên, quy định này vẫn có sự khác biệt cơ bản, chưa thực sự phù hợp như sau:
Điều luật chỉ quy định chung chung về việc tăng, giảm các rủi ro được bảo hiểm mà không có hướng dẫn cụ thể sự thay đổi này như thế nào. Như vậy, chỉ cần có sự tăng hoặc giảm rủi ro bảo hiểm, các bên đã có thể đề xuất thay đổi phí bảo hiểm. Trong trường hợp bên còn lại không đồng ý thì bên đề nghị có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, việc đình chỉ này chỉ cần thực hiện bằng cách thông báo bằng văn bản. Quy định này chưa thực sự phù hợp. Bởi lẽ, việc thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng, cần phải tuân theo nguyên tắc thực hiện đúng, thiện chí hợp đồng. Trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, sẽ có nhiều yếu tố tác động đến việc tính phí bảo hiểm, làm tăng hay giảm rủi ro được bảo hiểm. Nhưng nếu quy định để bất kỳ sự tác động nào, bất kỳ mức độ thay đổi rủi ro bảo hiểm nào, một bên cũng có quyền yêu cầu tăng, giảm phí bảo hiểm và đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu bên còn lại không đồng ý thì có thể sẽ dẫn tới sự tùy tiện của các bên khi thực hiện hợp đồng, làm giảm sự ràng buộc, trách nhiệm pháp lý của các bên khi tham gia giao kết. Thiết nghĩ quy định về quyền đề xuất, đàm phán lại phí bảo hiểm của một bên khi có sự thay đổi của hoàn cảnh là cần thiết nhưng cần phải có hướng dẫn cụ thể, quy định chặt chẽ, hạn chế về quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng của các bên trong trường hợp này.
Như vậy, khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản thì pháp luật Việt Nam khuyến khích các bên đàm phán để sửa đổi hợp đồng. Chỉ trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì mới tính đến khả năng chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, những quy định trên chỉ được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên biệt, nên không được xem là căn cứ chung để giải quyết tranh chấp liên quan trong các hợp đồng khác.
2.2. Quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản từ thời điểm bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
2.2.1. Điều kiện áp dụng quy định thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
Như đã phân tích tại Chương I, điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một biểu hiện của nguyên tắc trung thực, thiện chí thực hiện hợp đồng, và được áp dụng như một ngoại lệ của nguyên tắc buộc thực hiện đúng hợp đồng. Do vậy, một bên chỉ có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng hoặc Tòa án có quyền quyết định chấm dứt, sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi lớn, mà Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 sử dụng thuật ngữ là “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”.
Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 không đưa ra định nghĩa thế nào là “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” nhưng Khoản 1 của điều này đưa ra các dấu hiệu, các điều kiện của một hoàn cảnh được xem là thay đổi cơ bản. Theo đó, một bên hoặc Tòa án có thể áp dụng điều khoản này khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có sự thay đổi và đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Về nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh thay đổi
Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 thì sự thay đổi của hoàn cảnh phải do nguyên nhân khách quan dẫn đến. Các nguyên nhân này có thể là những rủi ro bất thường từ thiên nhiên như mưa đá, sạt lở, giông bão, sương muối…; hay sự thay đổi về hoàn cảnh kinh tế, xã hội như chiến tranh, xuất hiện chính sách pháp luật mới, khủng hoảng kinh tế, sự mất giá nghiêm trọng của đồng tiền, sự thay đổi của thị trường khiến mặt hàng giao dịch không còn được tiêu thụ… Dù là rủi ro từ thiên nhiên hay rủi ro từ sự thay đổi của hoàn cảnh kinh tế thì những sự kiện xảy ra không do bất kỳ bên chủ thể nào của hợp đồng tác động, nó tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể trong hợp đồng. Trong trường hợp một bên có hành vi lừa dối, tạo dựng lên các tình huống hay vi phạm hợp đồng khiến việc thực hiện hợp đồng gặp trở ngại thì dù bên đó có gặp khó khăn, chịu tổn thất nghiêm trọng từ việc thực hiện hợp đồng cũng không được viện dẫn “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” để đưa ra các yêu cầu đàm phán lại nội dung hay chấm dứt hợp đồng.
Ví dụ: Trong hợp đồng xây dựng, Công ty A có trách nhiệm xây dựng nhà máy cho Công ty B, thời hạn 12 tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty B không thu xếp được đủ lao động để thực hiện dự án, dẫn đến thời hạn thực hiện kéo dài. Sau 06 tháng kể từ thời điểm hết thời hạn trong hợp đồng, công trình chưa hoàn thiện, tuy nhiên giá nguyên, vật liệu xây dựng tăng 05 lần so với thời điểm ký hợp đồng. Điều này dẫn đến Công ty A gặp khó khăn trong việc hoàn thiện nhà máy, nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng theo giá đã thỏa thuận thì Công ty A sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng. Việc giá nguyên liệu tăng lên 05 lần là sự thay đổi khách quan đến từ thị trường, không phải do tác động của bất cứ bên nào và cũng không thể dự đoán được trước. Tuy nhiên, Công ty A đã vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng, có lỗi trong việc hợp đồng phải tiếp tục thực hiện trong hoàn cảnh giá nguyên, vật liệu gia tăng với mức trên. Do vậy, trong trường hợp này, Công ty A phải chịu tổn thất, thiệt hại từ việc thực hiện hợp đồng mà không được viện dẫn điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
- Về thời điểm xảy ra, nhận biết được hoàn cảnh thay đổi
Khi nói về sự ràng buộc của các bên đối với hợp đồng, Triết gia Lucius Annacus Seneca (4 TCN-65) đã nhận định rằng: “Mọi điều kiện phải được giữ nguyên như khi tôi đưa ra cam kết nếu bạn muốn ràng buộc tôi thực hiện cam kết đó” [1]. Điều này nói lên mối liên hệ mật thiết giữa hoàn cảnh thực hiện hợp đồng và sự ràng buộc của các bên trong hợp đồng. Hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có thể được ví như “môi trường sống” của hợp đồng. Nếu kể từ thời điểm đàm phán, ký kết đến khi thực hiện hợp đồng, hoàn cảnh không có sự thay đổi hoặc thay đổi nhưng không đáng kể, thì hợp đồng vẫn giữ nguyên được mục đích, ý nghĩa của nó. Do vậy, nội dung, hiệu lực của hợp đồng chỉ có thể thay đổi theo yêu cầu của một bên hoặc theo quyết định của Tòa án khi hoàn cảnh thực hiện – “môi trường sống” của hợp đồng có sự thay đổi lớn so với thời điểm ban đầu.
