Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số kiến nghị về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. So sánh các quy định về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 với các bản Hiến pháp trước và quy định của Luật nhân quyền quốc tế
3.1.1. Quyền kinh tế
- Quyền lao động, việc làm
Hiến pháp 1946 quy định: “Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm” [23, Điều 13]
Hiến pháp 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền làm việc. Nhà nước dựa vào sự phát triển có kể hoạch của nền kinh tế quốc dân, dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng, để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó” [24, Điều 30].
Hiến pháp 1980 quy định: “ Lao động và quyền, nghĩa vụ và vinh dự hàng đầu của công dân. Công dân có quyền có việc làm…” [25, Điều 58] và đồng thời cũng đặt ra quy định về sự bảo đảm của Nhà nước về quyền này dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa của đất nước. Hiến pháp 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” [26, Điều 55].
- Tương ứng Điều 6, 7 ICESCR, Hiến pháp 2013 quy định:
Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. 2. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu [29, Điều 35].
Như vậy, tuy cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung lại các bản Hiến pháp trước đều coi quyền lao động và quyền cơ bản của công dân. Quyền lao động trong Hiến pháp 2013 được quy định trên cơ sở kế thừa nội dung của Điều 55 và Điều 56 Hiến pháp 1992, quy định đã khẳng định quyền làm việc của mọi người và nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử để phù hợp với Công ước của tổ chức lao động quốc tế ILO mà Việt Nam là thành viên, Điều 32 Công ước về quyền trẻ em…
Tuy nhiên việc tiếp tục quy định: “lao động là nghĩa vụ” lại chưa tương thích với Điều 12,13,22 ICCPR. Hiến pháp một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ba Lan, Liên bang Nga… cũng không gắn quyền với nghĩa vụ lao động. Trong thực tế, việc gắn quyền với nghĩa vụ là động là việc áp đặt, vì không phải lúc nào cũng có thể buộc một người phải lao động. Hơn nữa, việc xác định lao động là nghĩa vụ trong mọi trường hợp thì việc cưỡng chế thi hành và xử lý vi phạm nghĩa vụ này cũng khó thực hiện.
- Quyền tự do sản xuất và kinh doanh Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Quyền tự do kinh doanh không được quy định trong các bản Hiến pháp 1946, 1959 và 1980.
Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” [26, Điều 57]; “Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật” [26, Điều 16]. Điều 20 quy định: “công dân được chọn hình thức sản xuất, kinh doanh” [26, Điều 20]
Như vậy lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam quy định về quyền tự do sản xuất kinh doanh của cá nhân.
Hiến pháp 2013 quyền này lại tiếp tục được khẳng định quyền này “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [29, Điều 33].
Như vậy, việc thừa nhận quyền tự do kinh doanh trong Hiến pháp đã thể hiện bước phát triển lớn không chỉ trong quan hệ kinh tế mà còn trong vấn đề quyền con người, vì trong các bản Hiến pháp trước năm 1992 thì quyền tự do kinh doanh bị phủ nhận và bị giới hạn chặt chẽ về cả quy mô, hình thức đầu tư và việc thuê lao động. Điều đó cũng thể hiện sự chuyển biến căn bản trong nhận thức và tư duy kinh tế của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, nếu như quy định trên liệu đã phù hợp với trình độ của nền kinh tế Việt Nam hay chưa, đặc biệt là trình độ của các thành phần kinh tế trong nước là một vấn đề cần xem xét. Việc quy định “mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [29, Điều 33] kết hợp với quy định này tại Điều 16:“mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” [29, Điều 16] vô hình chung đã trao “quy chế công dân” một cách vô điều kiện cho người nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế, theo đó, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần viện dẫn Hiến pháp Việt Nam là có thể kinh doanh bất cứ lĩnh vực, ngành nghề nào giống như công dân Việt Nam. Điều này có thể gây bất lợi cho sự phát triển của các thành phần kinh tế trong nước, đặc biệt là trong ngành nghề và lĩnh vực Nhà nước cần phải bảo hộ một cách chính đáng. Sức cạnh tranh và khả năng dựa vào nội lực chính của thành phần kinh tế trong nước và nền kinh tế Việt Nam cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tác động của quy định này.
Hơn nữa, trong số các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia không có điều nào quy định phải trao quyền tự do kinh doanh cho tất cả mọi người ICESCR quy định: “Các quốc gia đang phát triển có thể quyết định mức độ đảm bảo các quyền kinh tế mà đã được ghi nhận trong Công ước này cho những người không phải là công dân của họ, có xem xét thích đáng đến các quyền con người và nền kinh tế quốc dân của mình”[19, Điều 2]. Như vậy, theo Công ước còn cho phép các quốc gia thành viên là nước đang phát triển tự quyết định mức độ trao quyền cơ bản trong lĩnh vực kinh tế cho người không phải công dân ở mức độ thấp hơn so với công dân, như vậy việc quy định quyền tự do kinh doanh như trên có thể là chưa thực sự phù hợp với trình độ phát triển hiện tại của nền kinh tế Việt Nam Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
- Quyền có một mức sống thích đáng
Quyền có mức sống thích đáng theo như Điều 11 ICESCR công nhận quyền của mọi người đối với một mức sống thích đáng bao gồm các khía cạnh: ăn, mặc, cư trú thích đáng, và đối với các điều kiện sống không ngừng được cải thiện.. Trong số các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, có thể khẳng định việc bảo đảm quyền được hưởng tiêu chuẩn sống thích đáng gắn bó mật thiết nhất với sự phát triển kinh tế. Một điều không ai phủ nhận rằng, chỉ khi tăng trưởng kinh tế mới có thể nâng cao được mức sống của người dân.
Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 chưa có quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm mức sống thích đáng cho công dân. Đến Hiến pháp 1992 đã có những quy định về quyền này, cụ thể:
“Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [26, Điều 3]. “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bảo dân tộc thiểu số” [26, Điều 5].
Các quy định trên trong Hiến pháp 1992 đã đề cập đến trách nhiệm của Nhà nước, đồng thời từ đó được cụ thể trong những chính sách, chương trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước của Chính phủ trong các mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo, nhằm bảo đảm một mức sống thích đáng cho người dân.
Cùng với việc xóa đói giảm nghèo, một nội dung nữa của quyền có mức sống thích đáng là quyền về nhà ở. Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền có nhà ở theo quy hoạch và pháp luật”; “Quyền lợi của người thuê nhà và người có nhà cho thuê được bảo hộ theo pháp luật” [26, Điều 62]. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Những quy định trên của Hiến pháp 1992, đã được cụ thể hóa trong các quy định của Bộ luật dân sự 2005…qua đó Nhà nước thực hiện việc giao đất cho cá nhân, tổ chức xây dựng nhà ở và sử dụng lâu dài theo quy định của pháp luật, phần nào đã tạo điều kiện để công dân chủ động cải thiện đời sống, góp phần thực hiện quyền có mức sống thích đáng.
Hiến pháp 2013 đã tiếp tục thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền này, Hiến pháp quy định: “Nhà nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [29, Điều 3], quy định trên đã thể hiện vai trò của Nhà nước luôn coi việc đảm bảo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mỗi người dân là mục tiêu phấn đấu của mình.
Tương ứng với Điều 11 ICESCR, quyền về nhà ở được quy định tại Hiến pháp 2013: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp” [29, Điều 22]. So với Hiến pháp 1992 quy định của Hiến pháp mới đã khái quát hơn, để phù hợp với quy định của ICESCR.
Quy định tại Điều 22 của Hiến pháp không nói đến trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm đảm một nơi ở thích đáng cho người dân.
Theo luật nhân quyền quốc tế, quyền có nơi ở thích đáng cũng không đòi hỏi các nhà nước phải xây nhà ở cho người dân, tuy nhiên cũng yêu cầu các quốc gia phải ngay lập tức tiến hành các biện pháp để bảo đảm quyền này (ví dụ như có các biện pháp bảo đảm quyền cư trú hợp pháp như cấp giấy chứng nhận, ban hành tiêu chuẩn của nhà ở, hỗ trợ các nhóm thiệt thòi, người khuyết tật, người có thu nhập thấp…) [33, 133].
Việc cung cấp nhà ở cho người dân có thể thực hiện dần dần, tuỳ theo nguồn lực của quốc gia, do vậy mà quy định như vậy của Hiến pháp chưa cụ thể trong việc bảo đảm thực hiện của Nhà nước. Trong Hiến pháp một số quốc gia đã có quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện, ví dụ như Hiến pháp Ba Lan (Điều 75), Liên bang Nga (Điều 40)…
Với quy định “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp” thì cần đặt ra một nghĩa vụ của nhà nước trong việc ban hành những tiêu chuẩn về nơi ở hợp pháp được cụ thể hóa trong luật, và những tiêu chuẩn về nơi ở thích đáng đó cần phải phù hợp với quy định của Luật nhân quyền quốc tế. Quy định trên của Hiến pháp cũng không nói đến vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ những nhóm yếu thế đặc biệt là nhóm xã hội dễ bị tổn thương, vì họ là những người chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận và hưởng thụ quyền này.
3.1.2. Quyền văn hóa Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
- Quyền được giáo dục
Trong các quyền về văn hóa, xã hội, quyền được giáo dục có tầm quan trọng hàng đầu vì vậy trong các bản Hiến pháp đều đã có quy định rõ về quyền này.
Hiến pháp 1946 quy định: “Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước” [23, Điều 15]
Hiến pháp 1959 quy định: “ Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền học tập” [24, Điều 33].
Hiến pháp 1980 quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục phổ thông bắt buộc, thực hiện chế độ học không phải trả tiền và chính sách cấp học bổng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân học tập” [25, Điều 60].
Như vậy, trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 quyền về học tập đều được đề cập. Từ khi đổi mới giáo dục đã được xác định là một trong những quốc sách hàng đầu của quốc gia, nhấn mạnh đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển. Ngân sách đầu tư cho giáo dục tăng hàng năm, chiếm tới 20% tổng chi ngân sách Nhà nước.Vì vậy Hiến pháp của thời kỳ đổi mới đã nêu rõ quốc sách về giáo dục này
- Hiến pháp 1992 quy định: Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân. Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí. Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức. Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng. Nhà nước có chính sách học phí, học bổng. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp [26, Điều 59].
Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” [29, Điều 39]. Như vậy Hiến pháp 2013 tiếp tục quy định học tập là nghĩa vụ của công dân.Tuy nhiên quy định này là chưa phù hợp.
Mặc dù Nhà nước có chính sách phổ cập giáo dục, khuyến khích người dân học tập, nâng cao trình độ, nhưng học tập là một quyền, không nên đặt học tập thành nghĩa vụ. Nếu coi học tập là “nghĩa vụ” thì cần có chế tài đối với người không thực hiện. Trên thực tế, trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước, một bộ phận không nhỏ người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, một bộ phận không nhỏ trẻ em tàn tật đang rất khó khăn trong việc tiếp cận hệ thống giáo dục [12].
Hiến pháp 2013 bỏ quy định “Bậc tiểu học là bắt buộc” nhưng vẫn quy định về nghĩa vụ học tập của công dân, như vậy nếu như có những vi phạm về nghĩa vụ học tập thì không có những biện pháp khả thi, chế tài để xử lý những vi phạm nghĩa vụ đó. Trên thế giới, chỉ có Hiến pháp của một số ít quốc gia quy định học tập là nghĩa vụ.
Việc bỏ quy định: “bậc học tiểu học là miễn phí” lại là một sự thụt lùi, bởi vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến quyền học tập của trẻ em. Bởi vì nếu quy định bậc học tiểu học là miễn phí thì Nhà nước phải có nghĩa vụ trong việc bảo đảm quyền được học tập của trẻ em ở bậc tiểu học, chẳng hạn như xây dựng trường lớp, bảo đảm cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, chất lượng giáo viên… Và trẻ em (gia đình của trẻ em) sẽ không phải chịu những chi phí đó. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Hơn nữa Hiến pháp nên quy định các bậc học miễn phí do Nhà nước quy định để mở ra khả năng nhà nước có thể quy định các cấp học khác ví dụ trung học cơ sở, trung học phổ thông) cũng sẽ là bắt buộc và miễn phí trong thương lai.
Hiến pháp 2013 chưa có quy định về quyền được lựa chọn trường học của cha mẹ cho con và chưa có quy định về quyền được thành lập các cơ sở giáo dục ngoài nhà nước, như vậy là chưa tương thích với quy định ở Khoản 3 Điều 13 ICESCR theo đó, công ước quy định các Nhà nước cần cam kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ và của những người giám hộ hợp pháp (nếu có) trong việc lựa chọn trường cho con cái của họ…. Hiện nay Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới đã có những quy định về vấn đề trên, ví dụ, Hiến pháp Ba Lan (Điều 70), Liên bang Nga (Điều 43), Singapore (Điều 16) [10, tr.188].
- Quyền được hưởng thụ, giữ gìn những giá trị văn hóa và những thành tựu của khoa học
Ở đây, quyền được hưởng thụ, giữ gìn những giá trị văn hóa và những thành tựu của khoa học được phân tích ở các khía cạnh như sau:
- Thứ nhất, quyền được hưởng thụ văn hóa hay nói một cách ngắn gọn, người dân và cộng đồng có quyền đòi hỏi được hưởng thụ các sinh hoạt văn hóa, thành tựu khoa học.
- Thứ hai, quyền được thể hiện và thực hành văn hóa, hay nói cách khác, các cá nhân và cộng đồng có quyền được bảy tỏ, thể hiện những sáng tạo mang tính riêng, cá nhân của mình.
- Thứ ba, quyền được tôn trọng và thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử, hay những sự khác biệt về văn hóa
Hiến pháp 1946 chưa có quy định cụ thể về quyền hưởng thụ, giữ gìn những thành tựu văn hóa. Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 đã đề cập đến quyền văn hóa, ở khía cạnh các phong tục tập quán, lịch sử hay những sự khác biệt về văn hóa được Hiến pháp thừa nhận, cụ thể, Hiến pháp 1959 quy định: “Các dân tộc có quyền duy trì hoặc sửa đổi phong tục tập quán, dùng tiếng nói chữ viết, phát triển văn hoá dân tộc mình” [24, Điều 3]; Hiến pháp 1980 quy định: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình” [25, Điều 5].
Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 còn thừa nhận quyền văn hóa ở khía cạnh công dân có quyền nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật… Hiến pháp 1959 quy định: Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật, và tiến hành các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ tính sáng tạo của những công dân theo đuổi sự nghiệp khoa học, văn học, nghệ thuật và các sự nghiệp văn hoá khác [24, Điều 34].
Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, sáng tác văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác” [25, Điều 72].
Hiến pháp 1992, trong các Điều 52, Điều 60, Điều 63, Điều 66, Điều 69, Điều 70 có quy định rõ ràng về quyền văn hóa như: Công dân không phân biệt bối cảnh văn hóa (dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội) và hoàn cảnh kinh tế, có quyền nghiên cứu khoa học, phát minh,sáng kiến, sáng tác, phê bình văn học nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hóa khác. So với các Hiến pháp trước đó thì Hiến pháp năm 1992 có thêm một số điều (Điều 58, Điều 61, Điều 63, Điều 65, Điều 70, Điều 71, Điều 73, Điều 79, Điều 81) quy định về nghĩa vụ của chủ thể (Nhà nước) bảo vệ quyền văn hóa như đưa ra các quy định về thực thi và nghiêm cấm sự hạn chế, vi phạm quyền.
Trong Hiến pháp năm 2013, có thêm điều mới ghi rõ: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” và Điều 42 “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” [29, Điều 42]
Quy định trên khẳng định quyền văn hóa của con người như trong quy định tại Điều 15 ICESCR, và cũng phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, xuất phát từ thực tế ở Việt Nam với 54 dân tộc khác nhau sinh sống. Đặc biệt là Hiến pháp 2013 bổ sung một điều ghi nhận về quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ và tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp, phù hợp với chính sách dân tộc của Đảng.
3.1.3. Quyền xã hội Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Quyền được hưởng an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội:
- An sinh xã hội
Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quy định quyền được hưởng an sinh xã hội “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” [29, Điều 34].
Đây là một quyền mới mà các bản Hiến pháp trước đây không quy định. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì công dân có quyền này là một tất yếu. Bởi an sinh xã hội là một hệ thống duy trì thu nhập do Nhà nước quản lý nhằm tránh cho mọi người khỏi rơi vào tình trạng nghèo hoặc cứ nghèo mãi. Quy định này phù hợp với Điều 9 ICESCR, Để thực hiện được quyền này cần phải nội luật hóa bằng việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về an sinh xã hội
- Bảo hiểm xã hội
Hiến pháp 1959 quy định:“Nhà nước mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, cứu tế và y tế để bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền đó” [24, Điều 32].
Hiến pháp 1980 quy định: “Công nhân, viên chức khi về hưu, già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động được hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hội. Nhà nước mở rộng dần sự nghiệp bảo hiểm xã hội theo trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân và bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền lợi đó” [25, Điều 59].
Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động” [25, Điều 56]. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Như vậy nếu như Hiến pháp 1946 chưa quy định về chế độ bảo hiểm xã hội, thì các bản Hiến pháp về sau đã hiến định quyền được hưởng bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Hiến pháp 1959 mới chỉ quy định về trách nhiệm của Nhà nước là mở rộng dần các tổ chức bảo hiểm xã hội, chưa có sự ràng buộc về việc Nhà nước sẽ thực hiện bảo hiểm xã hội với người lao động thì đến Hiến pháp 1980 chủ thể được hưởng bảo hiểm xã hội đã được quy định cụ thể đó là công nhân, viên chức về nghỉ hưu, tức là những cá nhân làm việc trong các cơ quan nhà nước, đồng thời cũng quy định về việc Nhà nước sẽ tiếp tục mở rộng các mô hình bảo hiểm xã hội để người lao động được hưởng bảo hiểm xã hội.
Hiến pháp 1992 đã nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc quy định chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương đông thời khuyến khích các hình thức bảo hiểm đối với người lao động. Sau đó quy định này đã được cụ thể hóa trong Bộ luật lao động theo đó Nhà nước quy định chính sách bảo hiểm xã hội nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp gặp phải rủi ro, khó khăn.
Tương ứng với nội dung Điều 9 ICESCR, Hiến pháp 2013 với quy định tại Điều 34 đã mở rộng quyền đảm bảo bảo hiểm xã hội – quyền được tham gia và quyền được thụ hưởng bảo hiểm xã hội tới mọi công dân, tạo ra khả năng che chắn tới mọi thành viên trong xã hội. Và để mọi công dân được bảo đảm quyền này, Hiến pháp quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” [29, Điều 59, khoản 2].
Kết nối hai quy định này trong Hiến pháp 2013, có thể khẳng định rằng đây là các quy định thể hiện bước phát triển mới về quyền của công dân về an sinh xã hội nói chung và về bảo hiểm xã hội nói riêng nhằm tạo sự bình đẳng về cơ hội tham gia cũng như sự thụ hưởng của mọi thành viên trong xã hội.
- Quyền được chăm sóc sức khỏe
Hiến pháp 1959 quy định: “Nhà nước mở rộng dần các tổ chức y tế để bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền đó” [24, Điều 32]. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe. Nhà nước thực hiện chế độ khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền” [25, Điều 61].
Hiến pháp 1992 quy định: “ Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe. Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí” [26, Điều 61].
Như vậy ngoài Hiến pháp 1946 chưa có quy định về quyền được chăm sóc sức khỏe. Hiến pháp 1959 đã đặt vấn đề bằng quy định vai trò của Nhà nước trong việc mở rộng, xây dựng các tổ chức y tế để bảo đảm cho người lao động được hưởng quyền chăm sóc sức khỏe. Hiến pháp 1980 là một bước tiến quan trọng về việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân, Hiến pháp đã quy định chủ thể là mọi công dân đều có quyền được bảo vệ sức khỏe và quy định trách nhiệm của Nhà nước thực hiện chế độ khám chữa bệnh miễn phí, đây là quy định có sự tiến bộ vượt bậc so với thực trạng kinh tế xã hội hời kỳ đó.
