Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân – Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Đất nước đang bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, là một trong những cơ quan của chuyên chính vô sản, trách nhiệ m của ngành kiểm sát, người cán bộ kiểm sát là hết sức quan trọng, trong đó có đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), “Người cán bộ Kiểm sát viên phải thấy hết trách nhiệm cao cả và nặng nề của mình, luôn luôn tôn trọng sự thật, phân rõ đúng sai, hết sức giữ thái độ khách quan, thận trọng, công minh, chính trực” (Lê Duẩn).

Ngay từ khi nước nhà giành độc lập, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã chú ý tới những cán bộ làm nhiệm vụ công tố, những vấn đề pháp lý về chức danh này bước đầu được điều chỉnh trong những văn bản pháp luật do nhà nước ban hành. Sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 đánh dấu sự hình thành chức danh Kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát sự tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống cơ quan Viện kiểm sát và bộ máy nhà nước nói chung đã và đang được khẳng định. Với cơ quan Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là người trực tiếp thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong bộ máy nhà nước, Kiểm sát viên là một chức danh tư pháp, có nhiệm vụ thực hiện chức năng của Viện kiểm sát, bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo sự thực thi pháp luật nghiêm minh, công bằng.

Là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của cả nước, Đắk Lắk có diện tích hơn 13.000 km2; dân số gần 02 triệu người; có 47 dân tộc anh em ở khắp các vùng, miền trong cả nước cùng về đây sinh sống; có 73 km đường biên giới giáp tỉnh Munđunkiri thuộc nước bạn Cam-pu-chia; tỉnh Đắk Lắk tiếp giáp với 05 tỉnh bạn là Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng, Khánh Hoà và Phú Yên; có 03 quốc lộ 14, 26 và 27 chạy qua; có 15 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 01 thành phố cấp 01 Buôn Ma Thuột, 01 thị xã Buôn Hồ và 13 huyện, với 184 xã, 2.445 thôn, buôn, bản.

Trong những năm qua, tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh luôn diễn biến và tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, nhất là các hoạt động của bọn phản động Fulrô lưu vong liên quan đến tình hình an ninh nông thôn và tội phạm hình sự (lượng án ở Đắk Lắk giải quyết đứng thứ 5 trên toàn quốc). Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk không thể đảm nhận được vai trò, nếu thiếu nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên của hai cấp. Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên hai cấp có đủ phẩm chất và năng lực là nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, nhất là yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân, vì dân, pháp luật về Kiểm sát viên đã bộc lộ những những yếu kém, bất cập: thiếu tính đồng bộ, tính thống nhất; nhiều quy định về Kiểm sát viên còn chung chung, chưa hoàn toàn phù hợp; số lượng định biên và cơ cấu chức danh Kiểm sát viên còn gò bó, cứng nhắc, có nơi thiếu, nơi thừa, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị; các quy định về quản lý còn phân tán, chống chéo, thiếu thống nhất, chưa có sự phân công rõ ràng, rành mạch; tiêu chuẩn đối với Kiểm sát viên còn nhiều mâu thuẫn, chưa ăn khớp; công tác đào tạo, bồi dưỡng Kiểm sát viên chậm được đổi mới; tiền lương, phụ cấp và các đãi ngộ khác đối với Kiểm sát viên chưa được giải quyết một cách cơ bản, còn nhiều bất hợp lý; một số chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng về Kiểm sát viên chưa được thể chế hóa thành pháp luật; chính sách thu hút và trọng dụng tài năng chưa được quan tâm; tình trạng cục bộ địa phương chậm được khắc phục; nhiều vấn đề mới phát sinh trong quản lý và xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên chưa được pháp luật điều chỉnh, bổ sung kịp thời, vv… Những thiếu sót đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến trình độ, chất lượng của đội ngũ Kiểm sát viên tỉnh Đắk Lắk còn thấp; năng lực của một bộ phận không nhỏ Kiểm sát viên còn yếu kém, chưa toàn tâm toàn ý với công vụ, thiếu công tâm, khách quan, còn có những biểu hiện tiêu cực, chưa được nhân dân tín nhiệm.

