Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân và thực tiễn thi hành ở tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân
2.1.1. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên là vấn đề quan trọng trong quy chế pháp lý của Kiểm sát viên. Theo Điều 83 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định, Kiểm sát viên có các nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm sau:
Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.
Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình trong việc thực hành quyền công tố, tranh tụng tại phiên tòa và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Kiểm sát viên phải chấp hành quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì Kiểm sát viên có quyền từ chối nhiệm vụ được giao và phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với Viện trưởng; trường hợp Viện trưởng vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và Kiểm sát viên phải chấp hành nhưng không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo lên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có thẩm quyền. Viện trưởng đã quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với vi phạm pháp luật của Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ được giao; có quyền rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Kiểm sát viên.
- Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp do luật định.
- Trong vụ việc có nhiều Kiểm sát viên tham gia giải quyết thì Kiểm sát viên ở ngạch thấp hơn phải tuân theo sự phân công, chỉ đạo của Kiểm sát viên ở ngạch cao hơn.
- Khi thực hiện nhiệm vụ, Kiểm sát viên có quyền ra quyết định, kết luận, yêu cầu, kiến nghị theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh những quy định nội dung về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm, pháp luật cũng quy định những việc Kiểm sát viên không được làm: Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
- Những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm.
- Tư vấn cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án, vụ việc không đúng quy định của pháp luật.
- Can thiệp vào việc giải quyết vụ án, vụ việc hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án, vụ việc.
- Đưa hồ sơ, tài liệu của vụ án, vụ việc ra khỏi cơ quan nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền.
- Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án, vụ việc mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định.
Để nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm về vai trò của người Kiểm sát viên, pháp luật còn quy định việc Tuyên thệ của Kiểm sát viên tại Điều 85 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
Người được bổ nhiệm vào các ngạch Kiểm sát viên phải tuyên thệ:
- Thứ nhất, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân;
- Thứ hai, đấu tranh không khoan nhượng với mọi tội phạm và vi phạm pháp luật;
- Thứ ba, kiên quyết bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và công bằng xã hội;
- Thứ tư, không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”;
- Thứ năm, nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, nguyên tắc tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.
2.1.2. Các quy định về tiêu chuẩn Kiểm sát viên Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, ngành kiểm sát được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, đứng đầu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Nhưng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân không thể tự mình thực hiện hết mọi quyền năng theo luật định mà phải thông qua hoạt động của các thành viên khác, đặc biệt là đội ngũ Kiểm sát viên. Để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các lĩnh vực hoạt động tư pháp, phát huy tính hiệu quả trong hoạt động, đòi hỏi các Kiểm sát viên phải nắm vững pháp luật và kiến thức của nhiều ngành khoa học liên quan, không ngừng nâng cao hiểu biết về chính trị xã hội và nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Công tác kiểm sát và thực hành quyền công tố là một nhiệm vụ chính trị, mọi hoạt động của Kiểm sát viên đều nhằm phục vụ nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược mà Đảng và Nhà nước định ra trong từng thời kỳ (từng giai đoạn Cách mạng). Vì lẽ đó, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ thôi chưa đủ, Kiểm sát viên phải có đạo đức chính trị, phải trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, có ý thức pháp luật cao, đấu tranh không khoan nhượng với bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào. Kiểm sát viên phải là người “công minh, chính trực, khách quan, thận trọng” như lời Bác Hồ dạy. Là lực lượng chủ yếu của Viện kiểm sát nhân dân, những công dân được bổ nhiệm Kiểm sát viên phải đáp ứng được các điều kiện, tiêu chuẩn theo pháp luật quy định, đó là những tiêu chuẩn chung và riêng đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
- Về tiêu chuẩn chung
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định về tiêu chuẩn chung của Kiểm sát viên tại Điều 75 như sau: “Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát; có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của Luật này; có sức khoẻ để đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao” [38]. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Như vậy, tiêu chuẩn chung của người được tuyển chọn bổ nhiệm làm Kiểm sát viên gồm có tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thời gian công tác thực tiễn và sức khỏe đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ. Tiêu chuẩn này đã được đề cập tới tại Điều 53, Sắc lệnh số 13/SL ngày 26 tháng 01 năm 1946 với quy định: “Vào ngạch thẩm phán phải có đủ ba điều kiện chung: có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông đàn bà; có hạnh kiểm tốt; chưa can án bao giờ” (theo Sắc lệnh này thẩm phán gồm thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội, thẩm phán buộc tội là người thực hiện chức năng công tố), sau đó được cụ thể hơn trong luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân các năm 1981, 1992, 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 1993, 2002 và hiện nay là Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
- Tiêu chuẩn cụ thể đối với Kiểm sát viên viện kiểm sát các cấp
Trên cơ sở tiêu chuẩn chung trên, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã xác định tiêu chuẩn cụ thể của kiểm sát viên viện kiểm sát các cấp.
Đối với Kiểm sát viên sơ cấp, phải đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại Điều 77 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “Người có đủ tiêu chuẩn chung của Kiểm sát viên và có đủ các điều kiện là có thời gian làm công tác pháp luật từ 04 năm trở lên; có năng lực thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và đã trúng tuyển kỳ thi vào ngạch Kiểm sát viên sơ cấp thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát nhân dân; nếu là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát quân sự” [38].
Đối với kiểm sát viên trung cấp, theo quy định tại Điều 78 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 phải là “Người có đủ tiêu chuẩn chung của Kiểm sát viên và có đủ các điều kiện là đã là Kiểm sát viên sơ cấp ít nhất 05 năm; có năng lực thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp đối với Kiểm sát viên sơ cấp; đã trúng tuyển kỳ thi vào ngạch Kiểm sát viên trung cấp thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát nhân dân; nếu là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự” [38]. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Đối với Kiểm sát viên cao cấp, theo quy định tại Điều 79 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 phải là “Người có đủ tiêu chuẩn chung của Kiểm sát viên và có đủ các điều kiện là đã là Kiểm sát viên trung cấp ít nhất 05 năm; có năng lực thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp; có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp đối với Kiểm sát viên sơ cấp; đã trúng tuyển kỳ thi vào ngạch Kiểm sát viên cao cấp thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp của Viện kiểm sát nhân dân; nếu là sĩ quan quân đội tại ngũ thì có thể được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp của Viện kiểm sát quân sự” [38].
Đối với kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, theo quy định tại Điều 80 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 phải là “Người có đủ tiêu chuẩn chung của Kiểm sát viên và có đủ các điều kiện là đã là Kiểm sát viên cao cấp ít nhất 05 năm; có năng lực chỉ đạo, điều hành công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; có lực giải quyết những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Kiểm sát viên” [38].
Như vậy, điểm mới của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 so với Pháp lệnh Kiểm sát viên 2002 là quy định có 04 ngạch Kiểm sát viên gồm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên sơ cấp. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên cao cấp tương ứng với tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao hiện nay và nâng cao tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Về số lượng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định không quá 19 người. Về nhiệm kỳ Kiểm sát viên, Luật năm 2014 quy định Kiểm sát viên được bổ nhiệm lần đầu có thời hạn là 05 năm, trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc nâng ngạch thì thời hạn là 10 năm. Về cơ chế tuyển chọn Kiểm sát viên, Luật năm 2014 quy định: Áp dụng hình thức thi tuyển vào các ngạch Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Hội đồng thi được tổ chức ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch, các ủy viên gồm đại diện lãnh đạo nhiều cơ quan. Không áp dụng hình thức thi tuyển vào ngạch đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong trường hợp cần thiết, có thể bổ nhiệm những người đủ thời gian làm Kiểm sát viên cấp dưới trực tiếp theo quy định của pháp luật. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo năng lực thực tiễn và quá trình phấn đấu rèn luyện đối với người được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
2.1.3. Quy định về tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và thuyên chuyển Kiểm sát viên Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
- Quy định về tuyển chọn, bổ nhiệm kiểm sát viên
Tuyển chọn kiểm sát viên là một nội dung quan trọng gắn với hoạt động quản lý hành chính đối với Kiểm sát viên. Việc tuyển chọn Kiểm sát viên phải đạt được mục đích: tuyển chọn được những người có đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên, bảo đảm tính khách quan, công bằng trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đặc biệt là nhằm chuẩn hoá đội ngũ Kiểm sát viên chuyên nghiệp. Vì vậy, trong công tác tuyển chọn, phương thức tuyển chọn, thủ tục tuyển chọn và nhiệm kỳ hoạt động của Kiểm sát viên là những vấn đề cơ bản, cấp thiết.
Nếu như trước đây, những cán bộ đảm nhận nhiệm vụ công tố thời kỳ 1946-1959 do cử thì chức danh Kiểm sát viên từ năm 1960 tới nay việc tuyển chọn thường được tiến hành theo thủ tục bổ nhiệm. Theo đó, người được tuyển chọn làm Kiểm sát viên do người hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm, riêng đối với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu. Theo quy định của Pháp lệnh kiểm sát viên 2002, để giúp Chủ tịch nước và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở mỗi cấp đều có Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên. Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì có những đổi mới, thể hiện:
Thành phần và quy trình bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm: Chủ tịch là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các uỷ viên là đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội luật gia Việt Nam. Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ của người được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trình bày ý kiến đề nghị việc tuyển chọn và bổ nhiệm đối với người đó Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm việc theo chế độ tập thể và quyết định của Hội đồng tuyển chọn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao rồi báo cáo danh sách Kiểm sát viên được chọn đến Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao để trình Chủ tịch nước xem xét và quyết định bổ nhiệm.
- Thành phần và quy trình Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp:
Hội đồng thi tuyển Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp gồm có Chủ tịch là Viện trưởng KSND tối cao và các ủy viên là một Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Danh sách Hội đồng thi tuyển Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp do Viện trưởng KSND tối cao quyết định.
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ của người đề nghị thi tuyển để bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng thi tuyển KSV sơ cấp, KSV trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp Tổ chức các kỳ thi tuyển Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp và công bố danh sách những người trúng tuyển. Hội đồng báo cáo danh sách người trúng tuyển đủ tiêu chuẩn làm Kiểm sát viên sơ cấp, Kiểm sát viên trung cấp, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân các cấp để đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét và quyết định bổ nhiệm. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Việc quy định thành phần và quy trình bổ nhiệm như trên thể hiện tính dân chủ, khách quan của các cơ quan, tổ chức xã hội, các đoàn thể và nhân dân thông qua người đại diện trong việc tuyển chọn người xứng đáng giữ cán cân công lý. Mặt khác, quy định này cũng thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan tham gia Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Hội đồng thi tuyển Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Bên cạnh đó, việc tổ chức thi tuyển Kiểm sát viên là cách để lựa chọn được người thực sự có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 để bổ nhiệm Kiểm sát viên sơ cấp, trung cấp và cao cấp.
- Miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân các cấp
Việc miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịch nước quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Việc miễn nhiệm, cách chức đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, trung cấp do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.
Trình tự, thủ tục xem xét đề nghị miễn nhiệm, cách chức chức danh kiểm sát viên được tiến hành theo trình tự sau: Chủ tịch nước, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo với Hội đồng tuyển chọn về hồ sơ đề nghị miễn nhiệm hoặc cách chức đối với chức danh Kiểm sát viên và trình bày ý kiến đề nghị miễn nhiệm, cách chức. Các thành viên trong Hội đồng căn cứ vào quy định của Pháp lệnh và hồ sơ đề nghị, tiến hành thảo luận, trao đổi về miễn nhiệm, cách chức. Chủ tịch Hội đồng kết luận, các thành viên Hội đồng có mặt biểu quyết công khai bằng hình thức giơ tay. Sau đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm văn bản đề nghị Chủ tịch nước quyết định miễn nhiệm hoặc cách chức chức danh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện KSND cấp cao làm văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao miễn nhiệm hoặc cách chức chức danh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp mình.
- Thuyên chuyển công tác đối với Kiểm sát viên Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Việc thuyên chuyển công tác đối với Kiểm sát viên các cấp được pháp luật quy định nhằm mục đích điều động, phân bổ cán bộ một cách hợp lý theo địa giới hành chính hoặc theo nhiệm vụ công tác của địa phương. Do đó, thuyên chuyển công tác đối với Kiểm sát viên phải đáp ứng được yêu cầu của công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố nhà nước, đồng thời phải đảm bảo đời sống của Kiểm sát viên. Việc điều động, biệt phái Kiểm sát viên từ Viện kiểm sát nhân dân địa phương này tới Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp ở địa phương khác do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
2.1.4. Quy định về mối quan hệ giữa Kiểm sát viên và các cơ quan tố tụng khác
- Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với cơ quan điều tra.
Cơ quan điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng, thực hiện các biện pháp nghiệp vụ thông qua các điều tra viên để xác định sự thật của vụ việc đã xảy ra một cách khách quan, chính xác và toàn diện.
Trong hệ thống tư pháp, điều tra và công tố luôn là mắt xích quan trọng, phục vụ đắc lực cho mục đích phát hiện chính xác kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Hoạt động kiểm sát của KSV có quan hệ mật thiết với cơ quan điều tra, đặc biệt trong tư pháp hình sự. Pháp luật đã quy định mối quan hệ chặt chẽ giữa các khâu phát hiện, điều tra tội phạm và luận tội nhằm mục đích truy tố chính xác tội phạm và kẻ phạm tội ra trước tòa.
Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên thực hiện quyền khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố theo ủy quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp mình. Kiểm sát viên có quyền yêu cầu hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định. Khi kiểm sát việc điều tra của cơ quan điều tra, đảm bảo việc điều tra đúng pháp luật, Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các họat động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, có quyền yêu cầu cơ quan điều tra khắc phục vi phạm trong quá trình điều tra, cung cấp tài liệu khi cần và khi điều tra viên vi phạm pháp luật. Đồng thời báo cáo Viện trưởng viện kiểm sát cấp mình khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra để Viện trưởng có quyết định kịp thời, đảm bảo điều tra đúng tiến độ.
Như vậy, Kiểm sát viên là người trực tiếp kiểm tra giám sát cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của Kiểm sát viên (trường hợp không đồng ý, cơ quan điều tra có quyền kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên). Để hoạt động điều tra của cơ quan điều tra đảm bảo tính khách quan, toàn diện và chính xác, rất cần hoạt động kiểm sát của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân – người thực hiện chức năng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
- Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với Tòa án.
Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng xét xử. Thực hiện chức năng công tố là chức năng riêng có của Viện kiểm sát nhân dân theo ủy quyền của Viện trưởng, tại phiên tòa xét xử hình sự, Kiểm sát viên đọc Cáo trạng, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát và tham gia tranh tụng. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự thì sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa là điều kiện để phiên tòa diễn ra hợp pháp, nếu Kiểm sát viên vắng mặt mà không có Kiểm sát viên dự khuyết thay thế, phiên tòa phải hoãn lại. Tại phiên toà, chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận. Với những quy định này, Tòa án đã góp phần nâng cao chất lượng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo những lập luận đầy đủ, thuyết phục của Kiểm sát viên khi bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân.
Ngoài chức năng thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên còn thực hiện kiểm sát việc xét xử của tòa án, đảm bảo tòa án xét xử đúng người, đúng tội. Khác với mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và Kiểm sát viên mối quan hệ này thể hiện rõ nhất trong giai đoạn xét xử. Giai đoạn này, Tòa án thực hiện chức năng xét xử còn Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát việc thực hiện chức năng ấy, đồng thời duy trì chức năng kiểm sát, cùng với Tòa án xác định sự thật của vụ án để xét xử khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với cơ quan thi hành án.
Trong chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân có công tác kiểm sát thi hành án và Pháp lệnh thi hành án cũng quy định Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của đương sự, cơ quan thi hành án, chấp hành viên… Có nghĩa giữa cơ quan thi hành án và Kiểm sát viên tồn tại một quan hệ chặt chẽ. Bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, và cơ quan thi hành án là người chịu trách nhiệm chính. Việc bản án, quyết định của tòa án được thi hành trên thực tế mới đảm bảo được tính giáo dục phòng ngừa đối với cộng đồng, mới khẳng định được sự nghiêm minh của pháp luật. Thời điểm án được thi hành cũng là thời điểm Kiểm sát viên hoàn thành nhiệm vụ được giao đối với một vụ án cụ thể. Thực hiện công tác kiểm sát thi hành án Kiểm sát viên có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án đúng quy định, tự kiểm tra việc thi hành, trực tiếp kiểm sát việc thi hành án của cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, quyền kháng nghị và yêu cầu khi có căn cứ đối với cơ quan thi hành án… Pháp luật hiện hành quy định cơ quan thi hành án không phải là cơ quan độc lập mà chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan hành chính nhà nước, và sự quản lý về chuyên môn của Cục Thi hành án trực thuộc Bộ tư pháp, điều này đã ảnh hưởng không ít tới chất lượng thi hành án, vấn đề này sẽ được sửa đổi khi luật thi hành án ra đời. Khi cơ quan thi hành án là một cơ quan độc lập, mối quan hệ với Kiểm sát viên sẽ có sự thay đổi.