Tuy nhiên do không lường trước được những khó khăn thách thức gặp phải, trình độ nhân lực của đất nước cũng như cơ sở hạ tầng trang thiết bị y tế để bảo đảm sức khỏe cho nhân dân còn lạc hậu, thực tế là không thể đáp ứng được nhu cầu, do vậy quy định trên trong Hiến pháp thực tế không thể thực hiện được. Cũng vì lý do như vậy, Hiến pháp 1992 đã khắc phục hạn chế, và nhìn rõ thực trạng bằng việc quy định quyền được bảo vệ sức khỏe của công dân và đồng thời cũng nêu trách nhiệm của Nhà nước là Nhà nước quyết định việc thu viện phí trong việc thực hiện việc bảo đảm quyền chăm sóc sức khỏe cho công dân.
Tương ứng với nội dung Điều 12 ICESSR. Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng” [29, Điều 38], đồng thời Hiến pháp mới cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm đảm quyền được chăm sóc sức khỏe cho nhân dân“Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn” [29, Điều 58].
Như vậy, có thể thấy Điều 38 Hiến pháp 2013 được sửa đổi, bổ sung Điều 39 và Điều 61 của Hiến pháp 1992. Theo đó, Hiến pháp còn quy định bổ sung mọi người được bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ công để đáp ứng yêu cầu thực tế cần bình đẳng vì các dịch vụ công đó đều xuất phát từ nguồn tài chính công chứ không phải là của bất kỳ ai.
Trước tình hình dịch bệnh trên thế giới ngày một gia tăng về chủng loại dịch bệnh, Hiến pháp còn quy định bổ sung “Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng” [29, Điều 38]. Quy định trên đã thể hiện tinh thần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, nghiêm cấm những hành vi gây ảnh hưởng đến cuộc sống và sức khỏe của con người. Những quy định bổ sung trên của Hiến pháp 2013 có thể nói là bước tiến trong việc bảo đảm quyền con người ở nước ta, ở Hiến pháp một số quốc gia cũng thể hiện những quy định đó, ví dụ Điều 68 Hiến pháp Ba Lan, Điều 41 Hiến pháp Liên bang Nga… và phù hợp với Điều 12 ICESCR.
3.2. Một số kiến nghị về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Trước hết, quyền kinh tế, văn hóa, xã hội là một bộ phận của quyền con người, nhưng do khái niệm quyền con người rộng, nhiều lĩnh vực, nên việc đưa ra đề xuất, và kiến nghị trong việc thực hiện nhóm quyền này trong Hiến pháp cần có nhiều thời gian nghiên cứu và quá trình tìm hiểu thực tiễn. Hơn nữa, việc thực hiện nhóm quyền này thực tế dựa vào sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước cũng như nguồn nhân lực vật lực phải thực sự đủ điều kiện mới có thể thực hiện được, mà thực tế điều kiện để bảo đảm những quyền này luôn thay đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất nước. Do vậy, luận văn đưa ra một số kiến nghị về việc cụ thể hóa việc bảo đảm quyền an sinh xã hội trong Hiến pháp 2013, với hai khía cạnh, một là thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm, góp phần giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống cho người dân; hai là, bảo đảm an sinh xã hội với những nhóm xã hội dễ bị tổn thương bao gồm phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số…xuất phát từ tình hình thực tiễn là Đảng và Nhà nước đang có những biện pháp thực hiện quyền này với ba lý do cơ bản sau
Thứ nhất, Hiến pháp 2013 chỉ mới được thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, do vậy việc triển khai, thi hành Hiến pháp đang được thực hiện. Việc sửa đổi, ban hành một số luật mới đang được thực hiện trong đó những vấn đề của quyền về an sinh xã hội như phúc lợi xã hội, bảo đảm quyền của nhóm dễ bị tổn thương, bảo đảm phúc lợi xã hội về chăm sóc sức khỏe, giáo dục cơ bản đang được tiếp tục nghiên cứu và thực hiện
Thứ hai, trong tháng 6 năm 2014 Hội đồng Nhân quyền khóa 26 tại Geneva đã chính thức thông qua UPR chu kỳ II của Việt Nam trong bối cảnh quyền con người tiếp tục được các nước và dư luận quốc tế quan tâm. Kỳ báo cáo URP 2014 lần này trong số 227 khuyến nghị, Việt Nam đã chấp nhận 182 khuyến nghị, chiếm 80,17%. Đây là tỷ lệ cao thể hiện những nỗ lực cởi mở và quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Và trong 227 khuyến nghị được 106 quốc gia đưa ra trong phiên đối thoại thì các khuyến nghị về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội đều được Việt Nam chấp thuận.
Trong các khuyến nghị về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trên thì khuyến nghị về nhóm quyền an sinh xã hội được các quốc gia rất quan tâm được nêu tại các khuyến nghị số 86 (Serbia); số 183 (China); số 184 (Timor-Leste); số 185 (Nhà nước Palestine); số 186 (Cộng hòa Ả rập Syria); số 189 (Thổ Nhĩ Kỳ); số 220 (Sudan); số 221 (Hy Lạp); số 223 (Sri Lanka) và đưa ra khuyến nghị và đều được Nhà nước ta chấp nhận.
- Trong báo cáo quốc gia về tình hình nhân quyền chu kỳ II, Chính phủ đã đặt ra nhiệm vụ ưu tiên thực hiện đối với quyền trên như sau: Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Khả năng tiếp cận với các loại hình an sinh xã hội được xếp là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mức sống của người dân. Thực tế cho thấy việc giảm thu nhập, lạm phát và bệnh tật là ba trong số các nguyên nhân chính làm giảm mức sống của người dân. Do đó, an sinh xã hội là giải pháp bảo vệ cho người dân, đặc biệt là người nghèo. Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ tập trung các chính sách để tăng khả năng tiếp cận của các nhóm yếu thế vào hệ thống an sinh xã hội, nghiên cứu khả năng phát triển loại hình bảo hiểm nông nghiệp [3].
- Do vậy, nhiệm vụ đặt ra là việc thực hiện các khuyến nghị này được ưu tiên thực hiện trước so với các quyền khác
Thứ ba, quyền về an sinh xã hội là một nhóm quyền mới được quy định trong Hiến pháp 2013 nội hàm của quyền này liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện hầu hết các lĩnh vực của quyền kinh tế, văn hóa, xã hội.
An sinh xã hội, có thể coi là một hợp phần của hệ thống các vấn đề xã hội, hơn nữa, là hợp phần nổi bật, nổi trội nhất trong hệ thống ấy. Thực hiện được an sinh xã hội là thực hiện được tiền đề của ổn định, thực hiện được điều kiện của phát triển. An sinh xã hội là chỉ báo xác thực nhất bảo đảm ổn định tích cực, lành mạnh và phát triển bền vững mà thước đo nhân văn của một xã hội phát triển bền vững là phát triển bền vững con người. Cắt nghĩa an sinh xã hội một cách trực tiếp và thực chất chính là sự an toàn, độ an toàn của cuộc sống con người. An ninh và an toàn vừa là nội dung lại vừa là điều kiện bảo đảm của an sinh xã hội.
Việc làm, mức sống, môi trường sống (cả môi trường tự nhiên và xã hội), điều kiện lao động đủ sức phòng ngừa tai nạn, rủi ro, được thụ hưởng lợi ích về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin, đời sống văn hóa, tinh thần… đó là những bảo đảm an sinh xã hội cho sự sống, đời sống của con người. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
An sinh xã hội cho cá nhân và cộng đồng trong một xã hội đã đi vào kinh tế thị trường với những mặt trái và cả những hệ lụy của nó còn phải tính đến một thực tế, đó là những bảo đảm xã hội cho các đối tượng thua thiệt trong phát triển (những người khuyết tật, những trẻ em mồ côi, những người già cô đơn không nơi nương tựa, những người mắc bệnh hiểm nghèo, những người dân và hộ dân rơi vào cảnh nghèo đói do thiên tai ở những vùng đặc biệt khó khăn hoặc do mức độ phân hóa giàu – nghèo gay gắt mà rơi vào cảnh bần cùng…). Do đó, trong mạng lưới an sinh – xã hội còn tính đến những cứu trợ xã hội, trợ giúp xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp…
3.2.1. Về bảo hiểm xã hội
Trong bối cảnh tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, biến đổi khí hậu, thiên tai, già hóa dân số,… việc phát triển hệ thống bảo hiểm, đặc biệt bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp, xây dựng chính sách hưu trí bổ sung; tăng cường sự tham gia của người lao động phi chính thức, lao động nghèo; hoàn thiện tổ chức quản lý và chi trả bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung cơ bản của chính sách an sinh xã hội nhằm nâng cao tính chủ động, khả năng tự an sinh của người dân khi xảy ra các tác động bất lợi về kinh tế, xã hội, môi trường và an sinh tuổi già
- Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta đã nêu rõ:
Bảo hiểm xã hội phải đi trước một bước trong đổi mới chính sách, chế độ, linh hoạt đa dạng cả về hình thức, mục tiêu và xã hội hóa để góp phần hướng tới mục tiêu an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đa tầng, linh hoạt, bền vững, có thể hỗ trợ lẫn nhau, công bằng về trách nhiệm và lợi ích, chia sẻ rủi ro, hướng tới bao phủ toàn dân, chú trọng bảo vệ các đối tượng yếu thế phù hợp với phát triển kinh tế – xã hội và tiếp cận với thông lệ quốc tế [1].
Thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo sát sao của Đảng về xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, bền vững, công bằng, linh hoạt, hiệu quả, Hiện nay Luật bảo hiểm xã hội 2006 là luật thể chế trực tiếp chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta, từ khi thực hiện đã góp phần to lớn vào việc ổn định đời sống cho người lao động, và việc thụ hưởng bảo hiểm xã hội, góp phần ổn định chính trị – xã hội đất nước và ngày càng khẳng định vị trí là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội.
Thực hiện chính sách về bảo hiểm xã hội, Việt Nam đã thiết kế các nhóm chính sách ngày càng đồng bộ hơn về phát triển thị trường lao động, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, giảm nghèo và hỗ trợ người dân tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Năm 2011 đã có trên 10,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội dưới các hình thức bắt buộc và tự nguyện; 52,4 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, chiếm 63% dân số cả nước; 8,1 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Tính riêng năm 2012, cả nước có 432.356 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng [41].
Bên cạnh những thành tựu đạt được, thực tiễn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội 2006, trong thời điểm hiện nay đã bộc lộ nhiều bất cập và đặt ra yêu cầu đổi mới chính sách, pháp luật phù hợp với các đặc điểm kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay và hướng đến mục tiêu củng cố, phát triển hệ thống an sinh xã hội một cách bền vững. Những bất cập, và thực tế đó được thể hiện như sau: Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Tốc độ mở rộng phạm vi bao phủ bảo hiểm xã hội chậm, hiện số người tham gia bảo hiểm xã hội mới chỉ chiếm rất thấp trong lực lượng lao động; chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện – vốn được coi là giải pháp để thúc đẩy mở rộng phạm vi bao phủ lại thiếu sức hấp dẫn đối với người lao động bởi mức đống khá cao, phương thức đóng thiếu linh hoạt, không phù hợp với việc làm có thu nhập thấp và không ổn định của lao động thuộc khu vực không chính thức thu hút được rất ít số đối tượng thuộc diện tham gia; tình trạng nợ đóng hoặc chậm đóng bảo hiểm xã hội trong khu vực doanh nghiệp rất phổ biến, không chỉ ảnh hưởng tới nguồn thu Qũy Bảo hiểm xã hội mà quan trọng hơn là trực tiếp ảnh hưởng tới quyền được bảo đảm an sinh của hàng triệu người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu; Qũy hưu trí là tử tuất đứng trước nguy cơ mất cân đối trong tương lai gần do những bất cập, tồn tại của chính sách hiện hành mất cân đối giữa mức đóng và mức hưởng dẫn đến tính trạng đóng ít – hưởng nhiều, tỷ lệ hưởng lương hưu cao, công chức tính tỷ lệ hưởng lương hưu chưa hợp lý, tuổi nghỉ hưu thấp dẫn tới số năm tham gia bảo hiểm xã hội thấp nhưng thời gian hưởng lương hưu dài,mức tiền lương làm căn cứ đón bảo hiểm xã hội còn khoảng cách lớn hơn so với mức tiền lương, tiền công thực tế và cả những bất cập trong tổ chức thực thi cũng như tuân thủ pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Biểu hiện cụ thể của sự mất cân đối này là tỷ trọng giữa số tiền chi trả chế độ so với số thu bảo hiểm từ tiền đống góp của người lao động và người sử dụng lao động ngày càng tăng nhanh.
Nếu như năm 2007 tỷ trọng số chi so với số thu chỉ chiếm 57,2% thì sang năm 2008 số này là 73,7%, năm 2009 là 81,8%, năm 2010 là 76,3%, năm 2011 là 77,0% năm 2012 là 68,6% và năm 2013 là 76,6%. Với khuân khổ chính sách đang vận hành, sự báo Qũy hưu trí và tử tuất có số thu bằng số chi vào năm 2021, từ năm 2022 trở đi, để bảo đảm chế độ hưu trí, tử tuất, ngoài số thu trong năm phải trích thêm từ số dư của tồn tích Qũy và đến năm 2034 thì số thu bảo hiểm xã hội trong năm và số dư dồn tích Qũy không bảo đảm khả năng chi trả [41]. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Vì vậy, sau khi Hiến pháp 2013 ban hành với quy định về “quyền an sinh xã hội của con người” thể chế quy định của Hiến pháp thì Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đang là sự quan tâm của mọi tầng lớp cử ti và được nhiều chuyên gia coi đây là một sự luật rất khó khi nhưng quy định đặt ra phải hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ, gắn với việc mở rộng diện bao phủ và bảo đảm cân đối Qũy trong dài hạn.
Theo kế hoạch, dự Luật này sẽ được Quốc hội dự kiến thông qua vào kỳ họp thứ 8 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2015.
Từ thực tiến trên thì việc sửa đổi Luật bảo hiểm xã hội cần phải hướng tới các mục tiêu, Thứ nhất, củng cố, phát triển mạng lưới an sinh xã hội một cách vững chắc bằng các giải pháp tích cực để mở rộng nhanh hơn diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội; Thứ hai, điểu chỉnh chính sách, pháp luật cùng với nâng cao tính tuân thủ pháp luật để bảo đảm yêu cầu cân đối và tăng trưởng Qũy bảo hiểm xã hội một cách bền vững. Hai mục tiêu này có mối liên quan chặt chẽ với nhau, đòi hỏi cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ, đa diện, tương thích với nhau để đáp ứng cùng lúc cả yêu cầu về phát triển và tính bền vững.
- Giải pháp đưa ra đối với hai mục tiêu trên
Cần mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm bắt bộc, sửa đổi chính sách để tăng cường tính hấp dẫn của bảo hiểm tự nguyện nhằm thu hút người lao động ở khu vực phi chính thức tham gia loại hình bảo hiếm này thông qua các điều chỉnh chính sách về mức đóng, phương thức đóng, mức hưởng bảo hiểm xã hội tự nguyện;
Bổ sung thêm hình thức bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm tăng cường khả năng an sinh của người hưởng lương hưu, hướng tới xây dựng hệ thống Bảo hiểm xã hội đa tầng; tăng cường quyền lợi của người thụ hưởng các chế độ bảo hiểm ngắn hạn (chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp). Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Việc thực hiện các giải pháp tích cực mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội không chỉ tăng cường mạng lưới an sinh xã hội mà còn là giải pháp quan trọng để tăng nguồn thu, bảo đảm cân đối Qũy Bảo hiểm xã hội trong dài hạn.
Đối với bảo hiểm y tế, cần phải có cơ chế tài chính phù hợp cho toàn dân, đó bảo đảm chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người
Ở một số nước tiên tiến, ví dụ Thụy Điển, nước này không xây dựng bảo hiểm y tế trên sự đóng góp đơn lẻ của người dân, mà dựa vào thuế. Chính vì quỹ được hình thành từ nguồn thuế mà mọi người dân đã trở thành đối tượng đóng góp quỹ, với điều kiện và khả năng của chính họ, liên kết và chia sẻ giữa người giàu và người nghèo trong xã hội [21].
Đối với Nhật Bản, mọi người dân đều có bảo hiểm y tế và được hưởng dịch vụ chăm sóc dài hạn, các khoản tài chính về bảo hiểm xã hội được công khai và được bảo đảm kết hợp bởi nguồn đống góp từ quỹ cũng như từ thuế, qua đó mà việc hưởng thụ an sinh xã hội ở Nhật Bản đều gắn với trách nhiệm của tất cả các cá nhân trong xã hội [17].
Từ kinh nghiệm của các quốc gia có hệ thống an sinh xã hội tiên tiến như Nhật Bản, Thụy Điển, đối với Việt Nam hiện nay là phải làm sao đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò và tác động của an sinh xã hội để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi người dân nhằm hướng tới một chinh sách an sinh xã hội tốt hơn vừa đảm bảo tính hỗ trợ của Nhà nước, nhưng cũng đề cao tính chia sẻ của cá nhân, cộng đồng.
3.2.2. Bảo đảm an sinh xã hội với một số nhóm yếu thế trong xã hội Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Bảo đảm an sinh xã hội là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi đó là một chính sách xã hội lớn, là một trong những chỉ bảo quan trọng về định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đối tượng được hưởng chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam là những người dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số…), những người gặp khó khăn trong cuộc sống (thiên tai, lũ lụt). Mục tiêu của chính sách an sinh xã hội là nhằm bảo đảm cuộc sống vật chất và tinh thần cho những người nay để họ hòa nhập với cộng đồng.
Trong những năm qua, việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, việc bảo đảm quyền được an sinh xã hội đạt được một số thành tựu và bên cạnh đó là những hạn chế còn chưa đạt được. Theo báo cáo quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam chu kì I (2007) và chu kỳ II (2014), việc bảo đảm an sinh xã hội thể hiện như sau:
- Về bình đẳng giới và trợ giúp và ưu đãi đối với phụ nữ
So với nam giới, nữ giới là nhóm yếu thế, Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng xây dựng và phát triển các chính sách, chương trình nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, tạo điều kiện để đảm bảo quyền của phụ nữ. Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong việc thúc đấy quyền phụ nữ như: xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới và không phân biệt đối xử theo quy định của Luật Bình đẳng giới 2006 và Công ước CEDAW; lồng ghép bình đẳng giới trong việc xây dựng và thực thi pháp luật; ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu nâng cao nhận thức, thu hẹp khoảng cách về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; tích cực thực hiện các sáng kiến quốc tế và khu vực nhằm thúc đẩy việc bảo vệ quyền của phụ nữ và chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ. Bộ luật Lao động sửa đổi được Quốc hội thông qua tháng 6/2012 quy định tăng thời gian nghỉ thai sản của lao động nữ từ 4 tháng lên thành 6 tháng.
Tỉ lệ lao động có việc làm là nữ giới chiếm 49%, bình quân ở nước ta mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 1,33 triệu người, trong đó lao động nữ giới là 835 nghìn người. Đa số lao động nữ làm việc trong các lĩnh vực: dệt, may, da giày (78,5%); chế biến lương thực, thực phẩm (66,8%), sành, sứ, thủy tinh (59,2%). Nhìn chung, lao động phổ thông nữ chiếm tỉ lệ cao nhất trong số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (62,9%), sau đó đến các doanh nghiệp tư nhân (62,6%) và doanh nghiệp nhà nước là (49,1%)… [34, tr.125]. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Nhà nước ta đã có chính sách ưu tiên cho những hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được vay ưu đãi tín dụng thông qua nhiều kênh như Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn…
Đến năm 2009, tỷ lệ hộ nghèo do phụ nữ vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội ủy thác qua Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đạt 95%; qua Hội nông dân là 47%; qua Hội Cựu chiến binh là 27% và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là 43%. Tính bình quân đã đạt mức 50%. Theo Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á, “Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới… là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xoá bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á” [2].
- Tuy nhiên, việc thực hiện hỗ trợ cho phụ nữ còn một số tồn tại.
Về lĩnh vực kinh tế, cơ hội của phụ nữ tiếp cận việc làm có thu nhập cao và các nguồn lực kinh tế vẫn còn thấp hơn so với nam giới. Một số chỉ tiêu đặt ra ở Chiến lược quốc gia bình đẳng giới về lao động, đào tạo,… vẫn chưa đạt được.
Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các công việc dễ bị tổn thương cao hơn nam giới; phụ nữ chiếm tỷ lệ cao hơn trong khu vực phi chính thức của thị trường lao động. Họ kiếm được ít thu nhập hơn và ít được pháp luật về lao động bảo vệ và ít được tiếp cận trực tiếp với sự bảo trợ xã hội.
- Là lực lượng lao động hùng hậu, làm ra của cải vật chất cho xã hội, song hiện trạng sức khỏe phụ nữ đang là vấn đề cần quan tâm.
Các cuộc điều tra về thời gian làm việc của phụ nữ nông thôn cho thấy, thời gian làm việc trung bình của phụ nữ trong ngày là khá cao: 12 giờ/ ngày. Riêng với nữ nông dân ở miền Bắc, Bắc Trung Bộ và miền núi thường làm việc 14 giờ/ ngày. Phụ nữ cô đơn, và phụ nữ nghèo là những người có ngày làm việc dài nhất, 16 giờ/ ngày. Do phải làm việc nhiều nên thời gian nghỉ ngơi của phụ nữ rất ít, hậu quả là nhiều phụ nữ bị kiệt sức, mệt mỏi, suy nhược cơ thể, đau yếu, sinh bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, thậm chí cả tính mạng Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Bên cạnh thời gian lao động kéo dài, công tác bảo hộ lao động cho phụ nữ cũng chưa được quan tâm đúng mức. Ước tính hiện nay, chỉ có 41,7% doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về bảo hiểm lao động, do đó, gần một nửa phụ nữ hầu như không được huấn luyện định kỳ về bảo hộ lao động và chỉ có 1/3 số công nhân biết các quy tắc an toàn lao động. Đặc biệt hơn, gần 70% lao động nữ trong các doanh nghiệp thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại. .[34, tr.124]
Về mặt chăm sóc sức khỏe, việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế. Tỷ suất tử vong mẹ còn cao so với một số nước trong khu vực. Mức giảm tỷ suất chết mẹ trong 10 năm qua còn chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số.
- Tỷ lệ nữ có bảo hiểm y tế (tính trong số người khám chữa bệnh) tăng lên qua các năm, tuy nhiên còn thấp hơn nam giới.
“Theo số liệu điều tra mức sống dân cư năm 2010, khoảng 64,5% số phụ nữ có bảo hiểm y tế, so với 69,4% số nam có bảo hiểm y tế”. [34, tr.125]. Nam giới còn ít được tiếp cận thông tin liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục. Tỷ lệ nam giới thực hiện các biện pháp tránh thai an toàn chưa cao, định kiến giới, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn khá phổ biến. Phụ nữ vẫn được coi là người đảm nhận chính công việc chăm sóc gia đình, nam giới vẫn được kỳ vọng trở thành người thành đạt, bảo đảm kinh tế cho gia đình. Mặc dù phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn vào các quyết định trong gia đình, song nam giới vẫn là người ra các quyết định chính. Điều này đang tạo ra những rào cản đối với sự lựa chọn các cơ hội phát triển của cả nam và nữ.
- Tình trạng bạo lực đối với phụ nữ tồn tại khá nghiêm trọng.
Theo Nghiên cứu quốc gia về Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2010 do Tổng Cục Thống kê cùng các tổ chức quốc tế tại Việt Nam tiến hành, có 58,3% trong số phụ nữ được điều tra cho biết đã trải qua ít nhất một hình thức bạo hành như thể chất, tinh thần, hoặc tình dục, với 27% số phụ nữ trải qua ít nhất một hình thức bạo hành trong vòng 12 tháng trở lại.[34, tr.125] Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Như vậy, nhận thức về pháp luật của cán bộ và người dân về phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế. Tại không ít địa phương, các cấp chính quyền, cộng đồng coi bạo lực gia đình là chuyện riêng tư của mỗi gia đình.
- Biện pháp bảo đảm quyền hưởng an sinh xã hội của phụ nữ như sau
Cần phải thể chế hóa quy định của pháp luật liên quan đến bình đẳng giới, và có các quy định hướng dẫn thi hành. Triển khai quy định lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới. Các cơ quan chủ trì soạn thảo cần chủ động nghiên cứu thực hiện quy định này và có các biện pháp xây dựng chính sách bảo đảm quyền của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
Cần tăng cường các chế tài thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, các văn bản pháp luật khác để xử lý nghiêm các hành vi bạo lực gia đình. Các đơn vị, địa phương cần có chương trình hành động quan tâm thúc đẩy công tác chỉ đạo, triển khai về bình đẳng giới, gắn công tác này với hoạt động quản lý của các cấp, ngành. Cán bộ làm công tác bình đẳng giới ở các bộ, ngành, địa phương (ở cấp huyện)
Cần phải đầu tư, cung cấp các trang thiết bị y tế hiện đại cũng như đào tạo các cán bộ y tế có chuyên môn trong các cơ sở y tế để việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số được hiệu quả.
- Về trợ giúp và ưu đãi xã hội đối với trẻ em
“Ở nước ta, số lượng người dưới 18 tuổi luôn chiếm tỷ lệ khoảng 30% tổng số dân, có thể nói là tầng lớp đông nhất của xã hội, là chủ nhân tương lai của đất nước và là thế hệ kế thừa của hiện tại” [16].
Với vị thế chính trị – pháp lý đặc biệt đó, đòi hỏi việc hiến định các quyền của nhóm này không thể chỉ dừng lại ở những quyền tối thiểu về ăn, học; mà cần được xác lập đầy đủ, tương xứng hơn về quyền như: quyền được sống và phát triển trong điều kiện, môi trường phù hợp Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Việt Nam là nước đầu tiên tại Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới tham gia Công ước về Quyền trẻ em (CRC) và Nghị định thư bổ sung số 1 và số 2. Nhà nước Việt Nam đã và đang có những nỗ lực lớn trong việc triển khai thực hiện trên phương diện hoàn thiện chính sách pháp luật, nội luật hoá các quy định của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền trẻ em vào hệ thống pháp luật quốc gia, và tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế để bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Việt Nam cũng tích cực tham gia các sáng kiến khu vực và quốc tế nhằm thực hiện việc bảo vệ các quyền của trẻ em; tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế có liên quan.
Khoản 1, Điều 37 Hiến pháp 2013 đã thể hiện vai trò của Nhà nước cam kết bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em và tạo mọi điều kiện để trẻ em được thực thi đầy đủ các quyền của mình. Ngoài ra, Nhà nước còn tích cực thông qua những biện pháp luật pháp để bảo đảm ưu đãi xã hội đối với trẻ em như: Luật Phòng, chống mua bán người 2011; Luật Người khuyết tật 2010; Luật Nuôi con nuôi 2010; Luật Bảo hiểm y tế 2008; Luật Quốc tịch 2008; Luật Giáo dục 38/2005/QH11 2005 và sửa đổi bổ sung số 44/2009/QH12 năm 2009; và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004.
Hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền trẻ em bao gồm Bộ Lao động-Thương binh và xã hội, Hội Bảo vệ quyền trẻ em, Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật, Hội Bảo trợ Người Tàn tật và Trẻ Mồ côi Việt Nam. Hệ thống tổ chức của các cơ quan này được thiết lập và phát triển ở tất cả các cấp trong toàn quốc.
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em. Tháng 10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020, hướng tới thực hiện mục tiêu tổng quát là xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện và lành mạnh để thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em; từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống giữa các nhóm trẻ em và trẻ em giữa các vùng, miền; nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Nhà nước có nhiều chính sách ưu đãi như: miễn giảm học phí, thu phí một phần học phí, một phần viện phí khi khám, chữa bệnh…. Ngoài ra, các chương trình: xóa đói, giảm nghèo, chương trình vay vốn, tạo việc làm, chương trình phát triển giáo dục, y tế, văn hóa cơ sở… cũng góp phần hỗ trợ cho các gia đình nghèo cũng như trẻ em nghèo trong cộng đồng…
Tuy nhiên, việc đảm bảo các quyền của trẻ em trong thời gian qua vẫn còn những thiếu sót do những khó khăn, thách thức đặt ra từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là thực trạng cơ sở hạ tầng trong nước lạc hậu, năng lực quản lý của các cơ quan hữu quan trong việc hoạch định, triển khai các chính sách giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em còn hạn chế.
Tại phiên họp thứ 60 ở Thụy Sỹ (từ ngày 29.5 – 15.6.2012), Ủy ban về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc đã xem xét báo cáo định kỳ lần 3 và lần 4 của Việt Nam và có 84 mục nhận xét và khuyến nghị cụ thể, với 42 vấn đề cần quan tâm về việc thực hiện quyền trẻ em. Các khuyến nghị đã đánh giá thực trạng còn tồn tại trong việc bảo đảm quyền an sinh xã hội cho trẻ em như sau
Thứ nhất, là sự không hòa hợp của tất cả luật pháp với Công ước, cụ thể là định nghĩa trẻ em và tư pháp người chưa thành niên, mặc dù đề cập đến dự định của Việt Nam sẽ sửa đổi Luật 2004 Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cùng việc tăng tuổi của trẻ cho phù hợp với Công ước nhưng theo như luật hiện hành ở Việt Nam thì cá nhân dưới 16 tuổi mới được coi là trẻ em.
Quá trình sửa đổi Luật còn rất chậm trễ, tính chặt chẽ của tất cả quyền trẻ em liên quan đến luật pháp cũng như là về các nguồn lực ngân sách không đủ cho việc thực hiên luật pháp.
Thứ hai, ở Việt Nam thiếu bộ máy giám sát độc lập cho sự thúc đẩy và bảo vệ quyền trẻ em, như đã được vạch ra trong Bản nhận xét số 2 của Ủy ban về vai trò của cơ quan nhân quyền độc lập
Thứ ba, về việc thiếu thông tin đáng tin cậy đối với trẻ không sống trong môi trường gia đình, trẻ lang thang đường phố, trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi hoặc trẻ bị chuyển chỗ, thì việc thông tin về nhân dạng trẻ trong những hoàn cảnh đó hiện nay ở Việt Nam thông tin cá nhân của các trẻ em đó cấn có biện pháp về thông tin cũng như cần có biện pháp ngăn chặn để hạn chế số lượng trẻ như vậy, và về nỗ lực cải tiến tình hình của trẻ và đưa trẻ về với gia đình.
Ngày 14/04/2014 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 535/QĐ-TTg Phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Khuyến nghị của Ủy ban về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc. Đây là một tiến bộ, là cam kết của Việt Nam trong việc thúc đẩy thực hiện quyền trẻ em, từng bước hài hòa luật pháp Việt Nam với luật pháp quốc tế về quyền trẻ em [43].
Trong bối cảnh Việt Nam sẽ sửa đổi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, những khuyến nghị này rất quan trọng.
- Các biện pháp đối với việc bảo đảm quyền an sinh xã hội của trẻ em như sau:
Cần tiếp tục sửa đổi luật quốc gia phù hợp với luật pháp quốc tế. Đặc biệt là định nghĩa về trẻ em và tư pháp người chưa thành niên và thúc đầy nhanh quá trình sửa luật, cần tăng cường sự phối hợp và tính hệ thống của luật trong việc thực hiện Công ước về quyền trẻ em, Thực hiện hiệu quả Chiến lược Phát triển hệ thống luật cần được tiến hành và các nguồn lực ngân sách đầy đủ cho việc thực thi luật trẻ em, đặc biệt là Luật 2004 Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và sửa đổi được đề ra vào năm 2013 cũng như là những nghị định hướng dẫn thực hiện luật này Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
- Trong Báo cáo quốc gia về quyền con người theo cơ chế (UPR) Chu kỳ II, Chính phủ có đưa ra giải pháp:
Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường công tác kiện toàn hệ thống pháp luật trên nguyên tắc phát huy nhân tố con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân, đảm bảo hệ thống pháp luật quốc gia hài hòa và phù hợp với các chuẩn mực pháp luật quốc tế, tăng cường các thể chế quốc gia bảo vệ quyền con người, trong đó có việc nghiên cứu khả năng thành lập Cơ quan nhân quyền quốc gia [3].
Do vậy, cần thiết lập một cơ quan nhân quyền độc lập có đủ nhân viên và tài chính mạnh, để đảm bảo việc giám sát nhân quyền có hệ thống và toàn diện, bao gồm quyền trẻ em; Cần tổ chức hệ thống tư pháp trẻ em trong quản lý, giáo dục, tư vấn, trợ giúp tái hòa nhập cộng đồng…
Cần thực hiên một cuộc điều tra toàn diện về tất cả trẻ không sống trong môi trường gia đình và tạo ra một danh sách quốc gia những trẻ như vậy; Chương trình Quốc gia về Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015; bao gồm tất cả trẻ em không sống trong môi trường gia đình
Cần phải thực hiện một chính sách toàn diện, hướng tới tìm ra những nguyên nhân gốc rễ về tình trạng trẻ em bỏ nhà lang thang, từ đó ngăn chặn và giảm thiểu tình trạng trẻ không sống trong môi trường gia đình.
Tạo ra một chương trình giúp đỡ đối với trẻ em trong những hoàn cảnh như vậy bằng các dịch vụ thỏa đáng mà trẻ dễ tiếp cận; và ủng hộ các chương trình đoàn tụ gia đình, bởi khi sống trong môi trường gia đình thì trẻ em mới có điều kiện phát triển toàn diện hơn, Tuy nhiên cũng phải tạo điều kiện lợi ích tốt nhất cho trẻ, để trẻ em trong hoàn cảnh đó được chăm sóc và tiếp cận, sử dụng các dịch vụ thay thế dựa vào cộng đồng
- Về người khuyết tật
Chính sách chung của Nhà nước là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng về các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của họ để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Cả nước hiện có 5,3 triệu người khuyết tật trong đó 70% số người khuyết tật được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, trên 70 nghìn trẻ em khuyết tật được phục hồi chức năng; gần một triệu người khuyết tật hàng năm được trợ cấp từ ngân sách nhà nước (trợ cấp xã hội, trợ cấp thương binh, bệnh binh và những người hưởng chính sách như thương binh); hàng trăm nghìn người được hỗ trợ chỉnh hình, phục hồi chức năng, được cung cấp phương tiện trợ giúp (xa lăn, xe đẩy…). Thực hiện chương trình phục hồi chức năng, 100% tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng mạng lưới phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; có 260.000 trẻ em khuyết tật hòa nhập ở các cơ sở giáo dục phổ thông và 6.000 trẻ em khuyết tật học ở các cơ sở giáo dục chuyên biệt, có khoảng 260 cơ sở hướng nghiệp dạy nghề cho người khuyết tật và có khoảng 35.000 người khuyết tật được học nghề. Các tổ chức của người khuyết tật ngày càng được mở rộng ở các tỉnh, thành phố như: Hội người mù, Hội người điếc, Hội người tàn tật, trẻ em mồ côi, Hội người khuyết tật các tỉnh…Do đó, lượng người khuyết tật có việc làm tăng, mỗi năm có khoảng 10.000 người khuyết tật được giới thiệu việc làm [3].
Việt Nam đã ký Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2008 và dự kiến hoàn thành thủ tục phê chuẩn trong năm 2014, cũng như đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện luật pháp, chính sách nhằm thúc đẩy quyền của người khuyết tật. Trong lộ trình phê chuẩn Công ước về quyền của người khuyết tật, Việt Nam đã ban hành Luật về người khuyết tật năm 2010 và xây dựng các văn bản thi hành. Trong giai đoạn 2010-2013, đã có rất nhiều văn bản dưới Luật được ban hành có liên quan tới người khuyết tật trong các lĩnh vực truyền thông, thể thao, du lịch, tiếp cận an sinh xã hội và thúc đẩy thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ.
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án Trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020 nhằm đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, đồng thời thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về 7 lĩnh vực ưu tiên trong Thập kỷ thứ II Thiên niên kỷ Biwako về người khuyết tật khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đề án chia làm 2 giai đoạn với những chỉ tiêu cụ thể nhằm thúc đẩy sự hòa nhập của người khuyết tật trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, xây dựng, giao thông, công nghệ thông tin, văn hóa, thể thao, pháp lý… Bên cạnh đó, Chính phủ cũng triển khai một loạt các chính sách trợ giúp người khuyết tật như đề án trợ giúp phục hồi chức năng cho người tâm thần; tham gia và thực hiện các sáng kiến của quốc tế và khu vực; tăng cường sự tham gia của người khuyết tật và bảo vệ quyền của người khuyết tật; hỗ trợ thành lập các tổ chức tự lực của người khuyết tật; trợ giúp đào tạo nghề và tạo việc làm; cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng các công trình văn hoá, công cộng và các dịch vụ xã hội cơ bản khác của người khuyết tật.
Dù đạt được những thành tích nêu trên, song trên thực tế đời sống của người khuyết tật ở nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là những đối tượng thuộc diện nghèo. Điều kiện giáo dục, đào tạo nghề cho người khuyết tật vẫn còn nhiều hạn chế; vẫn còn tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử trong giáo dục, ở nơi làm việc, trong các hoạt động cộng đồng. Việc bảo đảm an sinh xã hội cho người khuyết tật còn nhiều bất cập. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Hiện nay, Theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, năm 2010, tỷ lệ người khuyết tật được học nghề vẫn thấp, chiếm 12,1%. Phần lớn, những người khuyết tật có việc làm không ổn định, đa số người khuyết tật chỉ tìm được việc làm trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo, từ thiện, rất ít người tìm được việc làm và làm việc ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp [34, tr.130].
Theo báo cáo mới đây của Bộ lao động thương binh và xã hội thì hiện có tới 37% người khuyết tật đang sống trong hộ nghèo, gần 80% trong độ tuổi lao động không có khả năng tham gia lao động, gần 88% số người từ 16 tuổi trở lên chưa được đào tạo chuyên môn, 79% đang sống dựa vào gia đình, người thân… [34, tr.131].
Như vậy, vấn đề sinh kế cho người khuyết tật vẫn là bài toán khó, địa vị thiệt thòi của trẻ em khuyết tật là đáng báo động, đặc biệt trẻ khuyết tật phải chịu đựng liên quan đến quyền giáo dục, bởi thực tế trẻ khuyết tật không được đi học và đa số chưa học xong tiểu học, điều này khiến cho người khuyết tật không thể sử dụng quyền của mình và dẫn đến tỉ lệ cao trẻ khuyết tật phải đưa vào các cơ sở từ thiện.
Một vấn đề nữa là giáo viên có kinh nghiệm dạy cho trẻ em khuyết tật, trang thiết bị và tài liệu dạy học hiện nay rất thiếu, đặc biệt có sự chênh lệch vùng miền trong việc cung cấp giáo viên chuyên biệt ở các trường. Đây cũng là những vấn đề đặt ra cần phải có những biện pháp khắc phục để bảo đảm an sinh xã hội cho người khuyết tật trong thời gian tới
- Các biện pháp bảo đảm quyền an sinh xã hội của người khuyết tật như sau
Khẩn trương đảm bảo việc thông qua Công ước về quyền người khuyết tật để cung cấp bảo vệ hợp pháp cho trẻ khuyết tật
Xem lại các chính sách và chương trình hiện hành để phát triển phương pháp dựa trên quyền liên quan đến trẻ khuyết tật, và thực hiện có hiệu quả giáo dục mở rộng và chính sách miễn học phí để thuận tiện hơn cho trẻ khuyết tật có cơ hội đến trường;
Cung cấp đủ lượng giáo viên có kỹ năng về giáo dục mở rộng đến các trường đủ cho tất cả trẻ khuyết tật được hưởng giáo dục mở rộng chất lượng cao, tập trung chủ yếu vào trẻ khuyết tật sống ở vùng nông thôn;
Ngành lao động, thương binh, xã hội và ngành giáo dục đào tạo cả nước cần phối hợp tạo mọi điều kiện thuận lợi để các trung tâm dạy nghề cho người khuyết tật hoạt động hiệu quả. Quan trọng hơn hết là huấn luyện và đào tạo cán bộ giáo viên, hướng dẫn chương trình giảng dạy cho phù hợp với đối tượng học nghề nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu xã hội. Và để công tác dạy nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật hoạt động hiệu quả, cần có sự đóng góp, hỗ trợ nhiều hơn nữa về vật chất cũng như tinh thần giúp đỡ người khuyết tật và trẻ mồ côi được học tập, rèn luyện tay nghề, có việc làm ổn định.
Để giúp người khuyết tật được tuyển dụng sau khi được đào tạo nghề, các đơn vị đào tạo nghề nên phối hợp với các doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng lao động cùng tham gia đào tạo để giúp người khuyết tật ra trường sớm tìm được việc làm. Ví dụ, các cơ sở đào tạo giúp về kinh phí, các doanh nghiệp hỗ trợ về cơ sở vật chất như nhà ở, trang thiết bị, máy móc… Có như vậy, công tác đào tạo nghề cho người khuyết tật mới có hiệu quả và thực tế.
Cần nâng cao nhận thức cộng đồng, bao gồm nâng cao nhận thức về trẻ khuyết tật và thay đổi các can thiệp xã hội, để giải quyết dấu hiện lan rộng và sự phân biệt đối xử. Thêm vào đó, giảm xu hướng đưa trẻ khuyết tật vào cơ sở từ thiện và tìm kiếm các giải pháp chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
- Về người cao tuổi
“Số lượng người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay là khoảng 7,5 triệu người, chiếm khoảng 8,7% dân số cả nước” [34, tr.123]. Việc bảo đảm quyền của người cao tuổi được Chính phủ quan tâm, thông qua việc thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, các chương trình quốc gia, các đề án hoặc dự án hỗ trợ.
Luật Người cao tuổi đã được Quốc hội ban hành và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2010. Luật đã thể chế hoá chính sách của Việt Nam về người cao tuổi một cách hệ thống, đầy đủ và toàn diện, đảm bảo cho sự tham gia vào hoạt động xã hội của người cao tuổi, đồng thời khuyến khích sự quan tâm của các tổ chức xã hội, cá nhân trong công tác chăm sóc người cao tuổi. Đây là bước cụ thể hóa cam kết của Chính phủ về thực hiện Tuyên bố chính trị và Chương trình hành động quốc tế Madrid năm 2002, phù hợp với chính sách chung của nhiều quốc gia và của Liên Hợp Quốc về người cao tuổi. Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về Người cao tuổi giai đoạn 2012-2020 với mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi và phát huy vai trò của người cao tuổi trong xã hội, phù hợp với tiềm năng và trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên thực tế hiện nay, “Trong số trên 7,5 triệu người cao tuổi thì chỉ có 10,5% có mức sống khá, 55,5% có mức sống trung bình, còn 34% thuộc diện khó khăn. Hơn 70% sống ở nông thôn và dân nghèo thành thị” [34, tr.123].
Người cao tuổi bị tật nguyền, thương tật trong chiến tranh, cô đơn không nơi nương tựa, cuộc sống chủ yếu dựa vào sự trợ giúp của con cháu và sự hỗ trợ của cộng đồng xã hội. Do vậy cần có những chính sách quan tâm hơn nữa đối với người cao tuổi
- Biện pháp như sau Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Nhà nước cần đầu tư xây dựng trung tâm dưỡng lão, đầu tư các trang thiết bị hiện đại cần thiết, cơ sở y tế để người cao tuổi được được chăm sóc sức khỏe thông qua việc định kì khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế nói chung và hệ thống các bệnh viện lão khoa; được chăm lo đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch
Đối với người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, cần phải thực hiện bảo trợ xã hội như được hưởng các chế độ: trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng bằng; được hưởng bảo hiểm y tế; được cấp tư trang, vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường ngày, thuốc chữa bệnh thông thường, dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng.
Hiện nay, Việt Nam là quốc gia có kết cấu dân số trẻ tuy nhiên nhìn về tương lai thì nhà nước cũng phải chú ý đối với việc bảo vệ người cao tuổi vì sự thay đổi về cơ cấu độ tuổi của dân số diễn ra rất nhanh.
Từ kinh nghiệm của các quốc gia Mỹ – La tinh là những quốc gia đang phát triển có kết cấu dân số hiện đang trong giai đoạn thứ hai của thời kỳ quá độ về nhân khẩu học, khi không chỉ mức chết và mức sinh mà cả sự già hóa dân số vẫn chưa phải là một quá trình được thể hiện rõ nét, Việt Nam cũng đang nằm trong số các quốc gia đó. Chính ở giai đoạn này, mức độ phụ thuộc về nhân khẩu “ giảm đi”, tức là dân số ở độ tuổi lao động (những người 15-59) chịu áp lực từ phía người lao động (dưới 15 và trên 60) quan hệ phụ thuộc này đạt mức thấp. Giai đoạn này là giai đoạn tăng thêm về nhân khẩu, tùy từng quốc gia sẽ diễn ra từ 30 đến 50 năm. Theo thời gian thì số lượng người cao tuổi sẽ dần dần tăng lên, vì vậy việc bảo đảm vật chất ở mức đủ để sống bình thường sẽ dần là gánh nặng.
Do vậy, bất kỳ quốc gia nào cũng phải tận dụng những cơ hội được tạo ra trong giai đoạn “tăng lên về nhân khẩu” này. Để bảo đảm sự giảm thiểu gánh nặng đối với nhóm người cao tuổi về sau này, trước hết, cần phải tạo ra sự phát triển kinh tế để thu hút tối đa nhóm dân số trong độ tuổi lao động, cụ thể – đó chính là sự phát triển của những ngành sản xuất có sử dụng công nghệ cao, bởi vì xét về năng suất lao động và tiến bộ khoa học kỹ thuật, các nước đang phát triển đang tụt hậu so với các nước công nghiệp. Đưa tri thức và đổi mới sản xuất là một trong những điều kiện cơ bản để phát triển và hiện đại nền kinh tế. Điều đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có trình độ cao, vì vậy giáo dục đào tạo có vai trò rất quan trọng [8].
- Về trợ giúp và ưu đãi xã hội của người dân tộc thiểu số Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Nước ta có 54 dân tộc sinh sống, trong đó, người Kinh chiếm 87%; 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số. Các dân tộc thiểu số chủ yếu sống ở vùng miền núi, cao nguyên, vùng biên giới, hải đảo là khu vực khó khăn so với cả nước về điều kiện tự nhiên cũng như kết cấu hạ tầng. Nhà nước Việt Nam thực hiện đường lối nhất quán là các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ. Hệ thống pháp luật Việt Nam liên tục được hoàn thiện, đáp ứng cơ bản chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, trong đó có việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các dân tộc thiểu số.
Trong giai đoạn 2006 – 2012, Nhà nước đã có 160 văn bản quy phạm pháp luật về chính sách phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc và miền núi, với kinh phí từ ngân sách lên tới 55.000 tỷ đồng (tương đương 2,6 tỷ đô la Mỹ). Với nguồn lực như vậy, nhiều chính sách đã phát huy hiệu quả tốt như Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về giảm nghèo bền vững; chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo; Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng có đông người dân tộc thiểu số giảm từ 32,6% năm 2009 xuống còn 24,3% năm 2012. Cơ sở hạ tầng có sự cải thiện rõ rệt: 98,6% xã có đường ô tô; 99,8% số xã và 95,5% số thôn được sử dụng điện sinh hoạt; 99,39% xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đến năm 2011 có 94,2% số thôn có cán bộ y tế; 100% các tỉnh vùng có đông dân tộc thiểu số đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề và đào tạo nghiệp vụ trong các lĩnh vực nông nghiệp, quản lý kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế.
Năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số. Năm 2012, đã có 32 tỉnh tổ chức dạy và học 12 tiếng dân tộc thiểu số. Tính đến hết năm 2012, cả nước có 2.629 lớp học chữ tiếng dân tộc với 136.600 học sinh. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hợp tác với UNICEF thí điểm thực hiện giáo dục song ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ tại 3 tỉnh Lào Cai, Trà Vinh, Gia Lai bước đầu đạt kết quả tốt [3].
Qua đó, đồng bào dân tộc được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đồng bào nghèo được khám chữa bệnh miễn phí. Các dịch bệnh ở vùng dân tộc và miền núi như sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đã giảm đáng kể. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Năm 2011, Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”, qua đó đã thể hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số.
Tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số đang được chú ý bảo tồn và ngày càng được sử dụng phổ biến hơn.
Việt Nam có 30 dân tộc có chữ viết, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng 8 bộ giáo trình cho 8 thứ tiếng dân tộc thiểu số (Khơ-me, Chăm, Hoa, Ê-đê, Gia-rai, Ba-na, Thái và Mông), chính thức được đưa vào dạy trong các trường tiểu học và trường phổ thông dân tộc ở 25 tỉnh có tỷ lệ người dân tộc thiểu số cao. Đài truyền hình Việt Nam đã phát kênh VTV5 bằng 10 thứ tiếng dân tộc, Đài tiếng nói Việt Nam đã tăng thời lượng phát sóng và sản xuất hơn 4.000 chương trình đặc biệt phát bằng 13 thứ tiếng dân tộc, giúp đồng bào dân tộc tiếp cận thông tin tốt hơn [22].
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong vùng dân tộc và miền núi có chuyển biến tích cực, dịch vụ trợ giúp pháp lý đang tiếp cận với người dân. Thực hiện Luật trợ giúp pháp lý, hầu hết các tỉnh, thành phố đã có các Trung tâm trợ giúp pháp lý. Các Trung tâm này cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí bằng các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng… để giúp đỡ người nghèo, người dân tộc thiểu số giải quyết các vướng mắc về pháp luật.
Mặc dù, sự phát triển về kinh tế đất nước hiện nay đã mang lại những thành tựu to lớn, tuy nhiên nó cũng làm sâu thêm sự chênh lệch giữa con người với con người. Sự chênh lệch về kinh tế – xã hội đặc biệt nghiêm trọng trong các dân tộc thiểu số.