Để tạo được một hệ thống văn bản pháp luật về Kiểm sát viên có được sự đổi mới cơ bản, có hệ thống quy phạm, nguyên tắc, định hướng và mục đích pháp lý đầy đủ, rõ ràng, đồng bộ, thống nhất và có tính khả thi cao đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận, pháp lý cần phải được giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Vì vậy, việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân – Thực tiễn từ tỉnh Đắk Lắk” là yêu cầu khách quan và tất yếu, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân – Thực tiễn từ tỉnh Đắk Lắk” cho thấy, các nhà khoa học tiếp cận theo nhiều cách, với những cấp độ khác nhau, trong đó đáng chú ý như:

Tô Tử Hạ (2003), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ công chức hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội; Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội; TS. Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật; Lê Hữu Thể (chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Lê Tài Triển (1970), Nhiệm vụ của Công tố viên, Nxb Sài Gòn; Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội; Đỗ Văn Đương (2006), “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Thị Thu Hà (2015), “Tranh tụng trong tố tụng dân sự – một số vấn đề lý luận cơ bản”, đăng trên trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ; Nguyễn Thị Thu Hà (2009), Về quyền kháng nghị phúc thẩm của VKS nhân dân, Tạp chí Luật học tháng 11/2009; Phạm Hồng Hải (2006), “Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…

Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt về pháp luật Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về: “Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân – Thực tiễn từ tỉnh Đắk Lắk” dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Với kết quả nghiên cứu của luận văn, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần khắc phục tình trạng nêu trên.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân – Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk để đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong thời gian tới. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

  • Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn có nhiệm vụ:

Thứ nhất, luận văn xây dựng cơ sở lý luận của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thông qua việc phân tích, làm rõ khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; đặc điểm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; nội dung pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; vai trò pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; các yếu tố bảo đảm thực hiện hiện pháp luật Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Thứ hai, trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, luận văn đánh giá khách quan về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này.

Thứ ba, luận văn hình thành các quan điểm, đề xuất phương hướng và các giải pháp cơ bản, có tính hệ thống và bảo đảm cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quy định pháp luật hiện hành của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Dưới góc độ tiếp cận của khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định là pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam, được đánh giá thông qua thực tiễn thực hiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, thời gian từ năm 2012 đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2016; về đổi mới công tác cán bộ và cải cách tư pháp.

Để phù hợp với nội dung và mục đích nghiên cứu, luận văn đã sử dụng hợp lý, có hiệu quả từng từng phương pháp nghiên cứu cụ thể, trong đó luận văn chú trọng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh pháp luật.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu sâu, toàn diện và có hệ thống về pháp luật Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân – Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk trên cả phương diện lý luận, pháp lý và thực tiễn. Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung quan trọng vào hệ thống lý luận về Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng, Nhà nước về chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020; về đổi mới công tác cán bộ và cải cách tư pháp. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu này còn góp phần nâng cao nhận thức về vai trò, giá trị của pháp luật Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong đời sống dân sự. Luận văn có thể được tham khảo trong xây dựng chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020, trong đổi mới công tác cán bộ và cải cách tư pháp; tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành pháp luật, tư pháp và các khóa bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành kiểm sát nhân dân.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân và thực tiễn thi hành ở tỉnh Đắk Lắk;
  • Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân và bảo đảm thực hiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hiện nay.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

1.1.1. Khái niệm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

Để có quan niệm xác thực về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, trước hết cần phải tiếp cận nó như một bộ phận cấu thành của hệ thống cán bộ, công chức nhà nước và là một thuật ngữ có tính tập hợp.

Cán bộ, theo quan niệm thông thường được hiểu là những người thoát ly khỏi sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp… để làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn thể, những người là sĩ quan trong lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, những người giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế…

Theo các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nay, sử dụng đồng thời ba thuật ngữ: cán bộ, công chức, viên chức. Hiến pháp năm 2013 ở Điều 8 “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân…”. Theo quy định của Hiến pháp thì những người phục vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước bao gồm cán bộ, công chức và viên chức. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Căn cứ tại khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008 thì “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”

Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.

Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là khái niệm mang tính lịch sử, đồng thời phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ chức bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia. Tùy thuộc vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội và chế độ chính sách của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà nội dung của khái niệm công chức được hiểu theo những cách khác nhau.

Theo Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và đến nay là Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 qui định thì tại Điều 74 quy định: Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp [38].

Đồng thời, căn cứ Nghị định 60/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức thì xác định “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này” [4]. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Theo đó, công chức trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm: Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, phòng thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và người làm việc trong Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.

Qua phân tích các quy định trên đây, dưới góc độ luật học có thể khái quát về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân như sau: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là công dân Việt Nam được bổ nhiệm vào vào ngạch Kiểm sát viên theo nhiệm kỳ để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

1.1.2. Đặc điểm Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

VKSND là một bộ phận trong bộ máy chính quyền nhà nước. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là những người hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên. Là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, hoạt động của Kiểm sát viên đều hướng theo mục tiêu nhiệm vụ chung.

Về vị trí: Là cơ quan trong bộ máy nhà nước ta được quy định bởi nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác lập trong Hiến pháp.

Về chức năng, nhiệm vụ: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

Về tổ chức, quyền hạn: Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống thống nhất, bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các VKS quân sự và được phân cấp đảm nhiệm những chức năng. Do đó, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân gồm hai bộ phận, một là, chỉ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp theo bổ nhiệm ngạch Kiểm sát viên; hai là, vừa thực hiện chức năng trên vừa giữ chức danh quản lý theo sự bỏ phiếu tín nhiệm của từng nhiệm kỳ.

Về hoạt động: Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội; kiểm sát hoạt động tư pháp là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Đặc điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân được thể hiện cụ thể sau đây: Kiểm sát viên là người thực thi pháp luật và thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích của nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật.

Kiểm sát viên có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân; đấu tranh không khoan nhượng với mọi tội phạm và vi phạm pháp luật; kiên quyết bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và công bằng xã hội; không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”; nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật, nguyên tắc tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Chính vì vậy, Kiểm sát viên là những người gần dân, sát dân, biết dân, vì nhân dân phục vụ nên dễ làm dân tin và dân mến, có điều kiện thuận lợi trong việc thuyết phục, vận động nhân dân tuân thủ pháp luật, thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn không ít Kiểm sát viên chưa toàn tâm, toàn ý với công việc được giao, trong giải quyết công việc còn thiếu trách nhiệm mà coi nhẹ kỷ cương, pháp luật.

Kiểm sát viên là người có trình độ chuyên môn và có năng lực công tác. Theo tiêu chuẩn thì Kiểm sát viên có trình độ cử nhân luật trở lên, đã hoàn thành đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát. Kiểm sát viên hiểu biết, nắm vững và áp dụng đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế, các quy chế nghiệp vụ của ngành, nhất là các quy định của pháp luật trong lĩnh vực công tác được giao để giải quyết công việc được chính xác, có chất lượng, hiệu quả; vận dụng linh hoạt, nhạy bén các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn hoạt động nghiệp vụ, đồng thời biết gắn nhiệm vụ công tác được giao với yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng; có khả năng tham mưu, hướng dẫn pháp luật trong công tác. Ngoài ra, với tính chất công việc và yêu cầu nhiệm vụ, Kiểm sát viên có mối quan hệ công tác và tiếp xúc với nhiều người khác nhau như: Điều tra viên, Thẩm phán, Luật sư và viên chức các ban ngành có liên quan đến công việc, quần chúng hay bị can, bị cáo, đương sự … nên Kiểm sát viên còn có các kĩ năng giải quyết vấn đề, phân tích thông tin và kỹ năng báo cáo, kĩ năng tranh tụng trước tòa, hùng biện và nói trước đám đông, thuyết phục. Khi thực thi pháp luật, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật và Viện trưởng Viện kiểm sát về hành vi, quyết định của mình trong việc thực hành quyền công tố, tranh tụng tại phiên tòa và kiểm sát hoạt động tư pháp. Đây cũng là những đặc điểm khác biệt của Kiểm sát viên so với các đối tượng công chức nhà nước khác.

Kiểm sát viên không có tính ổn định, là công chức trong biên chế, làm việc suốt đời (60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ), nhưng chức danh được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ, nếu không được bổ nhiệm thì không còn giữ chức danh Kiểm sát viên nữa; thường có sự điều động, luân chuyển. Về nghĩa vụ, trách nhiệm có tính đặc thù, chuyên trách với trách nhiệm cao, thường xuyên làm việc với đối tượng phạm tội, nhưng thực chất chế độ của Kiểm sát viên chưa được hưởng tương xứng và đầy đủ. Bên cạnh đó, có những Kiểm sát viên còn hạn chế về năng lực, trình độ, chưa nắm vững các quy định pháp luật và các quy định có liên quan nên chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

1.1.3. Vị trí, vai trò của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Trong bộ máy nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân có một vị trí đặc biệt. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 khẳng định rõ địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế Hiến định trong bộ máy nhà nước, có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp đối với các vụ án, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi địa phương mình. Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quân đội.

1.2. Pháp luật về kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

1.2.1. Khái niệm pháp luật về kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân

Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là lĩnh vực pháp luật có tính chất liên ngành, các quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân được quy định trong nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp, các luật, bộ luật, pháp lệnh, các nghị định trong đó Luật cán bộ, công chức; các nghị định của Chính phủ về cán bộ, công chức, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với vị trí là những văn bản chung.

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý tối cao, là cơ sở để làm hình thành pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Hiến pháp quy định các nguyên tắc mang tính chính trị – xã hội cốt yếu của nền hành chính, thông qua quy định nghĩa vụ của công chức nhà nước trong hoạt động công vụ; quyền tự do của công dân trên các lĩnh vực, đặc biệt trong lĩnh vực hành chính – chính trị; quy định trình tự pháp lý của việc thiết lập các chức vụ chính trị trong bộ máy nhà nước; quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các chức vụ trong bộ máy đó. Các quy định này là cơ sở định hướng cho việc xây dựng chế độ pháp lý về cán bộ, công chức nói chung và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân nói riêng.

Luật cán bộ, công chức là văn bản qui định liên quan tới mọi mặt đời sống công vụ; xác định phạm vi, các quyền, nghĩa vụ công vụ ; các quy tắc chung về tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật v.v…của cán bộ, công chức nói chung, trong đó có Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 là văn bản hợp nhất Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2011, là văn bản trực tiếp và quan trọng nhất liên quan tới Kiểm sát viên, qui định các mặt cụ thể của chế độ công vụ của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, quy định về: tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật, trách nhiệm bồi thường vật chất,  của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Như vậy, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là một lĩnh vực pháp luật, bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới mọi mặt của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân và chế độ công vụ đối với họ. Những văn bản lập pháp và lập quy này do cơ quan nhà nước ở Trung ương, địa phương ban hành. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thiết lập đội ngũ Kiểm sát viên.

Từ những phân tích trên đây, dưới góc độ luật học có thể khái quát như sau: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là tổng thể các quy phạm pháp luật thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, quy định các nguyên tắc của chế độ công vụ, trật tự hoạt động công vụ, điều chỉnh các quan hệ về công vụ trong thiết lập các chức danh công chức của Viện kiểm sát nhân dân; các quyền, nghĩa vụ của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ; việc bổ nhiệm, tuyển dụng, sử dụng, quản lý, khen thưởng, kỷ luật và các vấn đề khác trong chính sách Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

1.2.2. Nội dung pháp luật về Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân

Quy định pháp luật điều chỉnh về Kiểm sát viên có ở nhiều văn bản khác nhau. Dưới góc độ luật Hiến pháp – Luật Hành chính, dựa vào các quan hệ được điều chỉnh bởi pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, trên cơ sở thực tiễn pháp luật, có thể xác định được nội dung của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân gồm những vấn đề cơ bản sau:

  • Địa vị pháp lý – công vụ của chức danh Kiểm sát viên. Vấn đề này thường trả lời cho câu hỏi, Kiểm sát viên có phải là cán bộ, hay công chức trong nền công vụ mà nó đang tồn tại.
  • Nhiệm kỳ Kiểm sát viên, các ngạch Kiểm sát viên.
  • Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên.
  • Tiêu chuẩn Kiểm sát viên, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên.
  • Chế độ đối với Kiểm sát viên.

Như vậy có thể thấy, hai nhóm nội dung cơ bản của pháp luật về Kiểm sát viên là: Thứ nhất, nhóm các quy định về chế độ hoạt động của Kiểm sát viên, bao gồm các quy định về địa vị pháp lý, quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý của Kiểm sát viên; thứ hai, nhóm các quy định về quản lý (hành chính) đối với Kiểm sát viên như: tuyển chọn, bổ nhiệm, sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, cách chức. Trong từng trường hợp cụ thể mà có thể xác định nguồn quy phạm điều chỉnh quan hệ xã hội cụ thể đối với Kiểm sát viên. Trong phạm vi luận văn này, chủ yếu tập trung vào một số nội dung cơ bản của hai nhóm nêu trên, đó là các quy định về: nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên; quy định về tiêu chuẩn, thủ tục tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Kiểm sát viên; và mối quan hệ công vụ của Kiểm sát viên với cơ quan tiến hành tố tụng khác.

1.2.3. Vai trò của pháp luật về kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì dân, là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trong đó Hiến pháp là tối cao, tối thượng, các luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác không trái, mâu thuẫn với Hiến pháp. Pháp luật của NNPQ là pháp luật vì con người, phục vụ con người, điều đó đòi hỏi muốn xây dựng NNPQ trước hết phải xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện cả về nội dung và hình thức, trong đó có pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Như vậy, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là một trong những phương tiện có vai trò quan trọng để xây dựng NNPQ Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Vai trò đó thể hiện ở những khía cạnh sau:

Một là, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là phương tiện để Đảng ta thực hiện quan điểm về xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng. Pháp luật là phương tiện thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm, chính sách của Đảng. Chính sách đưa ra phương hướng phải tiến tới, ấn định nguyên tắc giải quyết các vấn đề, còn pháp luật quy định cụ thể trong từng trường hợp mỗi người có quyền và nghĩa vụ gì, phải hành động hay không được hành động, quy định những biện pháp cưỡng chế nếu có những hành vi vi phạm. Đồng thời, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cũng chính là phương tiện để Đảng kiểm nghiệm chủ trương, đường lối của mình trong thực tiễn.

Hai là, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là phương tiện quan trọng trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước là lĩnh vực có quy mô và phạm vi hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, trong đó có quan hệ hành chính nhân sự là một trong những vấn đề quan trọng, mối quan tâm hàng đầu của nền hành chính các quốc gia. Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ quản lý nhân sự, đảm bảo trật tự công vụ và sự vận hành có hiệu quả của bộ máy nhà nước từ khâu tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng đến khâu sử dụng, quản lý và các chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Các văn bản pháp luật đó quy định phạm vi, quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trên cơ sở các chức vụ hành chính được nhà nước trao cho nhằm tạo ra hành lang pháp lý trong quá trình thực thi công vụ, phục vụ nhân dân. Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn, những việc Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân được làm và không được làm là đảm bảo pháp lý giúp cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình trên cơ sở pháp luật, vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công chức vừa bảo đảm các mệnh lệnh, quyết định quản lý nhà nước đều được tổ chức thực hiện đầy đủ. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Ba là, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là phương tiện cho đội ngũ Kiểm sát viên thực thi đúng chức trách của mình, bảo vệ lợi ích nhà nước, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận trong hệ thống pháp luật nhà nước, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ chức vụ hành chính nhà nước. Các hoạt động của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước nhằm thực thi quyền hành pháp. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân là những người được nhà nước lựa chọn làm nhân sự ủy thác, thay mặt nhà nước để thi hành chức trách. Do đó, hoạt động công vụ của họ mang tính quyền lực nhà nước.

Trong mối quan hệ giữa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân với nhà nước: Việc pháp luật quy định các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, các bảo đảm pháp lý, những việc Kiểm sát viên không được làm… nhằm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân hoàn thành chức trách, nhiệm vụ của mình, mặt khác để bảo vệ danh dự, uy tín và lợi ích của nhà nước, của quốc gia. Hầu hết các văn bản pháp luật có tầm quan trọng quy định về chế độ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đã khẳng định Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân có nghĩa vụ trung thành phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, làm tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, đảm bảo cho các quyết định, mệnh lệnh của nhà nước được thi hành nghiêm chỉnh, bảo vệ lợi ích của nhà nước. Trong mối quan hệ này, pháp luật có vai trò xác định trách nhiệm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đối với nhà nước.

Quan hệ giữa Kiểm sát viên với công dân: Trong mối quan hệ này, pháp luật xác định Kiểm sát viên là công bộc của nhân dân, có nghĩa vụ tận tụy phục vụ nhân dân; những quy định về địa vị pháp lý, những việc không được làm, khen thưởng và kỷ luật là cơ sở pháp lý quan trọng để Kiểm sát viên thực thi đúng bổn phận, trách nhiệm của mình. Các quy định của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo các quyết định, mệnh lệnh của nhà nước được thi hành nghiêm chỉnh; hạn chế tình trạng thiếu trách nhiệm, sách nhiễu, cửa quyền, ức hiếp dân, thậm chí còn tham nhũng, nhận hối lộ, gây phiền hà cho dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với nhà nước. Mặc dù Kiểm sát viên có những quyền, bảo đảm pháp lý nhất định trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ nhưng quan hệ giữa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân (theo nghĩa đại diện nhà nước) với công dân vẫn là quan hệ giữa người phục vụ và người được phục vụ, đều phải tuân thủ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.

Tóm lại, trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng, nó không chỉ là phương tiện để Đảng ta thực hiện quan điểm về xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, mà còn là phương tiện quan trọng trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước ở cơ sở và bảo vệ lợi ích nhà nước, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

1.3. Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

1.3.1. Yếu tố thể chế pháp lý

Xây dựng NNPQ là yêu cầu tất yếu khách quan, là nội dung trọng yếu của thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Điều đó đã được xác định rõ ràng, chính thức qua các văn kiện quan trọng nhất của Đảng và ghi nhận trang trọng trong Điều 2 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [12].