Trong trường hợp sự thay đổi của hoàn cảnh diễn ra trước khi các bên giao kết hợp đồng mà trong quá trình thực hiện, một bên (hoặc các bên) mới nhận thấy điều đó, thì không thể được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định tại Điều 420. Bởi lẽ trong trường hợp này, hoàn cảnh thay đổi là do sự nhìn nhận, đánh giá hoàn cảnh của các bên khi giao kết hợp đồng không chính xác, dẫn đến nội dung hợp đồng được thiết lập dựa trên những sai lầm. Lúc này, hợp đồng có thể được giải quyết theo cơ chế vô hiệu hợp đồng. Ví dụ: A là người bán đồ cổ, A bán cho B một chiếc bình cổ trị giá một trăm triệu đồng, cả A và B đều nghĩ rằng tài sản này là đồ cổ Thế kỉ X. Một thời gian sau, cả hai bên được biết rằng đây là đồ cổ Thế kỉ XII. Như vậy, cả bên bán và bên mua đã có có sự nhầm lẫn dẫn đến các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch mua bán ban đầu [16]. Sự nhầm lẫn này xảy ra trước thời điểm các bên ký kết hợp đồng nên không thể được xem là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, do vậy, trong trường hợp này các bên có thể thỏa thuận để khắc phục sự nhầm lẫn trên hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Không chỉ xảy ra sau khi giao kết hợp đồng, mà sự thay đổi của hoàn cảnh phải là không thể lường trước, không thể dự đoán được tại thời điểm các bên giao kết. Nếu tại thời điểm này, hoàn cảnh thực hiện hợp đồng đã có những dự báo về sự thay đổi, hoặc trong khả năng của mình, các bên có thể đánh giá được rủi ro có thể xảy ra thì cũng không thể được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Bởi lẽ, khi đó có thể coi các bên đã chấp nhận rủi ro để đạt được mục đích của hợp đồng tại thời điểm giao kết, do vậy, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng những thỏa thuận đã đề ra.
BLDS của một số quốc gia cũng đã ghi nhận quy định tương tự về vấn đề này, như trong bộ luật dân sự Pháp: “….xảy ra một sự thay đổi về hoàn cảnh không thể tính trước được tại thời điểm giao kết hợp đồng….” hay trong quy định của bộ luật dân sự Đức: “…các bên nếu lường trước được sự thay đổi đó thì đã không ký hợp đồng hoặc đã kí hợp đồng với một nội dung khác…”. Điều này cho thấy tính chất “không lường trước được” là quan trọng và cần phải lưu tâm trong việc công nhận hoàn cảnh thay đổi cơ bản [5]. Tuy nhiên, để đánh giá tính có thể lường trước được của hoàn cảnh thay đổi không phải dễ dàng.
Về tính lường trước của hoàn cảnh, có thể tham khảo cách diễn giải của Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2016. Bộ nguyên tắc đã mô tả là “could not reasonably have taken into account”, có thể dịch là “không thể được tính đến một cách hợp lý”. “Tính đến một cách hợp lý” có nghĩa đề cập đến tính chất của hoàn cảnh thay đổi và khả năng đánh giá hoàn cảnh của bên bị bất lợi. Cụ thể: Đối với hoàn cảnh, phải nhìn nhận hoàn cảnh thay đổi như thế nào; Bản chất sự thay đổi đó có thể dự đoán được không; Tại thời điểm giao kết, có những dấu hiệu cho thấy sẽ có sự thay đổi nào hay chưa. Đối với bên bị bất lợi, khả năng, năng lực chuyên môn đánh giá hoàn cảnh ký kết, thực hiện hợp đồng của bên bị bất lợi như thế nào; Việc bên bị bất lợi không dự đoán được hoàn cảnh thay đổi là do không đủ khả năng chuyên môn hay có thể đánh giá nhưng chủ quan, tự tin cho rằng hoàn cảnh đó không thể diễn ra nên đã ký kết hợp đồng. Chỉ khi trả lời được đầy đủ các câu hỏi trên, bên có quyền hoặc Tòa án mới có thể đánh giá được khách quan, đầy đủ về tính lường trước được của hoàn cảnh.
Khái niệm “tính đến hợp lý” của PICC đã được minh họa cụ thể như sau: A ký hợp đồng cung cấp cho B mặt hàng dầu thô tại nước X với giá cố định, thời hạn trong vòng 5 năm, mặc dù tình hình chính trị tại nước X đang bất ổn tại thời điểm kí hợp đồng. Hai năm sau, chiến tranh xảy ra dẫn đến khủng hoảng năng lượng và giá dầu thô tăng mạnh. Trong trường hợp này, A không thể viện dẫn điều khoản hardship, bởi tại thời điểm ký hợp đồng, A đáng lẽ phải tính đến tình hình chính trị bất ổn tại nước X và dự liệu được tình hình đó sẽ có tác động lên giá dầu. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Bên cạnh đó, tham khảo quy định tại Điều 6:111 của Bộ nguyên tắc Hợp đồng chung Châu Âu PECL, quy tắc này còn đưa ra điều kiện “khả năng xảy ra sự thay đổi về hoàn cảnh không phải là một trong những tình huống mà các bên buộc phải tính đến khi ký kết hợp đồng”. Điều kiện này là hợp lý và cần thiết, bởi lẽ nó buộc các bên phải có ý thức, trách nhiệm tìm hiểu kỹ càng, toàn diện những vấn đề tác động đến hợp đồng trước khi giao kết, nâng cao tính ràng buộc và giá trị pháp lý của hợp đồng.
- Về mức độ thay đổi của hoàn cảnh thực hiện hợp đồng
Trong những dấu hiệu để xác định hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản thì mức độ thay đổi của hoàn cảnh có thể đánh giá là dấu hiệu đặc trưng. Nội dung này được quy định cụ thể tại Điểm c, Điểm d Khoản 1 Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó, mức độ ảnh hưởng của hoàn cảnh được đánh giá dựa trên hai tiêu chí:
- Tiêu chí thứ nhất: Hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có sự thay đổi lớn
Mỗi hợp đồng có tính chất, đối tượng giao dịch, giá trị, phạm vi quyền, nghĩa vụ khác nhau; mỗi chủ thể tham gia hợp đồng có năng lực tài chính, năng lực chuyên môn… khác nhau, mục đích tham gia hợp đồng cũng khác nhau… Bởi vậy, việc đưa ra một tiêu chí hoặc đưa ra một con số cụ thể để định lượng “hoàn cảnh thay đổi lớn” là điều không dễ dàng. bộ luật dân sự năm 2015 quy định hoàn cảnh được coi là thay đổi lớn nếu như “các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác”. Như vậy, việc đánh giá sự thay đổi lớn này sẽ được dựa trên ý chí chủ quan của các bên tại thời điểm giao kết. Tuy nhiên, việc xác định chính xác ý chí chủ quan của các bên chủ thể đã không dễ dàng, mà ý chí chủ quan này lại tại thời điểm giao kết thì lại càng không đơn giản. Khi viện dẫn điều khoản này, bên chịu bất lợi đương nhiên sẽ lập luận rằng nếu biết trước hoàn cảnh sẽ thay đổi theo hướng bất lợi này, họ sẽ không chấp nhận ký kết hợp đồng hoặc sẽ ký kết nhưng với nội dung khác.
Bởi vậy, để đánh giá được thế nào là “thay đổi lớn” cần phải có các căn cứ để xác định các yếu tố khách quan về mặt môi trường kinh tế, xã hội tác động đến hợp đồng tại thời điểm các bên giao kết, như tình hình kinh tế, xã hội, tỷ giá đồng tiền, tình trạng lạm phát, nhu cầu thị trường, giá nguyên, vật liệu…; yếu tố chủ quan về năng lực tài chính, năng lực chuyên môn của các bên trong hợp đồng, và đặc biệt là mục đích tham gia giao kết… Tùy từng hoàn cảnh mà đưa ra các căn cứ, cơ sở hợp lý để đánh giá nếu biết trước hoàn cảnh hợp đồng thay đổi như hiện tại, các bên trong hợp đồng có chấp thuận giao kết hoặc giao kết với các nội dung hợp đồng hiện tại hay không. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Ví dụ: tại Anh, trong án lệ Krell v. Henry, bị đơn thuê phòng của nguyên đơn để chứng kiến lễ đăng quang của Vua Edward VII. Tuy nhiên, nhà vua bị bệnh bất ngờ và lễ đăng quang bị dời lại vài ngày. Bị đơn từ chối trả tiền thuê phòng và được Tòa án chấp nhận [17], bởi vì lễ đăng quang là mục đích duy nhất của bên thuê khi ký kết hợp đồng. Trong trường hợp này, nếu biết được lễ đăng quang không diễn ra thì bên thuê chắc chắn sẽ không ký kết hợp đồng. Do vậy, điều này có thể viện dẫn là hoàn cảnh thay đổi cơ bản và giải phóng các bên khỏi việc thực hiện hợp đồng.
- Tiêu chí thứ hai: Khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên.
Tiêu chí này đề cập đến mức độ tác động của hoàn cảnh thay đổi đến việc các bên thực hiện hợp đồng. Theo đó, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Pháp luật một lần nữa không đưa ra định nghĩa, hay con số cụ thể để xác định thế nào là “thiệt hại nghiêm trọng”, nên việc đánh giá mức độ thiệt hại phụ thuộc nhiều vào tình trạng thực tế của từng đối tượng chủ thể trong bối cảnh nhất định cũng như căn cứ, tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá.
Việc xem xét ảnh hưởng của sự thay đổi hoàn cảnh đến mỗi bên thông thường được đánh giá dựa trên lợi ích vật chất bị ảnh hưởng, có thể đo đếm. Tuy nhiên, đây không phải là căn cứ duy nhất mà còn nhiều yếu tố khác liên quan đến chủ thể tham gia như hình ảnh, uy tín của chủ thể kinh doanh, chiến lược phát triển bền vững, lâu dài của doanh nghiệp, sức khỏe của con người… Dù thiệt hại là mặt nào thì để viện dẫn áp dụng điều khoản về hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên bị bất lợi cũng phải đưa ra được các căn cứ về mức độ thiệt hại mà mình có thể gánh chịu từ hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tham khảo về quy định mức độ tác động của hoàn cảnh đến việc thực hiện thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, có khá nhiều quan điểm không đồng nhất được đưa ra. Phổ biến nhất là quan điểm xác định mức độ thay đổi của hoàn cảnh dựa trên sự thay đổi về giá hoặc giá trị của việc thực hiện nghĩa vụ. Ấn bản PICC 1994 có đưa ra diễn giải “sự thay đổi của hoàn cảnh có được xem là thay đổi cơ bản hay không còn tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể trên thực tế. Sự thay đổi hoàn cảnh làm ảnh hưởng (tăng lên hoặc giảm xuống) 50% hoặc hơn tổng giá trị hợp đồng sẽ được xem là thay đổi cơ bản” [7]. Tuy nhiên, khi bình luận về quy định này, có nhiều học giả cho rằng con số 50% được đưa ra là tùy tiện, không hợp lý, trong trường hợp hợp đồng được ký kết và thực hiện ở những nước có tình hình chính trị không ổn định thì con số 50% là quá thấp. Nhiều mức biến động khác được đưa ra để làm căn cứ cho việc đánh giá sự thay đổi của hoàn cảnh, như từ 80%-100% (không bao gồm lợi nhuận) hay 100%-125% (có bao gồm những lợi nhuận thông thường) [14], thậm chí là 150%-200% (áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế) [15]. Tuy nhiên, trong các con số này, cũng không con số nào được áp dụng một rộng rãi trong việc đánh giá sự thay đổi của hoàn cảnh. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tại PICC phiên bản 2016, UNIDROIT xác định hoàn cảnh được coi là thay đổi cơ bản khi hoàn cảnh đó làm “thay đổi cơ bản sự cân bằng của hợp đồng” – “fundamentally alters the equilibrium of the contract”. Có thể nói, cách mô tả này mang tính khái quát cao nhưng chính xác, giúp các bên chủ thể dễ hình dung, áp dụng. Bởi lẽ, suy cho cùng hợp đồng được thiết lập dựa trên sự cân bằng giữa các bên về địa vị pháp lý, về ý chí tự nguyện, về lợi ích có được khi tham gia. Do vậy, khi có một sự thay đổi khiến sự cân bằng cơ bản của hợp đồng không còn nữa, một bên thu được lợi ích quá lớn trong khi một bên bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc thậm chí việc thực hiện hợp đồng không còn ý nghĩa thì các bên có quyền giải phóng khỏi các nghĩa vụ trở lên không phù hợp.
Về biểu hiện của “sự mất cân bằng cơ bản của hợp đồng”, PICC diễn giải sự thay đổi cơ bản này có thể được biểu hiện dưới hai hình thức: chi phí cho việc thực hiện nghĩa vụ gia tăng đáng kể hoặc giá trị nhận được từ hợp đồng bị giảm mạnh mẽ. Trong đó, chi phi gia tăng cho việc thực hiện hợp đồng có thể xuất phát từ sự tăng mạnh giá của nguyên liệu thô cần thiết cho sản xuất hàng hóa, thực hiện dịch vụ hoặc chính sách về an toàn mới làm gia tăng chi phí để sản xuất sản phẩm. Việc suy giảm mạnh mẽ giá trị nhận được từ hợp đồng có thể xuất phát từ những thay đổi lớn từ điều kiện thị trường (như lạm phát gia tăng đột biến), mục đích của hợp đồng không đạt được.
Về đánh giá hoàn cảnh thay đổi cơ bản dựa trên chi phí gia tăng của một bên trong hợp đồng, có thể nghiên cứu trong án lệ sau: Tranh chấp (số 8486) giữa Bên bán là công ty Hà Lan và Bên mua là công ty Thổ Nhĩ Kì tại Tòa án trọng tài quốc tế ICC Zurich: Hai bên kí kết hợp đồng lắp đặt máy sản xuất đường viên. Sau khi kí kết, bên mua từ chối thanh toán theo hợp đồng và viện dẫn hoàn cảnh khó khăn do sự sụt giảm đột ngột nhu cầu đường viên trên thị trường. Hai bên đàm phán sửa đổi hợp đồng không thành công, bên bán Hà Lan tuyên bố chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại. Trọng tài không công nhận trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản và nhấn mạnh rằng việc chấm dứt hợp đồng dựa trên căn cứ viện dẫn điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ được áp dụng trong một số trường hợp cực kì hiếm hoi, và rằng tính chất đặc trưng của một hoàn cảnh để được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, là phải dẫn đến sự thay đổi cơ bản về cân bằng của hợp đồng. Chính vì vậy, một sự kiện đơn thuần chỉ làm tăng chi phí thực hiện nghĩa vụ của một bên thì không được coi là hoàn cảnh hoàn cảnh thay đổi cơ bản, mà đúng hơn thuộc về rủi ro mà các bên phải gánh chịu [5].
Có thể nói “sự thay đổi sự cân bằng của hợp đồng” là yếu tố cốt lõi mang bản chất của hoàn cảnh thay đổi cơ bản, để từ đó nhận diện và công nhận hoàn cảnh. Do vậy, cần phải lưu tâm đến cách diễn giải của PICC trong quá trình áp dụng Điều 420 để đảm bảo sự công bằng cho các bên trong hợp đồng. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
- Trách nhiệm ngăn chặn, giảm thiểu thiệt hại của bên có lợi ích bị ảnh hưởng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Điều kiện cuối cùng để một hoàn cảnh được công nhận là thay đổi cơ bản theo Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 là “bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”.
Quy định này một mặt nhằm giảm thiểu thiệt hại cho các bên trong hợp đồng, mặt khác thể hiện sự trung thực, thiện chí của bên bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi hoàn cảnh. Theo đó, khi có sự kiện, hoàn cảnh gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến mình, bên chịu ảnh hưởng không được ỷ lại, mà phải nỗ lực khắc phục những thiệt hại đó. Chỉ khi những nỗ lực này không thể giải quyết được hoàn toàn, triệt để những thiệt hại mà hoàn cảnh thay đổi có thể mang lại thì yêu cầu đàm phán lại nội dung hợp đồng của bên bị thiệt hại mới trở nên phù hợp, cần thiết và công bằng với bên còn lại.
Ngoài những điều kiện trên, PICC và PECL còn có thêm điều kiện về loại rủi ro phát sinh từ sự thay đổi của hoàn cảnh. Theo đó, những rủi ro về sự thay đổi phải không là rủi ro mà bên bị ảnh hưởng buộc phải gánh chịu theo hợp đồng thì bên bị bất lợi mới được viện dẫn đến điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Như trường hợp một bên tham gia hợp đồng mang tính chất là đầu cơ thì ngay từ lúc tham gia, một bên đã chấp nhận sẽ chịu các rủi ro có thể có từ việc thực hiện hợp đồng. Do vậy, khi hoàn cảnh thay đổi, những rủi ro xảy đến thì bên bị bất lợi không được viện dẫn hoàn cảnh thay đổi để đàm phán lại hợp đồng.
Để dễ hình dung hơn về trường hợp này, PICC đã đưa ra ví dụ như sau: A – công ty chuyên kinh doanh bảo hiểm rủi ro vận chuyển đã đề xuất phí bảo hiểm bổ sung trong hợp đồng, bao gồm bảo hiểm rủi ro trong trường hợp xảy ra chiến tranh và khởi nghĩa dân chủ. Bởi với tình hình chính trị tại thời điểm ký kết hợp đồng, có thể dự đoán sẽ bùng nổ chiến tranh, khởi nghĩa dân chủ ở ba nước trong khu vực. Bởi vậy, trong trường hợp chiến tranh hay cuộc khởi nghĩa nổ ra ở từng quốc gia này hay nổ ra đồng thời tại cả ba nước thì Công ty A vẫn không được viện dẫn áp dụng điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Bởi ngay từ ban đầu, những rủi ro có thể xảy đến bởi chiến tranh và khởi nghĩa đã là trách nhiệm mà Công ty A phải gánh chịu theo thỏa thuận của hợp đồng.
2.2.2. Cơ chế thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Một bên có quyền yêu cầu sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi
- Về quyền yêu cầu sửa đổi hợp đồng của bên bị bất lợi
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 thì “trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý”.
Hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi sẽ làm phát sinh quyền yêu cầu đàm phán của bên có lợi ích bị ảnh hưởng. Quyền yêu cầu này là hợp lý và cần thiết, khởi đầu cho quá trình đàm phán, đối thoại giữa các bên để giải quyết nguy cơ phải chịu thiệt hại nghiêm trọng của một bên hoặc nguy cơ hợp đồng buộc phải chấm dứt hiệu lực nếu bên bị thiệt hại chấp nhận đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật để giảm thiểu thiệt hại có thể gây ra cho mình.