Về chăm sóc sức khỏe, “tỷ lệ tử vong của bà mẹ ở vùng núi phía Bắc, nơi sinh sống của nhiều người dân tộc thiểu số, cao gấp bốn lần so với miền xuôi. Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh do động từ 7,9 đến 62,6 trên 1000 ca sinh sống, trong đó cao nhất là ở các vùng xa xôi hẻo lánh, Tỷ lệ suy dinh dưỡng và đói ăn của trẻ em dưới 5 tuổi ở một số vùng dân tộc thiểu số vào khoảng 35-45%, trong khi tỷ lệ trung bình của cả nước là 25%, Tỷ lệ đồng bào các dân tộc thiểu số được tiếp cần với các dịch vụ cơ bản như vệ sinh môi trường, nước sạch và giáo dục thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình quốc gia. [34, tr.133]
Có thể nói tần số tử vong trẻ sơ sinh cao ở vùng dân tộc thiểu số được cho là do thiếu dịch vụ và cơ sở y tế chất lượng, ty lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em vùng dân tộc thiểu số cao hơn rất nhiều so với các vùng khác. Số lượng trẻ sống trong nghèo đói em ở các dân tộc thiểu số còn cao. Thêm vào đó, trong chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn vẫn chỉ mới tiến hành. Các thiết bị vệ sinh còn thiếu ở gia đình và nhà trường trong các vùng dân tộc thiểu số, điều này làm ảnh hưởng đến sức khỏe, điểu kiện học tập của trẻ em Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Về giáo dục, những chênh lệch về giới ở các dân tộc thiểu số thường rõ rệt hơn, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục.
Hiến pháp 2103 không còn quy định về miễn học phí cho giáo dục tiểu học như Hiến pháp 1992 trước đây, thực tế các loại phí liên quan đến giáo dục làm ảnh hưởng đến người nghèo nhất, và hầu hết là trẻ em vùng dân tộc thiểu số; Điều trên một phần dẫn đến nguyên nhân tỉ lệ bỏ học cao của trẻ em vùng dân tộc thiểu số ở cấp tiểu học và trung học, chủ yếu do thiếu tiếp cận; lý do nghèo đói; và rào cản ngôn ngữ.
Trẻ em dân tộc thiểu số tiếp cận có giới hạn với nền giáo dục dựa trên ngôn ngữ mẹ đẻ, một phần do không đủ số lượng giáo viên các dân tộc thiểu số và thiếu tập huấn phù hợp cho các giáo viên dạy giáo dục song ngữ, cũng như là sách giáo khoa chất lượng kém dành cho trẻ dân tộc thiểu số, chính điều này cản trở quyền trẻ em thuộc các nhóm này được học đầy đủ ngôn ngữ đặc trưng và việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
Chất lượng giáo dục thấp và phương pháp dạy học chưa phù hợp, điều này không cho phép sự tham gia của trẻ, cũng như là khả năng giáo viên kém và việc thiếu thông tin về giáo dục nhân quyền, đặc biệt là quyền trẻ em trong chương trình học
- Biện pháp đặt ra như sau:
Tăng cường và duy trì trợ cấp xã hội, chương trình hỗ trợ tiền mặt cho các gia đình thu nhập thấp ở vùng dân tộc thiểu số, và bảo đảm rằng việc cung cấp đó sẽ được mở rộng đến các gia đình nghèo và cận nghèo ở vùng dân tộc thiếu số Tăng cường nỗ lực, thông qua việc thực hiện có hiệu quả Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, đấu tranh chống nghèo đói ở các nhóm yếu thế đặc biệt là dân tộc thiểu số, Theo khía cạnh này, nên có các biện pháp thúc đẩy các cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người và kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt là liên quan đến việc làm, giáo dục và chăm sóc sức khỏe với việc tập trung vào các dịch vụ phúc lợi xã hội.
Về chăm sóc sức khỏe, Cần có những bước đi kịp thời để đẩy mạnh xây dựng và thực thi các tiêu chuẩn thông thường trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tất cả trẻ em ở các vùng. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Phát triển chiến lược dinh dưỡng cho trẻ em, có chính sách và luật pháp liên quan đến thói quen tích cực cho trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh ăn, với mục đích giảm chênh lệch vùng miền liên quan đến kém dinh dưỡng cấp tính và mãn tính;
Nâng cao nguồn lực sẵn có đối với các trung tâm y tế huyện và trạm y tế xã và đảm bảo rằng các cơ sở y tế này có đủ nguồn nhân lực và cơ sở vật chất, đặc biệt liên quan đến chăm sóc sức khỏe sản phụ, trẻ sơ sinh, trẻ ẵm ngửa, và trẻ chưa đi học;
Phát triển và thực hiện tốt các chính sách kinh tế và chương trình liên quan đến nước sạch và vệ sinh nông thôn, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, và bảo đảm rằng trẻ em vùng dân tộc thiểu số còn đi học phải được tiếp cận với các điều kiện vệ sinh đủ tiêu an toàn
Về giáo dục, Bảo đảm giáo dục là miễn phí cho tất cả mọi người, và đặc biệt chú ý tới các nhóm trẻ em dễ bị tổn thương, trẻ em dân tộc thiểu số. Kể cả việc miễn tất cả các chi phí gián tiếp và đưa ra các cơ chế hỗ trợ giáo dục cho trẻ em của gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Thực hiện hiệu quả các hành động như chương trình cơ hội học tập thứ hai, nhằm vào trẻ em thuộc dân tộc thiểu số để chấm dứt việc bỏ học của học sinh dân tộc thiểu số và sự khác biệt địa lý tại trường học;
Thực hiện chính sách nguồn lực thỏa đáng để hỗ trợ giáo dục song ngữ cho các lớp học sinh dân tộc thiểu số, cho phép sử dụng không chính thức ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số khi giảng dạy ở cấp 1, nhằm giúp các trẻ em dân tộc thiểu số thành thạo cả hai ngôn ngữ, giúp họ hoàn toàn thích ứng khi tham gia trong xã hội rộng lớn hơn; tăng cường đào tạo và hướng dẫn cho giáo viên nói tiếng dân tộc thiểu số; và tài trợ cho việc phát hành sách học cho trẻ em thuộc dân tộc thiểu số bằng cách mời các giáo viên địa phương tham gia viết nội dung của sách giáo khoa.
Thiết lập hệ thống giám sát hiệu quả các trường dân tộc nội trú, như kiểm tra thường xuyên việc bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp Việt Nam, cùng với việc đối chiếu với các quy định trong Luật nhân quyền quốc tế về quyền con người, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, Về sự tương thích giữa các quy định của Hiến pháp Việt Nam với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người được ghi nhận trong UDHR và ICESCR.
Về cơ bản, các quy định của Hiến pháp Việt Nam về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội cơ bản là phù hợp với các văn bản mang tính tuyên bố và mang tính pháp lý của Liên Hợp Quốc về quyền con người và với chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền con người, nhất là trong bối cảnh đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.
Các bản Hiến pháp Việt Nam đã ghi nhận hầu hết các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như quyền làm việc, quyền tự do kinh doanh, quyền có nơi ở và hưởng mức sống thích đáng, quyền về giáo dục, quyền về chăm sóc sức khỏe…Đặc biệt, Hiến pháp 2013 quy định về quyền con người tại chương 2 trong đó quy định về một số quyền kinh tế, văn hóa, xã hội mới theo tiêu chuẩn được ghi nhận trong luật quốc tế về quyền con người như quyền tham gia vào đời sống văn hóa, quyền hưởng an sinh xã hội. Hiến pháp 2013 có thể coi là bản Hiến pháp thể hiện sự phát triển trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người ở Việt Nam
Thứ hai, Về số lượng quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được ghi nhận trong các bản Hiến pháp
Các điều luật được thể hiện tập trung, số lượng các điều luật quy định về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp Việt Nam so với các bản Hiến pháp trước đây đã tăng lên, và ngày càng đa dạng có nhiều quyền mới. Điều này, thể hiện sự quan tâm ngày càng đầy đủ hơn của Nhà nước đối với nhóm quyền này, đồng thời cũng nói lên sự đòi hỏi ngày càng lớn của Nhà nước đối với trách nhiệm đối với nhân dân khi họ được hưởng những quyền, lợi ích đó. Qua đó chứng tỏ quyền kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng được tôn trọng, đề cao, ghi nhận và mở rộng quyền nhiều hơn.
Thứ ba, Về việc thực thi các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp Ngoài việc quy định các quyền cơ bản thì Nhà nước cũng có quy định
thể hiện việc bảo đảm, thực hiện. Điều này thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm ngày càng cao của Nhà nước đối với đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phản ánh sự phát triển của xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, và hội nhập quốc tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nếu như Hiến pháp 1946 sau khi ra đời thì cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Do hoàn cảnh chiến tranh, Hiến pháp không được chính thức công bố. Hiến pháp 1959 ra đời trong hoàn cảnh đất nước chưa thống nhất, nước bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc, do vậy mà việc tiến hành các hoạt động của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người nói chung và quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung còn hạn chế.
Từ Hiến pháp 1980 cho đến nay thì Hiến pháp có Hiệu lực trên toàn quốc và được thực thi trên thực tế. Tuy nhiên, để Hiến pháp trở thành văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích của con người, quyền công dân thì cần phải có cơ chế bảo đảm thực thi Hiến pháp. Cả năm bản Hiến pháp đều không có quy định về cơ chế bảo hiến, để quy định một cơ quan có thẩm quyền xem xét, ra quyết định đối với những hành vi vi hiến, xâm phạm đến quyền con người lợi ích của công dân…Đây có thể coi là một hạn chế lớn cần phải khắc phục Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Mặc dù trong việc bảo đảm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, không thể phủ nhận, song mức độ bảo đảm một số quyền ở Việt Nam còn hạn chế so với một số quốc gia khác và so với Bình luận chung của Uỷ ban về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là với quyền có mức sống thích đáng, quyền được chăm sóc y tế…
Bên cạnh đó thì Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân. Những khó khăn này có ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, cụ thể như: Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập; Sự hạn chế về nguồn nhân lực, vật lực cho việc bảo đảm các quyền; Những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; Những tác động tiêu cực từ môi trường bên ngoài (dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế…); Mức độ nhận thức về quyền con người trong việc thúc đẩy quyền con người của một bộ phận cán bộ nhà nước còn hạn chế.
Từ những nhận định trên có thể thấy, các bản Hiến pháp Việt Nam đã phản ánh đã phản ánh tư tưởng xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền trên nền tảng tất cả quyền lực nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tuy nhiên, để Hiến pháp bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền công dân thì tiếp tục cần phải nghiên cứu và cụ thể trong các quy định của pháp luật để phù hợp hơn nữa với tiêu chuẩn chung của luật nhân quyền quốc tế. Hơn nữa, cần xây dựng cơ chế bảo hiến cũng như cơ chế bảo vệ quyền con người một cách hiệu quả. Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp