Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch – Qua thực tiễn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết; việc đăng ký hộ tịch là việc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác định các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính. Đồng thời, căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; huỷ việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân, mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung về họ tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quê quán, quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với giấy khai sinh của người đó.

Quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình. Đồng thời, góp phần xây dựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng, dân số và kế hoạch hoá gia đình của một quốc gia.

Mọi sự kiện hộ tịch phải được đăng ký kịp thời chính xác, mỗi một sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký ở một nơi theo đúng thẩm quyền quy định. Cơ quan quản lý hộ tịch cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo đối với cơ quan quản lý hộ tịch cấp dưới, trường hợp phát hiện thấy sai phạm phải chấn chỉnh và xử lý kịp thời.

Xuất phát từ vị trí và tầm quan trọng các sự kiện hộ tịch của người dân và đồng thời đề xuất một số biện pháp, phương hướng nhằm đổi mới, nâng cao công tác đăng ký hộ tịch cấp cơ sở, tác giả xin chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về hộ tịch – Qua thực tiễn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội’’ để làm luận văn tốt nghiệp.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Thực hiện pháp luật hộ tịch, đăng ký hộ tịch ở Việt Nam đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả được công bố như:

  • Bộ tư pháp (2007), “Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch”, NXB Tư pháp Hà Nội;
  • Bộ tư pháp (2013), “Hướng dẫn nghiệp vụ công tác hộ tịch và chứng thực cho cán bộ tư pháp – hộ tịch cấp xã”, NXB Hà Nội;
  • Phạm Trọng Cường (2004), Về quản lý hộ tịch, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
  • Luật gia Thy Anh, “Hướng dẫn công dân thực hiện các thủ tục về hộ tịch”, NXB Lao động, năm 2008;
  • Nguyễn Thị Nga, “Quản lý nhà nước về hộ tịch tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” (Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công), Học viện hành chính quốc gia, năm 2014;
  • Bài “Thực trạng đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch và yêu cầu chuẩn hoá” của tác giả Trần Thị Lệ Hoa, Tạp chí dân chủ và pháp luật số chuyền đề pháp luật hộ tịch năm 2013.
  • Chuyên đề “Quản lý hành chính-Tư pháp” trong chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính của Học viện hành chính.
  • Giáo trình “Quản lý hành chính-Tư pháp” của Học viện hành chính, nhà xuất bản Khoa học năm 2008 (dành cho đào tạo trung cấp hành chính)
  • Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (1995), “Chuyên đề thông tin khoa học pháp lý về hộ tịch”;
  • Viện nghiên cứu khoa học và pháp lý- Bộ Tư pháp (2000), “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam”, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội;

Các công trình khoa học trên đã đề cập từng khía cạnh quản lý hộ tịch, và nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác nhau ở những phương diện và cấp độ khác nhau về pháp luật hộ tịch. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực hiện pháp luật hộ tịch qua thực tiễn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Đây cũng là lý do tiếp theo để tác giả lựa chọn nghiên cứu.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ việc đổi mới để nâng cao chất lượng công tác đăng ký hộ tịch cấp xã trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó nêu những giải pháp chủ yếu, cần thiết, phù hợp nhằm góp phần cải cách nền hành chính quốc gia, đặc biệt cải cách thủ tục hành chính. Cải cách Thủ tục hành chính giúp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian cho người dân và doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, từ đó tạo niêm tin của người dân và doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh của đất nước, lòng tin của người dân đối với bộ máy Nhà nước “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [18, Điều 2].

Luận văn tập trung nghiên cứu về việc thực hiện pháp luật hộ tịch tại cấp cơ sở tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội do đó để đạt được mục đích nghiên cứu luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ như sau:

  • Làm rõ vấn đề lí luận pháp luật hộ tịch ở Việt Nam
  • Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hộ tịch và thực hiện pháp luật hộ tịch tại Huyện Đông Anh
  • Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hộ tịch và nâng cao hiệu quả công tác đăng ký hộ tịch trên địa bàn huyện Đông Anh Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới để nâng cao chất lượng công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội từ đó giúp cho việc thực hiện đăng ký và quản lý các sự kiện hộ tịch của cá nhân được đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác.

Phạm vi nghiên cứu

  • Về thời gian: từ khi Luật hộ tịch có hiệu lực (năm 2014) đến
  • Về không gian: thực hiện pháp luật hộ tịch ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
  • Về nội dung: Đề tài tập trung vào nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn về đổi mới để nâng cao chất lượng công tác đăng ký hộ tịch cấp xã. Đánh giá thực trạng khó khăn, vướng mắc trong quá trình đổi mới để nâng cao chất lượng công tác đăng ký hộ tịch cấp xã trong giai đoạn hiện nay. Đưa ra những vấn đề cần làm sáng tỏ trong hoạt động đổi mới để nâng cao chất lượng công tác đăng ký hộ tịch cấp xã đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng trong việc đổi mới để nâng cao chất lượng công tác đăng ký hộ tịch cấp cơ sở.

5. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, tuân thủ các nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nguyên tắc xem xét khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể, phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa, phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Với tính chất là một công trình nghiên cứu khoa học có sự liên kết giữa phân tích, đánh giá lí luận với sự tổng hợp kết quả thực tiễn tại địa phương, luận văn này có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc đưa ra các kiến nghị và giải pháp để thực hiện các chủ trương, chính sách về việc thực hiện pháp luật hộ tịch cũng như việc đăng ký hộ tịch cấp cơ sở.

Với nội dung chuyên sâu và mang tính thực tiễn cao, luận văn này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến hộ tịch cũng nhưng các vấn đề pháp lý khác như hôn nhân gia đình, quyền khai sinh cho trẻ, quyền được đảm bảo trong thực hiện pháp luật về giám hộ…. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 3 chương:

  • Chương 1. Những vấn đề lí luận về thực hiện pháp luật hộ tịch ở Việt Nam.
  • Chương 2. Thực trạng thực hiện pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
  • Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hộ tịch trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HỘ TỊCH

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Khái niệm hộ tịch

Ở nước ta, vấn đề đăng ký và quản lý hộ tịch có lịch sử từ lâu đời (thời nhà Trần). Trải qua các thời kỳ phong kiến, thực dân, hộ tịch luôn gắn với vấn đề quản lý con người (“đinh”), bên cạnh vấn đề quản lý đất đai (“điền”), là hai vấn đề đã từng được thực hiện một cách bài bản, có hệ thống. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được Nhà nước ta tiếp tục duy trì và phát triển. Theo tinh thần Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thể lệ đăng ký hộ tịch đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu được áp dụng ở Nam kỳ, Hoàng Việt hộ luật được áp dụng ở Trung kỳ và Dân luật Bắc kỳ, tiếp tục được áp dụng ở Việt Nam. Điều đó cho thấy công tác hộ tịch đóng vai trò hết sức quan trọng, luôn được duy trì trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Theo từ điển tiếng Việt, “hộ tịch” là từ loại danh từ, có nghĩa là sổ ghi bộ dân số. “Hộ tịch” là một trong những khái niệm đặc biệt của hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt. Bản thân từ “hộ tịch” là từ ghép gốc Hán và hoàn toàn không dễ Việt hóa. Tuy nhiên, do khái niệm này được sử dụng từ lâu, mang tính lịch sử và trở thành ngôn ngữ phổ thông, quen thuộc với nhận thức của người dân, nên khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này đã áp dụng giải pháp mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép. Tức là, sử dụng khái niệm “hộ tịch” như một thuật ngữ chuyên môn đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật ở các thời kỳ trước đây. Tại Điều 1 Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 764/TTG ngày 08/5/1956 của Thủ tướng Chính phủ quy định “bản điều lệ này quy định những nguyên tắc và thủ tục đăng ký các việc sinh, tử, kết hôn, sửa chữa các điều đã đăng ký; ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch và cấp phát giấy chứng nhận các việc ấy”. Điều lệ đăng ký hộ tịch ban hành kèm theo Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 của Hội đồng Chính phủ năm 1961 cũng quy định “đăng ký hộ tịch là ghi vào sổ của Ủy ban hành chính cơ sở những việc sinh, tử, kết hôn và những việc có liên quan như nuôi con nuôi, nhận con ngoài giá thú, nhận cha mẹ đẻ, thay đổi quốc tịch, thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày, tháng, năm sinh…”. Tiếp đó, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP và Nghị định số 158/2005/NĐ-CP cũng quy định hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết; đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện sinh, kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha mẹ con, thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc; ghi vào sổ hộ tịch các việc xác định cha mẹ con, thay đổi quốc tịch, ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, chấm dứt nuôi con nuôi.

Vậy khái niệm hộ tịch: Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật hộ tịch năm 2014 quy định Hộ tịch là những sự kiện như khai sinh, kết hôn, giám hộ, nhận cha mẹ con, thay đổi cải chính, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, khai tử, thay đổi quốc tịch, xác định lại giới tính, nuôi con nuôi, chấm dứt nuôi con nuôi, ghi vào sổ việc thay đổi các sự kiện hộ tịch của các nhân, xác định và ghi vào sổ các sự kiện khác theo quy định của pháp luật [19].

1.1.2. Khái niệm đăng ký hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư.

Đăng ký hộ tịch hay nói gọn là hộ tịch là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là các cơ quan hành pháp, cơ quan quản lý hành chính nhà nước) ghi và lưu lại các sự kiện hộ tịch quan trọng của công dân. Hộ tịch được hiểu là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Sự kiện quan trọng thường được ghi nhận bao gồm việc khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, ly thân tư pháp, nhận nuôi con nuôi, hợp pháp hoá lãnh sự… Ngoài ra, ở một số nước, việc nhập cư, di dân, và bất kỳ thay đổi nơi cư trú, chỗ ở có thể bị yêu cầu phải thông báo đến cơ quan nhà nước.

Việc đăng ký hô .tịch tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân. Đồng thời quản lý hộ tịch còn góp phần vào các biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của đất nước. Chính vì vậy, đăng ký hộ tịch có vai trò vô cùng quan trọng.

Thứ nhất, xác nhận vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: khai sinh; kết hôn; khai tử; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; bổ sung thông tin hộ tịch. Theo đó cơ quan đăng ký hộ tịch xác nhận bằng cách đăng ký vào sổ dành riêng cho từng loại việc, đồng thời cấp cho đương sự giấy chứng nhận về việc đó như Giấy khai sinh; Giấy chứng nhận kết hôn,.. Hành vi xác nhận của cơ quan hộ tịch đã làm phát sinh hiệu lực pháp lý của các sự kiện được đăng ký. Chỉ sau khi được đăng ký, các sự kiện đó mới làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của cá nhân.

  • Thứ hai, ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn; Công nhận giám hộ; Tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha,mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết ở nước ngoài.

Khác với hành vi xác nhận, đối với các việc hộ tịch này, cơ quan đăng ký hộ tịch chỉ đơn thuần căn cứ vào các quyết định (bằng văn bản) của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi chú việc đó vào sổ hộ tịch. Hành vi này không làm phát sinh hiệu lực pháp lý mà chỉ là thủ tục hành chính để xác nhận phạm vi hiệu lực pháp lý của các sự kiện hộ tịch bởi vì bản thân các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng đã đem lại hiệu lực pháp lý của việc đó.

