Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Bình Định

Hiện trạng rừng và thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng được thể hiện qua các bảng số liệu sau đây:

Bảng 2.1. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2013

  • Đất có rừng là 858,7 ha, trong đó: Đất có rừng trong quy hoạch lâm nghiệp là 307.343,1 ha; đất có rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp là 4.515,6 ha.
  • Độ che phủ của diện tích rừng tỉnh Bình Định năm 2013 (chưa tính diện tích rừng mới trồng là 16.662,2 ha) là: 48,8%.

Bảng 2.2. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2014

  • Đất có rừng là 645,42 ha, trong đó: Đất có rừng trong quy hoạch lâm nghiệp là 310.634,65 ha; đất có rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp là 6.010,77 ha.
  • Độ che phủ của diện tích rừng tỉnh Bình Định năm 2014 (chưa tính diện tích rừng mới trồng là 14.989,6 ha) là: 49,9%.

Bảng 2.3. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2015

  • Đất có rừng là 495,13 ha, trong đó: Đất có rừng trong quy hoạch lâm nghiệp là 321.799,33 ha; đất có rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp là 7.695,8 ha.
  • Độ che phủ của diện tích rừng tỉnh Bình Định năm 2015 (chưa tính diện tích rừng mới trồng là 12.399,0 ha) là: 52,2%.

Bảng 2.4. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2016

  • Đất có rừng là 918,14 ha, trong đó: Đất có rừng trong quy hoạch lâm nghiệp là 299.251,07 ha; đất có rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp 19.667,07 ha.
  • Độ che phủ của diện tích rừng tỉnh Bình Định năm 2016 (chưa tính diện tích rừng mới trồng là 64.668,22 ha) là: 52,5%.

Bảng 2.5. Diện tích rừng tỉnh Bình Định tính đến ngày 31/12/2017

Đất có rừng và đã trồng mới chưa thành rừng là 621,87 ha, trong đó: Đất có rừng trong quy hoạch lâm nghiệp là 350.707,62 ha và đất có rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp là 32.914,25 ha; Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Độ che phủ của diện tích rừng tỉnh Bình Định năm 2017 (chưa tính diện tích rừng mới trồng là 56.083,83 ha) là: 53,95%.

  • Bảng 2.6. Số liệu diện tích rừng bị hủy hoại từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định
  • Bảng 2.7. Số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định.
  • Bảng 2.8. Số vụ phá rừng trái phép từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định
  • Bảng 2.9. Số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng bị xử lý hành chính, xử lý hình sự từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định
  • Bảng 2.10. Tình hình điều tra, truy tố, xét xử tội hủy hoại rừng từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định

Qua các bảng số liệu nêu trên, có thể thấy diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định, đặc biệt là diện tích rừng đặc dụng và phòng hộ là rừng tự nhiên bị suy giảm nhanh chóng. Mặc dù trong thời gian qua các sở, ban, ngành của tỉnh đã triển khai kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; thường xuyên rà soát, đề xuất ban hành các văn bản giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc; tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư bảo vệ và phát triển rừng; huy động các nguồn vốn để đầu tư bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Tuy nhiên, diện tích rừng bị phá còn xảy ra nhiều tại các huyện miền núi và trung du nhưng các lực lượng chức năng của địa phương chậm phát hiện, rừng bị phá với diện tích lớn; tình trạng khai thác lâm sản trái pháp luật tại các huyện miền núi và vùng giáp ranh vẫn còn xảy ra, chưa được ngăn chặn triệt để; các vụ cháy rừng và diện tích rừng bị cháy ngày càng tăng; việc lấn, chiếm đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất xảy ra nhiều tại các địa phương… Điều này gây ra những tác động khôn lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, thiên tai lũ lụt hàng năm xảy ra ngày càng nghiêm trọng.

Trong thời gian qua, tại tỉnh Bình Định tội phạm hủy hoại rừng xảy ra từ năm 2013 đến năm 2017 trung bình 01 năm 06 vụ, trong đó đáng lưu ý số vụ bị xử lý hình sự năm 2017 tăng gấp đôi so với năm 2016, có nhiều vụ hủy hoại với diện tích rừng lớn, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, việc giải quyết, xử lý còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật chuyên ngành cũng như việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết đặc biệt là việc đánh giá, xác định thiệt hại của rừng, trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị còn nhiều hạn chế nên hiệu quả chưa cao.

2.2. Thực tiễn định tội danh tội hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

2.2.1 Thực tiễn định tội danh tội hủy hoại rừng

Theo quan điểm của GS. TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự”. [98, tr. 9-10]. Theo đó, định tội danh là một quá trình lôgíc, là hoạt động xác nhận, ghi nhận sự phù hợp của trường hợp phạm tội cụ thể đang được xem xét với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. Đồng thời, định tội danh là việc đánh giá mặt pháp lý đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại đến lợi ích mà pháp luật hình sự bảo vệ, chúng có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau.

Như vậy, có thể hiểu định tội danh các tội phạm hình sự nói chung và định tội danh đối với tội hủy hoại rừng nói riêng là quá trình xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể thực hiện có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm do Bộ luật Hình sự quy định. Việc định tội danh đúng, là việc áp dụng đầy đủ và chính xác các quy định của pháp luật đối với hành vi phạm tội được thực hiện. Điều này đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và thông qua đó đảm bảo công bằng và dân chủ trong xã hội, đảm bảo cho lợi ích của Nhà nước và nhân dân, góp phần hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội.

Trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2017 tại tỉnh Bình Định đã xảy ra 31 vụ hủy hoại rừng bị xử lý hình sự, cơ quan Điều tra đã tiến hành điều tra, khởi tố 31 vụ, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân) truy tố 28 vụ, Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án nhân dân) xét xử 28 vụ. Tác giả lấy số liệu từ năm 2013 đến năm 2017, các vụ án hủy hoại rừng này xảy ra trước thời điểm Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2018) nên thực tiễn định tội danh được tác giả phân tích theo Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Thứ nhất, trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, tại tỉnh Bình Định xảy ra 02 vụ hủy hoại rừng bị xử lý hình sự, được định tội danh theo cấu thành cơ bản quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào tháng 7 năm 2015 (không xác định ngày cụ thể), Nguyễn Hòa N. tự ý vào rừng tại khoảnh 2a, tiểu khu 226, xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định sử dụng rựa phát rong những cây nhỏ, dây leo, bụi rậm dưới tán rừng, sau đó sử dụng cưa lốc (cưa xăng) cắt hạ những cây có đường kính lớn. N. đã phá rừng với diện tích là 5.813m2, loại rừng gỗ tự nhiên, thuộc quy hoạch rừng sản xuất, với giá trị rừng bị thiệt hại là 121.847.808 đồng. Tại Cáo trạng số 05/QĐ-KSĐT ngày 27/6/2016 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Hòa N. về tội hủy hoại rừng quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [95, tr. 3]. Tại Bản án số 12/2016/HSST ngày 09/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Hòa N. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [67, tr. 4]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Vụ thứ 2: Vào khoảng tháng 10, 11, 12 năm 2014, Nguyễn Văn M. vào khu vực núi có tục danh Nhum thuộc thôn Định Bình Nam, xã Hoài Đức, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định phá rừng tự nhiên để làm rẫy trồng cây keo. Nguyễn Văn M. trực tiếp thực hiện và thuê mướn một số người cùng thực hiện việc chặt phá các loại cây trên diện tích này. Tổng diện tích rừng bị phá là 9.607,2m2, loại rừng gỗ tự nhiên, thuộc quy hoạch rừng sản xuất, giá trị thiệt hại là 22.403.341 đồng. Tại Cáo trạng số 305/QĐ-KSĐT ngày 22/6/2016 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M. về tội hủy hoại rừng quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [89, tr. 3]. Tại Bản án số 54/2016/HSST ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [61, tr. 3].

Qua hai vụ án trên cho thấy, các bị cáo đều được định tội danh theo cấu thành cơ bản khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự. Khoản 1 Điều 189 quy định hành vi “đốt, phá rừng trái phép rừng hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng” thì thuộc trường hợp quy định tại khoản này, tuy nhiên điều luật không quy định mức định lượng cụ thể mà cần phải căn cứ Thông tư 19/2007/TTLT và Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (sau đây gọi là Nghị định 157/2013/NĐ-CP). Theo đó, quy định tại điểm a tiểu mục 3.4, mục 3, phần IV Thông tư 19/2007/TTLT thì “Gây hậu quả nghiêm trọng” là trường hợp hủy hoại rừng sản xuất với diện tích từ trên mức tối đa bị Xử phạt vi phạm hành chính đến hai lần mức tối đa bị Xử phạt vi phạm hành chính. Tại điểm b khoản 5 Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định: “Rừng sản xuất từ trên 3.000m2 đến 5.000m2…”. Như vậy, mức vi phạm tối đa trong Xử phạt hành chính đối với rừng sản xuất bị phá trái phép là 5.000m2 cho nên khi diện tích rừng sản xuất bị hủy hoại từ trên 5.000m2 đến 10.000m2 thì được xem là gây hậu quả nghiêm trọng. Đối chiếu với 02 vụ án trên thì các bị cáo đều có hành vi hủy hoại rừng, loại rừng gỗ tự nhiên, thuộc quy hoạch rừng sản xuất, diện tích bị hủy hoại là 5.813m2 và 9.607,2m2 nên thuộc trường hợp định tội ở khung cơ bản là khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Qua đó cho thấy, các cơ quan tố tụng tại Bình Định đã định tội danh theo khoản 1 Điều 189 là hoàn toàn đúng.

  • Thứ hai, định tội danh theo khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Phần lớn diện tích rừng tại Bình Định là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Căn cứ vào các bảng 2.1 đến 2.5 cho thấy diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất chiếm đa số, cụ thể diện tích rừng phòng hộ chiếm khoảng 53,5%, rừng sản xuất là rừng trồng chiếm khoảng 37,5%, còn rừng đặc dụng chỉ chiếm khoảng 9,0%. Do vị trí địa lý, địa hình nằm ở miền Trung, hàng năm phải chịu nhiều thiệt hại do thiên tai gây ra như hạn hán, lũ, lụt… nên chính quyền địa phương rất chú trọng việc bảo vệ diện tích rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng còn hạn chế, chưa đảm bảo, các cơ quan chức năng quản lý chưa chặt chẽ nên các hành vi hủy hoại rừng vẫn diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Trong đó, đối tượng tác động chính của tội hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, tại tỉnh Bình Định xảy ra 03 vụ hủy hoại rừng bị xử lý hình sự định tội danh theo khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 01, 02 và tháng 3 năm 2015, Võ Văn Ch. vào khu vực rừng có tục danh Cống Cầu Khỉ thuộc khoảnh 1, tiểu khu 106, thôn Định Bình Nam, xã Hoài Đức, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, phá rừng tự nhiên để làm rẫy trồng cây keo. Võ Văn Ch. trực tiếp dùng rựa chặt tất cả các loại cây rừng sau đó để khô rồi đốt. Tổng diện tích rừng bị phá là 14.146,4m2, loại rừng gỗ tự nhiên, thuộc quy hoạch rừng sản xuất có trạng thái rừng nghèo, giá trị lâm sản thiệt hại là 68.970.000 đồng. Tại Cáo trạng số 319/QĐ-KSĐT ngày 25/4/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn đã truy tố bị cáo Võ Văn Ch. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [87, tr. 3]. Tại Bản án số 26/2017/HSST ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo Võ Văn Ch. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [59, tr. 3].

Vụ thứ 2: Vào khoảng tháng 01, 02 và 03 năm 2015, Võ Thị Y. vào khu vực rừng có tục danh Đồng Lớn thuộc khoanh 01, 02, tiểu khu 106 thuộc Định Bình Nam, xã Hoài Đức, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định phá rừng tự nhiên để làm rẫy trồng cây keo. Tổng diện tích rừng bị phá là 10.270,7m2, loại rừng gỗ tự nhiên, thuộc quy hoạch rừng sản xuất có trạng thái rừng nghèo, giá trị lâm sản thiệt hại là 47.668.000 đồng. Tại Cáo trạng số 326/QĐ-KSĐT ngày 26/4/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn đã truy tố bị cáo Võ Thị Y. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [88, tr. 3]. Tại Bản án số 25/2017/HSST ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn đã tuyên bố bị cáo Võ Thị Y. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [60, tr. 3].

Vụ thứ 3: Vào khoảng tháng 9/2014 đến tháng 6/2015 (không xác định được ngày cụ thể), Đinh T. và Đinh Thị Th. đến khu rừng sản xuất tại khoảnh 9 tiểu khu 185 thuộc xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định phá rừng trái phép để lấy đất sản xuất dùng rựa chặt phá những cây nhỏ, dùng cưa lốc cưa hạ những cây lớn. Diện tích rừng bị Đinh T., Đinh Thị Th. phá là loại rừng tự nhiên thuộc quy hoạch rừng sản xuất, diện tích bị thiệt hại là 12.190m2. Giá trị lâm sản bị thiệt hại là 203.656.593 đồng. Tại Cáo trạng số 09/QĐ-KSĐT ngày 21/11/2016, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đã truy tố các bị cáo Đinh T., Đinh Thị Th. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [94, tr. 3]. Tại Bản án số 04/2016/HSST ngày 30/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã tuyên bố các bị cáo Đinh T., Đinh Thị Th. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [66, tr. 5].

Qua 03 vụ án nêu trên cho thấy các vụ án đều định tội danh theo điểm c khoản 2 Điều 189 “Hủy hoại diện tích rừng rất lớn”, theo quy định tại điểm a tiểu mục 3.5, mục 3, phần IV Thông tư 19/2007/TTLT thì “Hủy hoại diện tích rừng rất lớn” là trường hợp hủy hoại rừng sản xuất với diện tích từ trên hai lần mức tối đa bị Xử phạt vi phạm hành chính đến bốn lần mức tối đa bị Xử phạt vi phạm hành chính. Tại điểm b khoản 5 Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định: “Rừng sản xuất từ trên 3.000m2 đến 5.000m2…”. Như vậy, mức vi phạm tối đa trong Xử phạt hành chính đối với rừng sản xuất bị phá trái phép là 5.000m2 cho nên khi diện tích rừng sản xuất bị hủy hoại từ trên hai lần mức tối đa là trên 10.000m2 đến 20.000m2 thì được xem là “Hủy hoại diện tích rừng rất lớn”. Đối chiếu với 03 vụ án trên thì các bị cáo đều có hành vi hủy hoại rừng, loại rừng gỗ tự nhiên, thuộc quy hoạch rừng sản xuất, diện tích bị hủy hoại là 14.146,4m2, 10.270,7m2 và 12.190m2 nên thuộc trường hợp định tội danh ở khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Qua đó cho thấy, các cơ quan tố tụng tại Bình Định đã định tội danh theo khoản 2 Điều 189 là hoàn toàn đúng. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

  • Thứ ba, định tội danh theo khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Qua tổng hợp số liệu xét xử các vụ án hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định từ năm 2013 đến năm 2017, có 23 vụ/31 vụ (chiếm 74,19%) bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và định tội danh theo khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 được hướng dẫn tại tiểu mục 3.6, mục 3, phần IV Thông tư số 19/2007/TTLT có giải thích cho các tình tiết “Hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn”, “Hủy hoại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng” “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại các điểm a, b, c khoản 3 Điều 189 khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, căn cứ vào diện tích rừng bị thiệt hại, tại khoản a tiểu mục 3.6, mục 3, phần IV Thông tư 19/2007/TTLT và Nghị định 157/2013/NĐ-CP, cụ thể tại điểm b khoản 5 Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định: “…b. Rừng sản xuất từ trên 3.000m2 đến 5.000m2…”. Mức vi phạm tối đa trong Xử phạt hành chính đối với rừng sản xuất bị phá trái phép là 5.000m2, do đó bị coi gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khi diện tích rừng sản xuất bị hủy hoại từ 20.000m2 trở lên.

Trường hợp thứ hai, chỉ cần trên mức tối đa Xử phạt hành chính là đã bị khép vào khoản 3 Điều 189 đối với các hành vi hủy hoại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Mức Xử phạt hành chính cụ thể, điểm b khoản 5 Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định: “…c. Phá rừng phòng hộ từ trên 2.000m2 đến 3.000m2” cho nên được xem là hủy hoại rừng phòng hộ khi diện tích rừng phòng hộ bị hủy hoại trên 3.000m2. “…d. Rừng đặc dụng từ trên 700m2 đến 1000m2”, do đó bị coi là hủy hoại rừng đặc dụng khi diện tích rừng đặc dụng bị hủy hoại trên 1.000m2. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Trường hợp thứ ba, căn cứ vào khoản c tiểu mục 3.6 mục 3 phần IV Thông tư 19/2007/TTLT để giải quyết. Thực tiễn tại địa phương cho thấy trường hợp thứ ba rất ít xảy ra bởi vì được tách ra thành tội danh độc lập quy định tại Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 là tội chống người thi hành công vụ.

Để làm rõ các trường hợp trên, tác giả nêu ra một số ví dụ điển hình mà trong thời gian qua các cơ quan tiến hành tố tụng tại Bình Định đã điều tra, truy tố và xét xử theo khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999, như sau:

Vụ thứ nhất: Vào tháng 01 năm 2013, Đinh Văn Th. đã thuê nhân công dùng rựa, rìu và cưa máy vào khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc khoảnh 5, tiểu khu 171, xã BókTới, huyện Hoài Ân để phá rừng làm rẫy. Tổng diện tích rừng bị phá là 29.048m2, theo chức năng sử dụng là rừng phòng hộ đầu nguồn, trữ lượng rừng nghèo, là rừng phục hồi trạng thái lâm sản IIa; lâm sản bị thiệt hại là 75,53m3; giá trị thiệt hại thành tiền là 111.689.560 đồng. Tại Cáo trạng số 38/QĐ-KSĐT ngày 16/10/2013 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân đã truy tố bị cáo Đinh Văn Th. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [82, tr. 3]. Tại Bản án số 23/2017/HSST ngày 09/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo Đinh Văn Th. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [53, tr. 4].

Vụ thứ 2: Vào tháng 02 năm 2017, qua tìm hiểu và biết được vùng rừng tại lô a3, khoảnh 2, tiểu khu 22 thuộc xã An Tân, huyện An Lão còn là rừng tự nhiên, Đặng Ngọc V. đã thuê một người dân tộc thiểu số dùng rựa và cưa máy phát, cưa hạ toàn bộ cây lớn, cây nhỏ và dây leo theo yêu cầu của Đặng Ngọc V., làm cho rừng tự nhiên bị chặt phá trắng với diện tích 7.538m2, trạng thái rừng IIa, quy hoạch chức năng phòng hộ, gây thiệt hại thành tiền là 38.162.000 đồng. Tại Cáo trạng số 30/QĐ-KSĐT ngày 04/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão đã truy tố bị cáo Đặng Ngọc V. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [81, tr. 5]. Tại Bản án số 02/2017/HSST ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện An Lão, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo Đặng Ngọc V. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [52, tr. 5].

Vụ thứ 3: Vào khoảng tháng 5 năm 2015, La O L. đã bàn bạc và bảo con rễ của mình là Đoàn Văn L. đến khu rừng sản xuất có tục danh là Công Căn nằm tại vị trí khoảnh 4, tiểu khu 377A thuộc xã Canh Thuận, huyện Vân Canh để chặt phá cây rừng làm nương rẫy sản xuất. Diện tích rừng bị thiệt hại là 22.824m2; loại rừng bị thiệt hại là rừng gỗ tự nhiên, thuộc quy hoạch rừng sản xuất có trạng thái rừng nghèo; giá trị rừng bị thiệt hại là 268.719.000 đồng. Tại Cáo trạng số 06/QĐ-KSĐT ngày 08/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh đã truy tố bị cáo La O L. và Đoàn Văn L. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [90, tr. 4]. Tại Bản án số 10/2017/HSST ngày 29/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo La O L. và Đoàn Văn L. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [62, tr. 6]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Vụ thứ 4: Vào tháng 5/2016 (không xác định ngày cụ thể), Đinh Qu. đến khu vực sản xuất có tục danh Nước Xin thuộc khoảnh 5, tiểu khu 128, xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định phá rừng làm nương rẫy (trồng chuối và trỉa đậu xanh). Đinh Qu. dùng rựa phát hạ, dùng máy cưa lốc cưa hạ những cây có đường kính lớn. Diện tích rừng bị Đinh Qu. phá là 7.248m2, loại rừng phòng hộ có trạng thái rừng nghèo, giá trị thiệt hại được xác định là 110.545.290 đồng. Tại Cáo trạng số 11/QĐ-KSĐT ngày 17/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đã truy tố bị cáo Đinh Qu. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [93, tr. 3]. Tại Bản án số 11/2017/HSST ngày 10/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo Đinh Qu. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [65, tr. 5].

Như vậy, từ các vụ án cụ thể nêu trên cho thấy phần lớn diện tích rừng bị hủy hoại theo quy định tại khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 là rừng phòng hộ, người dân đốt, phá rừng để lấy lâm sản hoặc lấy đất trồng keo khi chưa được phép của chính quyền. Diện tích rừng bị đốt, phá phần lớn đều có diện tích hơn 3000m2, cá biệt có những trường hợp diện tích hủy hoại trên 29.000m2 rừng phòng hộ. Do tính chất đặc biệt của rừng phòng hộ nên các vụ án này đều được các cơ quan tiến hành tố tụng tại Bình Định đã điều tra, truy tố và xét xử đúng quy định pháp luật, việc xác định đối tượng thuộc loại rừng phòng hộ, xác định diện tích bị hủy hoại được chú trọng và đảm bảo đúng trình tự, thủ tục nên việc định tội danh theo điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 chính xác và đúng quy định.

2.2.2 Hạn chế, khó khăn trong định tội danh tội hủy hoại rừng Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Từ những phân tích, đánh giá trên cho thấy tội phạm hủy hoại rừng trong thời gian qua tại Bình Định diễn biến phức tạp, mức độ và tính chất nguy hiểm ngày càng tăng về diện tích rừng bị hủy hoại và giá trị thiệt hại. Quá trình đấu tranh phòng chống tội này chưa đạt hiệu quả cao, do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là quy định về các dấu hiệu định tội của tội này chưa rõ ràng.

  • Thứ nhất, quy định đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng còn hạn chế.

Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định rõ đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng có bao gồm “kể cả các loài cây, bụi, dây leo” như quy định tại Điều 260 và 261 Bộ luật Hình sự Nga. Từ đó dẫn đến việc xử lý của các cơ quan tố tụng trong thực tế gặp nhiều khó khăn trong việc xác định loại cây rừng bị thiệt hại. Vì theo quy định của Điều 189 cũng như Điều 243 thì đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng bao rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng chứ không đề cập đến cây, bụi, dây leo. Do đó, có thể hiểu các loại cây cỏ, bụi cây, dây leo cũng là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng. Hiện nay, quy định này chưa cụ thể, rõ ràng nên khó khăn cho việc xác định đối tượng thiệt hại.

Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Bình Định bên cạnh những vụ án hủy hoại rừng được các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, xử lý kịp thời thì cũng còn một số vụ án còn tồn tại nhiều vướng mắc trong xác định tội phạm hủy hoại rừng đối với các loại cây cỏ, bụi cây, dây leo. Đối với những khu vực rừng ở vùng giáp ranh của miền núi và đồng bằng, thuộc dạng đồi trọc, rừng nghèo chỉ có bụi cỏ, bụi cây nhỏ và dây leo, đó là các loại cây thực bì không có giá trị. Sau đó người dân tự ý phá, đốt đi để trồng mới bằng những cây rừng có giá trị, thiết nghĩ hành vi này chỉ cần tiến hành Xử phạt hành chính về hành vi phát dọn cây cỏ trái phép, ví dụ: Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Trong vụ án Hoàng Văn T. phạm tội hủy hoại rừng. Theo hồ sơ vụ án, Hoàng Văn T. đã phát dọn và tiến hành trồng rừng, loại cây keo lai có giá trị kinh tế cao, trên phần diện tích đã phát dọn. Theo hồ sơ vụ án thì rừng sản xuất ở khu vực rừng tại Lô B, khoảnh 10, tiểu khu 99B thuộc xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, từ trước đến nay, chưa giao cho hộ gia đình nào trồng rừng phủ xanh, vẫn là dạng đất trống đồi trọc chỉ có bụi cỏ, bụi cây nhỏ và dây leo. Theo bản Cáo trạng số 15/QĐ-KSĐT, ngày 24/10/2013, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định truy tố Hoàng Văn T. về tội hủy hoại rừng. [97, tr. 4]. Tại Bản án số 10/2014/HSST ngày 21/3/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xử Hoàng Văn T. phạm tội hủy hoại rừng. [68, tr. 4].

Trong vụ án Hoàng Văn T., theo tác giả cách áp dụng quy định về tội hủy hoại rừng đối với T. là chưa hợp lý, bởi diện tích trước khi bị hủy hoại chỉ tồn tại cây cỏ thực bì, không có giá trị về môi trường và kinh tế, nhưng sau đó đã được cải tạo và trồng mới bằng những cây rừng có giá trị. Thiết nghĩ, chỉ cần tiến hành Xử phạt hành chính đối với T. về hành vi phát dọn cây cỏ trái phép.

Từ đó cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp phải những khó khăn trong quá trình xử lý các vụ án hủy hoại rừng mà trong đó có đối tượng bị hủy hoại là các loại cây cỏ, bụi cây, dây leo. Mặc dù, Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 tiến hành sửa đổi, bổ sung với đối tượng tác động cụ thể hơn là: Cây trồng chưa thành rừng, rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA, IIA cũng như khoản 3 Điều 1 Luật Lâm nghiệp năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 sẽ thay thế cho Luật BV&PTR năm 2004) có nêu khái niệm: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác…”, tuy nhiên, các điều luật cũng không đề cập, nêu rõ và giải quyết được hạn chế này.

  • Thứ hai, việc xác định đối tượng tác động thuộc tội hủy hoại rừng hay tội hủy hoại tài sản còn chưa thống nhất.

Rừng là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng, là một trong những yếu tố cấu thành môi trường. Đồng thời, rừng cũng là một trong những tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, hộ gia đình, tập thể, tổ chức khi được cơ quan chức năng có thẩm quyền có quyết định trao quyền sử dụng rừng cho họ thông qua hình thức giao rừng, cho thuê rừng; công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng thì tổ chức, tập thể, cá nhân, hộ gia đình trở thành chủ rừng và có quyền sở hữu đối với diện tích rừng được giao; nếu tổ chức, tập thể, các nhân, hộ gia đình đã tự bỏ vốn đầu tư vào diện tích rừng được giao này, không lấy từ nguồn vốn ngân sách của Nhà nước thì lúc này rừng trở thành đối tượng tác động của tội xâm phạm về sở hữu, cụ thể là tội hủy hoại tài sản. [23, tr. 45]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định rõ trong việc loại trừ trường hợp không thuộc vào các tội xâm phạm sở hữu như một số quy định khác trong Bộ luật Hình sự. Mặc dù tại khoản a, b tiểu mục 3.3, mục 3, phần IV Thông tư số 19/2007/TTLT có đề cập tới vấn đề xác định đối tượng tác động của hành vi hủy hoại rừng là thuộc thuộc về tội hủy hoại rừng hay tội hủy hoại tài sản. Tuy nhiên, quy định này chung chung, chưa cụ thể, rõ ràng nên có nhiều trường hợp xác định đối tượng không đúng dẫn đến định tội danh sai, ví dụ: Vụ án Lò Văn X. phạm tội hủy hoại rừng. Theo hồ sơ vụ án, Lò Văn X. đã có hành vi hủy hoại rừng tại khoảnh 2, tiểu khu 152, thuộc xã Đak Mang, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định do Công ty TNHH MTV (trách nhiệm hữu hạn một thành viên) Lâm nghiệp Đak Mang sở hữu và quản lý, chăm sóc, với diện tích rừng bị chặt phá trái phép là 7.816m2 để lấy đất làm nương rẫy. Tại Bản án số 18/2014/ HSST ngày 10/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tuyên phạt Lò Văn X. phạm tội hủy hoại rừng. [55, tr. 5].

Trong vụ án này, theo tác giả cơ quan chức năng đã định tội danh đối với Lò Văn X. chưa chính xác. Vì theo hồ sơ vụ án, diện tích rừng bị hủy hoại là do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đak Mang sở hữu và quản lý, không có tiếp nhận nguồn ngân sách của Nhà nước để chăm sóc cây rừng. Cho nên, theo tác giả căn cứ vào tại khoản a, b tiểu mục 3.3, mục 3, phần IV Thông tư số 19/2007/TTLT thì hành vi hủy hoại rừng nêu trên của Lò Văn X. là phạm tội hủy hoại tài sản được quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự năm 1999, chứ Lò Văn X. không phạm tội hủy hoại rừng.

Chính vì vậy, cần thiết phải có quy định rõ ràng hơn trong quy định về tội hủy hoại rừng cho trường hợp phân biệt đối tượng tác động là rừng thuộc tội hủy hoại rừng hay thuộc tội hủy hoại tài sản. Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời cũng chưa giải quyết triệt để được vấn đề này, do đó để định tội danh chính xác thì các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải dựa vào các tình tiết, chứng cứ và diễn biến của vụ án một cách khách quan, cẩn thận, chặt chẽ, phải xem xét, phân tích kỹ yếu tố khách thể tác động của tội hủy hoại rừng thì mới định tội danh chính xác được.

  • Thứ ba, việc đánh giá và áp dụng dấu hiệu “đã bị Xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” trong thực tế còn gặp phải một số hạn chế. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Trong số các vụ án hủy hoại rừng được tiến hành điều tra, truy tố và xét xử từ năm 2013 đến 2017 trên địa bàn tỉnh Bình Định, bên cạnh việc áp dụng dấu hiệu này chính xác thì cũng còn tồn tại một số vụ án chưa chính xác, đó là có trường hợp cùng một diện tích rừng vừa bị Xử phạt hành chính vừa bị truy cứu Trách nhiệm hình sự là không đúng theo quy định tại Điều 20 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định Xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; cũng như không đúng tinh thần được quy định trong Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sau đây gọi là Nghị định 81/2013/NĐ-CP) đó là một hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị áp dụng, như:

Vụ thứ nhất: Trong vụ án Đinh D. phạm tội hủy hoại rừng. Theo hồ sơ vụ án, khi phát hiện Đinh D. có hành vi hủy hoại rừng với diện tích thiệt hại xác định được là 5.126m2 rừng phòng hộ đầu nguồn thì cơ quan chức năng của UBND xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh đã tiến hành lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi phát rừng làm nương rẫy trái phép. Tuy nhiên, sau đó cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiến hành khởi tố vụ án để truy cứu Trách nhiệm hình sự đối với Đinh D.. Tại Bản án số 01/2014/HSST ngày 20/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã tuyên phạt Đinh D. phạm tội hủy hoại rừng. [70, tr. 4].

Vụ thứ hai: Trong vụ án Quách Văn Th. phạm tội hủy hoại rừng. Theo hồ sơ vụ án, khi phát hiện Quách Văn Th. có hành vi hủy hoại rừng với diện tích thiệt hại được xác định là 3.716m2 thì cơ quan chức năng của UBND xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh đã tiến hành lập biên bản Xử phạt vi phạm hành chính về hành vi phát rừng làm nương rẫy trái phép. Tuy nhiên, sau đó cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tiến hành khởi tố vụ án để truy cứu Trách nhiệm hình sự đối với Quách Văn Th.. Tại Bản án số 04/2014/HSST ngày 20/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã tuyên phạt Quách Văn Thiên phạm tội hủy hoại rừng. [69, tr. 3].

Thực tiễn áp dụng quy định còn nhiều trường hợp chưa thống nhất cũng như công tác điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn một số sai sót đã phản ánh phần nào công tác đấu tranh, phòng chống tội hủy hoại rừng vẫn đang còn những hạn chế nhất định. Những hạn chế đó có thể xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như từ chính công tác phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng nhưng cũng có thể xuất phát từ chính các quy định về tội hủy hoại rừng trong Bộ luật Hình sự còn bất cập, vướng mắc. Vì thế, xuất phát từ thực tiễn và từ những yêu cầu của hoạt động đấu tranh phòng, chống loại tội này, một trong những yêu cầu cấp thiết đang đề ra chính là nhận định được những bất cập trong quy định về tội hủy hoại rừng và tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này.

2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt tội hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

2.3.1 Thực tiễn quyết định hình phạt tội hủy hoại rừng

Theo quan điểm của PGS.TS. Phạm Văn Lợi thì “Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án buộc tội”. [20, tr. 386]. Theo đó, quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn một loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội. Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản, một nội dung quan trọng của quá trình áp dụng Luật Hình sự.

Như vậy, quyết định hình phạt có thể hiểu là lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi chế tài để áp dụng đối với người phạm tội do Tòa án thực hiện trong quá trình xét xử vụ án hình sự. Quyết định hình phạt có ý nghĩa rất quan trọng trong tố tụng hình sự, là giai đoạn quyết định để đưa hình phạt quy định trong chế tài hình sự ra áp dụng đối với người phạm tội cụ thể, quyết định hình phạt là biểu hiện chính sách hình sự của Nhà nước đối với người phạm tội và nó là biểu hiện chính của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu. [23, tr. 51].

Bình Định có diện tích rừng là 350.653,35 ha, gồm: Rừng tự nhiên là 216.346,73 ha, rừng trồng là 134.306,62 ha; số vụ vi phạm pháp luật về hủy hoại hoại rừng bị xử lý hình sự trung bình 06 vụ/mỗi năm từ năm 2013 đến năm 2017. Tại Bình Định vẫn còn tồn tại một số “điểm nóng” về hủy hoại rừng, nhiều huyện có diện tích lớn về rừng, đồi núi hiểm trở, bên cạnh dân tộc kinh còn có dân tộc thiểu số, với đời sống còn nhiều khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế nên việc phát hiện cũng như xử lý đối với hành vi hủy hoại rừng là còn nhiều hạn chế, khó khăn. Theo số liệu báo cáo của các cơ quan chức năng thì thực tế có rất nhiều trường hợp hủy hoại rừng nhưng cho đến nay vẫn chưa thể tìm ra thủ phạm, cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng chưa được chặt chẽ, do đó nhiều vụ việc chưa thể xử lý, giải quyết được.

Các vụ hủy hoại rừng đã bị phát hiện và xử lý từ năm 2013 đến năm 2017 theo Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999, phần lớn các vụ án đều thuộc khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này Bộ luật Hình sự năm 2015 thông qua ngày 27/11/2015 được ban hành nhưng do phát hiện một số vấn đề lỗi kỹ thuật cho nên được tiến hành nghiên cứu sửa đổi, bổ sung vào năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2018. Trong đó, có 06 vụ án giao thời giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 được Tòa án áp dụng theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, Công văn 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 và Công văn số 256/TANDTC-PC ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao để quyết định hình phạt theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo; có 11/31 vụ bị kháng cáo, kháng nghị. Trong đó, có 07 vụ kháng cáo, 01 vụ kháng nghị được Tòa án chấp nhận. Chủ yếu Tòa án chấp nhận để giảm mức hình phạt so với bản án sơ thẩm đã tuyên.

  • Bảng 2.11. Tội hủy hoại rừng được xét xử theo các khoản của Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
  • Bảng 2.12. Số vụ hủy hoại rừng xét xử bị kháng cáo, kháng nghị từ năm 2013 đến năm 2017 của tỉnh Bình Định

Một số ví dụ điển hình:

Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 3, tháng 4 năm 2012 Nguyễn Ngọc H. đã 02 lần vào khu vực rừng phòng hộ có tục danh Dốc Ngược thuộc khoảnh 01, tiểu khu 164 ở thôn Phú Ninh, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định do UBND xã Ân Nghĩa quản lý để phá, đốt rừng làm nương rẫy (trồng mỳ). Tổng diện tích rừng bị thiệt hại do Nguyễn Ngọc H. đã phá là 18.488m2 thuộc loại rừng phòng hộ, trữ lượng rừng nghèo, trạng thái IIB, giá trị thiệt hại là 28.704.385 đồng. Tại Cáo trạng số 13/QĐ-KSĐT ngày 15/3/2013 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc H. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [86, tr. 3]. Tại Bản án số 29/2013/HSST ngày 25/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H. 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. [56, tr. 3].

Ngày 06/7/2013, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân có Quyết định kháng nghị số 120/KN-VKS về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H., theo hướng không cho bị cáo Nguyễn Ngọc H. được hưởng án treo. [83, tr. 3]. Tại Bản án số 186/2014/HSPT ngày 26/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã chấp nhận Quyết định kháng nghị số 120/KN-VKS của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, sửa Bản án sơ thẩm và xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H. 03 năm tù về tội hủy hoại rừng. [47, tr. 4].

Vụ thứ 2: Vào đầu năm 2013 (không xác định được ngày cụ thể), Đinh D. đến khu vực rừng tại Lô A, khoảng 12, tiểu khu 99A, thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn do UNND xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định quản lý dùng rựa, rìu và cưa lốc phát dọn những cây nhỏ liên tục trong 04 ngày. Diện tích rừng bị phá là 5.126,0m2, thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn, trữ lượng rừng nghèo, giá trị thiệt hại là 78.837.880 đồng. Tại Cáo trạng số 17/QĐ-KSĐT ngày 05/11/2013 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đã truy tố bị cáo Đinh D. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [96, tr. 3]. Tại Bản án số 01/2014/HSST ngày 20/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân đã tuyên bố bị cáo Đinh D. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Đinh D. 03 năm 01 tháng tù. [54, tr. 4]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Ngày 25/02/2014, bị cáo Đinh D. có đơn kháng cáo yêu cầu giảm hình phạt và được hưởng án treo. Tại Bản án số 89/2014/HSST ngày 18/4/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định chấp nhận kháng cáo. Xử phạt bị cáo Đinh D. 03 năm tù về tội hủy hoại rừng nhưng cho hưởng án treo. [48, tr. 3-4].

Vụ thứ 3: Từ tháng 9/2010 đến tháng 5/2011, Nguyễn Văn Ch. đã 03 lần vào khu vực rừng phòng hộ núi Lòng Bong thuộc khoảnh 2, tiểu khu 152, thôn Nghĩa Điền, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định để chặt phá rừng làm rẫy. Diện tích rừng bị thiệt hại là 46.324m2, loại rừng thiệt hại theo mục đích sử dụng là rừng phòng hộ đầu nguồn, trữ lượng rừng nghèo, rừng thiệt hại là rừng đang phục hồi trạng thái IIA, giá trị thiệt hại là 255.867.000 đồng. Tại Cáo trạng số 19/QĐ-KSĐT ngày 05/6/2013 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [84, tr. 3]. Tại Bản án số 27/2013/HSST ngày 24/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch. 04 năm tù. [58, tr. 3].

Ngày 25/6/2013, bị cáo Nguyễn Văn Ch. kháng cáo xin được giảm án. Tại Bản án số 185/2013/HSPT ngày 28/8/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định chấp nhận kháng cáo. Xử phạt Nguyễn Văn Ch. 03 năm tù về tội hủy hoại rừng. [51, tr. 3].

Vụ thứ 4: Vào khoảng tháng 02 đến tháng 4 năm 2011, bị cáo Nguyễn Văn Nh. đã vào khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn hồ chứa nước Đồng Quang thuộc khoảnh 2, tiểu khu 147, thôn Hương Quang, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định để phá rừng làm rẫy. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 48.657m2, loại rừng thiệt hại là rừng phòng hộ đầu nguồn, trữ lượng là rừng nghèo, rừng thiệt hại là rừng đang phục hồi trạng thái IIA. Tại Cáo trạng số 17/QĐ-KSĐT ngày 30/5/2013 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Nh. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [85, tr. 3]. Tại Bản án số 28/2013/HSST ngày 24/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Nh. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nh. 03 năm tù. [57, tr. 3-4]. Ngày 02/7/2013, bị cáo Nguyễn Văn Nh. kháng cáo yêu cầu giảm hình phạt, hưởng án treo. Tại Bản án số 212/2013/HSPT ngày 23/9/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định chấp nhận kháng cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nh. 03 năm tù về tội hủy hoại rừng nhưng cho hưởng án treo. [50, tr. 4].

Vụ thứ 5: Trong các năm 2007, 2009, 2010, 2012, Nguyễn Văn H. đã vào khu vực rừng có tục danh Năm Chặng chặt phá rừng trái phép để trồng cây keo lai. Tổng cộng trong 04 năm, bị cáo Nguyễn Văn H. đã chặt phá trái phép cây rừng tự nhiên tại khoảnh 3a, tiểu khu 363A do UBND xã Canh Hiệp, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định quản lý, đã gây thiệt hại về rừng diện tích 31.226m2, giá trị thiệt hại là 213.246.000 đồng. Tại Cáo trạng số 01/QĐ-KSĐT ngày 27/12/2013 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [92, tr. 5]. Tại Bản án số 02/2014/HSST ngày 20/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H. 04 năm tù. [64, tr. 5]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Ngày 24/01/2014, Nguyễn Văn H. kháng cáo xin giảm hình phạt. Tại Bản án số 71/2014/HSPT ngày 21/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định chấp nhận kháng cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H. 03 năm tù về tội hủy hoại rừng. [49, tr. 5].

Vụ thứ 6: Trong các năm 2010, 2013, Nguyễn Thanh Ph. đã dùng rựa chặt phá trái phép 4.577m2 rừng phòng hộ tại khoảnh 3 tiểu khu 367a do UBND thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định quản lý và 13.459m2 rừng sản xuất tại khoảnh 3, tiểu khu 364 do UBND xã Canh Hiệp quản lý. Tổng giá trị thiệt hại là 81.244.457 đồng. Tại Cáo trạng số 17/QĐ-KSĐT ngày 26/11/2014 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Ph. về tội hủy hoại rừng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. [91, tr. 6]. Tại Bản án số 06/2015/ HSST ngày 03/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Ph. phạm tội hủy hoại rừng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Ph. 38 tháng tù. [63, tr. 8].

Ngày 13/4/2015, Nguyễn Thanh Ph. kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại Bản án số 106/2015/HSPT ngày 28/5/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định chấp nhận kháng cáo. Xử phạt Nguyễn Thanh Ph. 03 năm tù về tội hủy hoại rừng. [46, tr. 6-7].

Từ các ví dụ trên cho thấy các vụ án đều bị kháng cáo, kháng nghị và được Tòa án chấp nhận, hình phạt tù được áp dụng luôn ở dưới khung hình phạt và không quá 05 năm tù. Đối tượng tác động của tội phạm hủy hoại rừng trong các ví dụ nêu trên đều là rừng phòng hộ được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 (chỉ cần trên mức tối đa Xử phạt hành chính thì phạm tội thuộc khoản 3 Điều 189 đối với các hành vi hủy hoại rừng phòng hộ). Mức Xử phạt hành chính của điểm b khoản 5 Điều 20 Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định: “…Phá rừng phòng hộ từ trên 2.000 m2 đến 3.000 m2” cho nên được xem là hủy hoại rừng phòng hộ khi diện tích rừng phòng hộ bị hủy hoại trên 3.000m2. Diện tích rừng phòng hộ bị hủy hoại và việc quyết định hình phạt tội hủy hoại rừng trong các vụ án nêu trên lần lượt là: Vụ thứ nhất: 18.488m2, Tòa sơ thẩm xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, Viện kiểm sát kháng nghị Tòa án phúc thẩm chấp nhận xử 03 năm tù. Vụ thứ 2: 5.126,0m2, Tòa sơ thẩm xử phạt 03 năm 01 tháng tù, bị cáo kháng cáo Tòa án phúc thẩm chấp nhận xử 03 năm tù hưởng án treo. Vụ thứ 3: 46.324m2, Tòa sơ thẩm xử phạt 04 năm tù, bị cáo kháng cáo Tòa án phúc thẩm chấp nhận xử 03 năm tù. Vụ thứ 4: 48.657m2, Tòa sơ thẩm xử phạt 03 năm tù, bị cáo kháng cáo Tòa án phúc thẩm chấp nhận xử 03 năm tù hưởng án treo. Vụ thứ 5: 31.226m2, Tòa sơ thẩm xử phạt 04 năm tù, bị cáo kháng cáo Tòa án phúc thẩm chấp nhận xử 03 năm tù. Vụ thứ 6: 4.577m2, Tòa sơ thẩm xử phạt 38 tháng tù, bị cáo kháng cáo Tòa án phúc thẩm chấp nhận xử 03 năm tù.

Thực tiễn quyết định hình phạt tội hủy hoại rừng trong các ví dụ trên cho thấy chưa có sự thống nhất giữa diện tích rừng bị thiệt hại và mức hình phạt tương ứng. Diện tích rừng bị thiệt hại đều thuộc điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 là rừng phòng hộ diện tích bị hủy hoại trên 3.000m2. Khoản 3 Điều 189 với mức phạt từ 07 năm đến 15 năm. Như vậy, trong vụ thứ nhất diện tích rừng bị hủy hoại 18.488m2 nhưng cấp sơ thẩm xử phạt chỉ 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, trong khi đó ở vụ thứ 2 diện tích rừng bị hủy hoại 5.126,0m2, (chưa bằng 1/3 diện tích vụ thứ nhất) nhưng cấp sơ thẩm lại xử phạt 03 năm 01 tháng tù hoặc so sánh giữa vụ thứ 4 và vụ thứ 6 nhận thấy: Vụ thứ 4 diện tích rừng bị hủy hoại 48.657m2, cấp sơ thẩm xử phạt 03 năm tù trong khi vụ thứ 6 diện tích bị hủy hoại là 4.577m2, thì cấp sơ thẩm xử phạt 38 tháng tù. Từ sự chênh lệch không tương xứng giữa hậu quả thiệt hại gây ra và mức xử phạt của Tòa án cấp sơ thẩm tại Bình Định chưa có sự đồng nhất, chưa có sự răn đe, phòng ngừa, đánh đồng chung giữa hành vi phạm tội hủy hoại diện tích rừng nhỏ (trên mức quy định tại điểm b khoản 3) nhưng mức xử phạt hình sự lại cao còn ngược lại diện tích rừng bị hủy hoại lớn gấp mấy lần nhưng mức xử phạt lại thấp (cho hưởng án treo) mặc dù các mức hình phạt đều nằm trong khung quy định và đều đã áp dụng hết tất cả các tình tiết, tăng nặng giảm nhẹ cho người phạm tội như: Đời sống người dân còn thấp, người vi phạm phần lớn là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, việc khắc phục, bồi thường một phần (rất nhỏ) hậu quả, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Đó là một trong những tình tiết giảm nhẹ thường xuyên được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng để quyết định hình phạt. Do đó, đây là vấn đề bất cập, hạn chế, cho thấy thực tiễn quyết định hình phạt dao động như thế nào, mức phạt bao nhiêu đều do ý chí chủ quan của cơ quan xét xử nên chưa được khách quan, công bằng. Đối với hình phạt tiền quy định tại khoản 4 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì từ năm 2013 đến năm 2017 chưa có vụ án nào được áp dụng trên địa bàn tỉnh.

2.3.2 Hạn chế, khó khăn trong quyết định hình phạt tội hủy hoại rừng Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Đối với hình phạt tù có thời hạn, Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 xây dựng với mức án cao nhất của khung hình phạt tù là 15 năm, mức thấp nhất là 06 tháng tù cho nên tính răn đe, nghiêm khắc của pháp luật hình sự đối với các chủ thể phạm tội hủy hoại rừng chưa đạt hiệu quả cao. Đồng thời, biên độ trong khung hình phạt tại Điều 189 Bộ luật Hình sự chưa hợp lý, việc quy định khoảng cách rộng sẽ không tránh khỏi việc tùy tiện trong áp dụng hình phạt. Việc quy định khoảng cách hình phạt quá rộng như vậy làm cho việc áp dụng khó chính xác, thậm chí dẫn tới việc áp dụng không công bằng giữa các trường hợp tương tự nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân người phạm tội. Cụ thể tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự quy định mức biên độ phạt tù từ “phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”; khoản 2 Điều 189 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt từ “phạt tù từ ba năm đến mười năm”; khoản 3 của điều luật có biên độ khung hình phạt là “phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”.

Thực tế xử lý tội này trong thời gian qua, cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng do xuất phát từ biên độ khung hình phạt quá lớn cho nên đã áp dụng quy định hình phạt chưa hợp lý, như: Trong vụ án Nguyễn Ngọc H. đã nêu ở mục 2.3.2, phần 2.3 Chương 2, tổng diện tích rừng bị H. hủy hoại là 18.488m2 thuộc rừng phòng hộ, phân theo trữ lượng rừng nghèo, trạng thái IIB, số cây bị thiệt hại là 1.171 cây, trữ lượng gỗ bị thiệt hại là 128.8m3, giá trị thiệt hại là 28.704.385 đồng. Nhưng tại Bản án số 29/2013/HSST ngày 25/6/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định đã áp dụng điểm b, khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự tuyên phạt Nguyễn Ngọc H. 03 năm tù về tội hủy hoại rừng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.

Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định: Khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định phạt tù từ 03 năm đến 07 năm; khoản 3 Điều Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Mức hình phạt trên vẫn chưa khắc phục được tình trạng biên độ dao động của khung hình phạt rộng như tại Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 và mức hình phạt quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 còn chồng, trùng lên nhau ở mức 03 năm đến 05 năm.

Xuất phát từ biên độ của khung hình phạt tù lớn cho nên các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng chưa hợp lý mức hình phạt, thiết nghĩ cần sửa đổi quy định về mức hình phạt tù đối với tội hủy hoại rừng. Những điểm hạn chế, bất cập này là nguyên nhân quan trọng trong việc gây ra những khó khăn cho việc quyết định hình phạt. Thông qua đó làm cho hoạt động đấu tranh phòng, chống tội này chưa đạt được hiệu quả cao. Từ đó, dẫn đến hậu quả là diện tích và chất lượng rừng suy giảm, kéo theo chất lượng môi trường cũng suy giảm nghiêm trọng. Do đó, tác giả nhận thấy cần sớm có những sửa đổi, bổ sung với những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng, nhằm đảm bảo những yêu cầu và đòi hỏi hiện nay của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự thông qua hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội hủy hoại rừng đã được các cơ quan tiến hành tố tụng tại Bình Định áp dụng cơ bản chính xác, đảm bảo tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập, thiếu sót và hiểu sai các quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội trong quá trình áp dụng pháp luật. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả đã trình bày những quy định của pháp luật có liên quan đến việc định tội danh và quyết định hình phạt liên quan đến tội hủy hoại rừng; đồng thời nêu lên thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình đối với tội hủy hoại rừng tại địa phương.

Trên cơ sở thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng tại địa bàn tỉnh Bình Định, tác giả xin đưa ra các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng hiện nay tại Chương 3 của Luận văn. Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464