Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Sự phát triển của các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội qua các bản Hiến pháp trước Hiến pháp 2013
2.1.1. Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1946
Năm 1945 là thời điểm đánh dấu một bước ngoặt trên lĩnh vực quyền con người ở Việt Nam. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đã chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và hàng nghìn năm của chế độ phong kiến phương Bắc, đem lại độc lập, chủ quyền cho đất nước, đem lại tự do và các quyền con người, quyền công dân cho nhân dân Việt Nam.
Một năm sau, Hiến pháp 1946 ra đời là Hiến pháp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, Hiến pháp dân chủ và tiến bộ đầu tiên ở Đông Nam Á. Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đầy khó khăn, phức tạp ở buổi đầu của cách mạng, quan hệ đến sự mất, còn của chính quyền nhân dân non trẻ; giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng một lúc đe dọa nền độc lập dân tộc mới giành lại được, Hiên pháp năm 1946 thực sự là công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu lực nhất để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng và thực hiện quyền lực nhân dân trên nền tảng dân chủ. Hiến pháp năm 1946 là cơ sở cho việc ghi nhận và thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thể hiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa nhà nước và công dân ở Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, người dân Việt Nam được Hiến pháp xác nhận có tư cách công dân của một nhà nước độc lập, có chủ quyền và các quyền con người được đạo luật cơ bản ghi nhận và bảo đảm thực hiện, trở thành các quyền cơ bản của công dân.
Hiến pháp ngày 9/11/1946 (gồm Lời nói đầu, bảy chương, 70 điều). Quán triệt ba nguyên tắc xây dựng Hiến pháp là đoàn kết toàn dân, bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính quyền mạnh mẽ và gián tiếp của nhân dân. Trong bảy chương thì chương về quyền và nghĩa vụ của công dân được xếp thứ hai sau chương về chính thể (Chương II) với tiêu đề “Nghĩa vụ và quyền lợi công dân”. Trong Chương II, Hiến pháp năm 1946 dành 16 điều (các điều 4-18, 20, 21) quy định bốn nguyên tắc chung của quyền con người, 27 quyền của công dân về chính trị, dân sự, văn hóa, xã hội và bốn nghĩa vụ của công dân. Nét nổi bật của những quy định trong Hiến pháp năm 1946 về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam là các quy định này chỉ được tập trung trong Chương II.
Bốn nguyên tắc chung về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam được thể hiện trong bốn điều (các Điều 6, 7, 8, 16) của Hiến pháp năm 1946, gồm: Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
“Mọi công dân đều ngang quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa” [23, Điều 6]; “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” [23, Điều 7]; “công dân thuộc dân tộc thiểu số được Nhà nước và xã hội giúp đỡ về mọi mặt để đạt trình độ chung của xã hội” [23, Điều 8]; “người nước ngoài đấu tranh vì dân chủ và tự do mà bị bức hại thì được Nhà nước Việt Nam cho cư trú tại Việt Nam” [23, Điều 16].
Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận các quyền cụ thể của công dân trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. Do hoàn cảnh lịch sử nước nhà vừa mới giành được độc lập, có hơn 90 % dân số mù chữ, bởi vậy, diệt giặc dốt là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước và toàn dân, cho nên Hiến pháp năm 1946 chỉ quy định một quyền văn hóa nói chung của cá nhân – đó là quyền học tập.
Hiến pháp năm 1946 dành bốn điều (các Điều 8, 9, 13, 14) quy định bảy quyền kinh tế, xã hội của công dân, trong đó một quyền dành cho mọi công dân là bình đẳng nam, nữ về mọi phương diện; sáu quyền cho công dân có đặc điểm, hoàn cảnh riêng: công dân thuộc dân tộc thiểu số; trí thức, người lao động chân tay, người già không làm được việc, người tàn tật không làm được việc, trẻ em.
- Từ những quy định trong Hiến pháp 1946 có thể rút ra nhận xét sau đây
Các quy định của Hiến pháp năm 1946 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam, thể hiện chính sách của nhà nước Việt Nam về tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam; kết hợp hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của công dân, giữa lợi ích chính đáng của cá nhân với lợi ích chính đáng của tập thể và của xã hội trong điều kiện nước nhà vừa mới độc lập, lại đang chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống sự xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp.
Các quy định của Hiến pháp năm 1946 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam là cơ sở pháp lý đầu tiên để Nhà nước và xã hội tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân trong các giai đoạn tiếp theo của cách mạng. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Có thể nói xét về kỹ thuật lập hiến, cách thức quy định trong Hiến pháp là ngắn gọn, khúc triết và có tính hàm xúc hay tính mở cho việc thể chế hóa thành luật. Chẳng hạn như: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”, “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền”… [31].
Việc những giá trị quyền con người nói chung, quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng được long trọng ghi nhận trong Hiến pháp 1946, vào thời điểm chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ đang phải đối mặt với các nguy cơ, những mối đe dọa nghiêm trọng từ “thù trong, giặc ngoài” cho thấy sự quan tâm tiến bộ đặc biệt của Nhà nước Việt Nam trên các lĩnh vực này.
Chế định quyền công dân trong Hiến pháp 1946 thực sự đã thể hiện nội dung cốt lõi trong Hiến pháp của một nhà nước dân chủ kiểu mới ở Việt Nam, có ảnh hưởng sâu sắc đến tiến trình lập hiến và lập pháp về quyền con người ở Việt Nam trong các giai đoạn sau này.
Trong thời kỳ chiến tranh chống thực dân Pháp (1946 -1954), mặc dù những tư tưởng và quy phạm pháp lý tiến bộ về quyền con người, trong đó bao gồm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội.Tuy nhiên, do đất nước đối mặt với những khó khăn, gian khổ trong cuộc chiến tranh để bảo bệ độc lập, tự do cho dân tộc, cũng như bảo vệ phẩm giá cho con người, nên việc bảo đảm các quyền con người nói chung, cũng như các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng còn tương đối hạn chế.
2.1.2. Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1959 Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Sau khi giành độc lập không lâu, thì toàn dân tộc đã phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập, tự do cho dân tộc.
Chín năm kháng chiến trường kỳ (1946 -1954) cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi vào năm 1954 đã mở ra thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đồng thời tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà ở miền Nam. Hiến pháp 1959 được thông qua thay thế cho Hiến pháp 1946 để đáp ứng nhiệm vụ chính trị này.
Về mặt hình thức, Hiến pháp năm 1959 có hai điểm khác so với Hiến pháp năm 1946 là sử dụng cụm từ “quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân” đặt tên cho Chương III và các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam được chứa được chứa đựng trong nhiều chương chứ không phải chỉ tập trung ở Chương III. Như vậy, Hiến pháp năm 1959 chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ “cơ bản” của công dân chứ không quy định tất cả các quyền và nghĩa vụ của công dân; quyền con người được ghi nhận thành quyền công dân nhiều hơn, phong phú hơn so với Hiến pháp năm 1946 và theo đó, nghĩa vụ của công dân cũng tăng lên nhằm đảm bảo nguyên tắc quyền và nghĩa vụ của công dân đi đôi với nhau.