- Mối quan hệ giữa Kiểm sát viên với luật sư. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, được Bộ tư pháp công nhận quyền tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác (khi có đủ tiêu chuẩn theo luật định) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Khác với ba mối quan hệ trên, mối quan hệ giữa Luật sư và Kiểm sát viên là quan hệ giữa hai chức danh tư pháp có những khác biệt cơ bản. Nếu như Kiểm sát viên đại diện cho quyền lực nhà nước, thực hiện quyền công tố theo ủy quyền của Viện trưởng, tức là người buộc tội, thì luật sư là người đại diện cho người bị Kiểm sát viên truy tố (thân chủ), là người “gỡ tội”, bảo vệ cho thân chủ của mình tại phiên tòa. Mối quan hệ này thể hiện khá rõ trong quá trình tranh luận tại phiên tòa. Quan điểm của Kiểm sát viên và của Luật sư được thể hiện sẽ giúp hội đồng xét xử có cái nhìn toàn diện, khách quan chính xác. Sự có mặt thường xuyên của luật sư tại các buổi hỏi cung sẽ khắc phục được những vi phạm tố tụng, tránh được tình trạng phản cung của bị cáo tại phiên tòa, có những vụ án nhiều tình tiết mới được luật sư phát hiện và được điều tra bổ sung góp phần rất lớn vào việc xét xử đúng người đúng tội của tòa án. Những hoạt động này của Luật sư đã hỗ trợ, bổ sung cho hoạt động kiểm sát của Kiểm sát viên tại tòa, phát huy được khả năng của mình khi thực hiện quyền công tố.
Như vậy, Luật sư và Kiểm sát viên có mối quan hệ hỗ trợ bổ sung trong việc đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và bảo vệ pháp chế. Chính điều này đã và đang góp phần hình thành đội ngũ Kiểm sát viên, luật sư tinh thông nghiệp vụ, bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Thực hiện trong công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08/2002/NQ-TW ngày 02 tháng 09 năm 2002 và Nghị quyết 48/2005/NQ-TW, Nghị quyết 49/2005/NQ-TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ chính trị, Viện kiểm sát nhân dân đang đẩy mạnh công tác xây dựng ngành, nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố. Là chức danh chuyên môn, trực tiếp thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là người đại diện cho công lý, nhân danh quyền lực nhà nước bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật, vai trò của Kiểm sát viên ngày càng được khẳng định. Qua trình hình thành và phát triển, pháp luật về Kiểm sát viên đã thể hiện được tính ưu việt của mình và đang từng bước hoàn thiện. Nghiên cứu tìm hiểu những ưu điểm, hạn chế từ đó có những giải pháp hoàn thiện chế định Kiểm sát viên là góp phần vào thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp: Xây dựng đội ngũ kiểm sát viên tinh thông nghiệp vụ, trong sạch vững mạnh, dũng cảm đấu tranh bảo vệ công lý và pháp chế xã hội chủ nghĩa, có tinh thần trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp.
2.2.1. Hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2015 quy định tại Điều 2: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” [38]. Như vậy theo pháp luật hiện hành nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm sát được thu hẹp lại, không còn kiểm sát chung nữa. Với sự thu hẹp này, tình trạng quá tải về khối lượng công việc đối với Viện kiểm sát nói chung và với kiểm sát viên nói riêng sẽ được hạn chế, tập trung trí lực, nhân lực vào thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp để giảm thiểu sự lạm quyền trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật, giảm thiểu những trường hợp oan sai trong tố tụng, tránh trùng chéo trong hoạt động với cơ quan thanh tra.
- Trong lĩnh vực thực hành quyền công tố
Khi thực hành quyền công tố, kiểm sát viên nhân danh quyền lực nhà nước, đại diện cho công lý, cho sự nghiêm minh của pháp luật truy tố kẻ phạm tội ra trước tòa, đồng thời duy trì sự buộc tội tại tòa án, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra, khởi tố và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội. Với vai trò là Kiểm sát viên tham gia phiên tòa bảo đảm việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Thực hành quyền công tố việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Tại Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Lần đầu tiên Luật quy định một mục riêng về công tác “Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố”[38] nhằm khẳng định đây là lĩnh vực công tác thực hiện chức năng độc lập của Viện kiểm sát nhân dân (Mục 1 Chương II). Thể chế hoá chủ trương của Nghị quyết 49 -NQ/TW “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra”. Điều đó thể hiện việc thực hành quyền công tố được thực hiện ngay từ giai đoạn ban đầu nhằm đảm bảo việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra kịp thời, đầy đủ và đúng pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Kiểm sát viên được phân công đã chú trọng đến lập hồ sơ kiểm sát và đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh đối với từng tin báo tội phạm mà Cơ quan điều tra đã thụ lý; kịp thời yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, bị can để điều tra đối với những tin báo có dấu hiệu tội phạm mà Cơ quan điều tra chậm ra quyết định khởi tố. Đối với các tin báo tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị tiếp tục thực hiện tốt Quy chế tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Từ năm 2013 đến năm 2016, Viện kiểm sát hai cấp đã yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố: 118 vụ, 98 bị can (2016: 22 vụ, 11 bị can; 2015: 27 vụ, 11 bị can; 2014 35 vụ, 25 bị can; 2013 34 vụ, 51 bị can; 2012 không phát sinh số liệu) ; không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp 02 trường hợp vào năm 2015.
Đối với các tin báo tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị tiếp tục thực hiện tốt Quy chế tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Năm 2013 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã tiến hành xác minh ban đầu 06 tin và chuyển Cục điều tra giải quyết theo thẩm quyền 04 tin. Cục điều tra đã điều tra làm rõ và khởi tố 02 vụ, 02 bị can.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Kiểm sát viên hai cấp đã chủ động hơn trong việc tham mưu cho Viện trưởng, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân trong việc theo dõi, khởi tố vụ án hình sự và khẩn trương yêu cầu điều tra tội phạm. Kiểm sát viên đề xuất và thực hiện nhiều biện pháp để tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật. Kiểm sát chặt chẽ các vụ án hình sự ngay sau khi khởi tố, chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra, yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can, chống lạm dụng việc bắt khẩn cấp hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Vì vậy, chất lượng khởi tố, điều tra, truy tố được nâng lên, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung có trách nhiệm của Kiểm sát viên hoặc án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm xử hủy, sửa. Kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng các căn cứ pháp luật trong tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án, bị can, nhất là các trường hợp đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật hình sự. Đã phục hồi nhiều vụ án để điều tra theo quy định, không để xảy ra quá hạn điều tra; tích cực chủ động phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết các vụ án điểm, án theo thủ tục rút gọn. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Từ năm 2012 đến năm 2016, thông qua công tác kiểm sát, Viện kiểm sát hai cấp yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố 26 vụ, 11 bị can năm 2012); huỷ 04 quyết định khởi tố vụ án (năm 2012 hủy 01 quyết định, năm 2014 hủy 03 quyết định), huỷ 18 quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra (năm 2012 hủy 01 quyết định, năm 2014 hủy 13 quyết định, 2015 hủy 02 quyết định, 2016 hủy 02 quyết định); huỷ 19 quyết định không khởi tố vụ án không có căn cứ của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án 08 vụ (năm 2014); không phê chuẩn 06 quyết định khởi tố bị can (năm 2012), hủy bỏ 02 quyết định đình chỉ điều tra vụ án (năm 2014), hủy bỏ 05 quyết định đình chỉ điều tra bị can của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân đã phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp 881 người, không phê chuẩn lệnh bắt tạm giam 22 bị can, không phê chuẩn lệnh tạm giam 27 bị can, hủy bỏ quyết định tạm giam 02 bị can, không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp 01 trường hợp (2012); không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ 01 trường hợp (2012); hủy quyết định tạm giữ 01 trường hợp (2012). Viện kiểm sát hai cấp trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung 52 vụ để bổ sung chứng cứ 26 vụ; khởi tố thêm bị can 10 vụ; vi phạm tố tụng 02 vụ; thay đổi tội danh 05 vụ, khởi tố thêm tội danh 01 vụ [50].