Điều này đòi hỏi Đảng và nhân dân ta vừa thực hiện, vừa nghiên cứu, tổng kết, để hình thành dần và ngày càng hoàn thiện mô hình phù hợp với yêu cầu mà lịch sử đã đặt ra cho chúng ta; nhằm đưa cách mạng nước ta đến mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Đây thực sự là nhiệm vụ quan trọng không chỉ vì thuộc tính cơ bản của NNPQ là tính tối cao của pháp luật, mà còn vì pháp luật đóng vai trò không thể thiếu trong việc thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng dân chủ; tăng cường hợp tác quốc tế; cơ sở để đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Trong khi đó, hệ thống pháp luật của chúng ta hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập, thiếu các bộ luật, đạo luật, đặc biệt là pháp luật về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, công chức, công vụ v.v… Yêu cầu đặt ra, phải xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta trên cơ sở vận dụng các thành tựu khoa học hiện đại, kỹ thuật pháp lý tiên tiến vào công tác lập pháp, lập quy. Vì vậy, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện xây dựng NNPQ cần phải đáp ứng được những yêu tố cơ bản sau đây:

Thứ nhất, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đạt chất lượng. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân suy cho cùng là việc hoàn thiện các quy phạm pháp luật. Trong điều kiện xây dựng NNPQ, điều cốt yếu là đề cao vai trò và giá trị xã hội của Hiến pháp và pháp luật, đảm bảo Hiến pháp và pháp luật giữ địa vị tối cao trong đời sống xã hội. Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong NNPQ Xã hội chủ nghĩa không thể là sản phẩm tùy tiện, tự do, duy ý chí của nhà nước và các nhà làm luật. Ngược lại, trong NNPQ xã hội chủ nghĩa, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phải phù hợp với bản chất khách quan của các quan hệ xã hội, ý chí của toàn dân và các nguyên tắc pháp luật Xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Tuy nhiên, chất lượng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Trước hết phải hoàn thiện và tăng cường công tác quy hoạch đường lối, chính sách lãnh đạo của Đảng sao cho nội dung của đường lối, chính sách của Đảng phải phản ánh đầy đủ và khách quan quy luật tồn tại và phát triển của các quan hệ xã hội cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; nâng cao năng lực hoạt động lập pháp của Quốc hội và hoạt động lập quy của Chính phủ và các cơ quan nhà nước khác; pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phải được thông qua theo trình tự thủ tục pháp lý chặt chẽ, dân chủ và khoa học.

Thứ hai, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong điều kiện xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa phải được sắp xếp theo một thứ bậc chặt chẽ nhất. Trong đó, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Các quy định của Hiến pháp là nguồn, làm căn cứ cho tất cả các văn bản pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Quá trình hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phải tuân thủ Hiến pháp cả về nội dung lẫn hình thức, cả thủ tục ban hành lẫn phạm vi hiệu lực. Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phải bảo đảm tính thống nhất với pháp luật về cán bộ, công chức nhà nước nói chung và không được trái, không được mâu thuẫn với các quy định của Hiến pháp.

Thứ ba, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phải tuân thủ một cách nghiêm chỉnh quy trình làm luật: chặt chẽ, khách quan, dân chủ. Điều này đòi hỏi trong quá trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân chúng ta phải xác định đúng đối tượng và phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính toàn diện và đồng bộ; mức độ điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phải phù hợp với từng lĩnh vực quan hệ xã hội, tránh tạo ra sự vênh nhau giữa các mức độ và phạm vi điều chỉnh; bảo đảm một thứ tự ưu tiên hợp lý và sự cụ thể hóa kịp thời bằng các văn bản hướng dẫn. Như vậy, chúng ta mới tạo ra được một cơ chế đủ sức huy động cao nhất là các sáng kiến lập pháp, lập quy của nhân dân, của các cơ quan Đảng, Nhà nước và bảo đảm tính khả thi của các quy định pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, tạo ra khả năng phối hợp một cách đồng bộ các cơ chế, chính sách và tổ chức để thực thi, đưa pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân vào cuộc sống.

Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trong NNPQ xã hội chủ nghĩa phải là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân và cải cách chế độ công vụ. Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân phải thể hiện bản chất dân chủ, giá trị công bằng, bình đẳng, phù hợp với hiện thực khách quan và góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Không thể xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân một cách tùy tiện. Tình trạng ban hành hoặc thay đổi quá nhanh và thiếu tính khả thi các văn bản quy phạm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân của các Bộ, ngành và địa phương sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào những giá trị công bằng và khả năng điều chỉnh của pháp luật. Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong việc xây dựng NNPQ là quyết tâm đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, đặt công việc đó trên một nền tảng khoa học.

Để thực hiện được những yêu cầu nhiệm vụ trên đây, trước hết cần phải có một chiến lược xây dựng pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thật sự khoa học, tiên tiến, phù hợp với thực tiễn điều kiện Việt Nam và theo kịp xu thế của quốc tế; nâng cao năng lực của các cơ quan lập pháp, lập quy và chất lượng của hoạt động lập pháp, lập quy.

1.3.2. Yếu tố tổ chức, bộ máy Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

NNPQ Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước mà ở đó tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Đây chính là bước phát triển trong nhận thức của Đảng ta tiếp thu những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền trong xây dựng NNPQ ở nước ta. Trong điều kiện không có đối trọng và kiềm chế lẫn nhau giữa các quyền lực như ở các nhà nước theo nguyên tắc phân quyền thì quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động nhà nước là cách thức kiểm soát quyền lực chủ yếu ở nước ta và vì thế đẩy mạnh xây dựng NNPQ, nâng cao hiệu lực của Nhà nước trước hết phải là hoàn thiện cách thức, cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, kiện toàn các cơ quan và các thiết chế giám sát. Trong cơ chế giám sát đó thì Viện kiểm sát nhân dân là một thành tố, là thiết chế giám sát có tính chuyên nghiệp cần thiết cho Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình. Ở góc độ khác phải thấy rằng, Chính phủ, VKSND tối cao, Toà án nhân dân tối cao không chỉ là đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội mà các cơ quan này cũng có vai trò nhất định trong phản biện quyền lực của Quốc hội thông qua những ý kiến phản hồi về tính thiếu khả thi, chồng chéo không thống nhất của hệ thống pháp luật, những hạn chế của các đạo luật cụ thể do Quốc hội ban hành. Đây chính là quan hệ biện chứng về kiểm soát quyền lực trong điều kiện cụ thể của nước ta.

Với ý nghĩa hết sức quan trọng của cơ cấu, tổ chức bộ máy trong việc thực hiện pháp luật Kiểm sát viên có hiệu quả. Do đó, xác định nhiệm vụ rồi mới thành lập tổ chức, có tổ chức mới sắp xếp, bố trí công tác, cán bộ. Mỗi Viện kiểm sát và cán bộ, Kiểm sát viên các cấp đều phải được tổ chức, xác định chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng. Các khâu công tác, cũng như việc quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ phải trên cơ sở yêu cầu và nội dung của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và xây dựng tổ chức trong sạch, vững mạnh. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

VKSND mặc dù có những thay đổi nhất định nhưng về tổng thể luôn là một hệ thống cơ quan nhà nước có các nguyên tắc tổ chức và hoạt động đặc thù, có vị trí độc lập trong bộ máy Nhà nước. Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); Viện kiểm sát quân sự các cấp.

Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có: Ủy ban kiểm sát; Văn phòng; Cơ quan điều tra; các cục, vụ, viện và tương đương; các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, các cơ quan báo chí và các đơn vị sự nghiệp công lập khác; Viện kiểm sát quân sự trung ương. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao gồm có: Ủy ban kiểm sát; Văn phòng; các viện và tương đương. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh gồm có: Ủy ban kiểm sát; Văn phòng; các phòng và tương đương. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có văn phòng và các phòng; những nơi chưa đủ điều kiện thành lập phòng thì có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.

Hệ thống Viện kiểm sát quân sự gồm: Viện kiểm sát quân sự trung ương; Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương; Viện kiểm sát quân sự khu vực. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát quân sự trung ương gồm có: Ủy ban kiểm sát; Văn phòng; Cơ quan điều tra; các phòng và tương đương. Tổ chức bộ máy của VKS quân sự quân khu và tương đương gồm có: Ủy ban kiểm sát; các ban và bộ máy giúp việc. Tổ chức bộ máy của VKS quân sự vực gồm có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc.

Việc xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân vẫn bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Viện kiểm sát vẫn là công cụ thực hiện hiệu quả tư tưởng Nhà nước pháp quyền, khẳng định nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, các đạo luật của Nhà nước. Viện kiểm sát nói chung và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân nói riêng là người bảo vệ pháp luật quan trọng nhất của quốc gia, bảo vệ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.

1.3.3. Yếu tố cán bộ, công chức Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Ngày 26/7/1960, ngành Kiểm sát được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, ngành Kiểm sát đã từng bước củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành Kiểm sát nhân dân. Nghị quyết 49-NQ/TW Ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 quy định: “Đảng lãnh đạo chặt chẽ hoạt động tư pháp và các cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức và cán bộ. Tăng cường công tác xây dựng Đảng, giáo dục, quản lý, kiểm tra hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên; chăm lo công tác quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn, bố trí, sử dụng đúng cán bộ trong các cơ quan tư pháp. Phân công đồng chí cấp ủy viên có trình độ, năng lực, uy tín và bản lĩnh bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Chánh án tòa án nhân dân các cấp” [8].

Công tác tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên sau này. Do đó, việc tuyển dụng cần thông báo công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, việc thành lập và hoạt động của Hội đồng tuyển dụng công chức, các Ban giúp việc cho Hội đồng tuyển dụng công chức đều được bảo đảm đúng quy trình, thủ tục theo quy định của Viện KSND tối cao, tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển, qua đó, có điều kiện sàng lọc, tuyển dụng được những cán bộ có tài, có đức. Cán bộ Kiểm sát viên phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, tận tụy phục vụ nhân dân; phải đấu tranh không khoan nhượng với mọi tội phạm và vi phạm pháp luật; phải kiên quyết bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và công bằng xã hội; không ngừng phấn đấu, học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.

1.3.4. Yếu tố cơ sở, vật chất và nguồn lực tài chính

Xây dựng đội ngũ cán Kiểm sát viên phải đi liền với yếu tố cơ sở, vật chất và nguồn lực tài chính, chế độ, chính sách nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân. Cần tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn; có chế độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp.

Đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất và trang thiết bị và nguồn lực tài chính sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát huy tài năng sáng tạo của đội ngũ Kiểm sát viên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Đầu tư nguồn lực tài chính đầy đủ và phù hợp sẽ góp phần xây dựng được đội ngũ Kiểm sát viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Theo đó, cần đầu tư kinh phí về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đi học, ưu tiên đào tạo cán bộ trẻ, trong diện quy hoạch…. Khi cử cán bộ đi học, hỗ trợ tiền ăn, ở, học phí, tiền mua giáo trình, tài liệu… theo từng đối tượng phù hợp, đảm bảo các điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học…

Hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên là hoạt động đặc biệt, đòi hỏi cường độ lao động cao, sự đầu tư về trí tuệ lớn, trách nhiệm pháp lý nặng nề, nếu để xảy ra oan, sai phải bồi thường. Thực tế cho thấy, đại đa số cán bộ, Kiểm sát viên còn nhiều khó khăn do đồng lương thấp. Việc đổi mới chính sách về tiền lương đối với đội ngũ cán bộ các cơ quan tư pháp nói chung, Kiểm sát viên nói riêng là một nhu cầu cần thiết. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi về tiền lương, phụ cấp sẽ tạo điều kiện giúp Kiểm sát viên giảm bớt khó khăn, yên tâm nhiệt tình công tác.

Bên cạnh đó, cần đổi mới công tác thi đua khen thưởng, có chế độ khen thưởng, động viên kịp thời cả về vật chất và tinh thần đối với những Kiểm sát viên có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Bằng phương pháp tiếp cận có khoa học để xác định những nội dung quan trọng liên quan đến hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, luận văn đã tập trung phân tích các khái niệm cán bộ, công chức nói chung và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân nói riêng, chỉ ra sự khác nhau giữa cán bộ và công chức cũng như đặc điểm và vị trí, vai trò của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Dưới góc độ luật học, luận văn đã luận giải và xây dựng khái niệm pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; nhận diện, phân tích các đặc điểm của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, xuất phát từ nhu cầu của quản lý và đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

Trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCCN ở nước ta hiện nay, luận văn một mặt phân tích để khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, mặt khác chỉ rõ yêu cầu của NNPQ xã hội chủ nghĩa đối với việc hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trên cơ sở những căn cứ và tiêu chí khoa học.

Qua việc phân tích một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề nêu trên, có thể khẳng định hoàn thiện pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng NNPQ Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay hoàn toàn có cơ sở lý luận khoa học và là yêu cầu khách quan và tất yếu. Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân

One thought on “Luận văn: Pháp luật về Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp PL về kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464