- Hiến pháp năm 1959 quy định về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như sau:
Về quyền kinh tế, Hiến pháp năm 1959 dành năm điều (các Điều 11, 14, 15, 16, 30) quy định bảy quyền kinh tế của công dân. Điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước, khi miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó xây dựng và phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm và quan trọng hàng đầu.
Hiến pháp năm 1959 quy định quyền làm việc tại Điều 30. Bên cạnh đó, tại các Điều 11, 14, 15, 16, Hiến pháp năm 1959 còn quy định năm quyền kinh tế của công dân thuộc các giai cấp và tầng lớp lao động khác nhau – đó là:
“Quyền sở hữu của người làm nghề thủ công và người lao động riêng lẻ khác đối với tư liệu sản xuất” [24, Điều 11]; “Quyền của nông dân được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác” [24, Điều 14], “Quyền của người làm nghề thủ công và người lao động riêng lẻ khác được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất” [24, Điều 15], “Quyền của nhà tư sản dân tộc được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất và của cái khác” [24, Điều 16].
Đối với quyền kinh tế của nhóm (tập thể) công dân thì Hiến pháp năm 1959 chỉ quy định “quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất của hợp tác xã” [24, Điều 11]. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Về quyền văn hóa, Hiến pháp năm 1959 mở rộng các quyền này của công dân bằng những quy định về các quyền mới ngoài quyền học tập đã được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1959 dành ba điều (các Điều 3, 33, 34) quy định sáu quyền văn hóa của công dân (năm quyền dành cho mọi cá nhân công dân và một quyền của cộng đồng công dân).
Năm quyền văn hóa của mọi cá nhân công dân là: quyền về học tập, sáng tác văn học, sáng tác nghệ thuật, tham gia các hoạt động văn hóa khác, nghiên cứu khoa học.
Một quyền của cộng đồng công dân được quy định tại Điều 3 là: “quyền của các dân tộc được duy trì hoặc sửa đổi các phong tục, tập quán, dùng tiếng nói, chữ viết, phát triển văn hóa dân tộc” [24, Điều 3].
Về quyền xã hội, Hiến pháp năm 1959 dành các Điều 24, 31, 32, 35 quy định 12 quyền xã hội của công dân, có hai quyền – trong đó có một quyền mới đó là: “bình đẳng nam, nữ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” [24, Điều 24].
Tại bốn điều, Hiến pháp năm 1959 quy định 10 quyền cho những chủ thể là cá nhân công dân ở vào những hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có tám quyền mới, gồm:
“Nữ công nhân được hưởng chế độ thai sản, nữ viên chức được hưởng chế độ thai sản, người mẹ sinh con và nuôi con nhỏ được Nhà nước bảo hộ, trẻ em được Nhà nước bảo hộ”[24, Điều 24]; “công nhân viên chức được nghỉ ngơi,người lao động khi già yếu được nhà nước giúp đỡ về vật chất” [24, Điều 31]; “người lao động ốm đau được nhà nước giúp đỡ về vật chất, người lao động mất sức được Nhà nước giúp đỡ về vật chất” [24, Điều 32]; “thanh niên được Nhà nước chăm sóc, giáo dục” [24, Điều 35].
- Từ những trình bày ở trên về các quy định Hiến pháp năm 1959 về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội có thể rút ra nhận xét sau đây Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Thứ nhất, có sự kết hợp hài hoà giữa kế thừa và phát triển, bổ sung các quy định của Hiến pháp năm 1946 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam. Điều đó thể hiện tính liên tục và nhất quán trong chính sách của Nhà nước Việt Nam về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Thứ hai, so với Hiến pháp 1946 số lượng các quyền con người trong Hiến pháp 1959 đều tăng lên đáng kể, đặc biệt là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Sự gia tăng này vừa phản ánh thái độ của Nhà nước luôn tôn trọng quyền con người nói chung và các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng, nhắm kết hợp mở rộng quyền của công dân, quyền con người với việc nâng cao nghĩa vụ của công dân, vừa thể hiện bước phát triển mới của xã hội Việt Nam khi bước vào xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước.
Thứ ba, một điểm mới đáng chú ý trong Hiến pháp năm 1959 là trong 22 Điều quy định các quyền công dân thì có tới 16 Điều (các Điều 14, 15, 16, 18,19, 24, 25, 27, 28, 29, 30, 31,32,33,34, 35) quy định những bảo đảm của Nhà nước. Đây không đơn thuần chỉ là vấn đề kỹ thuật lập hiến mà quan trọng hơn là sự nhận thức đúng đắn và thái độ quan tâm của Nhà nước đối với quyền con người và quyền công dân trong một nước vừa mới giành độc lập, tự do.
Với việc mở rộng các quyền công dân mà phần lớn các quyền được mở rộng là các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, tiêu biểu như: quyền được ưu tiên đối với bè mẹ, trẻ em; quyền được làm việc cải thiện điều kiện làm việc và lương bổng; quyền được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao độn; quyền học tập; quyền được tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác….
Tuy vậy, do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, một số quyền trên chỉ được đảm bảo ở mức độ nhất định, về cơ bản, việc bảo đảm các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội ở thời kỳ này chủ yếu mới đạt về số lượng, chưa đạt về chất lượng.
2.1.3. Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1980 Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (năm 1975), Việt Nam bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Trong bối cảnh một quốc gia vừa thoát khỏi chiến tranh, Đảng và Nhà nước đã đặt ưu tiên cho việc phát triển kinh tế, xã hội và cả thiện đời sống người dân. Với quan điểm như vậy, cùng với ảnh hưởng của pháp luật ở các nước xã hội chủ nghĩa, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội tiếp tục được đề cao, được ghi nhận qua sự ra đời của Hiến pháp 1980.
Một trong những đặc điểm quan trọng của Hiến pháp năm 1980 khi ghi nhận quyền con người và xác lập quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam là các quy định đó nằm rải rác từ các chương I đến Chương V. Hiến pháp năm 1980 quy định các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như sau:
Về quyền kinh tế, Hiến pháp năm 1980 quy định hai quyền mới so với Hiến pháp 1959 tại các Điều 3, Điều 58, đó là quyền làm chủ về kinh tế tại Điều 3, lao động có việc làm tại Điều 58.
Hiến pháp năm 1980 quy định bốn quyền nữa của công dân đó là quyền của cá nhân đang sử dụng đất tiếp tục được sử dụng đất và hưởng kết quả lao động của mình, quyền làm chủ tập thể của xã viên trong việc quản lí hợp tác xã , quyền sở hữu của người lao động riêng lẻ những công cụ sản xuất được phép khi được lao động riêng lẻ và được Nhà nước bảo hộ quyền này.