Mặc dù vậy, việc đưa ra yêu cầu đàm phán của một bên cũng không được tùy tiện. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng không được lợi dụng hoàn cảnh thay đổi cơ bản để có những hành vi trục lợi cho mình, việc yêu cầu đàm phán phải thực hiện dựa trên hai nguyên tắc cơ bản của hợp đồng: nguyên tắc trung thực, thiện chí thực hiện hợp đồng và nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng. Để thể hiện sự thiện chí của mình, mọi yêu cầu đàm phán đưa ra cần phải có căn cứ và rõ ràng. Bên bị thiệt hại phải đưa ra đầy đủ các căn cứ để chứng minh hoàn cảnh thực hiện hợp đồng bị thay đổi, chứng minh những nỗ lực của mình trong việc khắc phục, giảm thiểu thiệt hại nhưng vẫn đang phải đứng trước nguy cơ chịu thiệt hại nghiêm trọng nếu tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng. Và mặc dù thiệt hại nghiêm trọng ấy là thiệt hại trong tương lai, chưa xảy ra ở thời điểm hiện tại nhưng bên lợi ích bị ảnh hưởng vẫn phải đưa ra được các căn cứ rõ ràng, thuyết phục về thiệt hại có thể sẽ xảy ra đó.
Bên cạnh đó, bên có lợi ích bị ảnh hưởng cũng phải đưa ra được nội dung đề xuất sửa đổi hợp đồng phù hợp với tính chất của hoàn cảnh thay đổi, đảm bảo được sự cân bằng lợi ích của các bên trong giao kết. Mục đích của việc điều chỉnh nội dung hợp đồng là để các nội dung trong hợp đồng phù hợp với hoàn cảnh mới, phù hợp với mục đích, mong muốn của các bên trong hợp đồng tại thời điểm giao kết. Do vậy, các nội dung, đề xuất đưa ra phải nhằm khắc phục được những nội dung không hợp lý của hợp đồng so với thời điểm hiện tại, không được rời xa mục đích hợp đồng ban đầu, và không nhằm mục đích trục lợi.
Về thời hạn đưa ra yêu cầu sửa đổi hợp đồng, bộ luật dân sự năm 2015 không đưa ra một thời hạn cụ thể mà chỉ quy định một cách khái quát là “thời hạn hợp lý”. Khái niệm “thời hạn hợp lý” cũng được nhắc đến trong nhiều quy định khác của bộ luật dân sự 2015 như Điều 142: “Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý”; hay Điều 300: “Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý…”. Như vậy, để tạo ra tính nhất quán trong việc áp dụng các quy định của bộ luật dân sự, việc diễn giải và áp dụng khái niệm “thời hạn hợp lý” tại Điều 420 cần được đặt trong mối tương quan diễn giải chung của bộ luật dân sự về khái niệm này, xét đến các yếu tố của giao dịch và của hoàn cảnh [5]. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Về thời hạn này, Quy tắc số 6.2.3, PICC 2016 quy định bên chịu bất lợi phải đưa ra yêu cầu đàm phán một cách không chậm trễ – “without undue delay”. Việc không chậm trễ ở đây được hiểu là ngay sau khi bên chịu bất lợi nhận thức được các dấu hiệu của hoàn cảnh thay đổi cơ bản, và thời hạn này cũng được xem xét dựa trên từng trường hợp cụ thể, ví dụ trong trường hợp hoàn cảnh có sự thay đổi từ từ thì thời gian đưa ra yêu cầu có thể dài hơn. Quy định này có ý nghĩa buộc bên có lợi ích bị ảnh hưởng phải có trách nhiệm cao hơn trong việc hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra, nhanh chóng đưa ra yêu cầu đàm phán và phương án giải quyết những tác động của hoàn cảnh thay đổi. Do vậy, điều khoản này quy định bên chịu bất lợi không bị mất quyền đưa ra yêu cầu đàm phán dù yêu cầu đàm phán không được đưa ra ngay tại thời điểm hoàn cảnh thay đổi. Sự chậm trễ trong việc đưa ra yêu cầu chỉ được cảnh báo là có thể gây khó khăn trong việc chứng minh hoàn cảnh thay đổi có thực sự xảy ra hay không và nếu có thì hậu quả của nó đối với hợp đồng là gì.
- Về nghĩa vụ tham gia đàm phán của bên được đề nghị
Dù không quy định cụ thể nghĩa vụ của bên được yêu cầu, nhưng dựa trên nguyên tắc trung thực, thiện chí thực hiện hợp đồng, khi một bên đề nghị sửa đổi hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi thì bên còn lại phải có nghĩa vụ tham gia đàm phán lại hợp đồng. Bên được đề nghị không được làm ngơ, hoặc có hành vi trì hoãn việc đàm phán sửa đổi hợp đồng của bên có lợi ích bị ảnh hưởng. Với những tài liệu được đưa ra bởi bên có lợi ích bị ảnh hưởng, bên được đề nghị phải cân nhắc, xem xét đến mức độ tác động của hoàn cảnh, quan tâm đến những thiệt hại nghiêm trọng mà đối tác có thể gánh chịu để cùng tìm ra phương án giải quyết hợp lý. Tuy nhiên, đây chỉ là mong muốn lạc quan của các nhà làm luật. Trong hoàn cảnh có khả năng được hưởng lợi ích to lớn từ hợp đồng, rất có thể bên được đề nghị sẽ từ chối hoặc tìm cách trì hoãn, gây khó khăn cho bên chịu bất lợi tham gia đàm phán, sửa đổi hợp đồng. Điều này gây thiệt hại cho bên bị bất lợi. Vậy bên được đề nghị có buộc phải bồi thường thiệt hại cho đối tác hay không, hay những thiệt hại này sẽ được tính là những rủi ro kinh doanh, bởi trước khi hợp đồng bị sửa đổi hay chấm dứt, các bên có nghĩa vụ phải tuân thủ đúng những thỏa thuận được đặt ra? Nội dung này hiện vẫn đang được bộ luật dân sự bỏ ngỏ.
Bên cạnh đó, trở về khái niệm, bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí của các bên. Bởi thế, việc quy định bên được đề nghị có trách nhiệm tham gia đàm phán hợp đồng không đồng nghĩa với việc bên này phải có nghĩa vụ chấp thuận sửa đổi hợp đồng hoặc chấp thuận những đề xuất mà bên đề nghị đưa ra. Khi các bên không thống nhất được cách thức giải quyết, thì hoặc các bên sẽ tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc sẽ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Trong thời gian các bên đang đàm phán sửa đổi hợp đồng, hoặc đang yêu cầu giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền, hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Bởi vậy, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện các thỏa thuận đã đặt ra. Quy định này nhằm đảm bảo tính hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, mặt khác để tránh gây thiệt hại cho bên hợp đồng còn lại.
- Về nội dung, hình thức sửa đổi hợp đồng Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Trường hợp các bên trong hợp đồng thống nhất sẽ sửa đổi hợp đồng thì việc sửa đổi này phải được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Nội dung hợp đồng được sửa đổi phải đúng pháp luật, không xâm phạm đạo đức, trật tự xã hội. Hình thức sửa đổi cũng phải phù hợp với hợp đồng đã ký trước đó: nếu hợp đồng trước đó là văn bản thì việc chỉnh sửa cũng phải bằng văn bản, nếu hợp đồng được công chứng thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải được công chứng… Thông thường, hợp đồng sẽ được điều chỉnh về những điều khoản như: thời gian thực hiện hợp đồng, thời hạn thực hiện hợp đồng, phương thức thực hiện hợp đồng, số lượng, chất lượng hàng hóa giao dịch, giá cả, phương thức thanh toán, đồng tiền thanh toán…
Sau khi việc sửa đổi hợp đồng có hiệu lực, thỏa thuận mới sẽ mặc nhiên thay thế phần nội dung bị sửa đổi của thỏa thuận cũ kể từ thời điểm do các bên quyết định. Do vậy các bên sẽ tiếp tục thực hiện hợp đồng với những điều khoản không được sửa đổi và các điều khoản mới sau được thỏa thuận lại.
Về việc sửa đổi hợp đồng, còn một nội dung đáng lưu tâm. Đó là việc sửa đổi hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba. Theo quy định tại Điều 417 bộ luật dân sự năm 2015 thì “khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý”. Tại Khoản 2 Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng của bên lợi ích bị ảnh hưởng đối với bên kia. Vậy trong trường hợp hợp đồng được thiết lập vì lợi ích của người thứ ba, hai bên đồng ý chỉnh sửa hợp đồng thì việc chỉnh sửa này có hợp pháp hay không? Trường hợp người thứ ba không đồng ý, các bên có được quyền chỉnh sửa hợp đồng hay bên chịu bất lợi buộc phải gánh chịu những tổn thất vô lý, không đáng có từ việc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng? Vai trò, quyền lợi và nghĩa vụ của bên thứ ba trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi là gì? Về nội dung này, bộ luật dân sự năm 2015 còn đang bỏ ngỏ, chưa có quy định dự liệu. Bởi vậy, trên thực tế, nếu tình huống này xảy ra thì có thể gây tranh chấp giữa các bên, và Tòa án – cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp cũng có thể gặp lúng túng.
Sự can thiệp của Tòa án tới việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi:
- Về quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp
Trong trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Khi các bên không đi đến được thống nhất chung, việc yêu cầu Tòa án đứng ra phân xử là điều hợp lý. Điều này cũng phù hợp với quy định của các nước trên thế giới. Tại Pháp, nếu các bên trong hợp đồng không thể thỏa thuận lại nội dung của hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện thay đổi cơ bản, các bên có quyền hủy bỏ hợp đồng, hoặc cùng yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng. Nếu sau một thời hạn hợp lý mà hai bên không thỏa thuận được, Tòa án, theo yêu cầu của một bên, có quyền sửa đổi hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo các điều kiện do Tòa án quyết định [17]. bộ luật dân sự Hà Lan năm 1992 (Điều 6.258) quy định: “Tòa án có thể, dựa theo lý chí và lẽ công bằng, điều chỉnh hiệu lực của hợp đồng, hoặc chấm dứt một phần hoặc toàn bộ hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi tới mức làm cho một bên không còn có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng” [18]. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết tranh chấp được quy định tại Khoản 3 Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 cũng chưa thực sự phù hợp, mâu thuẫn với quy định tại Luật Trọng tài thương mại. Tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”. Trong hợp đồng thương mại, các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Trường hợp thỏa thuận Trọng tài có hiệu lực thì Tòa án phải từ chối thụ lý vụ án. Trong khi đó, Khoản 3 Điều 420 bộ luật dân sự lại quy định Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi. Vậy trong trường hợp, hợp đồng có thỏa thuận Trọng tài nhưng các bên lại phát sinh tranh chấp về việc đàm phán lại hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, các bên không thỏa thuận lại về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, vậy Tòa án có thẩm quyền thụ lý vụ án này hay không? Trường hợp các bên nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Trọng tài, thì cơ quan Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hay không?
Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tham khảo quy định của PECL và PICC về thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Tại hai bộ quy tắc, PECL và PICC đều quy định trong trường hợp các bên không thể đàm phán được việc sửa đổi hợp đồng trong thời hạn hợp lý thì có thể yêu cầu “Tòa án” – “the court” giải quyết (Điều 6:11 – PECL, Điều 6.2.3 – PICC). Tuy nhiên, án lệ áp dụng PICC tại Tòa án trọng tài quốc tế ICC (số 7365/FMS, số 8873, 9994, 12446…) cũng như thực tiễn xét xử trọng tài của nhiều quốc gia (Hà Lan, Đức,…) cho thấy mặc dù luật chỉ định cơ quan xét xử là “Court” (Tòa án), tuy nhiên thuật ngữ “Tòa án” ở đây được diễn giải là bao gồm cả Tòa án Trọng tài (Arbitration Court) và vẫn cho phép Trọng tài có thẩm quyền xét xử trong trường hợp hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi [5].
- Tòa án chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
Theo yêu cầu của một trong các bên, Tòa án có thể chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Trong đó, phương án chấm dứt hợp đồng sẽ được ưu tiên hơn, Tòa án chỉ được quyết định sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi. Có thể nói, chấm dứt hợp đồng là phương án đơn giản, triệt để hơn cả, giúp giải thoát một bên khỏi một nghĩa vụ, một nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng mà tại thời điểm ký kết, bên này không mong muốn và cũng không thể lường trước được. Đồng thời, việc hạn chế Tòa án trong việc sửa đổi hợp đồng cũng là để đảm bảo hơn quyền tự do ý chí, tự do định đoạt của các bên trong thỏa thuận nội dung của hợp đồng, hạn chế sự lạm dụng quá mức của Tòa án trong việc chỉnh sửa các nội dung đã thỏa thuận. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tham khảo pháp luật của một số nước, giải pháp mà Tòa án ở các quốc gia đưa ra không giống nhau. Tòa án ở một số nước ưu tiên việc chấm dứt hợp đồng, còn một số khác lại ưu tiên điều chỉnh hợp đồng [18]. Trong trường hợp này, PICC cũng đưa ra hai phương án mà Tòa án có thể lựa chọn áp dụng: chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng với quan điểm phục hồi lại sự cân bằng của hợp đồng. Tuy nhiên, PICC không buộc Tòa án phải ưu tiên lựa chọn phương án nào, mà tùy từng trường hợp, Tòa án có thể lựa chọn phương án “hợp lý” – “reasonable”.
Thiết nghĩa, cách quy định như trên của PICC là phù hợp, bộ luật dân sự Việt Nam nên tham khảo và cân nhắc. Bởi lẽ: Ý nghĩa, vai trò của điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là nhằm duy trì hiệu lực của hợp đồng, nhằm tạo thêm một cơ hội nữa để các bên cùng đàm phán, thương thảo, tìm ra được phương án giải quyết những khó khăn, bất lợi mà hoàn cảnh thay đổi gây ra. Do vậy, nếu quy định Tòa án buộc phải ưu tiên phương án chấm dứt hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, giải phóng nghĩa vụ của một bên, vô hình chung đã làm cho điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trở nên không khác biệt gì so với điều khoản bất khả kháng, làm hạn chế đi ý nghĩa của điều khoản này.
Bên cạnh đó, cách quy định tại Khoản 3 Điều 420 bộ luật dân sự năm 2015 có thể hiểu, trong trường hợp không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một bên có thể yêu cầu Tòa án thực hiện một trong hai yêu cầu: sửa đổi hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng. Theo nguyên tắc, Tòa án chỉ được giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Giả thiết đương sự chỉ yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp đồng, và sau khi cân nhắc, nhận thấy phương án sửa đổi hợp đồng gây thiệt hại lớn hơn cho các bên hơn so với phương án chấm dứt hợp đồng. Vậy với trường hợp này, Tòa án có được quyền chấm dứt hợp đồng hay không?
Về thời điểm chấm dứt hợp đồng, bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định chung chung là “tại một thời điểm cụ thể”, mà không xác định rõ thời điểm cụ thể là thời điểm nào. Như vậy, pháp luật đã giao cho Tòa án sự chủ động trong việc xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng. Tùy từng trường hợp khác nhau, mức độ tác động của hoàn cảnh khác nhau mà Tòa án có thể lựa chọn chấm dứt hợp đồng, như tại thời điểm hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi, thời điểm một bên đưa ra yêu cầu áp dụng điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản hoặc thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật… Trao quyền chủ động, linh hoạt cho Tòa án là một điều hợp lý, tuy nhiên cũng cần phải cân nhắc. Bởi lẽ, điều này sẽ đặt gánh nặng cho Thẩm phán giải quyết vụ việc phải có năng lực cao trong việc đánh giá, nhận định vụ án. Bởi không phải Thẩm phán nào cũng đủ năng lực, chuyên môn để thẩm định điều này, đặc biệt là đối với những hợp đồng mang tính đặc thù như về kỹ thuật, công nghệ thông tin… Liên quan đến nội dung này, pháp luật ở các nước có những quy định không giống nhau. Ví dụ, bộ luật dân sự Hà Lan năm 1992 (Điều 6.258) quy định: “Tòa án có thể dựa vào lý trí và lẽ công bằng điều chỉnh hiệu lực của hợp đồng, hoặc chấm dứt một phần hoặc toàn bộ hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi tới mức làm cho một bên không còn có thể tiếp tục thực hiện hợp đồng” [1]. Như vậy, thời điểm để Tòa án Hà Lan chấm dứt hiệu lực của hợp đồng là tại thời điểm hoàn cảnh thay đổi cơ bản. bộ luật dân sự Peru năm 1984 (Điều 1432) lại quy định “việc chấm dứt hiệu lực của hợp đồng không làm ảnh hưởng đến các nghĩa vụ đã được hoàn thành” [1]. Như vậy, hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm có phán quyết của Tòa án. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Khi tuyên bố chấm dứt hợp đồng, trong Bản án, Tòa án cũng cần phải giải quyết được hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng. Bởi suy cho cùng, việc chấm dứt hợp đồng cũng là để đảm bảo sự công bằng giữa các bên tham gia. Hợp đồng chấm dứt sẽ giải thoát một bên khỏi một nghĩa vụ, một hậu quả bất lợi không mong muốn nhưng cũng có thể khiến bên còn lại chịu thiệt hại do hợp đồng không được thực hiện, mục đích tham gia hợp đồng không đạt được. Do vậy, Tòa án phải xác định được những tổn thất của hai bên, đối với bên đề nghị chấm dứt hợp đồng là tổn thất đã phải gánh chịu do thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, đối với bên còn lại là thiệt hại do không thực hiện tiếp được hợp đồng. Từ đó, Tòa án phải phân chia được những rủi ro, thiệt hại phải gánh chịu của mỗi bên một cách công bằng, hợp lý.
- Tòa án sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi
Trong trường hợp nhận thấy việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi thì Tòa án có quyền sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Bàn luận về thẩm quyền sửa đổi hợp đồng của Tòa án, có khá nhiều quan điểm trái chiều. Có quan điểm cho rằng: việc cho phép một cơ quan thứ ba sửa đổi nội dung hợp đồng đã thống nhất, buộc các bên thực hiện theo sự chỉnh sửa ấy là không phù hợp với bản chất tự do ý chí, tự do thỏa thuận của hợp đồng. Tuy nhiên, như đã nói, mặc dù các bên tự do ý chí khi tham gia giao kết, nhưng sự tự do này được giới hạn trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khiến cho một bên phải gánh chịu những thiệt hại nghiêm trọng không đáng có, thì những thiệt hại này chính là giới hạn cho sự tự do hợp đồng ấy. Lúc này, việc các bên phải điều chỉnh lại hợp đồng hoặc chấm dứt thực hiện hợp đồng là yêu cầu thiết thực. Những gì các bên đã giao kết là trước khi có sự thay đổi cơ bản không còn là những nội dung thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên trong hoàn cảnh mới, đây là những khoảng trống mà các bên không thể tự thương lượng, thỏa thuận để giải quyết. Sự tham gia của Tòa án là cần thiết, giúp lấp đầy khoảng trống đó và giúp cho việc thực hiện hợp đồng của mỗi bên tiến đến đạt được những gì đã dự định khi giao kết.
Mặc dù chưa có quy định nhưng thực tiễn pháp lý, Tòa án Việt Nam cũng đã dựa trên công bằng và công lý để điều chỉnh hợp đồng của các bên khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản. Trong một bản án được tuyên năm 2006, Tòa án nhân dân Tối cao đã can thiệp để điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi bất lợi cho một bên. Cụ thể, năm 1992 ông Thiết và bà Lới đăng ký mua một kiốt của ông Son và bà Thìn với giá 7,8 triệu đồng và bên mua đã thanh toán được 4,8 triệu đồng và nhận kiốt. Sau đó, các bên có tranh chấp và năm 2006 (14 năm sau), Tòa án xác định thỏa thuận mua bán trên “là hợp pháp, các bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện”. Từ nhận định đó, Tòa tối cao đã đi đến kết luận rằng “số tiền còn thiếu, bên mua là ông Thiết, bà Lới phải thanh toán cho bên bán là ông Son, bà Thìn theo thời giá (kiốt phải được định giá để ông Thiết, bà Lới thanh toán theo giá mới phần chưa thanh toán theo tỷ lệ tương ứng)”. Ở đây, Tòa án nhân dân Tối cao đã giải quyết vụ án theo hướng cần phải định giá lại kiốt có tranh chấp và bên mua phải thanh toán phần chưa thanh toán theo tỷ lệ tương ứng. Như vậy, Tòa án nhân dân tối cao đã can thiệp vào hợp đồng để tái cân bằng lợi ích cho các bên [18].
Tuy nhiên, để áp dụng phương án này, Tòa án phải cân nhắc, tính toán được thiệt hại gây ra do việc chấm dứt hợp đồng có lớn hơn các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi hay không. Quy định này, một lần nữa lại đặt gánh nặng cho Thẩm phán trong việc xác định chính xác được những “thiệt hại” do việc chấm dứt hợp đồng và những “chi phí” cho việc tiếp tục thực hiện hợp đồng. Các “thiệt hại” và “chi phí” này đều là những dự đoán dựa trên hoàn cảnh hiện tại. Bên cạnh đó, không phải thiệt hại hay chi phí nào cũng có thể định lượng, so sánh được bằng con số cụ thể, như uy tín kinh doanh, phạm vi thị trường… Đây là các vấn đề phức tạp và khó khăn mà không phải Thẩm phán nào cũng đủ hiểu biết và trình độ để thực hiện việc này. Trong khi đó, bản thân điều luật cũng có những quy định không rõ ràng. Cụ thể, thiệt hại mà việc chấm dứt hợp đồng gây ra cho bên nào sẽ được sử dụng để so sánh với các chi phí để thực hiện hợp đồng? Thậm chí là có tính toán đến chi phí, lợi ích của người thứ ba hay không? Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Điều 420 không quy định về phạm vi Tòa án sửa đổi hợp đồng mà chỉ quy định mục đích cho việc sửa đổi là “để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản”. Như vậy, khi sửa đổi hợp đồng, Thẩm phán không được sửa đổi những điều khoản làm thay đổi bản chất, mục đích đích thực của các bên tham gia hợp đồng, mà chỉ chỉnh sửa những điều khoản bị hoàn cảnh thay đổi tác động, nhằm lấy lại sự cân bằng của các bên tham gia giao kết.
Để dễ hình dung hơn về việc cân nhắc lựa chọn chấm dứt hợp đồng hay sửa đổi hợp đồng, và nội dung của hợp đồng mà Tòa án được phép sửa đổi khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi, có thể tham khảo ví dụ được nêu tại phần bình luận của PICC như sau: A là công ty xuất nhập khẩu, ký hợp đồng cung ứng mặt hàng bia hơi trong ba năm với Công ty B – một công ty nhập khẩu tại nước X. Hai năm sau khi hợp đồng có hiệu lực, nước X cấm bán và tiêu thụ các đồ uống có cồn.
B ngay lập tức viện dẫn đến điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản, đề nghị A đàm phán lại hợp đồng. A công nhận hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản nhưng từ chối chấp nhận yêu cầu của B. Sau một tháng đàm phán không thành công, B yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp này:
Nếu B có thể bán bia tại nước láng giềng, dù với một giá thấp đáng kể thì Tòa án có thể vẫn quyết định duy trì hiệu lực của hợp đồng nhưng giảm giá thành đã thỏa thuận. Nếu ngược lại, B không có khả năng đó thì Tòa án có thể chấm dứt hợp đồng, tuy nhiên đồng thời yêu cầu B thanh toán cho A lô hàng đang cùng trên đường gửi đến.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Trước bộ luật dân sự năm 2015, pháp luật Việt Nam đã có những quy định mang “bóng dáng” của điều khoản thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi. Mặc dù vậy, các quy định này còn nhiều điểm chưa hợp lý và chỉ nằm trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành, không được ghi nhận tại bộ luật dân sự nên không thể được áp dụng rộng rãi cho các hợp đồng khác.
Đến bộ luật dân sự năm 2015, nhà làm luật đã dành riêng một điều khoản để quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Theo đó, hoàn cảnh thực hiện hợp đồng có sự thay đổi, thỏa mãn các điều kiện khách quan (thời gian, nguyên nhân xảy ra hoàn cảnh, tính chất lường trước của hoàn cảnh, mức độ tác động của hoàn cảnh đối với mỗi bên), các điều kiện chủ quan (sự nỗ lực của bên bị tác động trong việc ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích) được liệt kê tại Khoản 1 Điều 420 bộ luật dân sự. Khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Nếu các bên không thể thỏa thuận được thì bên bị bất lợi có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Theo yêu cầu, Tòa án có quyền sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm hợp lý. Tuy nhiên, Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi. Điều 420 của bộ luật dân sự năm 2015 đã tương đối phù hợp để giải quyết tranh chấp trên thực tế và có độ tương thích nhất định với pháp luật của các nước trên thế giới. Tuy nhiên, quy định này cũng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, có thể gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp cũng như cho cơ quan có thẩm quyền trong quá trình áp dụng. Luận văn: Pháp luật về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện về hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