  • Ngoài ra còn xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, có thể thấy đăng ký hộ tịch là việc người có quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận các sự kiện hộ tịch phát sinh trên thực tế theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định hoặc ghi vào sổ hộ tịch các việc có liên quan đến hộ tịch nhằm đảm bảo các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cá nhân có liên quan.

Mục đích chính của đăng ký hộ tịch là để tạo ra hệ thống pháp luật (văn bản pháp luật thậm chí là văn bản quy phạm pháp luật) được sử dụng để thiết lập và bảo vệ các quyền dân sự của cá nhân. Mục đích thứ hai là tạo ra một nguồn dữ liệu cho việc biên soạn các số liệu thống kê quan trọng, phục vụ cho hoạt động thống kê dân cư của nhà nước.

Mục đích quản lý hộ tịch là công việc thường xuyên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, để từ đó góp phần tạo cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình….

  • Tùy theo pháp luật của từng quốc gia mà việc Đăng ký hộ tịch có khác biệt theo đặc thù của từng nước, tuy nhiên một số hoạt động chung có thể kể đến bao gồm: Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Hoạt động xác nhận các sự kiện hộ tịch như: khai sinh, kết hôn, ly hôn, khai tử, nuôi con nuôi, giám hộ…

Hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ghi vào sổ đăng ký hộ tịch các việc về: ly hôn, thay đổi quốc tịch, xác định cha mẹ con…

Cấp giấy tờ hộ tịch. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo thủ tục, trình tự được quy định tại pháp luật mỗi nước và là bằng chứng, chứng cứ công nhận các sự kiện về hộ tịch, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức.

Đăng ký hộ tịch tại Việt Nam là việc công dân, người nước ngoài làm các thủ tục về đăng ký hộ tịch tại các cơ quan nhà nước ở Việt Nam. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam sẽ xác nhận các sự kiện: sinh, kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc. Các cơ quan này cũng sẽ ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, chấm dứt nuôi con nuôi….

Việc đăng ký và quản lý hộ tịch được xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm không chỉ theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, dân số, kế hoạch hóa gia đình (các mảng lĩnh vực về dân sự) mà thậm chí còn phục vụ cho mục đích về an ninh quốc phòng). Chính vì vậy, quy định bắt buộc những người buộc thực hiện đăng ký hộ tịch phải tự giác đăng ký các sự kiện hộ tịch theo quy định.

  • Thực hiện pháp luật hộ tịch

Các văn bản pháp luật được ban hành cần được thực hiện trong cuộc sống, mục đích của việc ban hành văn pháp luật chỉ có thể đạt được khi các quy định pháp luật được xã hội thực hiện một cách chính xác và đầy đủ. Do vậy vấn đề ở đây không chỉ ban hành nhiều văn bản pháp luật mà điều quan trọng là phải thực hiện pháp luật nghĩa là làm cho những văn bản pháp luật đó trở thành hiện thực trong cuộc sống của xã hội. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Việc thực hiện đầy đủ chính xác hay không thì đó không chỉ là mối quan tâm tâm từ phía Nhà nước mà từ cả phía người dân trong xã hội. Thực hiện pháp luật là hành vi (có thể là hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với các quy định của pháp luật, do đó chúng ta hiểu rằng dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp

Thực hiện pháp luật là hành vi của mỗi cá nhân hoặc của cơ quan tổ chức, tổ chức kinh tế …..

Theo giáo trình của trường Đại học quốc gia Hà Nội thì thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của chủ thể.

Căn cứ vào tích chất hoạt động của thực hiện pháp luật thì thực hiện có các hình thức sau: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng p pháp luật

Vậy từ đó ta có thể hiểu là thực hiện pháp luật hộ tịch là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật hộ tịch đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của chủ thể pháp luật.

  • Áp dụng pháp luật hộ tịch là một quá trình phức tạp, để áp dụng pháp luật hộ tịch chính xác và đạt hiệu quả cao cần tiến hành theo các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Phân tích đáng giá chính xác mọi tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của các sự việc hộ tịch xảy Xem xét đánh giá các tình tiết thực tế của vụ việc, đánh giá tầm quan trọng của các sự kiện pháp lý của các sự kiện hộ tịch

Giai đoạn 2: Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp với các sự kiện hộ tịch đó, phân tích làm rõ nội dung, ý nghĩa các quy phạm pháp luật để áp dụng đúng các sự kiện hộ tịch xảy Lựa chọn đúng quy phạm pháp luật, xác định quy phạm pháp luật còn hiệu lực. Ở giai đoạn này sự thuận lợi cho cơ quan áp dụng đó là có rất nhiều quy phạm pháp luật điều chỉnh song khó khăn đó là cơ quan áp dụng pháp luật phải lựa chọn và vận dụng đúng quy phạm pháp luật đó. Nếu nhận thức đúng đắn được các quy phạm pháp luật, thì áp dụng đúng đảm bảo khách quan cho các sự kiện hộ tịch diễn ra, còn ngược lại áp dụng sai thì sự kiện hộ tịch sẽ bị giải quyết sai và gây hậu quả nghiêm trọng

Giai đoạn 3: Ra văn bản áp dụng pháp luật cho các sự kiện đó, đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình áp dụng pháp luật về hộ tịch. Lúc này quan hệ pháp lý, trách nhiệm pháp lý được xác lập. Các giấy tờ hộ tịch phải được ban hành đúng về trình tự thủ tục, hình thức nội dung….

Áp dụng pháp luật hộ tịch là quá trình phức tạp, chỉ có ở cơ quan Nhà nước, tuân theo thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, có tính sáng tạo, điều chỉnh quan hệ xã hội đặc biệt.

1.2. Vị trí, vai trò của đăng ký, quản lý hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

1.2.1. Những vấn đề cơ bản thực hiện pháp luật hộ tịch

Việc đăng ký hộ tịch được thực hiện theo quy định mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một nơi. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước Việt Nam cấp cho cá nhân là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó, trong đó Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Ngoài ra, các giấy tờ hộ tịch do Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp cũng có giá trị như giấy tờ hộ tịch được cấp ở trong nước.

Đối với những Giấy tờ hộ tịch do nước ngoài cấp, khi sử dụng tại Việt Nam thì bắt buộc phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác riêng đối với Giấy tờ hộ tịch do Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự của nước ngoài tại Việt Nam cấp cho công dân nước đó để sử dụng tại Việt Nam được miễn hợp pháp hóa lãnh sự trên cơ sở nguyên tắc có đi, có lại. Đối với những loại giấy tờ hộ tịch bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được công chứng.

Việc đăng ký hộ tịch tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân. Đồng thời quản lý hộ tịch còn góp phần vào các biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của đất nước. Chính vì vậy việc tìm hiểu về vấn đề đăng ký hộ tịch là vấn đề vô cùng quan trọng.

Việc đăng ký hộ tịch đã tạo cơ sở pháp lý bảo đảm một số quyền nhân thân cơ bản của cá nhân (như quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền được khai sinh, quyền kết hôn… đã được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự). Thông qua việc đăng ký khai sinh đã bảo đảm quyền được khai sinh, một trong những quyền quan trọng đầu tiên của trẻ em theo tuyên bố tại Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình là ai và được chính cha mẹ mình chăm sóc” [23]; Tuy nhiên, quyền được khai sinh không phải là quyền riêng có của trẻ em mà là quyền của bất cứ cá nhân nào; theo quy định của Bộ Luật Dân sự thì việc bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Luật Hộ tịch năm 2014 có hiệu lực thi hành đã có nhiều điểm mới mang tính đột phá, cải cách mạnh mẽ công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nói riêng và quản lý dân cư nói chung. Luật quy định việc cấp Số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh; xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để lưu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân và kết nối, cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư…

Qua 03 (ba) năm triển khai cho thấy, Luật hộ tịch năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý để người dân được công nhận các quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân và để Nhà nước bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ, có biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học, phục vụ thiết thực cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh của đất nước.

Khái quát về các quyền nhân thân của cá nhân trong các văn bản pháp luật có liên quan đến hộ tịch:

  • Hiến pháp 2013

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

  • Bộ luật dân sự

Việc đăng ký hộ tịch đã tạo cơ sở pháp lý bảo đảm một số quyền nhân thân cơ bản của cá nhân (như quyền đối với họ tên, quyền thay đổi họ tên, quyền xác định dân tộc, quyền được khai sinh, quyền kết hôn… đã được ghi nhận trong Bộ Luật Dân sự). Thông qua việc đăng ký khai sinh đã bảo đảm quyền được khai sinh, một trong những quyền quan trọng đầu tiên của trẻ em theo tuyên bố tại Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền ngay từ khi ra đời, có họ tên, có quốc tịch và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình là ai và được chính cha mẹ mình chăm sóc [11]. Tuy nhiên, quyền được khai sinh không phải là quyền riêng có của trẻ em mà là quyền của bất cứ cá nhân nào; theo quy định của Bộ Luật Dân sự thì việc bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Về quyền nhân thân của cá nhân, hai Luật này đã ghi nhận nhiều quyền con người và quyền công dân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Trong đó có một số quyền cần được công nhận, bảo vệ hoặc tổ chức, thực hiện thông qua thủ tục đăng ký hộ tịch do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền thực hiện, bao gồm:

  • Quyền có họ, tên và thay đổi họ, tên [20, Điều 26, 27, 28], được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký khai sinh và thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch;
  • Quyền xác định, xác định lại dân tộc [20, Điều 29], được xác nhận thông qua thủ tục khai sinh hoặc thủ tục xác nhận lại dân tộc;
  • Quyền được khai sinh, khai tử [20, Điều 30], được xác nhận thông qua thủ tục khai sinh; khai tử
  • Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình [20, Điều 39], [21, Điều 8, Điều 9], được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký kết hôn;
  • Quyền ly hôn [20, Điều 39], [21, Điều 51] được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký ghi vào sổ bộ hộ tịch, sổ hộ tịch cá nhân về việc ly hôn theo bản án, quyết định có hiệu lực về ly hôn của Tòa án;
  • Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con [20, Điều 65], được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con hoặc thủ tục đăng ký ghi vào sổ bộ hộ tịch, sổ hộ tịch cá nhân về việc xác định cha, mẹ, con theo bản án, quyết định có hiệu lực về ly hôn của Tòa án;
  • Quyền đối với quốc tịch [20, Điều 31], được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký khai sinh;
  • Quyền về giám hộ và được giám hộ [20], [21] được xác nhận thông qua thủ tục đăng ký giám hộ.

Luật hôn nhân và gia đình

Luật Hộ tịch trong mối quan hệ với Luật Hôn nhân – Gia đình được thể hiện thông qua phạm vi điều chỉnh. Ngoài ra, mối quan hệ còn thể hiện qua nội dung: Luật Hộ tịch là luật hình thức, đồng thời cũng là luật riêng của luật nội dung. Luật Hôn nhân – Gia đình quy định về các quyền, nghĩa vụ về hôn nhân và gia đình; Luật Hộ tịch quy định thủ tục đăng ký hộ tịch nhằm tôn trọng và bảo đảm các quyền, nghĩa vụ đó. Chẳng hạn như qua việc kết hôn và đăng ký kết hôn; Quyền nhận cha mẹ con.

  • Kết hôn và đăng ký kết hôn Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Luật Hộ tịch về cơ bản đã đưa ra được cơ chế để xác định sự tuân thủ điều kiện kết hôn của người có yêu cầu kết hôn khi quy định: về thẩm quyền đăng ký kết hôn và nội dung Giấy chứng nhận kết hôn; Thủ tục đăng ký kết hôn, kết hôn trong nước, kết hôn có yếu tố nước ngoài; thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Quyền nhận cha mẹ con:

  • Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.
  • Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.
  • Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
  • Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha.
  • Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.
  • Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.

Luật Hộ tịch quy định về đăng ký nhận cha, mẹ, con: cụ thể là quy định về điều kiện đăng ký nhận cha, mẹ, con; thẩm quyền; trình tự, thủ tục đăng ký; thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

  • Luật Quốc tịch

Tương tự như những Luật trên, Luật Hộ tịch cũng có mối quan hệ với Luật Quốc tịch, chẳng hạn thông qua nội dung như:

  • Quyền đối với quốc tịch: Luật Quốc tịch quy định:

Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch. Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại Điều 31 của Luật này…. mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam [16, Điều 2].

Luật Quốc tịch quy định một trong những căn cứ xác định có quốc tịch Việt Nam là Giấy khai sinh. Do vậy, để đảm bảo quyền có quốc tịch và ghi nhận quyền có quốc tịch của cá nhân, Luật Hộ tịch quy định về nội dung đăng ký khai sinh như: “Thông tin của người được đăng ký khai sinh:… quốc tịch; Thông tin của cha, mẹ người được đăng ký khai sinh: Họ, chữ đệm và tên; năm sinh; dân tộc; quốc tịch; nơi cư trú” [19]. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

  • Đối với Thủ tục đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài Luật Hộ tịch quy định:

…Trường hợp cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là người nước ngoài thì phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con. Trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân [19, Điều 36]

  • Luật Nuôi con nuôi

Đăng ký nuôi con nuôi cũng là một loại việc hộ tịch, tuy nhiên, do tính chất đặc thù nên việc nuôi con nuôi được điều chỉnh bởi Luật Nuôi con nuôi và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật này với những quy định khá khác biệt về trình tự, thủ tục đăng ký. Mặc dù, việc nuôi con nuôi được đăng ký theo trình tự, thủ tục riêng, tuy nhiên, quá trình giải quyết thủ tục đăng ký nuôi con nuôi cũng như giải quyết yêu cầu thay đổi thông tin trong giấy tờ hộ tịch của trẻ em được nhận làm con nuôi có sự liên hệ chặt chẽ với nhau thông qua thủ tục đăng ký nuôi con nuôi trong trường hợp con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi mà phần khai về cha mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh đang lưu giữ tại Ủy ban nhân dân cấp xã còn để trống; thủ tục thay đổi thông tin về cha mẹ trong giấy khai sinh của con nuôi; Ghi chú việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài;…

Thực tiễn thi hành pháp luật hộ tịch với việc bảo đảm/bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân

Những khó khăn, vướng mắc

  • Những quy định của Bộ luật dân sự với Luật Hộ tịch:

Về việc đặt tên, khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định: Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ [20, Điều 26]. Như vậy, trường hợp trẻ em có một bên cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, bên còn lại là người nước ngoài, nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con thì khi đăng ký khai sinh, tên của trẻ cũng phải là tên gọi Việt Nam. Tuy nhiên, việc xác định thế nào là tên bằng “tiếng Việt” hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam thì chưa có quy định hướng dẫn trong văn bản quy phạm pháp luật, gây khó khăn cho cả công chức làm công tác hộ tịch và người dân đến đăng ký.

  • Đăng ký giám sát giám hộ: Hiện tại, Luật Hộ tịch chưa quy định thủ tục đăng ký giám sát việc giám hộ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Dân sự năm 2015. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.
  • Luật Hộ tịch và các văn bản quy định chi tiết thi hành chưa có hướng dẫn về trình tự, thủ tục đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử trong trường hợp trẻ em sinh ra sống được trong vòng 24 giờ rồi chết.

Những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình với Luật Hộ tịch:

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng [21, Điều 88].

Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Về nguyên tắc, trẻ em được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng, kể cả trong trường hợp 03 bên vợ, chồng và người thứ 3 thống nhất không thừa nhận đứa trẻ đó là con của cặp vợ chồng, mà là con của người vợ và người thứ 3; do đó, khi Đăng ký khai sinh, phần thông tin về cha, mẹ vẫn phải ghi thông tin của người mẹ và người chồng (pháp lý) của người mẹ.

Trong trường hợp người chồng của mẹ không thừa nhận trẻ em đó là con của mình hoặc người mẹ không thừa nhận người chồng là cha của đứa trẻ thì cần yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha – con theo thủ tục tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thời gian qua, yêu cầu xác định cha cho con trong trường hợp này thường bị Tòa án từ chối giải quyết hoặc có tòa thụ lý, có tòa không thụ lý với lý do không có tranh chấp, khiến người dân phải đi lại nhiều lần giữa cơ quan đăng ký hộ tịch và cơ quan Tòa án.

Quy định của Luật Nuôi con nuôi với Luật Hộ tịch

  • Tại Nghị định 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật nuôi con nuôi:

Trường hợp có sự thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi, sự đồng ý của con nuôi từ 9 tuổi trở lên về việc thay đổi phần khai về cha mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của con nuôi; thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho trẻ em đăng ký khai sinh lại cho con nuôi và thu hồi Giấy khai sinh cũ; tại cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ là cha mẹ nuôi [5, Điều 10]. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

  • Tuy nhiên, tại Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP:

Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại [6].

Do đó, việc thu hồi hủy bỏ để đăng ký lại nhằm mục đích thay đổi phần khai về cha, mẹ ruột sang cha, mẹ nuôi là không thể thực hiện được theo Luật Hộ tịch (vì Sổ và bản chính Giấy khai sinh vẫn còn).

Việc thay đổi thông tin về cha mẹ trong giấy khai sinh của con nuôi: Theo quy định tại Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi thì việc thay đổi phần khai về cha mẹ trong giấy khai sinh và sổ Đăng ký khai sinh của con nuôi, trước đây, được thực hiện nếu có sự thỏa thuận giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi, sự đồng ý của con nuôi từ 09 tuổi trở lên thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã Đăng ký khai sinh cho trẻ em thu hồi giấy khai sinh và thực hiện Đăng ký khai sinh lại với các thông tin mới cho trẻ em; tại cột ghi chú của sổ Đăng ký khai sinh phải ghi rõ là cha mẹ nuôi. Tuy nhiên, hiện tại pháp luật hộ tịch không quy định việc thu hồi lại giấy khai sinh cũ và thực hiện việc Đăng ký khai sinh lại với sự thay đổi phần khai về cha, mẹ của trẻ em (theo cha, mẹ nuôi). Trường hợp cha mẹ nuôi có yêu cầu thay đổi phần khai về cha mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký thì thực hiện theo trình tự, thủ tục thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật hộ tịch. Sau khi thực hiện thủ tục thay đổi hộ tịch và được cấp trích lục thay đổi hộ tịch, cơ quan Đăng ký hộ tịch sẽ ghi những nội dung thay đổi vào mặt sau giấy khai sinh. Việc thực hiện quy định này có bất lợi là không bảo đảm giữ bí mật thông tin đối với trẻ em được nhận làm con nuôi, khi sử dụng bản chính giấy khai sinh với những thông tin về cha mẹ đẻ ghi ở mặt trước, thông tin về cha mẹ nuôi ghi ở mặt sau dễ dẫn đến tâm lý mặc cảm, tự ti của trẻ mặc dù pháp luật hộ tịch có quy định, sau khi thực hiện việc thay đổi, ghi thông tin thay đổi vào sổ Đăng ký khai sinh, trẻ sẽ được cấp trích lục khai sinh với các thông tin đã được thay đổi, việc sử dụng trích lục khai sinh này sẽ đáp ứng được nguyện vọng giữ bí mật thông tin về quan hệ nuôi con nuôi.

  • Luật Quốc tịch với Luật Hộ tịch

Luật Quốc tịch chưa có quy định về hình thức có quốc tịch Việt Nam đối với trường hợp trẻ em có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam, được sinh ra ở nước ngoài. Đã có quốc tịch nước ngoài theo nơi sinh

Theo quy định tại Điều 15 Luật Quốc tịch quy định: “Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam” [16]. Tuy nhiên, việc trẻ có quốc tịch Việt Nam thông qua hình thức nào thì pháp luật chưa có quy định cụ thể, dẫn đến cơ quan đăng ký hộ tịch còn lúng túng khi giải quyết yêu cầu của công dân. Ví dụ: Đối với trường hợp trẻ em sinh ra tại Hoa Kỳ (quốc gia xác định nơi sinh theo nguyên tắc lãnh thổ), có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam khi đứa trẻ này được đăng ký khai sinh tại Hoa Kỳ, trong Giấy khai sinh, ghi quốc tịch Hoa Kỳ. Trong khi đó, theo Luật Quốc tịch Việt Nam áp dụng nguyên tắc xác định quốc tịch Việt Nam theo huyết thống. Vì vậy, cha mẹ trẻ đã đến cơ quan đăng ký hộ tịch yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ trong đó ghi quốc tịch của trẻ em là quốc tịch Việt Nam. Trong trường hợp này, trẻ em đương nhiên có quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ, việc có quốc tịch Hoa Kỳ (theo nơi sinh) không làm mất đi quyền có quốc tịch Việt Nam của trẻ. Tuy nhiên, do pháp luật quốc tịch, hộ tịch chưa có quy định cụ thể đối với trường hợp này này nên trong thực tế, các cơ quan đăng ký hộ tịch còn lúng túng, việc giải quyết còn chưa có sự thống nhất (đăng ký khai sinh, ghi quốc tịch Việt Nam cho trẻ vận dụng ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh của trẻ, mục quốc tịch ghi quốc tịch Việt Nam.

  • Vai trò của đăng ký khai sinh đối với việc quản lý nhà nước và đối với công dân

Đăng ký hộ tịch là quyền, nghĩa vụ của mọi công dân, là một trong những nguyên tắc chung xét ở gốc độ pháp lý về mặt quyền thì đăng ký hộ tịch là việc thể hiện quyền dân sự của công dân; về mặt nghĩa vụ công dân phải có trách nhiệm thực hiện đăng ký hộ tịch. Đối với Nhà nước thông qua việc đăng ký này đảm bảo được quyền của công dân. Do vậy, đăng ký hộ tịch là quyền và nghĩa vụ của mỗi người, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Đăng ký khai sinh là một loại sự kiện đăng ký hộ tịch, là sự kiện đăng ký đầu tiên có liên quan đến nhân thân của một người từ khi mới sinh ra.Từ khái niệm đăng ký hộ tịch nêu ra ở trên chúng ta suy ra khái niệm đăng ký khai sinh là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận và ghi vào Sổ đăng ký khai sinh sự kiện được sinh ra của một cá nhân. Nội dung đăng ký là việc xác định những thông tin về bản thân người được đăng ký khai sinh như họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh… sau khi được đăng ký khai sinh cá nhân được cơ quan đăng ký cấp cho Giấy khai sinh có ghi nhận đầy đủ các thông tin liên quan đến nhân thân của cá nhân như nội dung mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ghi nhận. Hiện nay, thực hiện Luật căn cước thì sau khi nhập thông tin khai sinh của trẻ vào hệ thống đăng ký khai sinh điện tử của Bộ tư pháp, thông tin khai sinh của trẻ được nhập chính xác, khi hoàn thiện xong trẻ sẽ được cấp số định danh cá nhân là số căn cước công dân.

Ở mỗi thời kỳ, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của đất nước, tùy thuộc vào mong muốn của nhà quản lý, việc đăng ký khai sinh có một ý nghĩa nhất định.Cùng với sự phát triển của đất nước, ngày nay việc đăng ký khai sinh được hoàn thiện dần cùng với công tác đăng ký hộ tịch qua các văn bản về hộ tịch mà Nhà nước đã ban hành. Đăng ký khai sinh là một lĩnh vực trong công tác đăng ký hộ tịch, đăng ký khai sinh có vai trò ý nghĩa rất quan trọng đối với công dân và đối với Nhà nước, đăng ký khai sinh tạo mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.

Thứ nhất, vai trò của đăng ký khai sinh đối với việc quản lý nhà nước: Nhà nước đăng ký khai sinh cho công dân là để Nhà nước quản lý về mặt pháp lý từng người dân, qua đó quản lý toàn bộ dân cư trong cả nước, nắm bắt được biến động tự nhiên về dân cư. Nhà nước quản lý con người, thống kê được dân số, tình hình tăng dân số giúp Nhà nước có cơ sở hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Qua đó, Nhà nước có cơ sở khoa học để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Mặt khác, công tác đăng ký khai sinh – một yêu cầu không thể thiếu trong quản lý nhà nước về hộ tịch, là ghi nhận về mặt pháp lý sự tồn tại của một cá nhân, là cơ sở ràng buộc trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân, từ đó phát sinh trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống người dân, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Hơn thế nữa, đối với Nhà nước thông qua việc đăng ký này đảm bảo được quyền của công dân, quyền được khai sinh mà pháp luật đã quy định. Đặc biệt đối với trẻ em đối tượng Nhà nước quan tâm bảo vệ, thì đăng ký khai sinh cho trẻ em là nghĩa vụ phải làm của Nhà nước nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em, đối tượng được quan tâm hàng đầu trong mọi xã hội. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Khi đăng ký khai sinh Nhà nước cấp cho người dân chứng thư pháp lý là Giấy khai sinh. Giấy khai sinh góp phần hỗ trợ hoạt động các cơ quan nhà nước trong việc xác định nhân thân của một người như độ tuổi, giới tính, cha mẹ…., phục vụ cho các quan hệ khác. Ví dụ: Giấy khai sinh dùng để xác định cha và mẹ đẻ của một cá nhân, giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc phân chia di sản thừa kế trong trường hợp người chết không để lại di chúc, phân chia tài sản theo pháp luật, hay Giấy khai sinh dùng để hỗ trợ cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định tuổi của một người để áp dụng chính sách trong tố tụng cho phù hợp…

Thứ hai, vai trò của đăng ký khai sinh đối với công dân: Đăng ký khai sinh là quyền của mỗi người được pháp luật quốc tế ghi nhận, đồng thời cũng được ghi nhận trong pháp luật của quốc gia. Đăng ký khai sinh có vai trò, ý nghĩa là sự ghi nhận về mặt pháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh ra, thông qua đăng ký khai sinh, cá nhân được cấp Giấy khai sinh, là cơ sở xác định nguồn gốc các mối quan hệ nhân thân, quan hệ gia đình; là một trong những chứng cứ pháp lý tạo ra sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa Nhà nước và công dân và có giá trị chứng minh đối với các mối quan hệ khác trong xã hội ví dụ như truy nhận cha, mẹ con, thừa kế di sản, học tập…Đăng ký khai sinh cho một cá nhân là cơ sở đầu tiên để cá nhân đó trở thành công dân một quốc gia, làm phát sinh quyền của mình, công dân thực hiện được các quyền của mình được Nhà nước ghi nhận và là cơ sở để được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Nếu cá nhân không đăng ký khai sinh, cá nhân sẽ không hưởng được các quyền dành cho công dân mà Nhà nước quy định, cũng như công dân sẽ không được bảo vệ khi quyền và lợi ích bị xâm hại. Nếu không có khai sinh thì không có cơ sở chắc chắn để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác thông qua các yếu tố cơ bản như: họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, nơi sinh, thông tin về cha mẹ…

Trong cuộc sống, Đăng ký khai sinh có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với người dân, tuy nhiên nếu không thực hiện đúng quy định pháp luật thì sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đăng ký khai sinh đòi hỏi phải được đăng ký chính xác tuyệt đối các thông tin liên quan đến nhân thân của một cá nhân. Nếu trong việc đăng ký khai sinh có sự không chính xác trong việc ghi nhận các thông tin đã đăng ký thì hệ lụy này do người dân gánh chịu.

1.2.2. Nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan đăng ký hộ tịch chính quyền xã Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

  • Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý. Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây (Phòng Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định)

Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật hộ tịch; Chỉ đạo, kiểm tra việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã; Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về hộ tịch; Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định; Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bố trí công chức làm công tác hộ tịch; Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch theo thẩm quyền; Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định của Luật này, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật; Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ; Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch.

  • Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã

Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật này; Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp trên, bố trí công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch; Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch; Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định; Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định; Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của Chính phủ; Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch; Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc việc khai sinh, khai tử; chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý.

Công chức tư pháp – hộ tịch giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định.

  • Công chức làm công tác hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Công chức làm công tác hộ tịch bao gồm công chức tư pháp – hộ tịch ở cấp xã; công chức làm công tác hộ tịch ở Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại Cơ quan đại diện.

Công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã phải có các tiêu chuẩn sau đây:

  • Có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch;
  • Có chữ viết rõ ràng và trình độ tin học phù hợp theo yêu cầu công việc.
  • Căn cứ điều kiện thực tế về diện tích, dân số, khối lượng công việc tư pháp, hộ tịch của địa phương, Chính phủ quy định việc bố trí công chức tư pháp – hộ tịch đảm nhiệm công tác hộ tịch chuyên trách.

Công chức làm công tác hộ tịch tại Phòng Tư pháp phải có trình độ cử nhân luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch.

Viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại Cơ quan đại diện đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch.

  • Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức làm công tác hộ tịch

Trong lĩnh vực hộ tịch, công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

  • Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan về hộ tịch;
  • Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp xã và pháp luật về việc đăng ký hộ tịch;
  • Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về hộ tịch;
  • Giúp Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký hộ tịch kịp thời, chính xác, khách quan, trung thực; cập nhật đầy đủ các sự kiện hộ tịch đã được đăng ký vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử;
  • Chủ động kiểm tra, rà soát để đăng ký kịp thời việc sinh, tử phát sinh trên địa bàn.
  • Đối với địa bàn dân cư không tập trung, điều kiện đi lại khó khăn, cách xa trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã cho tổ chức đăng ký lưu động đối với việc khai sinh, kết hôn, khai tử;
  • Thường xuyên trau dồi kiến thức pháp luật để nâng cao năng lực và nghiệp vụ đăng ký hộ tịch; tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ do Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan tư pháp cấp trên tổ chức;
  • Chủ động báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân cùng cấp phối hợp với cơ quan, tổ chức kiểm tra, xác minh về thông tin hộ tịch; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin để xác minh khi đăng ký hộ tịch; phối hợp với cơ quan Công an cùng cấp cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Những quy định này cũng được áp dụng đối với công chức làm công tác hộ tịch của Phòng Tư pháp, viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại Cơ quan đại diện theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Những việc công chức làm công tác hộ tịch không được làm:

  • Cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, trì hoãn, gây khó khăn, phiền hà, nhận hối lộ khi đăng ký, quản lý hộ tịch.
  • Thu lệ phí hộ tịch cao hơn mức quy định hoặc đặt ra các khoản thu khi đăng ký hộ tịch.
  • Đặt ra thủ tục, giấy tờ, cố ý kéo dài thời hạn giải quyết đăng ký hộ tịch trái quy định của Luật này.
  • Tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch.
  • Đăng ký, cấp giấy tờ về hộ tịch trái quy định của Luật này.
  • Tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật cá nhân mà biết được qua đăng ký hộ tịch.

Công chức làm công tác hộ tịch vi phạm các quy định tại Điều này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

1.2.3. Nội dung, trình tự, thẩm quyền đăng ký pháp luật hộ tịch xã

Đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã:

  • Đăng ký khai sinh Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

Công chức tư pháp – hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần thiết thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động.

  • Đăng ký kết hôn

Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, công chức tư pháp – hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc.

Đăng ký giám hộ:

  • Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ.
  • Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký giám hộ thực hiện đăng ký chấm dứt giám hộ.

Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và văn bản cử người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch.Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

  • Đăng ký giám hộ đương nhiên Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ chứng minh điều kiện giám hộ đương nhiên theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp có nhiều người cùng đủ điều kiện làm giám hộ đương nhiên thì nộp thêm văn bản thỏa thuận về việc cử một người làm giám hộ đương nhiên.

  • Đăng ký chấm dứt giám hộ

Người yêu cầu đăng ký chấm dứt giám hộ nộp tờ khai đăng ký chấm dứt giám hộ theo mẫu quy định và giấy tờ làm căn cứ chấm dứt giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy, nếu thấy việc chấm dứt giám hộ đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự, công chức tư pháp – hộ tịch ghi việc chấm dứt giám hộ vào Sổ hộ tịch, cùng người đi đăng ký chấm dứt giám hộ ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

  • Đăng ký thay đổi giám hộ

Trường hợp yêu cầu thay đổi người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và có người khác đủ điều kiện nhận làm giám hộ, thì các bên làm thủ tục đăng ký chấm dứt giám hộ trước đó và đăng ký giám hộ mới theo quy định tại Mục này.

  • Đăng ký nhận cha, mẹ, con

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

  • Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự.

Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.

Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.

Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.

Người yêu cầu bổ sung hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy yêu cầu bổ sung hộ tịch là đúng, công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng trong Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp bổ sung hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng và đóng dấu vào nội dung bổ sung. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

  • Đăng ký khai tử

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.

Công chức tư pháp – hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử.

Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử.

Công chức tư pháp – hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

  • Cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.

Ngay trong ngày nhận được văn bản trả lời, nếu thấy đủ cơ sở, Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người yêu cầu theo quy định tại Khoản 3 Điều này.

Trường hợp cá nhân yêu cầu cấp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào mục đích khác hoặc do Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã hết thời hạn sử dụng theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này, thì phải nộp lại Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã được cấp trước đó.

  • Đăng ký lại khai sinh, khai tử, kết hôn

Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

Đăng ký hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp huyện:

  • Đăng ký khai sinh Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Người đi đăng ký khai sinh nộp giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là người nước ngoài thì phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con.Trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức làm công tác hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; trường hợp trẻ em có quốc tịch nước ngoài thì không ghi nội dung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật Hộ tịch.Công chức làm công tác hộ tịch, người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh. Chính phủ quy định thủ tục đăng ký khai sinh đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này.

  • Đăng ký kết hôn

Hai bên nam, nữ nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch có trách nhiệm xác minh, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.

Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân, công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Chính phủ quy định bổ sung giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn, việc phỏng vấn, xác minh mục đích kết hôn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn; thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân Việt Nam để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

  • Đăng ký giám hộ
  • Đăng ký giám hộ cử

Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai theo mẫu quy định và văn bản cử người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch xác minh, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho người yêu cầu.

  • Đăng ký giám hộ đương nhiên

Thủ tục đăng ký giám hộ đương nhiên giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài cùng cư trú ở Việt Nam được áp dụng theo quy định tại Điều 21 của Luật này.

  • Đăng ký chấm dứt, thay đổi giám hộ

Thủ tục đăng ký chấm dứt, thay đổi giám hộ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài được áp dụng theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Luật này.

  • Đăng ký nhận cha, mẹ con

Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thì người nước ngoài phải nộp thêm bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để chứng minh về nhân thân.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch xác minh, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thời gian 07 ngày liên tục, đồng thời gửi văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con niêm yết trong thời gian 07 ngày liên tục tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Phòng Tư pháp báo cáo và đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định việc đăng ký nhận cha, mẹ, con, nếu thấy đủ điều kiện thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.

Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt; công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng các bên ký vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho các bên.

  • Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung, xác định lại dân tộc

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc.

  • Ghi vào sổ của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cá nhân đã đăng ký kết hôn hoặc ghi chú việc kết hôn trước đây ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn, hủy việc kết hôn của cá nhân đã thực hiện ở nước ngoài.

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của người có trách nhiệm khai tử theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này ghi vào Sổ hộ tịch việc khai tử đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

  • Thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử

Người yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh các việc này đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch kiểm tra, nếu thấy yêu cầu là phù hợp thì ghi vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trong trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 03 ngày làm việc.

  • Thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn

Người yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn nộp tờ khai theo mẫu quy định và bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh các việc này đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Trong thời hạn 12 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định và đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho người yêu cầu. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục và thời gian phối hợp giữa các cơ quan thực hiện Điều này.

  • Đăng ký khai tử

Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử cho người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài chết tại Việt Nam.

Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.

Người đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi khai tử ký vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục hộ tịch cho người đi khai tử.

Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 03 ngày làm việc.

Sau khi đăng ký khai tử, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục hộ tịch cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước mà người chết là công dân.

Trường hợp người chết là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thì công chức làm công tác hộ tịch khóa thông tin của người chết trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.

1.3. Đăng ký hộ tịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

1.3.1. Pháp luật về đăng ký hộ tịch của một số quốc gia trên thế giới

Pháp luật Cộng hoà Pháp quy định về hộ tịch tương đối rộng và cụ thể, thể hiện được các sự kiện cơ bản trong cuộc đời mỗi con người đồng thời qua đó thấy rõ được quá trình đăng ký hộ tịch tại cơ quan có thẩm quyền của Pháp. Hộ tịch được thể hiện trong sổ thuyền bộ bao gồm các chứng thư hộ tịch. Các chứng thư hộ tịch phải ghi rõ năm, tháng, ngày, giờ lập chứng thư, tên, họ của viên chức hộ tịch, tên, họ, nghề nghiệp và nơi cư trú của tất cả những người có tên ghi trong chứng thư. Cụ thể như ngày sinh và nơi sinh của cha và mẹ trong Chứng thư khai sinh và Chứng thư công nhận con, của đứa trẻ trong Chứng thư công nhận con; của vợ hoặc chồng trong Chứng thư kết hôn, của người chết trong các giấy khai tử (Điều 34 và Điều 59 Bộ luật dân sự của Cộng hoà Pháp).

Ở Đức, pháp luật Cộng hoà Liên bang Đức quy định về vấn đề hộ tịch tương đối toàn diện và khoa học, hộ tịch là tổng thể các quan hệ về nhân thân của một cá nhân mà sự bảo đảm những quan hệ đó có ý nghĩa quan trọng đối với từng cá nhân với toàn thể nhân dân, đặc biệt là những sự kiện sinh, tử, kết hôn. Do vậy việc đăng ký hộ tịch thể hiện tính chặt chẽ, là vấn đề pháp lý không thể thiếu trong đời sống con người nói riêng cũng như sự tồn tại, phát triển của xã hội nói chung.

Ở Áo, các việc về hộ tịch được ghi vào sổ và có ngân hàng dữ liệu là cơ sở để thực hiện các việc hộ tịch cũng như các thủ tục hành chính khác có liên quan đến con người. Hộ tịch bao gồm các việc: đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, ly hôn, đăng ký thay đổi hộ tịch, đăng ký thay đổi giới tính, đăng ký khai tử, đăng ký nhận con.

Nếu như ở Pháp, hộ tịch là các chứng thư hộ tịch thì ở Nhật Bản, Hộ tịch là sổ nối hộ tịch. Luật Hộ tịch Nhật Bản điều chỉnh các lĩnh vực như đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, đăng ký thừa nhận con thông qua việc tuyên bố ý chí, nhận nuôi con nuôi, thông báo tuyên bố mất tích, chấm dứt việc nuôi con nuôi, thông báo tình trạng hôn nhân, thay đổi hộ tịch.

Tại Hàn Quốc, nếu như trước đây sử dụng khái niệm “đăng ký hộ tịch” thì hiện nay sử dụng khái niệm “đăng ký quan hệ gia đình”. Mọi thông tin về hộ tịch của mỗi công dân Hàn Quốc đều được đặt trong mối quan hệ với gia đình. Cũng giống như Nhật Bản, pháp luật Hàn Quốc quy định các sự kiện hộ tịch bao gồm đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, ly hôn, nhận nuôi con nuôi, thông báo tuyên bố mất tích, chấm dứt việc nuôi con nuôi, thông báo tình trạng hôn nhân, thay đổi hộ tịch…

  • Ở Đài Loan và Lào thì khái niệm hộ tịch rộng hơn, có điểm mới so với hộ tịch của một số nước.

Luật Hộ tịch Đài Loan xác định hộ tịch theo hộ gia đình “một gia đình hoặc những người cùng một chủ quản, hoặc những người cùng kinh doanh một nghề là một hộ, đứng đầu gia đình hoặc người chủ quản là chủ hộ, người sống độc thân là một hộ và làm chủ hộ”, “Một người không được có hai hộ tịch cùng một lúc”. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Luật Hộ tịch Lào định nghĩa “đăng ký hộ tịch” là việc ghi chép hoặc lập sổ về công tác đăng ký hộ tịch.

  • Phương thức đăng ký hộ tịch

Hộ tịch theo quy định của Việt Nam cũng như các nước trên thế giới chứa đựng những thông tin rất quan trọng về cá nhân nên việc cân nhắc lựa chọn phương thức đăng ký hộ tịch là rất cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý hộ tịch cũng như đăng ký hộ tịch của công dân.

Ở Pháp, các việc về hộ tịch được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp. Theo Luật này, các sự kiện hộ tịch phải được đăng ký vào chứng thư hộ tịch cụ thể. Các chứng thư này sẽ được ghi tiếp vào sổ thuyền bộ.

  • Đối với việc khai sinh, Bộ luật dân sự Cộng hoà Pháp quy định:

Nếu như pháp luật của Cộng hoà Pháp quy định các sự kiện hộ tịch phải được đăng ký vào chứng thư hộ tịch cụ thể, sau đó các chứng thư này sẽ được ghi tiếp vào sổ thuyền bộ thì pháp luật hộ tịch Đức quy định mỗi gia đình có một quyển sổ gia đình trong đó ghi nhận các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Khi có sự thay đổi về các vấn đề về hộ tịch như sinh, tử, ly hôn, kết hôn đều được ghi chú vào sổ như sổ đăng ký khai sinh, sổ đăng ký khai tử, kết hôn, ly hôn… Sau đó tất cả những sự kiện đăng ký sẽ được ghi vào sổ hộ tịch.Nếu có sự thay đổi về chỗ ở thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ làm thủ tục chuyển sổ hộ tịch đến địa chỉ mới.

Pháp luật hộ tịch Đức còn quy định các giấy tờ hộ tịch. Các giấy tờ hộ tịch là bản trích lục có chứng thực hoặc bản sao có chứng thực được trích từ sổ đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Như vậy, nếu như pháp luật hộ tịch một số quốc gia quy định bản chính giấy tờ hộ tịch là bản gốc thì pháp luật Đức quy định giấy tờ hộ tịch chỉ là bản sao, chỉ có sổ đăng ký hộ tịch là bản gốc.

Việc đăng ký khai sinh: Trẻ mới sinh phải được khai báo với cơ quan hộ tịch có thẩm quyền trong một thời hạn nhất định, tuỳ theo quy định của mỗi bang, có bang quy định thời gian đăng ký khai sinh là trong vòng 14 ngày, kể từ ngày sinh.

Cơ sở để đăng ký khai sinh là giấy chứng sinh của nhà hộ sinh hoặc người đỡ đẻ lập. Ngoài ra phải đính kèm giấy tờ trích lục từ sổ gia đình (ví dụ như Giấy chứng nhận kết hôn) nếu một cơ quan hộ tịch khác quản lý sổ này.

  • Thủ tục đăng ký khai sinh được quy định cụ thể như sau: Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Trong trường hợp cha mẹ kết hôn với nhau, thì người đi đăng ký khai sinh phải mang theo Giấy chứng nhận kết hôn hoặc trích sao từ sổ gia đình; ảnh của bố mẹ; giấy đồng ý của bố mẹ về việc đồng ý ghi tên mình vào Giấy khai sinh của con.

Đối với những người góa hoặc ly hôn, phải xuất trình bản sao mới nhất từ sổ gia đình hoặc Giấy chứng nhận kết hôn có ghi chú thích hợp (ghi chú việc ly hôn hoặc ghi chú việc chết của người kia).

Đối với công dân nước ngoài, thì phải xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác để chứng minh về quốc tịch.

Pháp luật quy định cụ thể rõ tên họ của đứa trẻ khi khai sinh. Đứa trẻ sinh ra có quyền nhận họ của bố mẹ; trường hợp vợ chồng mang họ khác nhau, thì họ của con là cha mẹ cùng lựa chọn và phải ghi rõ bằng văn bản để trình công chức hộ tịch và tuyên bố này có giá trị ràng buộc đối với tất cả các con khác được sinh ra từ cuộc hôn nhân của cặp vợ chồng này (có nghĩa là những đứa con tiếp theo của họ cũng sẽ phải lựa chọn theo họ của đứa con đầu).

Trong trường hợp người mẹ độc thân (con ngoài giá thú), thì con sẽ theo họ của mẹ. Người con chỉ được mang họ cha khi người cha nhận con và cam kết cấp dưỡng nuôi con.

Đứa trẻ sinh ra từ ngân hàng trứng, ngân hàng tinh trùng, thì tên của cha mẹ sẽ được ghi theo tên của cha mẹ nuôi. Đứa trẻ sinh ra do mang thai hộ, khi khai sinh người có trứng được khai là mẹ đẻ.

Trong trường hợp trẻ được nhận làm con nuôi, thì tên của cha mẹ đẻ vẫn được ghi trong Giấy khai sinh của con nuôi trừ trường hợp muốn bảo lưu.

Trường hợp không có tên của cha mẹ đẻ thì được ghi tên của cha mẹ nuôi và cán bộ hộ tịch sẽ kẹp giấy ghi không rõ cha mẹ đẻ vào hồ sơ nuôi con nuôi. Người con nuôi có quyền kiện đòi xác định cha mẹ đẻ (hiện nay Tòa án Đức vẫn chưa có có sự giải quyết thỏa đáng nào để bảo đảm quyền tối cao của nhân thân đã được ghi nhận trong Hiến pháp đối với cả người cho tinh trùng và đứa trẻ).

Trong trường hợp trẻ sinh ra rồi sau đó chết thì việc khai sinh sẽ được thực hiện đồng thời với việc khai tử. Nếu trẻ sinh ra có biểu hiện chết thì xác đứa trẻ nặng ít nhất là 0,5 kg thì bắt buộc phải đăng ký khai sinh và ghi sinh ra đã chết. Trường hợp sảy thai hoặc khi sinh ra đã chết mà trẻ đó nặng dưới 0,5 kg thì không có nghĩa vụ khai để đăng ký khai sinh.

  • Việc đăng ký kết hôn Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Từ năm 2001, pháp luật Đức cho phép kết hôn giữa hai người đồng giới. Việc kết hôn giữa hai người đồng giới được ghi vào một sổ riêng (Sổ đăng ký các cặp đồng giới). Điều kiện kết hôn giữa hai người đồng tính phải là người đã thành niên, có năng lực pháp luật: có khả năng thực hiện những nghĩa vụ và hưởng những quyền lợi, phải không có cản trở liên quan đến việc kết hôn giữa hai người (như hiện tại không kết hôn với ai; nếu đã kết hôn thì phải ly hôn theo pháp luật).

Những cặp này cũng có những quyền lợi và nghĩa vụ như những cặp kết hôn khác giới, cũng như có quyền nuôi con nuôi và hai người sẽ quyết định cho người con nuôi được mang họ của một trong hai người hoặc cả hai họ liền nhau.

Khi hai người đồng giới đã kết hôn với nhau, thì họ không được quyền kết hôn với người khác (muốn kết hôn với người khác họ phải đến Tòa án để làm thủ tục kết thúc việc sống chung như vợ chồng).

  • Việc nhận cha, mẹ, con

Việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện tại một trong ba nơi: công chứng viên, cơ quan thanh thiếu niên hoặc công chức hộ tịch. Người cha chỉ cần tuyên bố mình là cha đứa trẻ, tuyên bố đó được người mẹ chấp nhận thì sẽ ghi vào sổ đăng ký khai sinh nội dung khai về người cha.

  • Việc đăng ký khai tử

Việc đăng ký khai tử (ghi vào Sổ đăng ký khai tử) ở Đức nhằm chống sự khai man, làm giả giấy tờ. Qua thông tin ghi trong Sổ đăng ký khai tử sẽ xác định được ai là người có quyền thừa kế. Việc đăng ký khai tử được thực hiện theo địa hạt.

Phương thức đăng ký hộ tịch tại Ai Len được quy định cụ thể trong Luật đăng ký hộ tịch năm 2004. Mỗi cá nhân làm thủ tục đăng ký hộ tịch tại Văn phòng Đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử, nơi mà sự kiện sinh đó diễn ra.

Đăng ký khai sinh không muộn hơn 03 tháng kể từ khi đứa trẻ sinh ra. Mẫu đăng ký khai sinh được nhân viên bệnh viện phát cho các bà mẹ khi sinh con. Việc đăng ký khai sinh sẽ được đăng ký viên vào Sổ đăng ký khai sinh. Khi đăng ký khai sinh, đứa trẻ sẽ được cấp Số dịch vụ công cộng cá nhân (PPSN).

  • Đăng ký kết hôn trong vòng 01 tháng kể từ ngày kết hôn.
  • Đăng ký thay đổi họ tên đứa trẻ sẽ được ghi vào sổ đăng ký khai sinh.

Theo pháp luật Ai Len, khai tử là một yêu cầu pháp lý của Nhà nước Ai-Len tại Văn phòng Đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử. Đây là văn phòng đăng ký chung các sự kiện về hộ tịch. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Đăng ký khai tử không phân biệt nơi nó xảy ra. Trường hợp tử vong phải được đăng ký càng sớm càng tốt và không muộn hơn 03 tháng. Đăng ký khai tử sẽ được đăng ký viên ghi vào Sổ đăng ký khai tử.

Việc đăng ký khai sinh được tiến hành tại văn phòng đăng ký huyện nơi đứa trẻ sinh ra. Nếu không thể đăng ký khai sinh ở Văn phòng quận huyện thì có thể đến văn phòng khác để đăng ký, sau đó văn phòng này sẽ gửi thong tin chi tiết của đứa trẻ đến văn phòng quận huyện nơi đứa trẻ sinh ra. Việc đăng ký khai sinh phải được tiến hành trong vòng 42 tiếng đồng hồ kể từ lúc đứa trẻ sinh ra. Giấy khai sinh được cấp ngay sau khi đăng ký.

  • Đăng ký kết hôn, ly hôn phải được thực hiện tại Văn phòng đăng ký cấp quận huyện nơi diễn ra sự kiện kết hôn, ly hôn.

Đăng ký khai tử trong vòng 05 ngày tại văn phòng đăng ký trong khu vực nơi người chết. Những người có thể đăng ký khai tử: một người thân, ai đó có mặt tại cái chết, người cư ngụ trong nhà, một quan chức bệnh viện, người thực hiện các thỏa thuận với các giám đốc tang lễ. Trường hợp thai chết lưu phải được đăng ký trong vòng 42 ngày và chậm nhất trong vòng ba tháng. Trong nhiều trường hợp điều này có thể được thực hiện tại bệnh viện hoặc tại văn phòng đăng ký địa phương.

Khác với Ai Len, Anh và xứ Wales, ở Nhật Bản, Luật Hộ tịch Nhật Bản quy định hộ tịch được lập thành bản chính và bản phụ. Bản chính được lưu giữ tại Uỷ ban hành chính thành phố hoặc Uỷ ban hành chính làng, huyện. Bản phụ được gửi cho Cục Tư pháp quản hạt hoặc Sở Tư pháp địa phương hoặc các Chi cục trực thuộc lưu trữ.Cá nhân cũng có thể yêu cầu được giao cho giấy chứng nhận liên quan đến các mục ghi chép trong bản sao hoặc bản trích lục hộ tịch hoặc bản hộ tịch đó trừ trường hợp không có mục đích chính đáng.

  • Cán bộ thực hiện đăng ký hộ tịch sẽ ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch.

Vấn đề đăng ký hộ tịch được Luật Hộ tịch Nhật Bản xác định là nghĩa vụ của công dân.Vì vậy, khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng sẽ bị áp dụng chế tài. Luật Hộ tịch Nhật Bản quy định phạm vi điều chỉnh tương đối rộng, bao gồm việc khai sinh, khai tử, kết hôn, đăng ký thừa nhận con thông qua việc tuyên bố ý chí, nhận nuôi con nuôi, thông báo tuyên bố mất tích, chấm dứt việc nuôi con nuôi, thông báo về tình trạng hôn nhân… việc thông báo này được coi là nghĩa vụ.

Theo pháp luật đăng ký hộ tịch của Nhật Bản, trong trường hợp thông báo sai và dẫn đến việc ghi vào sổ đăng ký hộ tịch không đúng sự thật thì người thông báo sai sẽ bị phạt tù có thời hạn không quá 5 năm hoặc bị phạt tiền. Khi kê khai sai trong hộ tịch có thể sửa thông qua thủ tục pháp lý. Như vậy, pháp luật về đăng ký hộ tịch Nhật Bản đề cập đến việc “sửa” các vấn đề liên quan đến hộ tịch. Thuật ngữ này tương tự như thuật ngữ “cải chính” trong pháp luật hộ tịch Việt Nam.

Đối với việc đăng ký khai sinh phải được thực hiện trong vòng 14 ngày (đối với trường hợp sinh ở ngoài Nhật Bản thì là trong vòng 3 tháng). Trường hợp bác sỹ, hộ sinh hoặc người khác chứng kiến việc sinh đẻ thì nộp đơn đăng ký kèm với giấy chứng sinh do một trong các người đó lập theo thứ tự bác sỹ, hộ sinh, người khác theo qui định của Thông tư Bộ Tư pháp, Thông Tư Bộ Y tế lao động, trừ trường hợp có lý do không tránh khỏi. Trường hợp sinh đẻ trên tầu hỏa hoặc các phương tiên vận tải khác (trừ tầu thủy, áp dụng tương tự với các qui định dưới đây) thì có quyền đăng ký khai sinh tại địa điểm mà người mẹ rời khỏi phương tiện vận chuyển đó, nếu là sinh trên tầu thủy không có nhật ký tầu thì là nơi đầu tiên tầu đó ghé vào. Khi tầu cập cảng nước ngoài, thuyền trưởng phải nhanh chóng gửi cho đại sứ, công sứ hoặc lãnh sự Nhật Bản tại nước đó bản sao nhật ký hàng hải có liên quan đến việc sinh đẻ đó, và đại sứ, công sứ hoặc lãnh sự Nhật Bản phải nhanh chóng thông qua Bộ trưởng ngoại giao gửi cho chủ tịch xã phường thị trấn nơi có hộ tịch bản sao đó.

Việc đăng ký khai sinh cho trẻ trong giá thú phải do bố hoặc mẹ thực hiện, nếu bố mẹ ly hôn trước khi sinh trẻ thì phải do mẹ thực hiện. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Trường hợp người phải đăng ký theo qui đinh không thể đăng ký được thì người đại diện theo pháp luật của người đó có quyền đăng ký.

Trường hợp sinh tại bệnh viện, nhà tù hoặc các trại công cộng, nếu cả bố và mẹ đều không thể đăng ký khai sinh được thì giám đốc hoặc người quản lý của các trại công cộng đó phải đăng ký.

Đối với việc công nhận cha mẹ con: người định công nhận quan hệ cha con ghi vào đơn đăng ký các nội dung dưới đây và phải đăng ký các nội dung đó; trường hợp bố công nhận thì ghi họ tên và nơi đăng ký hộ tịch của mẹ; nếu công nhận con đã tử vong thì ghi ngày tháng năm tử vong và họ tên của ông bà bố mẹ, trực hệ, ngày tháng năm sinh và nơi đăng ký hộ tịch. Trường hợp công nhận con đang là thai nhi thì ghi nội dung đó, họ tên và nơi đăng ký hộ tịch của mẹ vào đơn đăng ký và phải đăng ký tại nơi đăng ký hộ tịch của mẹ.

Luật Hộ tịch của Đài Loan quy định rất rộng những vấn đề liên quan đến cá nhân mỗi người, bao gồm việc lập hộ, việc sinh, tử, đăng ký thừa nhận, nhận nuôi con nuôi, đăng ký kết hôn, ly hôn, đăng ký giám hộ, tuyên bố chết, đăng ký di dời (chuyển đến, chuyển đi, thay đổi địa chỉ nơi ở).

Pháp luật hộ tịch của Đài Loan cho phép uỷ thác đăng ký hộ tịch dưới hình thức bằng văn bản.Mở rộng diện những người được xin đăng ký sau khi phát sinh hoặc xác định việc đăng ký hộ tịch mà không có người xin đăng ký.Người có quyền lợi liên quan có thể là người xin đăng ký.Ngoài ra, Luật Hộ tịch Đài Loan còn quy định vấn đề thay đổi, cải chính và huỷ, xoá và sửa việc đăng ký hộ tịch.

Ở Hàn Quốc, việc thực hiện đăng ký hộ tịch bằng điện tử, người dân có thể đến đăng ký hộ tịch tại bất kỳ cơ quan đăng ký hộ tịch (cấp quận hoặc cấp phường).

Đối với việc đăng ký khai sinh: pháp luật Hàn Quốc quy định thời hạn đăng ký khai sinh trong vòng một tháng kể từ ngày sinh. Đăng ký trong thời hạn quy định sẽ được miễn phí; nếu đăng ký quá hạn thì người đi đăng ký khai sinh sẽ phải nộp tiền phạt, tuỳ theo thời hạn mà mức nộp phạt sẽ khác nhau. Cha, mẹ phải có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh cho con, trường hợp cha mẹ không đi được thì có thể viết giấy uỷ quyền nhưng phải trực tiếp khai và ký vào hồ sơ, nếu không có giấy uỷ quyền thì không được đăng ký khai sinh. Người đi đăng ký khai sinh đến đăng ký trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Uỷ ban nhân dân phường nơi người đó sinh sống hoặc Uỷ ban nhân dân quận. Nếu đăng ký ở quận thì phường sẽ nhận thông tin qua mạng để cấp Giấy khai sinh. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

  • Trường hợp trẻ em chết ngay sau khi sinh: vừa làm thủ tục đăng ký khai sinh, vừa đăng ký khai tử cùng lúc.

Đối với việc đăng ký kết hôn: Ở Hàn Quốc, khi hai công dân Hàn Quốc đăng ký kết hôn, chỉ cần làm Giấy đăng ký sau đó đến đăng ký tại cơ quan hộ tịch là được công nhận mà không cần phải nộp thêm bất cứ một loại giấy tờ nào khác. Cơ quan hộ tịch có trách nhiệm tìm kiếm thông tin trên mạng để xác định về tình trạng hôn nhận của mỗi bên kết hôn.Trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài thì phái người nước ngoài có trách nhiệm phải tự chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình.

Pháp luật Ấn Độ quy định việc đăng ký khai sinh và khai tử phải được thực hiện tại Phòng đăng ký cấp quận, huyện. Mỗi quận, huyện có 01 phòng đăng ký. Sau khi đăng ký, các thông tin về việc sinh, tử sẽ được ghi vào Sổ đăng ký.

  • Luật Hộ tịch Lào điều chỉnh các việc về hộ tịch

Đối với việc đăng ký khai sinh: Luật Hộ tịch Lào quy định sau khi nhận được Giấy chứng sinh từ trưởng bản, người làm đơn phải đi đăng ký khai sinh ở cơ đăng ký hộ tịch của chính quyền huyện, thị trấn nơi mình cư trú trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được Giấy chứng sinh. Bộ phận đăng ký hộ tịch tại Sứ quán hoặc Lãnh sự quán nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tại nước ngoài, sau khi nhận được thông báo có trẻ mới sinh cũng phải đăng ký khai sinh trong vòng 05 ngày kể từ ngày nhận được thông tin.

Đối với việc đăng ký kết hôn, ly hôn: Đăng ký kết hôn, ly hôn được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ tịch của chính quyền huyện, thị xã nơi cả hai cư trú hoặc nơi ở của một trong hai người hoặc nơi ở của bố mẹ của một hoặc cả hai người. Cơ quan đăng ký hộ tịch phải đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn, ly hôn trong vòng 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn.

Việc đăng ký kết hôn, ly hôn giữa công dân Lào và công dân nước ngoài thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch của chính quyền tỉnh, thành phố. Việc đăng ký kết hôn của công dân Lào tại nước ngoài thực hiện tại Phòng đăng ký hộ tịch tại Sứ quán hoặc Lãnh sự quán nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tại nước đó.

Đối với việc đăng ký nhận cha:Nếu như Luật Hộ tịch Ai-len và một số nước không quy định cụ thể vấn đề nhận cha thì Luật Hộ tịch Lào quy định rõ về thủ tục này. Đăng ký nhận cha được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ tịch của cơ quan tư pháp nơi tòa án có quyết định về việc nhận cha.

Cơ quan đăng ký hộ tịch phải đăng ký và cấp Giấy chứng nhận nhận cha trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định của tòa án có hiệu lực. Việc đăng ký nhận cha được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ tịch của cơ quan tư pháp người giám hộ cư trú. Cơ quan đăng ký hộ tịch phải đăng ký và cấp Giấy chứng nhận giám hộ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày trưởng bản xác định người giám hộ. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Đối với việc đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch: Việc thay đổi họ và tên của cá nhân tới tuổi vị thành niên được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ khẩu của Cơ quan công an nơi người đăng ký thường trú. Trong trường hợp việc thay đổi họ hoặc tên là trẻ em chưa tới tuổi vị thành niên được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ khẩu nơi bố mẹ hoặc người giám hộ thường trú.

Cơ quan đăng ký hộ khẩu của Cơ quan công an nói trên cần phải đăng ký và cấp giấy chứng nhận việc thay đổi họ hoặc tên trong vòng 5 ngày làm việc hành chính tình từ ngày nhận được đơn đăng ký.

Đối với việc đăng ký khai tử: Nếu một cá nhân trong gia đình chết thì đại diện gia đình phải thông báo cho Trưởng bản. Khi nhận được tin có người chết, trưởng bản hoặc cán bộ công an phải cấp giấy chứng tử trong thời hạn 05 ngày để làm bằng chứng. Trường hợp chết mà không rõ nguyên nhân hoặc chết vì dịch bệnh nguy hiểm thì phải khẩn trương thông báo cho cán bộ công an hoặc cán bộ y tế và tạm hoãn cấp Giấy chứng tử đến khi nhận được chỉ đạo từ các cơ quan hữu quan. Cá nhân nào chữa trị cho bệnh nhân hoặc trong quá trình đỡ đẻ theo chuyên môn của mình mà người bệnh hoặc trẻ sơ sinh bị chết thì cá nhân đó phải cấp Giấy chứng tử ngay lập tức.

Ở Việt Nam về hình thức đăng ký hộ tịch thì pháp luật quy định rất cụ thể từng loại việc người yêu cầu đăng ký hộ tịch phải đến đăng ký trực tiếp không được uỷ quyền, loại việc được uỷ quyền, thời hạn đăng ký các việc hộ tịch ví dụ như: 60 ngày kể từ ngày sinh thì cha mẹ của trẻ phải có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh hoặc 15 ngày kể từ ngày chết người thân thích của người chết phải có trách nhiệm đi đăng ký khai tử… . Tại thành phố Hà Nội, chính phủ đang xây dựng và phát triển chính phủ điện tử cho phép các việc đăng ký hộ tịch người dân được nộp hồ sơ trực tuyến và đến hẹn thực nhận kết quả tại cơ quan đăng ký hộ tịch – dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 lĩnh vực tư pháp hộ tịch trên toàn thành phố.

Nhìn chung, mỗi quốc gia đều có những quy định riêng về phương thức đăng ký hộ tịch cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, lịch sử cũng như phong tục tập quán của họ; đồng thời đảm bảo thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hộ tịch một cách có hiệu quả nhất. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

  • Mã số cá nhân

Mã số cá nhân có nghĩa tiếng Anh là “personal identification number”, viết tắt là ID. Bản chất của mã số cá nhân là dùng để nhận dạng cá nhân. Mã số cá nhân cho phép tìm thấy giấy tờ hộ tịch và trong cuộc sống hàng ngày, các cá nhân có thể chứng minh danh tính của mình thông qua số cá nhân chứ không chỉ thông qua họ tên, ngày tháng năm sinh.Mã số cá nhân hiện nay đang được áp dụng ở một số nước tiên tiến trên thế giới.

Theo quan điểm của các nhà lập pháp của Cộng hoà Pháp thì mã số cá nhân là một vấn đề nhạy cảm, không muốn quy công dân thành những con số. Tại Pháp, mỗi người có một số bảo hiểm xã hội, số bảo hiểm xã hội cho phép tiến hành một số thủ tục nhưng không được phép sử dụng để chứng minh danh tính và không được nêu trong giấy tờ hộ tịch.

Pháp luật cộng hoà Liên bang Đức quy định mỗi cá nhân có một số riêng ghi tại Sổ đăng ký hộ tịch. Trước năm 2007, Cộng hoà liên bang đức không có hệ thống mã số định danh quốc gia mà chỉ có hệ thống mã số căn cước. Ở giai đoạn này, các cơ sở dữ liệu không tập trung được xây dựng bởi các công ty bảo hiểm xã hội, Trên thực tế, hệ thống mã số này được xem là gần với hệ thống mã số cá nhân.Từ năm 2008, một hệ thống mã số thuế cá nhân toàn liên bang mới được giới thiệu. Theo đó, ngay từ khi sinh ra, công dân Đức cũng như công dân nước ngoài làm thủ tục đăng ký khai sinh tại Đức hoặc cư trú dài hạn tại Cộng hoà liên bang Đức sẽ được cấp mã số thuế áp dụng thống nhất trên toàn liên bang. Nhà nước Đức quản lý công dân bằng cả hai phương thức là quản lý dữ liệu dân sự công dân như sinh tử, kết hôn, ly hôn… và bằng mã số định danh.

Ở Hoa Kỳ, việc quản lý công dân chủ yếu được tiến hành qua việc quản lý số định danh công dân. Mỗi công dân đều có thẻ an sinh xã hội, lưu trữ đầy đủ thông tin về nhân thân của mỗi cá nhân. Hệ mã số an sinh xã hội (SSN-Social Security Number) gồm 9 chữ số được cấp cho các công dân Hoa Kỳ, người cư trú dài hạn, người cư trú (làm việc tạm thời). Ban đầu, mã số được hình thành nhằm mục đích phân phối an sinh xã hội, nhang ngày nay nó còn được sử dụng cho mục đích thuế. Luật pháp không có quy định nào bắt buộc mọi người phải có mã số an sinh xã hội nếu như họ không có hoạt động nào liên quan đến an sinh xã hội hay thuế. Tuy nhiên, trong thực tế, khi mở tài khoản ngân hàng hoặc xin giấy phép lái xe, các cơ quan có thẩm quyền đều yêu cầu xuất trình mã số an sinh xã hội, dẫn đến việc tất cả công dân Hoa Kỳ đều có mã số an sinh xã hội. Trong những năm gần đây, mã số an sinh xã hội trở thành mã số định danh quốc gia. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Tại Áo, khi đăng ký khai sinh, mỗi công dân có một số, không có sự trùng lặp. Mã số công dân là hình thức định danh điện tử dùng cho Internet. Mọi người có thể sử dụng mã số công dân để xác định bản thân thông qua các phương tiện kỹ thuật số trước cơ quan công quyền hoặc để nhận dạng và chứng thực duy nhất. Luật Chính phủ điện tử quy định mã số công dân phải chứa chữ ký điện tử đủ tiêu chuẩn, đảm bảo các tính năng của mã số, và khi đó, chữ ký điện tử được coi là có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký viết tay, được sử dụng không hạn chế trong các giao dịch thương mại và quốc tế. Bên cạnh chữ ký điện tử, mã số công dân phải bao gồm một đường dẫn định dạng có chứa dữ liệu an ninh và chức năng tương ứng và đồng thời cũng thay thế cho vô số các kết hợp tên và mật khẩu. Mã số công dân có nhiều hình thức khác nhau, không phụ thuộc vào một loại công nghệ cụ thể nào, có thể là thẻ, chữ ký điện thoại di động, thẻ chip… Để nhận diện một người đang tham gia thủ tục điện tử, cần có một thuộc tính riêng biệt để định danh họ. Nếu chỉ có tên thôi chưa đủ để định danh duy nhất một người, do đó mỗi người đều được cấp một mã số định danh riêng. So sánh với các hệ thống khác, mã số công dân có nhiều thế mạnh. Từ “mã số công dân” dung để mô tả một khái niệm về quản lý nhận dạng, cho phép cơ quan nhà nước và khách hàng của mình sử dụng dịch vụ điện tử một cách đơn giản và đảm bảo. Như một dạng nhận dạng điện tử trên internet, mã số công dân cung cấp nhận dạng người dung duy nhất và chứng thực nhận dạng đó, điều rất cần thiết để đưa thủ tục điện tử vào sử dụng.

Sử dụng mã số công dân nghĩa là chứng minh nhận dạng của ai đó một cách an toàn bằng phương thức điện tử giúp người đó không phải đến trụ sở cơ quan nhà nước để làm thủ tục; đồng thời, với sự trợ giúp của chữ ký điện tử, người dung có thể nộp một văn bản tuyên bố ý định một cách dễ dàng, văn bản này có thể được kiểm tra dễ dàng để chắc chắn về tính xác thực của nó.

Theo pháp luật Thuỵ Điển thì số định danh cá nhân là số định danh công dân Thuỵ Điển (Swedishnational identification number).Số định danh cá nhân bao gồm 10 số và một dấu gạch nối. Số định danh cá nhân có từ khi cha mẹ thông báo đứa trẻ sinh ra. Trong trường hợp được chấp nhận thì số định danh cá nhân có thể được thay đổi trong trường hợp đăng ký khai sinh nhầm ngày sinh hay giới tính.

Cũng giống như pháp luật Cộng hoà Áo và Thuỵ Điển, pháp luật Nhật Bản quy định cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản sẽ cung cấp cho công dân của họ một số đăng ký và thẻ công dân.

Theo pháp luật Hàn Quốc, khi đăng ký khai sinh, mỗi công dân Hàn Quốc đều được cấp một số công dân. Số này sẽ theo suốt cuộc đời của mỗi người. Việc đăng ký công dân được thực hiện từ năm 1962 và từng bước được điện tử hóa từ năm 1994.Người dân chỉ phải thực hiện đăng ký để cấp mã số công dân một lần, sau đó có thể xin xác nhận về mã số công dân tại bất kỳ cơ quan hành chính nào trên cả nước. Mã số công dân gồm 13 chữ số, trong đó 6 chữ số đầu tiên thể hiện ngày tháng năm sinh của công dân, chữ số thứ 7 thể hiện giới tính (số 1 là giới tính Nam và số 2 là giới tính nữ), chữ số thứ 8 đến thứ 11 là mã số vùng (cấp xã); chữ số thứ 12 là số thứ tự đăng ký công dân tại cơ quan đăng ký trong ngày (cấp xã); chữ số cuối cùng là số kiểm chứng được tự động cài đặt trong phần mềm máy tính để đảm bảo mã số công dân không bị trùng nhau. Cơ quan nhà nước sử dụng mã số công dân để quản lý công dân trong các lĩnh vực như giáo dục, quân sự, bầu cử, giao dịch ngân hàng, mua bán tài sản… Công dân Hàn Quốc từ đủ 17 tuổi sẽ được cấp Thẻ công dân trong đó chưa đựng thông tin về họ tên, địa chỉ thường trú, dẫu vân tay, mã số công dân… Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Tại Bosnia và Herzegovina, để quản lý công dân, cơ quan lập pháp Bosnia và Herzegovina đã ban hành Luật số định danh cá nhân. Luật này quy định cách thức, vị trí, việc đăng ký, lưu trữ và sử dụng số định danh cá nhân của công dân Bosnia và Herzegovina và người nước ngoài sống trên lãnh thổ Bosnia và Herzegovina.

Số định danh cá nhân (personal identification number) sẽ được thể hiện trong chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn và đăng ký khai tử, hồ sơ tuyển dụng, thẻ bảo hiểm y tế, giấy tờ đi lại, bằng lái xe, giấy phép bắn súng, các giấy tờ công dân hoặc một số giấy tờ, tài liệu khác trong trường hợp luật định (Điều 18 Luật số định danh cá nhân). Số định danh cá nhân sẽ được cấp tại nơi sinh nơi công dân đăng ký khai sinh (Điều 8 Luật số định danh cá nhân).

Ở Việt Nam, khi luật Hộ tịch ra đời đã quy định rất rõ Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh (Điều 14) – là một trong những nội dung quan trọng trong đăng ký khai sinh. Số định danh cá nhân của người được đăng ký khai sinh được cấp khi đăng ký khai sinh. Thủ tục cấp số định danh được thực hiện theo Luật căn cước công dân và Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật căn cước công dân, trên cơ sở bảo đảm đồng bộ với Luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành.

1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Xét từ phương diện khoa học quản lý nhà nước thì quản lý hộ tịch có vị trí trung tâm của hoạt động quản lý dân cư. Đây là lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mà mọi quốc gia hiện đại, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển, đều phải quan tâm. Sự vững mạnh của một quốc gia liên quan mật thiết với hiệu quả của hoạt động quản lý dân cư nói chung và quản lý hộ tịch nói riêng. Có thể khẳng định rằng, các vấn đề pháp lý về quản lý hộ tịch có tầm quan trọng tương tự như các vấn đề pháp lý về quốc tịch, về biên giới quốc gia, về tổ chức bộ máy nhà nước… Vì vậy, quản lý hộ tịch phải được điều chỉnh bằng một đạo luật do Quốc hội ban hành. Trên thế giới, nhiều nước như Đức, Nhật Bản, Đài Loan… đều điều chỉnh vấn đề quản lý hộ tịch bằng văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Nhìn chung, mỗi nước có một mô hình đăng ký và quản lý hộ tịch phù hợp với đặc thù văn hoá, kinh tế, xã hội của nước đó, nhằm đảm bảo quản lý nhà nước về hộ tịch đạt hiệu quả cao nhất.

Qua phần nghiên cứu về pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, so sánh đánh giá với các quy định pháp luật hộ tịch của Việt Nam đã cho chúng ta thấy có nhiều nét tương đồng. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, về mặt khái niệm, trong khoa học pháp lý của các nước khác và ở Việt Nam đều ghi nhận hộ tịch và đăng ký hộ tịch là việc ghi nhận các sự kiện như sinh, kết hôn, tử … đó là quyền và trách nhiệm giữa hai chủ thể là cá nhân và nhà nước. Như vậy mặt ngôn ngữ thì từ Hộ tịch đang được ghi nhận trong Luật hộ tịch của chúng ta có sự tương đồng về mặt ngữ nghĩa với các khái niệm của pháp luật hộ tịch trên thế giới. Với tính cách là một hình thức chức đựng những thông tin rất quan trong về cá nhân thì pháp luật hộ tịch Việt Nam và pháp luật hộ tịch các quốc gia khác đều cân nhắc và lựa chọn phương thức đăng ký hộ tịch để tạo sự thuận lợi cho công dân và sự quản lý của Nhà nước. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

Thứ hai, đều có các quy định về trách nhiệm của người đi đăng ký các các sự kiện hộ tịch (quy định rõ đối tượng có trách nhiệm, đối tượng có liên quan đến sự kiện hộ tịch phải đi đăng ký hộ tịch);

Thứ ba, pháp luật các nước trong đó có Việt Nam quy định rõ thời hạn đi đăng ký các sự kiện hộ tịch, quy định rõ thời hạn giải quyết các sự kiện hộ tịch

Thứ tư, các sự kiện hộ tịch của cá nhân khi đăng ký đều được ghi vào sổ lưu, các sổ này phải được lưu giữ vĩnh viễn để phục vụ cho việc quản lý của một quốc gia.Hiện nay, một số quốc gia trong đó có Việt Nam thì việc lưu dữ các sự kiện hộ tịch thông qua hệ thống cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Nhưng việc lưu giữ các sổ hộ tịch ở các nước khác nhau là khác nhau, ở Việt Nam thì quy định từng loại sổ riêng biệt cho từng sự kiện hộ tịch cụ thể như: sổ đăng ký kết hôn, sổ đăng ký khai sinh, sổ đăng ký khai tử, sổ nhận cha mẹ con, sổ đăng ký giám hộ…. Bên cạnh đó một số quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản quy định việc đăng ký khai.

  • Kết luận chương 1

Tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật hộ tịch, khái niệm hộ tịch, khái niệm đăng ký hộ tịch, vị trí vai trò của đăng ký, quản lý hộ tịch; pháp luật về đăng ký hộ tịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, qua việc nghiên cứu và phân tích các quy định pháp luật hộ tịch của một số quốc gia trên thế giới để chúng ta thấy được những điểm tương đồng của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.Đây là phần lí luận quan trọng làm cơ sở tiếp tục cho việc nghiên cứu phần thực trạng pháp luật hộ tịch và thực hiện pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh

One thought on “Luận văn: Thực hiện pháp luật về hộ tịch huyện Đông Anh”

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật hộ tịch tại huyện Đông Anh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464