Thông qua công tác kiểm sát, Kiểm sát viên đã yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm trong hoạt động điều tra, như: một số vụ án không kịp thời tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ, dẫn đến phải gia hạn thời hạn điều tra; vi phạm trong việc thu thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ án; việc thực hiện các yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát chưa đầy đủ, chưa kịp thời, dẫn đến một số vụ án phải trả để điều tra bổ sung; một số vụ án, Cơ quan điều tra ban hành các quyết định tố tụng không đúng quy định của pháp luật… Các kiến nghị của Viện kiểm sát đều được Cơ quan điều tra tiếp thu và đề ra biện pháp khắc phục.
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm.
Trong công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát hai cấp quan tâm giải quyết các vụ án đã thụ lý đúng thời hạn luật định, đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để xảy ra trường hợp nào Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội, thay đổi hoặc rút quyết định truy tố; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung, án bị hủy, sửa có trách nhiệm của Kiểm sát viên. Đảm bảo thụ lý vụ án đúng thời hạn luật định, đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để xảy ra trường hợp nào Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội, thay đổi hoặc rút quyết định truy tố; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung, án bị hủy, sửa có trách nhiệm của Kiểm sát viên. Trước khi kết thúc điều tra vụ án, Kiểm sát viên đã chủ động nghiên cứu, kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ vụ án, khi các chứng cứ, thủ tục tố tụng của vụ án đã đầy đủ thì mới thống nhất với Điều tra viên để kết thúc điều tra, nên đã hạn chế đến mức thấp nhất việc kết thúc điều tra vụ án mới đề xuất trả hồ sơ điều tra bổ sung. Ở hầu hết các vụ án, trước khi truy tố, Kiểm sát viên đã nghiên cứu, đánh giá đầy đủ về chứng cứ, bảo đảm việc truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội. Việc ban hành các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án, bị can đảm bảo đúng căn cứ pháp luật, nhất là các trường hợp đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật hình sự.
Số vụ án Viện kiểm sát truy tố đạt tỷ lệ cao so với tổng số vụ án đã kết thúc điều tra. Trong năm 2012 đến năm 2016, Viện kiểm sát hai cấp truy tố7.127 vụ/13466 bị can so với số vụ và số bị can đã kết thúc điều tra. Trong đó: Năm 2012 quyết định truy tố 1.476 vụ, 2.831 bị can / 1.494 vụ, 2.864 bị can, chiếm 98,7%; năm 2013 truy tố 1.492 vụ, 2.890 bị can /1.490 vụ, 2.872 bị can, chiếm 99%; năm 2014 truy tố 1.439 vụ, 2.836 bị can /1.463 vụ, 2.841 bị can, chiếm 99,1 %; năm 2015 truy tố 1.435 vụ, 2.620 bị can 1.452 vụ, 2.632 bị can, chiếm 98,7%; năm 2016 truy tố 1.285 vụ, 2.289 bị can/ 1.304 vụ, 2.309 bị can, chiếm 97,7%.
- Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Ở giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân được Kiểm sát viên sử dụng tại phiên tòa qua việc đọc cáo trạng, quan điểm của Viện kiểm sát liên quan tới việc giải quyết vụ án, thực hiện việc luận tội đối với bị cáo, phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án tại tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
Ở hầu hết các vụ án, trước khi tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên chuẩn bị tốt đề cương xét hỏi, dự kiến tình huống diễn biến tại phiên tòa; nâng cao chất lượng luận tội; chủ động tham gia xét hỏi, tranh luận đối đáp với những người tham gia tố tụng; đề nghị áp dụng hình phạt và mức hình phạt phù hợp quy định của pháp luật… Kiểm sát chặt chẽ việc Tòa án áp dụng các Điều 46, 47 và 60 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt nhẹ hoặc cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật. Tăng cường phối hợp với Tòa án để tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động và các phiên tòa để rút kinh nghiệm theo tinh thần cải cách tư pháp…
Công tác kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án được hầu hết các đơn vị thực hiện tốt; lập phiếu kiểm sát và gửi đầy đủ lên Viện kiểm sát cấp trên, do vậy, đã kịp thời phát hiện những vi phạm của Tòa án để tổng hợp, kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm, hoặc ban hành kháng nghị, đề nghị kháng nghị khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng. Viện kiểm sát hai cấp tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc kiểm sát biên bản phiên tòa, biên bản nghị án, đảm bảo các biên bản này phải được ghi chép khách quan, đầy đủ, đúng pháp luật.
Trong đó, năm 2012 xét xử sơ thẩm 1.495 vụ, 2.871 bị cáo; năm 2013 xét xử 1.476 vụ, 2.867 bị cáo; năm 2014 xét xử 1.447 vụ, 2.892 bị cáo, năm 2015 xét xử 1.435 vụ, 2.577 bị cáo; năm 2016 xét xử 1.296 vụ, 2.357 bị cáo.
Năm 2012 xét xử phúc thẩm 468 vụ, 818 bị cáo, chiếm 92,8%, 2013: 493 vụ, 857 bị cáo, chiếm 94,3%, 2014: 518 vụ, 893 bị cáo, 2015: 550 vụ, 916 bị cáo, 2016: 521 vụ, 828 bị cáo. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Việc rút kinh nghiệm tổ chức các phiên tòa trong nhiều năm đã được Viện kiểm sát nhân dân các cấp tăng cường nhằm mục tiêu 100% Kiểm sát viên thực hành tốt quyền công tố tại các phiên tòa hình sự, đã tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả tranh tụng của Kiểm sát viên, bảo đảm hiệu lực, vai trò của quyền công tố trong việc xét xử khách quan, đúng người, đúng tội trong các phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
- Trong lĩnh vực kiểm sát hoạt động tư pháp.
Cùng với việc nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, viện kiểm sát các cấp cũng chú trọng công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo hoạt động của các cơ quan tư pháp theo đúng quy định của pháp luật.
- Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
Kiểm sát viên hai cấp đã chú trọng kiểm sát chặt chẽ việc thụ lý, giải quyết tin báo tội phạm, phân công Kiểm sát viên lập hồ sơ kiểm sát. Kiểm sát viên lập hồ sơ kiểm sát và đề ra yêu cầu xác minh đối với từng tin báo tội phạm mà Cơ quan điều tra đã thụ lý; định kỳ hàng tháng, Viện kiểm sát đã họp với Cơ quan điều tra để đánh giá tình hình tội phạm, kết quả xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; trao đổi, phối hợp và thống nhất quan điểm xử lý, nhằm nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội. Đối với các tin báo tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị tiếp tục thực hiện tốt Quy chế tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; chủ động tiếp nhận, tiến hành xác minh ban đầu đối với một số tin báo tội phạm và kịp thời chuyển Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết theo thẩm quyền.
- Kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Thực hiện chủ trương“Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra”; “Tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự”, Kiểm sát viên hai cấp đã chú trọng nâng cao chất lượng kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, kiểm sát chặt chẽ vụ án ngay từ khi khởi tố; chủ động nghiên cứu hồ sơ để xây dựng kế hoạch kiểm sát điều tra, đề ra yêu cầu điều tra sát, đúng với nội dung vụ án, đồng thời nắm chắc tiến độ điều tra để thường xuyên đôn đốc, yêu cầu điều tra, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ án trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm xử hủy, sửa.
Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã ban hành và chỉ đạo thực hiện thống nhất trong toàn ngành Viện kiểm sát nhân dân tỉnh mẫu “Kết luận kiểm sát Quyết định đình chỉ điều tra vụ án (bị can)”; theo đó, tất cả các vụ án, bị can, khi có quyết định đình chỉ của Cơ quan điều tra hoặc Tòa án cùng cấp thì Kiểm sát viên phải kiểm tra căn cứ của việc đình chỉ, đối với các trường hợp đình chỉ theo khoản 2 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên phải gặp và lấy lời khai của người rút yêu cầu khởi tố, nếu xét thấy việc đình chỉ là có căn cứ, đúng pháp luật thì ban hành Kết luận kiểm sát (theo mẫu) và gửi về tổ chuyên đề Viện kiểm sát nhân dân tỉnh để tổng hợp, theo dõi chung.
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn truy tố.
Trong công tác kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, Kiểm sát viên quan tâm giải quyết các vụ án đã thụ lý đúng thời hạn luật định, đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để xảy ra trường hợp nào Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội, thay đổi hoặc rút quyết định truy tố. Ở hầu hết các vụ án, trước khi truy tố, Kiểm sát viên đều tiến hành phúc cung bị can, nghiên cứu, đánh giá đầy đủ về chứng cứ, bảo đảm việc truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Viện kiểm sát hai cấp đã quan tâm thực hiện tốt công tác kiến nghị phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật, kịp thời ban hành 32 kiến nghị đề nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan đề ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trên địa bàn tỉnh (các cơ quan, tổ chức hữu quan đã có văn bản tiếp thu, đồng thời chỉ đạo các cấp, các ngành, các cơ quan có liên quan thực hiện tốt các nội dung kiến nghị của Viện kiểm sát).
- Kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Trong quá trình kiểm sát xét xử, Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thường xuyên chú trọng, phát hiện để kiến nghị đối với các bản án, quyết định vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát hai cấp tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 03 và Chỉ thị số 08 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm; hầu hết các kháng nghị đều đảm bảo chất lượng, nội dung kháng nghị và hình thức văn bản kháng nghị đều có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần vào việc hạn chế những thiếu sót, vi phạm của cấp sơ thẩm trong việc điều tra, truy tố, xét xử.
Thông qua công tác kiểm sát xét xử án hình sự, trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016, Kiểm sát viên hai cấp với nhiệm vụ được giao đã tham mưu lãnh đạo ban hành kháng nghị phúc thẩm 248 vụ, 524 bị cáo; Tòa án và Viện kiểm sát đã giải quyết 248 vụ; kháng nghị được Tòa án xét xử chấp nhận 220 vụ. Kiểm sát viên đề xuất để Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh báo cáo đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để hủy 45 bản án hình sự phúc thẩm, tái thẩm 01 vụ năm 2014; đã ban hành 62 kiến nghị đề nghị TAND cùng cấp khắc phục một số vi phạm, thiếu sót trong hoạt động xét xử, như: chậm giao bản án cho Viện kiểm sát; một số vụ án, Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung không đúng quy định của pháp luật; trong một số bản án, việc áp dụng pháp luật không đúng hoặc không đầy đủ, không áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội quy định trong Bộ luật hình sự 2015; sai lầm nghiêm trọng trong việc nhận thức và áp dụng pháp luật về hình sự, dân sự trong xét xử các vụ án Trộm cắp tài sản… Các kiến nghị của Viện kiểm sát đều được Toà án cùng cấp chấp nhận và khắc phục.
- Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự.
Trong kiểm sát việc tạm giam, tạm giữ, quản lý giáo dục người chấp hành án phạt tù, thực hiện nhiệm vụ theo luật định, kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân đã tiến hành kiểm sát chặt chẽ việc bắt, tạm giữ, tạm giam, đảm bảo các trường hợp bị bắt, tạm giữ, tạm giam có căn cứ, đúng pháp luật; kiên quyết không phê chuẩn đối với các trường hợp bắt, tạm giam không có căn cứ pháp luật. Vì vậy, số người bị bắt, tạm giữ chuyển khởi tố hình sự chiếm tỷ cao so với chỉ tiêu kế hoạch; không để xảy ra trường hợp quá hạn tạm giữ, tạm giam.
- Công tác kiểm sát thi hành án hình sự. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Kiểm sát viên đã chủ động phối hợp với các cơ quan hữu quan kiểm sát chặt chẽ các bị án thi hành hình phạt tù, án có hiệu lực pháp luật chưa thi hành để có biện pháp thi hành. Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc thi hành các quyết định áp dụng biện pháp hành chính của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng trình tự, thủ tục xem xét quyết định hoãn, miễn chấp hành, giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại của Tòa án cùng cấp; phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức các đợt rút ngắn thời gian thời gian thử thách của án treo, miễn, giảm thời hạn chấp hành án cải tạo không giam giữ vào các dịp lễ, Tết; kiểm sát chặt chẽ công tác xét đề nghị đặc xá cho các phạm nhân đang chấp hành án và có đủ tiêu chuẩn, điều kiện.
- Kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.
Đối với công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, hôn nhân gia đình, lao động, hành chính. Bộ luật Tố tụng dân sự 2005 có hiệu lực, quyền hạn của Kiểm sát viên khi thực hiện hoạt động kiểm sát các vụ án trên thay đổi theo hướng thu hẹp lại, không giữ quyền khởi tố vụ án, Kiểm sát viên chỉ có quyền tham dự phiên tòa, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án của viện kiểm sát, quyền kiểm sát sự tuân theo pháp luật của các đương sự… Thông qua công tác kiểm sát, Kiểm sát viên đã phát hiện vi phạm đề xuất lãnh đạo ban hành kháng nghị yêu cầu Toà án khắc phục các vi phạm trong việc giải quyết án hành chính, dân sự như: gửi chậm thông báo thụ lý, bản án, quyết định; vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử; xác minh thu thập chứng cứ không đầy đủ, toàn diện; tính án phí không đúng quy định của pháp luật; không chuyển một số hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền… Các kiến nghị của Viện kiểm sát đều được Toà án chấp nhận và khắc phục vi phạm.
- Kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính.
Trong công tác kiểm sát thi hành án, bảo đảm cho bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế, kịp thời, nghiêm chỉnh, đúng pháp luật, công tác kiểm sát thi hành án giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Riêng đối với thi hành án dân sự, Kiểm sát viên hai cấp đã kiểm sát chặt chẽ việc ra quyết định thi hành án; chú trọng kiểm sát việc trả lại đơn, hoãn, tạm đình chỉ và cưỡng chế thi hành án. Việc lập hồ sơ kiểm sát các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án, xác minh, phân loại điều kiện thi hành án bảo đảm đúng quy định. Thông qua kiểm sát trực tiếp, cũng như qua công tác kiểm sát thường xuyên đối với cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp đã phát hiện một số vi phạm, như: việc ra quyết định cưỡng chế kê biên chậm trễ, quyết định hoãn thi hành án, trả lại đơn yêu cầu thi hành án không đúng quy định của pháp luật, xác minh điều kiện thi hành án không kịp thời, chậm gửi các quyết định thi hành án cho Viện kiểm sát…; đã ban hành 150 kháng nghị, kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm và được các cơ quan Thi hành án dân sự tiếp thu, khắc phục vi phạm.
- Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền.
Công tác tiếp công dân, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp đã được Kiểm sát viên được phân công hai cấp quan tâm thực hiện. Viện kiểm sát hai cấp đã tiến hành kiểm sát trực tiếp và kiểm sát gián tiếp đối với các cơ quan tư pháp trong việc thụ lý, giải quyết đơn trong lĩnh vực tư pháp; từ đó ban hành kiến nghị yêu cầu và được các cơ quan tư pháp tiếp thu, khắc phục các vi phạm về trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo; việc lập và lưu giữ hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo…
2.2.2. Về tiêu chuẩn, trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Tiêu chuẩn kiểm sát viên như đã trình bày tại chương một, gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể đối với Kiểm sát viên các cấp.
Pháp luật hiện hành quy định tiêu chuẩn chung của kiểm sát viên là những tiêu chuẩn về đạo đức, đạo đức chính trị, về chuyên môn nghiệp vụ, thời gian công tác và sức khỏe đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ.
Quy định về trình độ cử nhân luật đối với người được bổ nhiệm làm kiểm sát viên là điểm rất mới, rất tiến bộ của Pháp lệnh kiểm sát viên 1993 và tiếp tục được khẳng định tại Pháp lệnh kiểm sát viên 2002, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, nó đã góp phần thống nhất mặt bằng trình độ của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, khắc phục được tình trạng bổ sung cán bộ không theo quy định, ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng kiểm sát trong một thời gian tương đối dài. Trước đây, yêu cầu về bằng cấp đối với người được tuyển chọn bổ nhiệm chỉ dừng lại ở trình độ cao đẳng, mà cụ thể là tốt nghiệp Cao đẳng kiểm sát, chưa đảm bảo được trình độ chuyên môn và kiến thức pháp luật cần thiết. Để khắc phục tình trạng trên, pháp luật hiện hành quy định một trong những tiêu chuẩn của kiểm sát viên là phải có trình độ cử nhân luật, bảo đảm cho các kiểm sát viên có kiến thức pháp lý sâu rộng, được đào tạo bài bản, giúp kiểm sát viên có sự nhìn nhận, đánh giá vấn đề khách quan, chính xác, đầy đủ hơn.
Về phẩm chất đạo đức, đạo đức chính trị, hầu hết các kiểm sát viên đều giữ cho mình phẩm chất đạo đức trong sạch, kiên định lập trường người cộng sản, xứng đáng là người đại diện cho công lý, người bảo vệ pháp luật, 100% cán bộ kiểm sát có sức khỏe tốt, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ, vấn đề miễn nhiệm vì lý do sức khỏe hầu như không đặt ra.