Đặc biệt, Hiến pháp 1980 quy định sáu quyền kinh tế mới của nhóm (tập thể) công dân đó là: quyền của công dân làm chủ kinh tế, quyền của tập thể lao động tham gia xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế; quyền của nhân dân làm chủ tư liệu sản xuất và lực lượng sản xuất, phân phối; quyền của tập thể đang sử dụng đất, quyền của hợp tác xã và các tổ chức tập thể khác được sở hữu tư liệu sản xuất và các tài sản khác và được Nhà nước bảo vệ quyền này.
Về quyền văn hóa, Hiến pháp năm 1980 giữ nguyên sáu quyền văn hóa của công dân mà Hiến pháp năm 1959 đã quy định và bổ sung một quyền mới (các Điều 5, 60, 72). Sáu quyền văn hóa dành cho mọi cá nhân công dân đó là: “quyền về học tập” [25, Điều 60], “sáng tác văn học, sáng tác nghệ thuật, tham gia các hoạt động văn hóa khác, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu kỹ thuật” [25, Điều 72]. Một quyền văn hóa dành cho cộng đồng công dân là “quyền của các dân tộc được dùng tiếng nói, chữ viết, phát huy các phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình”[25, Điều 5].
Về quyền xã hội, Hiến pháp năm 1980 quy định năm quyền xã hội tại các Điều 59, 61, 62, 63, 64 cho mọi cá nhân công dân gồm: nghỉ ngơi của người lao động, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền có nhà ở, bình đẳng nam, nữ, và quyền được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Đối với quyền xã hội của những cá nhân công dân trong những hoàn cảnh đặc biệt, yếu thế, dễ bị tổn thương, trong đó có các quyền:
- Hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân khi về hưu, già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đôi với viên chức” [25, Điều 59],
- Nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương đối với nữ công nhân, viên chức; phụ nữ được hưởng phụ cấp sinh đẻ đối với xã viên hợp tác xã” [25, Điều 63];
- Được Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc, giáo dục đối với trẻ em” [25, Điều 65];
- Được Nhà nước và xã hội giúp đỡ, quan tâm, giáo dục đối với thanh niên” [25, Điều 66];
Được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với thương binh; được hưởng chế độ khen thưởng và chăm sóc đối với người có công với cách mạng; được Nhà nước và xã hội giúp đỡ đối với người già; được nhà nước và xã hội giúp đỡ đối với người tàn tật; được nhà nước và xã hội nuôi dạy đối với trẻ mồ côi [25, Điều 74].
Đối với quyền xã hội của những nhóm (tập thể) cá nhân công dân trong những hoàn cảnh đặc biệt, có: “quyền của gia đình liệt sĩ được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, quyền của gia đình có công với cách mạng được hưởng chế độ khen thưởng và chăm sóc của Nhà nước” [25, Điều 74].
- Từ những quy định trên có thể rút ra một số nhận xét sau
Có thể thấy Hiến pháp 1980 đã kế thừa và phát triển ở trình độ khá cao các Hiến pháp trước về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam trong bối cảnh cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế “Sự mở rộng các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong bản Hiến pháp đã nâng hệ thống pháp luật Việt Nam lên một tầm cao mới, thuộc vào dạng tiến bộ bậc nhất thế giới về mặt pháp điển hóa nhóm quyền này” [34, tr.73].
Tuy nhiên, việc mở rộng các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, đây là nhóm quyền đòi hỏi nguồn lực vật chất lớn trong việc bảo đảm thực hiện quyền, trong khi đó đất nước chưa có sự chuẩn bị đầy đủ thích đáng các tiền đề cho việc thực hiện chúng. Đây là một biển hiện sai lầm theo kiểu chủ quan duy ý chí mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã mắc phải sau chiến tranh. Chính sai lầm này đã dẫn đến hậu quả tương tự như giai đoạn 1945 -1975 là việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong giai đoạn này chỉ đạt về số lượng, chứ chưa đạt về chất lượng. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Ví dụ Điều 61, Hiến pháp 1980 quy định: “Công dân có quyền được bảo vệ sức khỏe. Nhà nước thực hiện chế độ khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền” [25, Điều 61]. Như vậy, có nghĩa là mọi người dân đều có quyền chăm sóc sức khỏe miễn phí, tuy nhiên trong điều kiện đất nước thời kỳ đó, thuốc men và trang thiết bị y tế rất nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn nên các bệnh viện đều quá tải về số bệnh nhân, chất lượng điều trị thì rất thấp.
2.1.4. Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 1992
Năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xây dựng một nhà nước dân chủ, vững mạnh. Cũng trong giai đoạn này Việt Nam thể hiện quyết tâm xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà một trong những tiêu chí của mô hình này là đề cao và bảo đảm các quyền con người. Với tư cách là thành viên của nhiều điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia từ đầu thập kỷ 1980, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong việc nội luật hóa các nội dung của Công ước vào hệ thống pháp luật quốc gia. Điều này được thể hiện tập trung trong Hiến pháp 1992.
Lần đầu tiên kể từ năm 1945, Hiến pháp 1992 đề cập cụ thể đến khái niệm quyền con người: “Ở nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” [26, Điều 50]. Mặc dù quy định này còn gây ít nhiều tranh cãi bởi nó đồng nhất giữa quyền con người và quyền công dân, song việc đề cập cụ thể đến khái niệm quyền con người có thể coi là một bước tiến rất lớn trong lịch sử lập hiến của Việt Nam. Theo GS.TS Nguyễn Đăng Dung, điều này ít nhất mang hai ý nghĩa cơ bản:
- Thứ nhất, đối với cộng đồng quốc tế, đây như một tuyên bố rõ ràng Việt Nam có nhân quyền.
- Thứ hai, đối với nhân dân trong nước, quy định này có tác dụng ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc phải bảo đảm cho nhân quyền được thực hiện trên thực tế [4].
Với nguyên tắc “tôn trọng các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội” đề ra trong Điều 50.
- Hiến pháp năm 1992 quy định các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội như sau
Về quyền kinh tế, Hiến pháp năm 1992 dành tám điều (các Điều 3, 16, 18, 20, 28, 55, 57, 58) quy định 14 quyền kinh tế của công dân (có 12 quyền mới). Các quy định này phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
- Theo đó, Đối với mọi cá nhân công dân, có các quyền sau:
“Được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm” [26, Điều 16]; “được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật” [26, Điều 18]; “chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh; thành lập doanh nghiệp” [26, Điều 20]; “quyền lao động” [26, Điều 55]; “quyền tự do kinh doanh” [26, Điều 57]; “sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác và được Nhà nước bảo hộ quyền này; sở hữu tư nhân đối với vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác và được Nhà nước bảo hộ quyền này” [26, Điều 58].
Đối với cá nhân, công dân mang tư cách nhất định, có “quyền của người sản xuất được Nhà nước bảo hộ quyền lợi và quyền của người tiêu dùng được Nhà nước bảo hộ quyền lợi” [26, Điều 28].
Về các nhóm (tập thể) công dân, có: “quyền của nhân dân làm chủ về kinh tế” [26, Điều 3] và “tổ chức thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm” [26, Điều 16].
Về quyền văn hóa, Các quy định về quyền văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ của công dân.
Hiến pháp 1992 tiếp tục quy định 11 quyền của công dân về văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ, trong bảy quyền đã được quy định trong Hiến pháp năm 1980, bốn quyền mới được bổ sung tại bốn điều (các Điều 5, 32, 59, 60).
Đối với mọi cá nhân, công dân nói chung, Hiến pháp năm 1992 quy định các quyền: “quyền về học tập” [26, Điều 59]; “nghiên cứu khoa học, nghiên cứu kỹ thuật; phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất; sáng tác văn học; sáng tác nghệ thuật; phê bình văn học; phê bình nghệ thuật; tham gia các hoạt động văn hóa khác” [26, Điều 60].
Hiến pháp năm 1992 còn quy định quyền của các dân tộc “được dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình” [26, Điều 5] và quyền của nhân dân “được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị” [26, Điều 32]. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Về quyền xã hội, Hiến pháp năm 1992 dành tám điều (các Điều 56, 61 – 67) quy định 25 quyền xã hội của công dân
Đối với công dân nói chung, có các quyền: “Được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe” [26, Điều 61]; “xây dựng nhà ở; cho thuê nhà; thuê nhà; đươc Nhà nước bảo hộ đối với người thuê nhà; được Nhà nước bảo hộ đối với người có nhà cho thuê” [26, Điều 62]; “quyền bình đẳng nam nữ” [26, Điều 63]; “được Nhà nước bảo hộ hôn nhân gia đình” [26, Điều 64].
Về công dân trong những tư cách nhất định, Hiến pháp năm 1992 quy định các “quyền của viên chức nhà nước được nghỉ ngơi, được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội; quyền của người lao động làm công ăn lương được nghỉ ngơi” [26, Điều 56]; “quyền của lao động nữ được hưởng chế độ thai sản” [26, Điều 63].
Đối với một số công dân trong hoàn cảnh đặc biệt, có: “quyền của nữ viên chức nhà nước và nữ làm công ăn lương được nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương” [26, Điều 63].
Đặc biệt Hiến pháp năm 1992 quy định quyền của một số công dân được hưởng chế độ ưu đãi và chế độ khen thưởng, chăm sóc đặc biệt của Nhà nước – đó là: “thương binh, bệnh binh được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, trong đó đối với bệnh binh; người có công với nước được Nhà nước khen thưởng, chăm sóc” [26, Điều 67].
Đối với công dân thuộc nhóm người cần được Nhà nước, xã hội quan tâm chăm sóc, giúp đỡ hơn hoặc trong tình trạng yếu thế, dễ bị tổn thương, có các quyền:
“Quyền của trẻ em được gia đình, Nhà nước, xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” [26, Điều 65]; “thanh niên được gia đình, Nhà nước, xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí” [26, Điều 66]; “người được Nhà nước và xã hội giúp đỡ; người tàn tật được Nhà nước và xã hội giúp đỡ; trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” [26, Điều 67].
Đối với nhóm (tập thể) cá nhân công dân, Hiến pháp năm 1992 quy định quyền của gia đình liệt sĩ được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước và quyền của gia đình có công với nước được Nhà nước khen thưởng, chăm sóc [26, Điều 67].
- Từ những quy định trên, có thể rút ra một số nhận xét sau:
Hiến pháp năm 1992 đã có những quy định về quyền con người theo tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người, tạo cơ sở pháp lý vững chắc vừa để bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, qua đó là công cụ pháp lý để thể chế thành những chính sách nhằm thực hiện các quy định Hiến pháp đó ở Việt Nam, bảo đảm quyền con người nói chung và các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Ngày 24/09/1982, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966. Gia nhập hai công ước này, Nhà nước Việt Nam thừa nhận các giá trị cao quý của các quyền tự do cơ bản của con người. Đông thời chúng ta từng bước nội luật hóa các quy phạm pháp luật của hai công ước này vào hệ thống pháp luật nước ta.
Cụ thể Hiến pháp 1992, khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” [26, Điều 50]. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, cụm từ “quyền con người” được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp. Với nguyên tắc tôn trọng, các quyền con người, quyền công dân không những tăng thêm về số lượng mà bản thân mỗi quyền được làm rõ hơn về nội dung.
Ví dụ, liên quan đến quyền lao động của công dân, Hiến pháp năm 1992 còn khẳng định trách nhiệm của Nhà nước phải có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động và có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế để tạo nhu cầu thu hút, tuyển dụng lao động. Hay xét về quyền kinh tế, với tinh thần mở cửa hội nhập và phát triển kinh tế, quyền kinh doanh của công dân không những được quy định trong chương quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, mà còn được quy định ở các chương khác, nhất là chương II – chế độ kinh tế.
- Cụ thể, Hiến pháp năm 1992 quy định:
“Nhà nước phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa với cơ cấu nhiều thành phần và các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng” [26, Điều 15]. “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tự nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế, dân sinh” [26, Điều 21].
Chính những quy định này đã có tác động quan trọng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của nền kinh tế Việt Nam trong hai thập kỷ vừa qua. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Đặc biệt, khác với Hiến pháp 1980, các quyền con người về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp năm 1992 được xác định dựa trên những cân nhắc về khả năng thực hiện, nhằm tránh chủ quan duy ý chí. Ví dụ, Hiến pháp 1980 quy định: “công dân có quyền có nhà ở” [25, Điều 62], thì Hiến pháp năm 1992 sửa đổi quy định đó thành: “Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật” [26, Điều 62].
Quy định về khám chữa bệnh không phải trả tiền như Điều 61 Hiến pháp năm 1980: “… Nhà nước thực hiên chế độ khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền” [25, Điều 61]. Trong Hiến pháp năm 1992 kế thừa nhưng sửa đối bằng quy định: “ …Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí…” [26, Điều 61]. Tức là ở đây đề ra cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm, chế độ viện phí có thể được thay đổi, miễn giảm tùy theo quy định của Nhà nước.
Có thể nói, Hiến pháp 1992 – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế có bước tiến lớn trên con đường phát triển và hoàn thiện các quy định Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam tạo cơ sở pháp lý vững chắc vừa để bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam, vừa là công cụ hữu hiệu để giáo dục, nhắc nhở và nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân và của Nhà nước trong việc thực hiện các quy định Hiến pháp đó ở Việt Nam hiện nay [7].
Như vậy xét trên phương diện quyền con người, Hiến pháp 1992, đã phản ánh sự đổi mới tư duy về con người và quyền con người, mà cốt lõi là tư duy đổi mới toàn diện đồng bộ của Đảng và Nhà nước đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986.
Với tinh thần nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người trong đó có các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Ngày 12 tháng 12 năm 2001, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Với việc khẳng định: “Nhà nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân…” [26, Điều 2]. Tinh thần này đã được thể hiện rõ qua nôi dung chương V về “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Điều 59 Hiến pháp 1992 sửa đổi đã quy định theo hướng cụ thể hơn, phù hợp với tình hình mới. Hiến pháp sửa đổi nhấn mạnh tới quyền được học văn hóa và học nghề, quyền của trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được nhà nước và xã hội tạo điều kiện học văn hóa và học nghề phù hợp…
Tuy nhiên bên cạnh những tiến bộ vượt bậc so với các bản Hiến pháp trước đó Hiến pháp năm 1992 mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 nhưng vẫn bộc lộ một số hạn chế như chưa phân định rõ quyền con người với quyền công dân, chưa có cơ chế bảo vệ Hiến pháp.
Vì vậy, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII đã nhất trí thông qua Nghị quyết số 06/2011/QH13 ngày 06 tháng 8 năm 2011 về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thành lập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nhằm xây dựng một bản Hiến pháp mới để đảm bảo tốt hơn các quyền con người, quyền công dân.
2.2. Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Hiến pháp năm 2013 được thông qua tại kỳ họp thứ 6 – Quốc hội khóa XIII có hiệu lực từ ngày 1-1-2014. Hiến pháp năm 2013 kế thừa những nội dung tiến bộ của 4 bản Hiến pháp trước đồng thời chắt lọc, tập hợp trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân. Hiến pháp cũng đã tham khảo, tiếp thu có chọn lọc nhiều nội dung Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, trong Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rất rõ việc Nhà nước ta tôn trọng thực hiện các điều ước quốc tế nói chung. Một nguyên tắc đã được thừa nhận ngay tại Chương I của Hiến pháp là Nhà nước ta “tuân thủ Hiến chương Liên Hợp Quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên” [29, Điều 12].
Quyền con người được quy định trong Chương II của Hiến pháp 2013 là chương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại Chương V của Hiến pháp năm 1992 (Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân), đồng thời chuyển các quy định liên quan đến quyền con người, quyền công dân tại các chương khác của Hiến pháp năm 1992 về chương này. Như vậy,So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới 2013 có những sửa đổi, bổ sung và phát triển thể hiện tầm quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013 được đề cập ở rất nhiều điều, khoản, mục nhất là tại chương II (từ Điều 33 đến Điều 46) cụ thể như sau.
2.2.1. Quyền kinh tế
Theo Hiến pháp 2013, quyền kinh tế được Hiến định và bảo đảm trên thực tế bởi quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm tại Điều 33; Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; quyền bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật giữa các chủ thể thành phần kinh tế được quy định tại Điều 32.
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường.
Cùng với việc quy định về quyền kinh tế cơ bản của con người tại chương II, thì Hiến pháp cũng thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế, được quy định tại chương III các Điều 50, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Điều 55, Điều 57, Điều 62. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Hiến pháp năm 2013 đã hiến định mục tiêu phát triển bền vững, trong đó thể hiện rõ quan điểm là “phát triển kinh tế gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường” [29, Điều 50].
- Về tính chất, mô hình, các thành phần của nền kinh tế Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 xác định
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật [29, Điều 51].
- Vai trò cuả Nhà nước được Hiến pháp năm 2013 đề cập trong các Điều 51, Điều 52 và Điều 53, Theo đó
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước; Nhà nước có vai trò xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật của thị trường; thực hiện sự phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân; Nhà nước còn có chức năng đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đối với các loại tài nguyên thiên thiên, tài sản thuộc sở hữu toàn dân để các loại tài nguyên, tài sản này được sử dụng vì lợi ích của nhân dân.
Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ.Theo đó, Nhà nước chỉ thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật; “Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai” [29, Điều 54].
Về tài chính-tiền tệ, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một điều mới quy định về “ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật” [29, Điều 55].
- Trách nhiệm của Nhà nước trong việc:
“Khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định” [29, Điều 57]; “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” [29, Điều 62]
Ngoài ra, liên quan đến vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, tại các chương về bộ máy nhà nước, Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định nhiệm vụ, quyền hạn tương ứng của Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương, Kiểm toán Nhà nước.
2.2.2. Quyền văn hóa Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Hiến pháp 2013 thể hiện nội dung dân chủ, tiến bộ, đóng góp tích cực trong nền văn hóa nói chung. Các quyền văn hóa có vị trí là nền tảng trí tuệ trong yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước, là nguồn lực tinh thần, có sức mạnh to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Hiến pháp 2013 quy định các quyền văn hóa tại các Điều: Điều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 42.
Về giáo dục, Hiến pháp quy định “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” [29, Điều 39];
Về khoa học và công nghệ, Hiến pháp quy định
- “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó” [29, Điều 40];
- “mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” [29, Điều 41];
Về việc xác định dân tộc, và ngôn ngữ giao tiếp, Hiến pháp quy định “công dân có quyền được xác định dân tộc của mình và sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, và được lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” [29, Điều 42].
Bên cạnh việc quy định các nhóm quyền văn hóa, thì Hiến pháp cũng quy định vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm các quyền đó tại chương III tại các Điều: Điều 60, Điều 61, Điều 62. Theo đó:
Về văn hóa, Hiến pháp tiếp tục khẳng định Nhà nước và xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no , tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe , văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Về giáo dục, Hiến pháp nhấn mạnh giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; đồng thời quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí ; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý; ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề.
Hiến pháp tiếp tục khẳng định phát triển khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; quy định trách nhiệm của Nhà nước bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ.
Các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được bảo đảm thực hiện bởi các quy định tại Chương V quy định “Quốc hội quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước” [29, Điều 96]; Chương VII quy định Chính phủ thống nhất quản lý về kinh tế, xã hội, văn hóa.
2.2.3. Quyền xã hội
Các quyền xã hội: Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 43 Về phúc lợi và an sinh xã hội, Hiến pháp quy định “công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội” [29, Điều 34].
Về lao động, việc làm, Hiến pháp quy định “công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu” [29, Điều 35].
Về quyền kết hôn, ly hôn, Nhà nước quy định “nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện tiến bộ, một vợ, một chồng” [29, Điều 36]. Hiến pháp cũng quy định “quyền của các nhóm đối tượng đặc thù như trẻ em, thanh niên, người cao tuổi” [29, Điều 37]. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Về y tế và bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, Hiến pháp quy định mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh [29, Điều 38].
Hiến pháp ghi nhận “mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người” [29, Điều 43].
Cùng với việc quy định quyền xã hội cơ bản của con người, Hiến pháp 2013 xác định trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực xã hội, cùng với toàn xã hội, bằng các nguồn lực kinh tế-tài chính, đầu tư phát triển các lĩnh vực lao động, việc làm, y tế, phúc lợi và an sinh xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, tại các Điều 57, Điều 58 và Điều 59. Theo đó:
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động, tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với nước; Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác; có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở.
Hiến pháp cũng quy định “ tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại” [29, Điều 63].
2.2.4. Một số nhận xét về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội trong Hiến pháp 2013
- Quyền kinh tế Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Quyền kinh tế được xác lập trong Hiến pháp 2013 có độ mở lớn, liên kết rộng và chặt chẽ, không tách rời với các quyền con người, quyền công dân; đồng thời, có nội dung toàn diện, bao quát đầy đủ các khía cạnh, các quá trình, các hoạt động kinh tế, cả quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp, doanh nhân và công dân. Hiến pháp cũng xác định rõ vai trò và nguyên tắc quản lý nhà nước trong bảo đảm quyền kinh tế, cùng những giới hạn an toàn cần thiết và tiến bộ, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế được nêu trong các văn bản của Liên Hợp Quốc về quyền con người.
Về quyền tự do kinh doanh, Trong Hiến pháp 2013, điểm nhấn quan trọng nhất của quyền kinh tế được Hiến định và bảo đảm trên thực tế bởi quyền tự do kinh doanh. Đây là điểm tiến bộ hơn so với Hiến pháp trước.
Hiến pháp 1992 quy định: “ Công dân có quyền tự do kinh doanh” [26, Điều 57]. Thì trong Hiến pháp 2013 quy định: “ Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” [29, Điều 33] như vậy đã mở rộng hơn về đối tượng được kinh doanh và ngành nghề được kinh doanh tạo điều kiện mọi người tự do kinh doanh làm giàu chính đáng, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội.
Về quyền sở hữu, Hiến pháp quy định tại Điều 32 về sở hữu tư nhân và quyền thừa kế thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác;
Về quyền bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật giữa các chủ thể thành phần kinh tế. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.
Riêng đối với quyền kinh tế gắn quyền sử dụng đất, với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt và quyền tài sản của công dân, doanh nghiệp, tổ chức. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận và bảo hộ quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật.
Nhà nước chỉ thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật. Nhà nước trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết do luật định để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai
Về vai trò của nhà nước, trong việc bảo đảm các quyền kinh tế trong Hiến pháp 2013 được thực hiện trong sự quản lý kinh tế vĩ mô chung của Nhà nước.
Nhà nước thống nhất quản lý và phải sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật các tài sản công và ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia; Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân [29, Điều 52].
Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế – xã hội, quản lý nhà nước. Đây là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia.
Nhà nước bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền quốc gia; có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu. Ðồng thời, Nhà nước phát triển hệ thống an sinh xã hội và tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội; có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác; phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Quyền kinh tế còn được củng cố, bảo đảm bởi quyền được tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động, xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Về việc phối hợp thực hiện các quyền kinh tế, được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước, đại biểu đại diện và bảo vệ quyền lợi người lao động và công dân như: Quốc hội, Chính quyền địa phương, tổ chức Công đoàn, Đại biểu quốc hội…
Thẩm quyền về kinh tế của các cơ quan nhà nước, Hiến pháp 2013 quy định “Quốc hội thực hiện quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, Quốc hội ban hành các luật về kinh tế, quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”… [29, Điều 70].
Chính quyền địa phương, theo quy định của Hiến pháp “có trách nhiệm phát triển kinh tế trên địa bàn do mình quản lý theo thẩm quyền và nhiệm vụ được cơ quan nhà nước cấp trên giao” [29, Điều 112].
Việc tham gia kiểm soát các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lực kinh tế, giúp Quốc hội giám sát việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế và ngân sách nhà nước là cơ quan Kiểm toán nhà nước. Kiểm toán nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập, có trách nhiệm kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công và báo cáo kết quả kiểm toán trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Theo Hiến pháp 2013, Công đoàn Việt Nam đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Ðại biểu Quốc hội đại diện cho lợi ích cử tri, phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của đại biểu và của Quốc hội; trả lời yêu cầu và kiến nghị của cử tri; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.
Bên cạnh đó, quyền kinh tế còn được hỗ trợ bởi quyền người dân được bảo đảm an sinh xã hội; quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
- Quyền văn hóa
Về quyền văn hóa, lần đầu tiên Hiến pháp hiến định về
Quyền văn hóa của con người trong Hiến pháp 2013 chứng tỏ Nhà nước ta đã có sự nhìn nhận rất mới về các giá trị văn hóa, quán triệt tinh thần nhất quán của Đảng xác định văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, là sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước; đồng thời thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ là Văn hóa soi đường cho quốc dân đi [20].
Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa [29, Điều 41].
- Quyền văn hóa ở Điều này thể hiện ở bốn khía cạnh
Thứ nhất, Quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa. Hưởng thụ đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần là một nhu cầu chính đáng và quyền cơ bản của con người. Con người không chỉ có nhu cầu cơm ăn nước uống và các nhu cầu thiết thân khác, mà còn có quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa do dân tộc và nhân loại sáng tạo ra trong lịch sử. Được quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa chính là một trong những yếu tố cơ bản để góp phần không ngừng xây dựng, bồi đắp, hoàn thiện những phẩm chất nhân cách cao đẹp cho con người, làm cho con người ngày càng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.
Thứ hai, quyền tham gia vào đời sống văn hóa, tức là, việc tham gia vào đời sống văn hóa không phải là “quyền riêng” của lực lượng văn nghệ sĩ và những người làm công tác quản lý văn hóa, văn nghệ như cách hiểu bấy lâu nay, mà mọi người dân Việt Nam, không phân biệt tuổi tác, giới tính, giai cấp, thành phần, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng… đều có thể và có quyền tham gia tất cả các hoạt động văn hóa theo khả năng, sở thích, nhu cầu, sở trường, mong muốn của mình. Việc mọi người được tham gia vào đời sống văn hóa sẽ góp phần làm phong phú đời sống tinh thần cho mỗi cá nhân và toàn xã hội
Thứ ba, Quyền sử dụng các cơ sở văn hóa. Thực chất của quyền này là xác lập quyền sở hữu toàn dân về các cơ sở văn hóa, các thiết chế văn hóa mà Nhà nước, xã hội và cộng đồng đã xây dựng để phục vụ nhu cầu học tập, vui chơi, giải trí của mình;
Thứ tư, Quyền tiếp cận các giá trị văn hóa. Văn hóa là những giá trị tốt đẹp đã được hình thành, kết tinh, hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, là thành quả lao động sáng tạo của thế hệ này tiếp thế hệ khác. Do vậy, mỗi công dân không chỉ có quyền nghiên cứu, tiếp cận các giá trị văn hóa của dân tộc mình, mà còn được tiếp cận, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác trên thế giới. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Về quyền dân tộc thiểu số, Hiến pháp lần đầu tiên quy định quyền mới: “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” [29, Điều 42]. Điều này đã thể hiện quan điểm giữ gìn thuần phong mỹ tục của mỗi nền văn hóa, mỗi dân tộc trong đất nước, đồng thời thể hiện nguyên tắc tự do, dân chủ. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Trong lịch sử, các dân tộc trên đất nước đã cùng đoàn kết trong sự nghiệp dựng nước, và giữ nước lâu dài. Việc tôn trọng, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc càng làm phong phú thêm văn hóa Việt Nam và cũng là khẳng định quyền của các dân tộc thiểu số, góp phần vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc. Quy định này còn là cơ sở pháp lý để xây dựng bộ tiêu chí xác định và xác định lại thành phần dân tộc.
Về quyền học tập, Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” [29, Điều 39]. Quy định trên tiếp tục khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước trong việc ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục, ưu tiên sử dụng phát triển nhân tài.
Cùng với quy định về chế định giáo dục của nước ta đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc phát triển giáo dục đào tạo, coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Các quy định trên đã khái quát được hệ thống giáo dục quốc dân bào gồm các cấp học, các loại hình nhà trường; phát triển giáo dục đồng đều giữa các vùng miền, ưu tiên những vùng ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; quan tâm đến đối tượng là người khuyết tật và người nghèo. Đặc biệt, việc xã hội hóa giáo dục được ưu tiên nhằm huy động các nguồn lực khác trong xã hội đầu tư cho giáo dục và đào tạo.
Như vậy, quyền kinh tế, văn hóa, xã hội nói riêng, quyền con người và quyền công dân nói chung được thực hiện không tách rời nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước và xã hội vì lợi ích chung, bảo đảm an toàn xã hội theo yêu cầu phát triển bền vững.
Ðây cũng là điều kiện để Việt Nam thực hiện tốt những quy định về quyền con người, quyền công dân, đáp ứng các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia thành viên LHQ, đặc biệt là thành viên Hội đồng Nhân quyền trong nhiệm kỳ 2014 – 2016. Nhận thức đúng đắn và hiểu rõ những hiến định mới về nhóm về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong Hiến pháp là chìa khóa giúp nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn về quyền con người, quyền công dân và môi trường kinh tế, xã hội, văn hóa ở Việt Nam; củng cố lòng tin của cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp, các tổ chức trong nước và quốc tế về chủ trương, chính sách quản lý của Nhà nước và triển vọng kinh tế đất nước; cũng như là hiểu về một nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam bác bỏ những định kiến, ngộ nhận và làm thất bại những giải thích vu khống, bóp méo, xuyên tạc thiếu thiện chí của một số thế lực thù địch, âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
- Quyền xã hội
Về an sinh xã hội, Hiến pháp 2013 ghi nhận việc công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội tại Điều 34 là quyền mới chưa được ghi nhận trong các bản Hiến pháp trước đây. Có thể thấy, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc ghi nhận công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội là tất yếu. Đây chính là cơ sở hiến định để công dân bảo đảm có được thu nhập tối thiểu nhằm thoát khỏi tình trạng nghèo đói khi không có việc làm, không có thu nhập.
Quy định này đã thêm một lần nữa khẳng định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, đồng thời thể hiện một bước phát triển mới trong việc bảo đảm thực hiện các quyền công dân của Nhà nước và là cơ sở hiến định để Nhà nước xây dựng một hệ thống duy trì thu nhập do Nhà nước quản lý nhằm bảo đảm cho công dân được hưởng quyền về an sinh xã hội, bảo đảm cho công dân có được thu nhập tối thiểu nhằm thoát khỏi tình trạng nghèo đói khi không có việc làm hoặc không có thu nhập.
Về lao động việc làm, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định quyền làm việc, được tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc của công dân tại Điều 35, thừa nhận là một quyền tự nhiên của con người, được Nhà nước bảo đảm, hoàn toàn phù hợp với tinh thần chung của Công ước số 122 – Công ước về chính sách việc làm mà Việt Nam chuẩn bị tham gia.
Hiến pháp 2013 ghi nhận nhiều nội dung mới có tính nguyên tắc như: “mọi người đều có quyền bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” [29, Điều 16]. Cùng với đó,, Hiến pháp quy định về quyền lao động, quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc, quyền của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ và cụ thể về trách nhiệm của các bên liên quan (như Nhà nước, người sử dụng lao động) trong việc bảo đảm cho công dân có điều kiện thực hiện được đầy đủ quyền của mình và vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, thị trường đối với vấn đề lao động, việc làm, tiền lương và an toàn vệ sinh lao động. Nhà nước có chính sách khuyến khích và phát huy vai trò của các chủ thể kinh tế trong kinh tế thị trường, đột phá vào phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, tạo động lực mới cho tăng trưởng với chất lượng cao hơn, nhằm giải phóng triệt để sức lao động, đột phá vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển thị trường lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
Về bảo vệ môi trường, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [29, Điều 43]. Như vậy, có thể thấy rõ, việc bảo vệ môi trường sống đã được chú trọng, Đảng và Nhà nước đã nhận thức tầm quan trọng của phát triển bền vững để tiến tới một xã hội có môi trường xanh, sạch, đẹp, phát triển kinh tế – xã hội. Quy định về quyền môi trường có những ưu điểm sau.
Từ phương diện xây dựng pháp luật, quy định về quyền môi trường trong Hiến pháp sẽ tạo cơ sở hiến định vững chắc cho các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực bảo vệ môi trường sau này của Việt Nam. Không những vậy, nó còn thể hiện định hướng xây dựng chính sách và pháp luật là coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường, mà còn là một trong những mục tiêu quan trọng của Nhà nước. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Từ phương diện áp dụng pháp luật, quyền này trong Hiến pháp cũng sẽ được coi là căn cứ khi người dân muốn khiếu nại, tố cáo, khởi kiện liên quan đến các vấn đề môi trường. Một tác dụng khác của việc quy định là tạo cơ sở để người dân và địa biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước liên quan đến vẫn đề môi trường.
Thực tế ở Việt Nam cho thấy, không chỉ các sự án tư nhân mà ngay cả, những kế hoạch, quy hoạch, dự án của Nhà nước cũng đã gây nhiều tác động xấu đến môi trường của người dân. Thực tiễn đòi hỏi người dân và các đại biểu của người dân phải được trao quyền giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước khi chúng có nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường [6].
Cùng với việc quy định về quyền thì Hiến pháp cũng quy định đồng thời nghĩa vụ của công dân phải bảo vệ môi trường. Nguyên tắc người gây thiệt hại môi trường phải khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại được ghi nhận: “Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại” [29, Điều 63, khoản 3]. Đây là nguyên tắc thể hiện rõ nét nhất biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường, dùng lợi ích kinh tế tác động vào chính hành vi của các chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường.
Đây là một tiến bộ trong lịch sử lập hiến của Việt Nam. Tuy nhiên, xuất phát từ những điều kiện xã hội đặc thù của Việt Nam, quy định về quyền này về cách thích trình bày, định hướng giải thích và mối quan hệ với quyền khác cần phải được xem xét và nghiên cứu kỹ hơn và rõ ràng hơn để chủ thể có thể tiếp cận thông tin một cách trực tiếp, đặc biệt là được hưởng thụ quyền một cách trực tiếp.
Về quyền các nhóm trẻ em, thanh niên người cao tuổi, Hiến pháp mới bổ sung và quy định rõ hơn quyền của các nhóm đối tượng này. Cụ thể, Hiến pháp quy định rõ:
Trẻ em có quyền được tham gia vào các vấn đề liên quan tới trẻ em; nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em; người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [29, Điều 37].
Như vậy, Hiến pháp mới đã tiếp cận căn bản các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, thậm chí có một số nội dung rất tiến bộ so với tiêu chuẩn quốc tế. Quyền con người cũng không chỉ đề cập ở Chương II mà ở nhiều chương khác. So với Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp mới đã tách bạch quyền con người và quyền công dân. Đây là nhận thức đúng, quyền con người là đối với mọi người, còn công dân thì chỉ là người Việt Nam mà không bị tước quyền công dân
Tuy nhiên, trong một số quy định về quyền con người cũng như việc thực thi quyền kinh tế, xã hội, văn hóa vẫn không tránh khỏi những thiếu sót và chưa phù hợp so với các tiêu chuẩn tiêu chuẩn quốc tế. Sự thiếu sót đó thể hiện ở một số điểm sau:
Thứ nhất, cách quy định về nội dung trong một số quy định “quyền và nghĩa vụ không thể tách rời” trong một số quy định.
Quy định “ quyền và nghĩa vụ không thể tách rời” vốn được quy định trong các bản Hiến pháp trước đây, và nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, cách quy định chưa thực sự hợp lý.
Hiến pháp 2013 quy định: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” [29, Điều 15] quy định trên không có nội hàm thực chất, quy định chỉ mang tính hình thức, đặc biệt trong quá trình thực hiện, áp dụng vào thực tiễn thực chất là không khả thi. Trong quy định về quyền học tập tại Điều 39 “Công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” [29, Điều 39]. Theo logic thì quyền sẽ gắn với một nghĩa vụ tương ứng, vậy công dân có quyền và đồng thời có nghĩa vụ học tập, vậy nếu công dân không học tập thì sao? Có chế tài xử phạt nếu công dân không hoàn thành nghĩa vụ học tập không? Để hoàn thành nghĩa vụ học tập thì công dân phải học như thế nào là đủ?… Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Trên thực tế, thì hiện nay ở nước ta trẻ em bỏ học ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn cũng rất nhiều, Thống kê của ngành Giáo dục và Đào tạo cho biết, kết thúc học kỳ I năm học 2013-2014, cả nước có tới 479 học sinh bỏ học (chưa kể hệ bổ túc trung học phổ thông xã, cụm xã) [40].
Như vậy, nghĩa vụ học tập trên thực tế được áp dụng ra sao, quy định như vậy phải chăng chỉ là hình thức!
Thứ hai, quy định về giới hạn quyền
Hiến pháp Việt Nam năm 2013 qui định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng” [29, Điều 14]. Đây là một qui định rất mới, một bước tiến mới của Hiến pháp, vì lần đầu tiên trong Hiến pháp có một qui định về giới hạn các quyền cơ bản.
Xét về bản chất, quyền con người là những quyền tự nhiên vốn có của con người, là quyền mà tất cả mọi người đều được hưởng vì vậy có ý kiến cho rằng không nên quy định giới hạn quyền, vì như vậy không đúng với vai trò của Hiến pháp là bảo vệ quyền con người, và đồng thời quan trọng hơn là quyền con người bị giới hạn tức là đã bị các nhà nước kiểm soát. Tuy vậy, theo quy định trong một số điều ước quốc tế về quyền con người thì giới hạn quyền được ghi nhận cho phép các quốc gia thành viên thực hiện và hưởng thụ một số quyền nhất định xuất phát từ thực tế cuộc sống. Và do vậy, giới hạn quyền đã được ghi nhận trong Hiến pháp của nhiều quốc gia trong một số điều luật.
Tuy vậy, để tránh những sự lạm dụng và sai sót, việc hiến định về vấn đề này trong Hiến pháp cần phải phù hợp hoàn toàn với quy định liên quan trong luật nhân quyền quốc tế.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và Điều 4 ICESCR xác lập một quy định giới hạn chung áp dụng cho tất cả các quyền trong công ước, Theo đó, giới hạn quyền chỉ có thể được quy định bởi luật nhằm các mục đích: “tôn trọng những quyền và tự do của người khác; đáp ứng những yêu cầu về trật tự công cộng, đạo đức và phúc lợi của cộng đồng trong một xã hội dân chủ” [32, Điều 29]. Theo các Điều 19, 21, 22 ICCPR, chỉ với các quyền tự do biểu đạt, quyền hội họp hòa bình và quyền tự do lập hội thì mục đích của sự giới hạn mới bao gồm cả việc bảo vệ an ninh quốc gia.
Theo luật nhân quyền quốc tế, yếu tố bảo vệ an ninh quốc gia chỉ có thể được coi là mục đích cho việc giới hạn ba quyền tự do biểu đạt, hội họp hòa bình và lập hội (khi thực sự cần thiết theo các tiêu chuẩn của một xã hội dân chủ) chứ không thể được đưa vào quy định có tính chất là một nguyên tắc chung về giới hạn mọi quyền như khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 [42].
Thứ ba, Thiếu một số quyền tự do quan trọng Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
Việt Nam là thành viên của cả hai công ước ICCPR và ICESCR từ năm 1982, như vậy, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ “những chuẩn mực nhân quyền quốc tế tối thiểu” được ghi nhận trong hai công ước này, mà đầu tiên là phải “nội luật hóa” vào Hiến pháp.
Một số quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được nêu trong ICECSR, tuy nhiên không được ghi nhận trong Hiến pháp bao gồm: Quyền đình công tại khoản 1, Điều 18 ICESCR ; Quyền thành lập, gia nhập công đoàn tại Điều 22 ICCPR và Điều 18 ICESCR
Các quyền trên là những quyền tự nhiên đã được ghi nhận và bảo vệ trong luật nhân quyền quốc tế vì vậy nghĩa vụ của Việt Nam cần phải ghi nhận các quyền đó trong Hiến pháp.
Thứ tư, Về cơ chế bảo hiến
Hiến pháp 2013 chưa quy định một thiết chế hiến định độc lập để có thể bảo vệ quyền con người.
Điều 2, Khoản 3(b) ICCPR Đối với cơ chế bảo đảm thực thi quyền, luật nhân quyền quốc tế yêu cầu các quốc gia thành viên phải có những cơ chế, biện pháp khác nhau, không chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước, để bảo đảm những người dân bị vi phạm quyền được “khắc phục hiệu quả”, kể cả khi bị xâm phạm do các cơ quan hay nhân viên nhà nước thực hiện
Ý nghĩa quan trọng và vị trí tối thượng của Hiến pháp chính là nguồn gốc phát sinh vấn đề bảo vệ, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp,và là cơ sở hình thành cơ chế bảo hiến, việc không quy định thành lập cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong Hiến pháp làm cho vấn đề này khó có thể được thực hiện đầy đủ. Luận văn: Thực trạng quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp quyền kinh tế văn hóa xã hội trong hiến pháp

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Quyền kinh tế văn hóa xã hội qua các bản hiến pháp