Quy trình bổ nhiệm Kiểm sát viên quy định về thời gian công tác thực tiễn đối với Kiểm sát viên là vấn đề hết sức quan trọng. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ sẽ được thực tiễn kiểm nghiệm và có thêm những kinh nghiệm, trau dồi thêm kiến thức, hoàn thiện khả năng của bản thân, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thực tế.
Pháp lệnh Kiểm sát viên đã quy định rất cụ thể về thời gian công tác pháp luật đối với người được tuyển chọn bổ nhiệm làm Kiểm sát viên. Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 (sử đổi, bổ sung năm 2011), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 qui định, cùng với điều kiện về năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, khả năng hướng dẫn nghiệp vụ đối với Kiểm sát viên cấp dưới, người được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp phải là Kiểm sát viên sơ cấp ít nhất 5 năm trở lên… Như vậy, đối với người được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Kiểm sát viên cấp tỉnh và và Kiểm sát viên sơ cấp không phải là thời gian công tác pháp luật, thời gian thực hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên cấp dưới nữa mà theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 qui định mới là đã trúng tuyển kỳ thi vào ngạch Kiểm sát viên. Trừ trường hợp ngoại lệ do nhu cầu cán bộ ngành được quy định và người có đủ điều kiện tiêu chuẩn theo quy định tại điều 75 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, đã có thời gian công tác pháp luật từ 10 năm trở lên, có năng lực thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, có khả năng hướng dẫn nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát cấp dưới thì có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Kiểm sát viên trung cấp; đối với trường hợp chưa đủ thời gian làm Kiểm sát viên cấp dưới hoặc thời gian làm công tác pháp luật, nhưng trong trường hợp cần thiết vẫn có thể được tuyển chọn, bổ nhiệm làm kiểm sát viên theo quy định của pháp luật. Đối với người được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp, điều kiện về thời gian công tác pháp luật vẫn là 4 năm. Đây là khoảng thời gian tương đối phù hợp cho quá trình phấn đấu rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác.
Về trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên. Việc tuyển chọn bổ nhiệm, Kiểm sát viên phải thông qua Uỷ ban kiểm sát xét tuyển để chọn người đủ điều kiện dự thi; bổ sung quy định về Hội đồng thi tuyển các ngạch Kiểm sát viên nêu trên. Đây là điểm mới của luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 so với luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trước đó. Đối với việc tuyển chọn bổ nhiệm, kiểm sát viên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tiếp tục thực hiện cơ chế tuyển chọn thông qua Hội đồng tuyển chọn như hiện nay.
Việc miễn nhiệm cách chức kiểm sát viên các cấp phải qua một Hội đồng tuyển chọn cụ thể, thành phần của Hội đồng tuyển chọn. Hội đồng làm việc theo chế độ tập thể và biểu quyết theo đa số, lựa chọn người đủ tài đức vào vị trí người bảo vệ công lý. Những quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn kiểm sát viên là tiền đề để thực hiện những quy định về trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
2.2.3. Về mối quan hệ giữa kiểm sát viên và các cơ quan tố tụng khác
Trong quá trình thực hiện công tác Kiểm sát viên với Cơ quan điều tra đều thực hiện tốt công tác phối hợp để đánh giá tình hình tội phạm, kết quả xác minh, giải quyết tin báo tội phạm, việc thu thập chứng cứ, điều tra, khởi tố vụ án; trao đổi, phối hợp và thống nhất quan điểm xử lý; kịp thời yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, bị can để điều tra đối với những tin báo có dấu hiệu tội phạm mà Cơ quan điều tra chậm ra quyết định khởi tố, nhiều tin báo phức tạp, tin báo được dư luận xã hội quan tâm, tin báo quá thời hạn giải quyết đã được Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phối hợp xử lý dứt điểm và đúng pháp luật, đã góp phần nâng cao tỷ lệ phát hiện tội phạm, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, đảm bảo không làm oan người vô tội.
Kiểm sát viên được phân công đã phối hợp với Cơ quan điều tra và TAND cùng cấp xác lập, giải quyết tốt các vụ án trọng điểm, vụ án theo thủ tục rút gọn, tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động và phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm. Nếu như, trong năm 2015 ngành KSND tỉnh chỉ phối hợp với TAND hai cấp tổ chức được 06 phiên tòa rút kinh nghiệm chung cho Kiểm sát viên và Thẩm phán, thì năm 2016 hai cấp kiểm sát đã phối hợp tổ chức được 37 phiên tòa rút kinh nghiệm chung cho cả hai ngành Viện kiểm sát và Tòa án, qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ các cơ quan tư pháp. Các Kiểm sát viên của Phòng nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với nhau hoặc với Cơ quan điều tra, Tòa án để kịp thời nghiên cứu và có văn bản trả lời đối với những vụ, việc có khó khăn, vướng mắc mà các Viện kiểm sát hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện thỉnh thị.
Phối hợp với các cơ quan hữu quan, tiến hành rà soát các vụ án chưa thi hành án phạt tù, nắm chắc các trường hợp hoãn thi hành án để thúc đẩy công tác thi hành án. Thông qua hoạt động kiểm sát, thực hiện quyền hạn theo ủy quyền của viện trưởng, kiểm sát viên được giao nhiệm vụ yêu cầu tòa án ra quyết định thi hành án đối với các trường hợp bị kết án có điều kiện thi hành nhưng chưa có quyết định thi hành án. Cùng với kiểm sát thi hành án phạt tù, viện kiểm sát các cấp tiến hành kiểm sát việc thi hành án treo, cải tạo không giam giữ tại các xã, phường, thị trấn và tiến hành kháng nghị những vi phạm pháp luật của Tòa án và cơ quan tổ chức liên quan đến việc thi hành án.
2.3. Đánh giá chung việc thực hiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
2.3.1 Những kết quả đạt được
- Thứ nhất, kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên.
Kiểm sát viên tăng cường công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự, nhất là các vụ án trọng điểm, các vụ án lớn được dư luận quan tâm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đã phát hiện đều được khởi tố điều tra theo quy định. Kiểm sát viên lập hồ sơ kiểm sát và đề ra yêu cầu xác minh đối với từng tin báo tội phạm mà Cơ quan điều tra đã thụ lý; định kỳ hàng tháng, Viện kiểm sát đã họp với Cơ quan điều tra để đánh giá tình hình tội phạm, kết quả xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm; trao đổi, phối hợp và thống nhất quan điểm xử lý, nhằm nâng cao chất lượng, đẩy nhanh tiến độ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.
Kiểm sát viên duy trì tốt mối quan hệ với các cơ quan hữu quan, với cấp ủy đảng, chính quyền và các ngành ở địa phương, thể hiện: phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo TAND tỉnh trực tiếp tham dự và chỉ đạo việc rút kinh nghiệm tại các phiên tòa hình sự đồng thời phối hợp với Cơ quan điều tra và các cơ quan tố tụng để kịp thời nghiên cứu và có văn bản trả lời đối với những vụ, việc có khó khăn, vướng mắc; phối hợp chặt chẽ với cơ quan trong khối nội chính cùng cấp, tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
- Thứ hai, về cơ cấu tổ chức và tiêu chuẩn, trình độ, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên.
Hầu hết các Kiểm sát viên đều có đủ trình độ theo qui định, có năng lực thực hành quyền công tố và Kiểm sát các hoạt động tư pháp, khả năng hướng dẫn nghiệp vụ đối với kiểm sát viên cấp dưới, đảm bảo về thời gian công tác thực tiễn pháp luật để được tuyển chọn bổ nhiệm làm Kiểm sát viên và phẩm chất đạo đức, sức khỏe để đáp ứng yêu cầu công tác.Với sự quan tâm của Đảng và nhà nước, thực hiện nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về tiêu chuẩn Kiểm sát viên, công tác cán bộ của ngành kiểm sát được chú trọng về cả chất và lượng. Đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân được rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm đã từng bước trưởng thành, đang đảm nhiệm những trọng trách trong những khâu công tác trọng tâm của ngành, kế tục và phát huy những thành quả xây dựng ngành kiểm sát nhân dân do thế hệ cha anh để lại.
Về trình tự thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên được thực hiện rất chặt chẽ. Việc tuyển chọn bổ nhiệm kiểm sát viên được thông qua Uỷ ban kiểm sát xét tuyển để chọn người đủ điều kiện dự thi và được Hội đồng thi tuyển công nhận kết quả trúng tuyển mới được xem xét bổ nhiệm. Đối với việc tuyển chọn bổ nhiệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tiếp tục thực hiện cơ chế tuyển chọn thông qua Hội đồng tuyển chọn. Hội đồng làm việc theo chế độ tập thể và biểu quyết theo đa số, lựa chọn người đủ tài đức vào vị trí người bảo vệ công lý. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Đội ngũ Kiểm sát viên được sắp xếp, hoàn thiện hơn sau mỗi nhiệm kỳ, đảm bảo năng lực chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần rèn luyện, phấn đấu, học hỏi, trau dồi kiến thức đối với mỗi Kiểm sát viên khi đảm nhận chức vụ.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ Kiểm sát viên được tăng cường và đầu tư có trọng tâm, hiệu quả nên đội ngũ Kiểm sát viên tiếp tục hoàn thiện cả về chất và lượng.
Kiểm sát viên nâng cao ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao theo yêu cầu của cải cách tư pháp. Chính vì vậy, trong các năm qua, hoạt động thực hành chức năng của Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều tiến bộ; đặc biệt là sau khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
2.3.2. Những hạn chế, bất cập
Nhìn chung, công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong các năm qua đã có nhiều tiến bộ. Viện kiểm sát các cấp đã chủ động phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết nhiều vụ án lớn, trọng điểm, phức tạp, nhất là những vụ án tham nhũng lớn, được dư luận đồng tình ủng hộ. Chất lượng bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, truy tố được nâng cao hơn trước; tiến độ giải quyết án được đẩy nhanh… Tuy nhiên, so với chức năng, nhiệm vụ được giao, công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát các cấp còn những tồn tại, yếu kém:
- Thứ nhất, trong thi hành pháp luật về thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Kiểm sát viên.
Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm do Cơ quan điều tra tiếp nhận, thụ lý; một số vụ án đã khởi tố nhưng không được vào sổ thụ lý tin báo; một số tin báo chưa được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; một số Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc xác minh, giải quyết tin báo nhưng chưa bám sát tiến độ xác minh, giải quyết của Điều tra viên, chưa chủ động nghiên cứu hồ sơ để phối hợp với Điều tra viên đề ra các biện pháp xác minh làm rõ; một số tin báo đã đủ căn cứ giải quyết nhưng Kiểm sát viên chưa kịp thời trao đổi, phối hợp với Điều tra viên để tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo đơn vị giải quyết dứt điểm… dẫn đến tin báo tội phạm quá thời hạn giải quyết có trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát vẫn còn chiếm tỷ lệ cao ở một số đơn vị.
Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra ở một số vụ án, Kiểm sát viên chưa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ,chưa làm hết trách nhiệm của mình, không kịp thời đề ra yêu cầu điều tra hoặc nội dung yêu cầu điều tra không sát, đúng với nội dung vụ án; không bám sát tiến độ điều tra của Điều tra viên, dẫn đến Điều tra viên thu thập chứng cứ không đầy đủ, bỏ lọt tội phạm, dẫn đến phải gia hạn thời hạn điều tra hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; một số vụ án, bị can ra quyết định đình chỉ điều tra không đúng quy định của pháp luật; một số đơn vị còn để xảy ra trường hợp án bị cấp phúc thẩm xử hủy hoặc cải sửa nghiêm trọng, thậm chí là phải đình chỉ điều tra do hành vi không cấu thành tội phạm…
Trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố, Kiểm sát viên nghiên cứu chưa đầy đủ, toàn diện nên tham mưu, đề xuất lãnh đạo đơn vị truy tố chưa chính xác, chứng cứ, thủ tục tố tụng chưa đầy đủ nên bị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung; việc áp dụng điểm, khoản của điều luật để đề nghị truy tố chưa đầy đủ; không ghi lời khai của người bị hại trong trường hợp người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố…
Trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử ở một số vụ án hình sự, vẫn còn những hạn chế, tồn tại, chủ yếu diễn ra ở Kiểm sát viên sơ cấp, như: chứng cứ vụ án được thu thập chưa đầy đủ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung; việc áp dụng pháp luật và xác định các tình tiết định khung; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không đúng quy định; một số vụ án vẫn còn bị cấp phúc thẩm xử hủy hoặc cải sửa nghiêm trọng có trách nhiệm của Kiểm sát viên. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Đối với công tác kiểm sát thi hành án, kiểm sát giam giữ cải tạo vẫn còn những tồn tại. Số lượng kháng nghị còn hạn chế về công tác thi hành án, kiểm sát chưa chặt chẽ việc thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế và hành chính, tình trạng bị can bỏ trốn chưa được phát hiện và kiến nghị kịp thời, đầy đủ, số lần nhà tạm giam, tạm giữ, trại giam, cơ sở chữa bệnh có kết luận ít, chưa phát hiện hết vi phạm hoặc kiến nghị vi phạm thiếu cụ thể, thiếu thuyết phục, khi ban hành quyết định kiểm sát trực tiếp, kết luận và ban hành kháng nghị, kiến nghị không đúng với quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngành…
Trong công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, dân sự ở một số Viện kiểm sát cấp huyện còn thấp; một số Kiểm sát viên thiếu tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nên không phát hiện được hết những vi phạm của Tòa án để tham mưu cho lãnh đạo Viện có biện pháp tác động kịp thời; một số đơn vị, mặc dù còn có án bị cấp phúc thẩm hủy, sửa, nhưng Viện kiểm sát cùng cấp chưa phát hiện được để ban hành kháng nghị hoặc có kháng nghị nhưng tỷ lệ còn thấp; chưa thường xuyên tổng hợp vi phạm của Tòa án để kiến nghị hoặc có tổng hợp nhưng không đầy đủ, thiếu chính xác; việc báo cáo, thống kê không đầy đủ, thiếu kịp thời…
- Thứ hai, về tiêu chuẩn, chế độ bổ nhiệm, thuyên chuyển, điều động Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
Mặc dù số lượng và chất lượng Kiểm sát viên được nâng lên một bước cơ bản so với những năm trước đây, nhưng so với yêu cầu của thực tế thì thực trạng đội ngũ Kiểm sát viên hiện nay vẫn còn có những hạn chế nhất định về số lượng và chất lượng.
Về số lượng kiểm sát viên, theo dự kiến của ngành kiểm sát tỉnh Đắk Lắk, năm 2015 chỉ tiêu Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hai cấp là 190, nhưng trên thực tế số lượng Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp được bổ nhiệm không đủ, còn thiếu 23 Kiểm sát viên sơ cấp chưa có nguồn để bổ nhiệm, không đáp ứng nhu cầu cán bộ của ngành. Việc phân bổ Kiểm sát viên ở Viện kiểm sát các cấp (cấp tỉnh, cấp huyện) chưa có sự đồng đều, đặc biệt là ở cấp huyện, tình trạng thiếu Kiểm sát viên vẫn đang xảy ra [51]. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Về chất lượng Kiểm sát viên, đây cũng là vấn đề có nhiều điều phải bàn. Bên cạnh những Kiểm sát viên có trình độ chuyên môn tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sạch, thì vẫn có những Kiểm sát viên yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, có những biểu hiện tham nhũng, tiêu cực. Đặc biệt, chất lượng Kiểm sát viên chưa đồng đều, nhiều người là Kiểm sát viên lâu năm nhưng vẫn chưa qua đào tạo bài bản, số mới tuy đã được đào tạo bài bản về luật nhưng lại chưa được đào tạo chuyên sâu nghề kiểm sát và thiếu kinh nghiệm… dẫn đến hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng như mong muốn.
Chất lượng hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố nhà nước trong thời gian qua có nhiều kết quả đáng khích lệ, nhưng vẫn còn có nhiều vụ việc mà dư luận và các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh còn chưa khách quan, làm ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân vào đội ngũ kiểm sát viên….
Chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên khi được phân công tại phiên toà hình sự và tham gia giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế và hành chính có những hạn chế nhất định. Đó là tình trạng kiểm sát viên yếu kém về trình độ chuyên môn nghiệp vụ đại diện Viện kiểm sát kiểm sát xét xử tại các phiên tòa, và việc hủy án sơ thẩm để xét xử lại, gây án oan sai, làm oan người vô tội như một hậu quả tất yếu. Thực tế hiện nay, tại các phiên tòa vẫn còn những kiểm sát viên ngồi ghế công tố với những bản luận tội sơ sài, mô tả lại diễn biến vụ án đơn thuần, không có sự phân tích, đánh giá hay chứng minh để bảo vệ quan điểm truy tố, vẫn còn những kiểm sát viên đuối lý hoặc không tranh luận trước những phát biểu của luật sư, tại không ít phiên tòa kiểm sát viên hầu như không tiến hành đối đáp.
Việc thực hiện quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp còn có những vướng mắc. Đó là vẫn còn tồn tại những vụ án phải điều tra lại, điều tra bổ sung, tồn tại những trường hợp án chưa được thi hành….
Một thực tế không thể phủ nhận nữa là sự sa ngã, suy thoái về phẩm chất đạo đức của một số kiểm sát viên do tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường. Đã không ít kiểm sát viên phải hầu tòa, bị kỷ luật, những đức tính công minh, chính trực, khách quan, thận trọng bị đánh đổi bởi sức mạnh của đồng tiền…. đánh mất lòng tin của nhân dân vào cán cân công lý. Có thể kể ra đồng chí Đào Anh Thái, Kiểm sát viên, huyện ủy viên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Huyện Krông Ana đã có hành vi nhận hối lộ để chạy án đã bị Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đẳk Lắk quyết định kỷ luật bàng hình thức cách chức các chức vụ trong Đảng và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định cách chức chức vụ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana (tháng 4/2014) vì trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị để xảy ra tham nhũng và vi phạm nghiêm trọng kỹ luật nghiệp vụ của ngành.
Thực tế đang tồn tại những điểm cần khắc phục xung quanh vấn đề văn hóa ứng xử của kiểm sát viên. Nhiều kiểm sát viên xuất hiện tại phiên tòa cùng với hội đồng xét xử, khi đọc cáo trạng thì rời rạc, to nhỏ không đều, mất bình tĩnh khi tranh luận với luật sư hoặc người bào chữa, thậm chí nhiều kiểm sát viên con dùng những từ ngữ thiếu tôn trọng bị cáo như “y”, ” thị”…Vấn đề này cần được nhìn nhận một cách đúng đắn.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Những tồn tại trong công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan. Tổng quát lại có thể thấy do những nguyên nhân chính sau đây:
- Thứ nhất, về thể chế về Kiểm sát viên.
Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, đồng bộ, cụ thể, dẫn đến còn có nhận thức khác nhau trong các cơ quan tiến hành tố tụng ở một số vụ án; chưa có nhiều cơ chế để bảo đảm cho hoạt động của Viện kiểm sát, cụ thể như:
Về phạm vi thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, theo khoản 1 Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa”[34].
Tuy nhiên, khoản 3 Điều 23 lại quy định phạm vi thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp rộng hơn sang cả lĩnh vực thi hành án. Điều này thể hiện sự chưa rõ ràng giữa việc thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp khác (như thi hành án). Khắc phục hạn chế này, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định rõ ràng phạm vi nội hàm hai loại quyền công tố và quyền kiểm sát hoạt động tư pháp, theo đó, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố được giới hạn như khoản 1, 2 Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự và quyền kiểm sát hoạt động tư pháp sẽ bao hàm cả lĩnh vực tố tụng hình sự và các hoạt động tư pháp khác.
Theo quy định của luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, tại phiên toà xét xử hình sự, Kiểm sát viên thực hiện song song hai quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, có nghĩa là kiểm sát viên vừa là chủ thể buộc tội, một bên của tố tụng, vừa đứng ra kiểm sát việc xét xử. Thực tiễn tại các phiên tòa, bên cạnh việc Kiểm sát viên lo chuẩn bị cho những vấn đề thuộc hoạt động công tố còn phải kiểm sát việc xét xử của Hội đồng xét xử, của những người tham gia tố tụng. Đây là một trong những nguyên nhân của những thiếu sót hạn chế trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Pháp luật quy định mỗi cấp Viện kiểm sát có nhiều ngạch Kiểm sát viên, nhưng lại chưa quy định về cơ cấu, tỷ lệ mỗi loại Kiểm sát viên ở mỗi cấp; chưa phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa các loại Kiểm sát viên.
Trong hoạt động của Kiểm sát viên có một vấn đề không thể không nhắc tới, đó là văn hoá xét xử của kiểm sát viên, đặc biệt tại các phiên toà. Pháp luật hiện hành chưa có văn bản quy định về văn hóa ứng xử của Kiểm sát viên. Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển ngành kiểm sát nhân dân, không ít các tác giả, các công trình nghiên cứu về các lĩnh vực họat động thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các họat động tư pháp dưới nhiều góc độ và trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng luận bàn về văn hóa ứng xử của Kiểm sát viên như là một yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành ở Viện kiểm sát nhân dân các cấp chưa được quan tâm đúng mức.
Đây là nguyên nhân khách quan nhưng rất cơ bản, đòi hỏi phải được khắc phục kịp thời, nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng hoạt động hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- Thứ hai, về công tác tổ chức, điều kiện hoạt động công tác của Kiểm sát viên
Biên chế của ngành KSND tỉnh tuy đã được bổ sung, nhưng chưa đáp ứng được với nhu cầu công việc. Thực hiện công tác sắp xếp, điều động công chức, lãnh đạo quản lý chưa hợp lý để phục vụ cho công tác chuẩn bị nhân sự để giới thiệu Ủy ban kiểm sát là căn cứ xem xét tuyển chọn, bổ nhiệm Kiểm sát viên trong thời gian tới để đảm bảo được chính sách cán bộ, Kiểm sát viên.
Công tác kiện toàn, bổ nhiệm chức vụ, các chức danh kiểm sát viên được thực hiện đúng quy trình, thủ tục, hồ sơ đầy đủ tài liệu cân thiết theo quy định nhưng một số Kiểm sát viên vẫn chưa thực sự đảm bảo đủ các tiêu chuẩn, điều kiện được đề nghị bổ nhiệm. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Một số nơi, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân còn bị chi phối bởi sự tác động của các cấp chính quyền, chưa tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc độc lập, không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở địa phương.
Việc quản lý, chỉ đạo, điều hành của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân các cấp còn bất cập; việc kiểm tra, giám sát của Lãnh đạo đối với cán bộ, Kiểm sát viên chưa tốt nên nhiều vi phạm, thiếu sót của Kiểm sát viên không được phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục kịp thời.
Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật của Viện kiểm sát nhân dân các cấp nhìn chung còn yếu và thiếu, không đáp ứng được yêu cầu nhanh, nhạy, chính xác, kịp thời của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính sách, chế độ tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, Kiểm sát viên chậm được điều chỉnh, bổ sung tương xứng với quyền hạn, trách nhiệm được giao.
- Thứ ba, về tiêu chuẩn, trình độ, năng lực Kiểm sát viên
Nguyên nhân của các vi phạm trên, một mặt do bản thân Kiểm sát viên thiếu ý thức rèn luyện đạo đức, nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp và năng lực chuyên môn. Nhiều Kiểm sát viên chưa nhận thức được đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò, thẩm quyền của Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung và hoạt động thực hành quyền công tố nói riêng nên tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu chủ động trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp.
Trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm sát viên còn hạn chế; nhiều Kiểm sát viên chưa nắm vững các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự dẫn đến lúng túng trong việc áp dụng pháp luật, thậm chí áp dụng sai, gây ra hậu quả xấu.
Một số Kiểm sát viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, thiếu bản lĩnh, bị kẻ xấu lợi dụng, mua chuộc làm tha hoá, biến chất, tiếp tay cho tội phạm, che dấu tội phạm hoặc tham ô, nhận hối lộ.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
Trong Chương 2 tác giả đã nghiên cứu, hệ thống và làm rõ quá trình hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân và quy định pháp luật về Kiểm sát viên, phân tích các vấn đề về thực trạng thi hành hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; trình độ, năng lực và việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, luân chuẩn, điều động Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; phân tích làm rõ những ưu điểm, tồn tại, hạn chế thực hiện pháp luật Kiểm sát viên. Từ lý luận về pháp luật Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân kết hợp với các phương pháp phân tích thực trạng, chương 2 đã cho thấy được tình hình của thực hiện pháp luật Kiểm sát viên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian từ năm 2012 đến 2016 thông qua các thông số từ nguồn số liệu của thống kê có giá trị cao của Viện kiểm sát nhân dân và các tài liệu khác mà tác giả thu thập được.
Từ nghiên cứu chương 2 là cơ sở để đi sâu đề xuất các biện pháp thiết thực, phương hướng hoàn thiện cụ thể về các mặt như lý luận, tổ chức hoạt động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, giáo dục, bồi dưỡng …. để pháp luật Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được thực hiện một cách thống nhất và có hiệu quả. Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân