Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) cho thấy gắn liền với việc giải quyết các quan hệ nhân thân là các quan hệ về tài sản của vợ chồng mà cụ thể là việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng… Có thể nói, trong vụ kiện ly hôn có yêu cầu chia tài sản là nhà, đất luôn là loại việc thường xảy ra tranh chấp gay gắt. Bởi vì đối với người Việt Nam, nhà ở và quyền sử dụng đất có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ về mặt giá trị mà đó là nơi trú ngụ, là nguồn sống, nguồn kinh tế cơ bản, chủ yếu của bản thân và gia đình. Ngoài ra, việc phân chia nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn không chỉ đụng chạm đến quyền lợi thiết thân của các bên đương sự về mặt vật chất mà còn liên quan đến quyền lợi của người thứ ba, thậm chí của Nhà nước. Cho nên nếu giải quyết vấn đề này không hợp tình, hợp lý sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của cá nhân, gây nên tình trạng mất đoàn kết giữa các bên đương sự, đồng thời ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội.

Do đó muốn giải quyết đúng đắn vấn đề tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn, Tòa án phải tiến hành điều tra, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của các bên đương sự, phải nắm vững nguồn gốc nhà và đất, hoàn cảnh sống của con cái, tình trạng sinh sống cụ thể của gia đình mới có thể ra quyết định đúng đắn trong mỗi bản án của mình. Ngoài ra, trong việc áp dụng pháp luật, Tòa án cũng phải xem xét kỹ lưỡng, vận dụng nhiều văn bản quy phạm pháp luật không chỉ là Luật HN&GĐ, Luật Đất đai (LĐĐ) mà còn phải xem xét Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật Nhà ở, Luật Cư trú… và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trong giai đoạn hiện nay, việc giải quyết đúng đắn các vụ kiện ly hôn về tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt to lớn. Việc giải quyết tranh chấp về bất động sản khi ly hôn phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ như: Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng, nguyên tắc bảo đảm quyền lợi của người vợ và con chưa thành niên, nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em… khẳng định quyền sở hữu của cá nhân trong Bộ luật dân sự , đồng thời đảm bảo sự công bằng về lợi ích của các bên đương sự, góp phần bình ổn xã hội dân sự, đảm bảo thống nhất quản lý đất đai của nhà nước.

Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất trong các vụ án ly hôn gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Một phần do quy định chồng chéo của các văn bản pháp luật, một phần do trình độ yếu kém, chưa đồng đều của các cán bộ Tòa án. Điều đó, dẫn đến tình trạng các đương sự không đồng ý với bản án sơ thẩm và nộp đơn phúc thẩm tạo nên sự quá tải của tòa cấp phúc thẩm, từ đó kéo theo một số hệ lụy khác như: Việc giải quyết án chậm, kém chất lượng, gây tốn kém tiền của, công sức…

Nhận thấy việc giải quyết các tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất trong các vụ án ly hôn có vai trò quan trọng, là một đề tài phong phú, có ý nghĩa thiết thực trong đời sống nên tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn” làm luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn góp phần hoàn thiện pháp luật.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Mục đích của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các qui định của luật thực định về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn, tìm hiểu thực tiễn áp dụng luật thực định để giải quyết các tranh chấp về nhà ở và quyền sử dụng đất trong hoạt động xét xử ly hôn của Tòa án. Từ đó, tìm hiểu những qui định bất cập, chưa cụ thể, trên cơ sở đó có những nhận xét, kiến nghị về hướng hoàn thiện pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.

  • Luận văn được thực hiện với các nhiệm vụ sau:

Nghiên cứu những vấn đề lý luận trong việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng. Luận văn phân tích những quy định của pháp luật làm căn cứ giải quyết tranh chấp, nguyên tắc giải quyết tranh chấp, cơ chế giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn; phân tích tính kế thừa và phát triển, cũng như những điểm mới qui định về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 từ đó nêu lên ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn đối với gia đình và xã hội.

Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất qua hoạt động xét xử của Tòa án. Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng khi ly hôn;

Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn theo luật thực định, luận văn nêu một số kiến nghị đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung các qui định trong Luật HN&GĐ năm 2000 nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.

Từ những nhiệm vụ trên đây, luận văn được nghiên cứu chủ yếu trong phạm vi luật thực định qui định và việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật hiện hành trong giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn và việc vận dụng các quy định đó thông qua nghiên cứu một số án trong thực tiễn xét xử của Tòa án.

Phạm vi nghiên cứu: Giải quyết tranh chấp về nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn thực chất là xác định và chia tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn, cũng như xác định tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất của người thứ ba có liên quan trong các giao dịch về tài sản với vợ chồng khi giải quyết ly hôn. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định có liên quan đến tài sản là bất động sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐ năm 2000, Bộ luật dân sự năm 2005, LĐĐ năm 2003… Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

4. Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý từ trước đến nay, ở nước ta có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề ly hôn trong đó bao gồm vấn đề tranh chấp tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng. Đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn” đã được nghiên cứu, tìm hiểu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau dưới nhiều hình thức như luận văn; khóa luận tốt nghiệp như: Đề tài “Xác định tài sản chung, tài sản riêng đối với quyền sử dụng đất của vợ chồng trong tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn” của nhóm A1 – HS30A Trường Đại học Luật Hà Nội. Ngoài ra, vấn đề này còn được nghiên cứu, bình luận, trao đổi thông qua các bài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành như: Nghiên cứu lập pháp, Luật học, Dân chủ và pháp luật, Nhà nước và pháp luật…

Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách tổng thể những khía cạnh pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn và thực tiễn áp dụng pháp luật là một cách tiếp cận mới về vấn đề này mà hiện nay chưa được khai thác sẽ là nét riêng của luận văn.

5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

  • Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến pháp luật giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn;

Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu qui định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp luật của một số nước khác qui định về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn. Qua đó, nêu lên ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn đối với gia đình và xã hội;

Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn hoạt động xét xử của ngành Tòa án, với các số liệu cụ thể giải quyết các tranh chấp từ quan hệ HN&GĐ liên quan đến tài sản giữa vợ và chồng đặc biệt là nhà ở và quyền sử dụng đất. Tìm ra mối liên hệ giữa các qui định của pháp luật với thực tiễn áp dụng đã phù hợp hay chưa? Các lý do? Từ đó xem xét nội dung qui định của pháp luật về giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn, với thực tiễn của đời sống xã hội nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.

6. Ý nghĩa khoa học và điểm mới của đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Luận văn nghiên cứu và chỉ ra những cơ sở lý luận cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp về nhà ở, quyền sử dụng đất giữa vợ chồng khi ly hôn. Đó là căn cứ, nguyên tắc, cơ chế giải quyết tranh chấp nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn và ý nghĩa của việc giải quyết này đối với cá nhân, gia đình và xã hội.

Luận văn đã phân tích và chỉ ra những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về nhà ở, quyền sử dụng đất giữa vợ chồng khi ly hôn, qua việc phân tích các vụ án xét xử trong thực tế tại các Tòa án. Sự phân tích thực tế xét xử các vụ việc cụ thể qua hoạt động xét xử của Tòa án đảm bảo tính thực tiễn và thuyết phục cho việc đưa ra các kiến nghị sửa đổi bổ sung hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Ngoài ra luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập khoa học Luật HN&GĐ.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về giải quyết tranh chấp nhà ở, quyền sử dụng đất giữa vợ chồng khi ly hôn.
  • Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về nhà ở, quyền sử dụng đất giữa vợ và chồng khi ly hôn.
  • Chương 3: Những vướng mắc bất cập và kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả việc giải quyết tranh chấp nhà ở, quyền sử dụng đất giữa vợ chồng khi ly hôn.

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN

1.1 CĂN CỨ PHÁP LÝ XÁC ĐỊNH NHÀ Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÀ TÀI SẢN CHUNG, TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

1.1.1. Căn cứ pháp lý xác định nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng

Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng, theo đó tài sản chung của vợ chồng gồm:

  • Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân;
  • Thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là: Tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ, chồng có được hoặc tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định Bộ luật dân sự năm 2005;
  • Các tài sản mà vợ chồng mua sắm được bằng thu nhập nói trên;
  • Tài sản mà vợ chồng được tặng, cho chung hoặc thừa kế chung;
  • Tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn hoặc những tài sản mà vợ hoặc chồng được thừa kế riêng hay được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân được vợ chồng đã thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung hoặc theo pháp luật quy định là tài sản chung.

Theo đó, Điều 219 của Bộ luật dân sự  năm 2005 và Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung. Do vậy, bình thường chúng ta không thể xác định được phần tài sản nào là của vợ, phần tài sản nào là của chồng trong khối tài sản chung hợp nhất, chỉ khi nào có sự phân chia tài sản chung của vợ chồng như chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hay trong trường hợp ly hôn thì mới xác định được phần tài sản của từng người trong khối tài sản chung đó [13]. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Riêng đối với tài sản là quyền sử dụng đất được quy định riêng tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000: “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận…” [20].

Như vậy, nhà ở và quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng được xác định trong ba trường hợp:

  • Nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng do lao động của vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân;
  • Nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng do vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung trong thời kỳ hôn nhân.
  • Nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản chung cửa vợ chồng do sự thỏa thuận của vợ chồng.

Để xác định nhà ở và quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng có thuộc một trong ba trường hợp trên hay không thì cần căn cứ vào ba yếu tố sau:

  • Thứ nhất, căn cứ vào thời điểm nhà ở, quyền sử dụng đất phát sinh khi có sự tồn tại của quan hệ hôn nhân.

Việc xác định thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân (cũng là thời điểm phát sinh khối tài sản chung của vợ chồng), theo nguyên tắc chung dựa trên cơ sở giấy chứng nhận kết hôn bởi lẽ giấy chứng nhận kết hôn ghi rõ thời điểm quan hệ vợ chồng được nhà nước công nhận do đó nó có ý nghĩa quan trọng trong thực tế giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng. Ngoài ra, đối với một số trường hợp đặc biệt nam nữ chung sống như vợ chồng trong quan hệ”hôn nhân thực tế” được quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về thi hành Luật HN&GĐ năm 2000. Theo đó, việc chung sống như vợ chồng được coi là có quan hệ hôn nhân và được xác định như sau:

  • Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của LHN&GĐ năm 2000.
  • Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của LHN&GĐ năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

Vấn đề xác định đúng quan hệ hôn nhân, thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp tài sản nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn. Bởi lẽ, chỉ những quan hệ hôn nhân được nhà nước công nhận khi có yêu cầu ly hôn thì được tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn, còn đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng nên nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; và không phải là vụ án ly hôn mà sẽ được giải quyết thông qua một bản án dân sự khác (nếu có tranh chấp). Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Ngoài ra, xác định chính xác thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân là cơ sở chứng minh tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất đó phát sinh trong thời kỳ hôn nhân hay trước hoặc sau thời kỳ hôn nhân. Từ đó làm cơ sở xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi có tranh chấp.

  • Thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh tài sản.

Căn cứ vào Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 thì nhà ở, quyền sử dụng đất mà vợ chồng “có” được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng theo quy định Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03-10-2001 quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ (sau đây gọi tắt là Nghị định 70/2001/NĐ-CP) số gồm:

Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hay chồng được Nhà nước giao kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ chồng (các quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất làm lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở được Nhà nước giao đất chuyên dùng).

Trong thời kỳ hôn nhân nếu vợ chồng hoặc một bên vợ, chồng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất bao gồm cả đất ở, đất nông nghiệp trồng cây, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất làm muối… thì các loại đất này cũng được xác định là tài sản chung. Việc xác định tài sản chung căn cứ dựa trên nguồn gốc phát sinh là đất được giao cho một bên vợ, chồng hoặc giao cho cả hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chứ không căn cứ dựa trên nhu cầu sử dụng thực tế (Điều 24, 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP).

Ví dụ: Sau khi kết hôn, người chồng đi làm ăn buôn bán xa, còn người vợ ở nhà làm vườn. Năm 2004, người vợ được nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây. Căn cứ theo quy định trên thì quyền sử dụng đất nông nghiệp mà người vợ được giao là tài sản chung của hai vợ chồng. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Như vậy, mặc dù đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối… chỉ được giao cho một bên nhưng thời điểm giao đất đó trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn thuộc tài sản chung của vợ chồng. Điều này không phụ thuộc vào việc người chồng hoặc người vợ có trực tiếp sử dụng đất đó hay không. Khi vợ chồng ly hôn, Tòa án sẽ xem xét vấn đề nhu cầu sử dụng đất, đảm bảo tính năng công dụng của đất để phân chia quyền sử dụng đất trên hợp lý, hợp tình.

  • Nhà ở, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được Nhà nước cho thuê.

Nhà ở, quyền sử dụng đất mà vợ chồng hoặc mỗi bên vợ chồng thuê của nhà nước sau khi kết hôn là tài sản chung của hai vợ chồng. Do đó, khi ly hôn, tài sản trên phải được chia theo quy định của pháp luật. Tùy theo phương thức thanh toán tiền đối với nhà nước là trả tiền thuê hàng năm hay trả tiền thuê một lần và nhu cầu sử dụng, mức độ đầu tư vào tài sản của cả hai vợ chồng mà Tòa án có sự phân chia theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP.

  • Nhà ở, quyền sử dụng đất mà hai vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;

Trong thực tế cuộc sống cho thấy, ở Việt Nam hầu hết quan hệ vợ chồng đều được xây dựng bắt nguồn từ yếu tố tình cảm, tình yêu. Do đó khi cuộc sống hòa thuận hạnh phúc, vợ chồng thường không phân biệt tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng. Cả vợ và chồng đều mong muốn sử dụng các loại tài sản nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, của vợ chồng; giữa vợ chồng thường không phân biệt “ranh giới” giữa tài sản chung và tài sản riêng; không phân biệt “của anh, của tôi”. Sau nhiều năm tháng chung sống trong quan hệ vợ chồng, cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng tài sản chung của vợ chồng. Đặc biệt với tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất là tài sản lớn, là một yếu tố góp phần tạo nên một gia đình. Trong quá trình chung sống, để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt thông thường vợ chồng sẽ có sự đầu tư, cơi nới xây dựng lại nhà ở. Tuy nhiên, khi có tranh chấp, giữa vợ chồng khó chứng minh được nhà ở, quyền sử dụng đất đó thuộc khối tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Vì vậy, trên nguyên tắc bảo đảm quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu (theo Điều 164 Bộ luật dân sự  năm 2005) giữa vợ chồng có thể thỏa thuận cho rằng nhà ở, quyền sử dụng đất đó là tài sản chung của vợ chồng hoặc là tài sản riêng của vợ, chồng hoặc thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Việc vợ, chồng tự nguyện nhập nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng phải bằng văn bản theo điều 32 khoản 2 Luật HN&GĐ năm 2000 và khoản 1 Điều 13 Nghị định 70/2001/NĐ-CP. Thực tế giải quyết các tranh chấp về nhà ở và quyền sử dụng đất giữa vợ chồng cho thấy nhiều trường hợp xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng để chia, đâu là tài sản riêng của vợ, chồng vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, do tính chất phức tạp của quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Do tính chất cộng đồng của hôn nhân chi phối, nhiều trường hợp tài sản riêng của một bên đã được bảo đảm cho nhu cầu chung của gia đình mà không còn nữa; hoặc có sự chuyển hóa, trộn lẫn giữa các loại tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng trong quá tình sử dụng dẫn tới các ranh giới (căn cứ) ban đầu về tài sản chung và tài sản riêng giữa vợ chồng không còn nữa và rất khó xác định [8, tr. 99-100]. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Xuất phát từ thực trạng đó, nhằm bảo đảm nguyên tắc công bằng và hợp lý, khoản 3 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 đã dự liệu: “Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung” [20].

Đây là nguyên tắc suy đoán về nguồn gốc tài sản của vợ chồng, lần đầu tiên được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000 của Nhà nước ta (trước đây Luật HN&GĐ năm 1986 không quy định cụ thể về nguyên tắc này). Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc chứng minh thuộc về các bên đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004.

  • Nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng được chuyển đổi, chuyển nhượng, nhận thế chấp.

Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, nhà ở, quyền sử dụng đất do vợ chồng nhận thế chấp, chuyển đổi, chuyển nhượng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này [20].

Theo đó trong thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng xác lập giao dịch dân sự được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thế chấp là nhà ở, quyền sử dụng đất phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng. Việc thỏa thuận của hai vợ chồng được hiểu là có chữ ký của cả hai vợ chồng trong hợp đồng, hoặc có văn bản ủy quyền giữa hai vợ chồng khi thực hiện giao dịch dân sự đó. Trong trường hợp giao dịch dân sự đó được một bên vợ hoặc chồng xác lập trong thời kỳ hôn nhân mà không có sự đồng ý của người chồng hoặc người vợ thì giao dịch dân sự đó được xem là vô hiệu do bị lừa dối, giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức theo Điều 132, Điều 134 Bộ luật dân sự  năm 2005. Trừ trường hợp việc xác lập giao dịch dân sự đó được được thực hiện bằng tài sản riêng của người vợ hoặc người chồng. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Ngoài ra, đối với giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức pháp luật cho phép các bên thời hạn để thực hiện quy định về hình thức, do đó trong trường hợp mà hợp đồng chỉ một bên vợ hoặc chồng xác lập nhưng khi có tranh chấp, hai vợ chồng thừa nhận đó là tài sản chung và cùng đồng ý thực hiện hợp việc chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận thế chấp trên thì giao dịch dân sự đó vấn được công nhận và các bên phải làm lại hợp đồng theo quy định của pháp luật (Điều 137 Bộ luật dân sự  năm 2005).

Ví dụ: Vợ chồng A và B có 500 triệu tiền tiết kiệm, A đã dùng số tiền này để kinh doanh và có lợi nhuận là 2 tỷ đồng. A dùng số tiền này để ký hợp đồng nhận chuyển nhượng căn nhà của D ở quận Đống Đa và cho bà C ở. Do mâu thuẫn, A và B làm thủ tục ly hôn. Khi ly hôn, A cho rằng căn nhà trên là tài sản riêng của A bởi hợp đồng do một mình A đứng tên nhận chuyển nhượng. B cho rằng căn nhà đó được mua từ tài sản chung của hai vợ chồng nên đó là tài sản chung của vợ chồng. Do A không chứng minh được căn nhà trên được mua bằng tài sản riêng của mình nên Tòa án tuyên căn nhà trên thuộc tài sản chung của hai vợ chồng. Và vì bà B không yêu cầu hủy hợp đồng nhận chuyển nhượng trên do vô hiệu về hình thức và đồng ý nhận chuyển nhượng căn nhà trên đồng thời yêu cầu muốn được ở căn nhà đó nên Tòa án quyết định căn nhà trên vẫn thuộc tài sản chung của hai vợ chồng buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn.

  • Quyền sử dụng đất của vợ chồng được giao chung với hộ gia đình.
  • Nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung.

Việc nhà ở, quyền sử dụng đất vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung là trường hợp xác lập tài sản chung của vợ chồng dựa trên quyền định đoạt của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế (Điều 631 Điều 687 Bộ luật dân sự  năm 2005).

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng (có thể) được người khác (những người thân thuộc trong gia đình hoặc bạn bè) tặng cho chung tài sản hoặc được hưởng thừa kế chung một khối di sản. Những tài sản này thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Như đối với trường hợp vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung mà người để lại thừa kế hoặc người tặng cho tài sản không phân biệt “kỷ phần” tài sản cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng. Nhưng nếu trong hợp đồng tặng cho chung hoặc di chúc để lại thừa kế chung cho vợ chồng mà chủ sở hữu tài sản đã “xác định” kỷ phần (tỷ lệ) tài sản từ trước cho mỗi bên vợ, chồng thì về nguyên tắc, những tài sản đó sẽ thuộc tài sản riêng của vợ, chồng. Tài sản này chỉ là tài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện nhập vào khối tài sản chung hay vợ chồng thỏa thuận đó là tài sản chung.

Vấn đề xác định tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp nhận thừa kế phụ thuộc vào quy định của pháp luật về thừa kế. Bởi lẽ, nếu bố mẹ chết đi không để lại di chúc thì tài sản thừa kế đó sẽ được chia theo pháp luật và chỉ con đẻ mới thuộc hàng thừa kế còn con dâu hoặc con rể không thuộc hàng thừa kế. Ngoài ra, có nhiều trường hợp khi còn sống bố mẹ cho vợ chồng nhà ở và đất bằng miệng, chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nhà ở và đất đó cho vợ chồng mà bố mẹ chết đi (không để lại di chúc) thì tài sản đó vẫn thuộc di sản thừa kế của bố mẹ chồng (hoặc vợ) để lại và được chia thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp này, nếu vợ chồng người con ly hôn thì Tòa án sẽ xác định kỷ phần nhà ở, quyền sử dụng đất mà người chồng hoặc người vợ do được thừa kế riêng theo quy định của pháp luật về thừa kế là tài sản riêng của người đó.

Đối với trường hợp vợ chồng được tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất thì việc tặng cho đó phải được lập thành văn bản theo khoản 1 Điều 467 Bộ luật dân sự  năm 2005: “Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu” [25]. Trong đó, văn bản tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất đó phải ghi đích danh tên của hai vợ chồng thì khi đó mới được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Đây cũng là một trong những chứng cứ để chứng minh tài sản trên là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng. Song, trên thực tế cuộc sống, do nhận thức của người dân chưa cao nên rất nhiều trường hợp bố mẹ tặng cho nhà ở và quyền sử dụng đất cho vợ chồng bằng miệng và không được lập thành văn bản. Chính vì vậy, trong trường hợp vợ chồng người con ly hôn, bố mẹ thường phủ nhận việc tặng cho trên để bảo vệ quyền lợi cho con mình. Điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của phía bên kia. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Thứ ba, một trong những chứng cứ chứng minh nhà ở, quyền sử dụng đất đó là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và/hoặc quyền sử dụng đất.

Theo khoản 2 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng” [20].

Điều này được hướng dẫn cụ thể tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP: “Các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm: nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu” [2].

Điều này phù hợp với quy định của LĐĐ năm 2003: “Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng” [23, khoản 3 Điều 48].

Tuy nhiên trên thực tế, người chồng thường nắm giữ toàn bộ tài sản trong gia đình và thường đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, việc quy định quyền sử dụng đất đai có được sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa bảo đảm sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ về tài sản. Trên thực tế việc chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn là nhà cửa, quyền sử dụng đất rất phức tạp do các giấy tờ pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một người và việc xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung hay riêng để bảo đảm lợi ích chính đáng của mỗi người là rất khó khăn. Luật HN&GĐ năm 2000 quy định một cách rõ ràng quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung, hoặc có được trước khi kết hôn mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản chung là cơ sở pháp lý cần thiết cho vấn đề giải quyết tranh chấp về đất đai khi chia tài sản chung của vợ chồng.

Để đảm bảo quyền lợi cho các bên, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP) đã hướng dẫn cụ thể như sau:

Trong trường hợp tài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng, nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản này có được từ nguồn tài sản riêng quy định tài khoản 1 Điều 32… Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 tài sản đó là tái sản chung của vợ chồng [29]. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Như vậy, đối với những trường hợp không ghi tên cả hai vợ chồng thì nếu có tranh chấp các bên phải xuất trình các giấy tờ khác chứng minh đó là tài sản riêng của mình, còn trong trường hợp không chứng minh được là tài sản riêng thì đó là tài sản chung. Đây là quy định mới khẳng định sự bình đẳng vợ chồng trong quan hệ về tài sản, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền sở hữu của người vợ. Việc pháp luật quy định quyền được ghi tên của cả vợ và chồng vào Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với tài sản chung vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu một mặt là thể chế hóa Điều 174 Bộ luật dân sự  năm 2005: “Những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì phải được đăng ký” [25] (phù hợp điểm h, khoản 1 Điều 16 Công ước Cedaw: “Quyền như nhau của cả vợ và chồng đối với việc sở hữu thu nhập, kiểm soát, quản lý, hưởng thụ và sử dụng tài sản, dù đó là tài sản không phải trả tiền hay đó là tài sản có giá trị lớn”), và là biện pháp bảo đảm an toàn về mặt pháp lý quyền sở hữu của phụ nữ đối với tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; mặt khác qua đó có thể tránh được những tranh chấp phát sinh về quyền tài sản giữa vợ chồng, đồng thời, tạo cơ sở để Tòa án giải quyết một cách đúng đắn việc phân chia tài sản, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của phụ nữ [16].

Như vậy, một trong những chứng cứ chứng minh tài sản chung của vợ chồng chính là giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng có ghi tên của hai vợ chồng.

Quy định trên phù hợp với việc đại diện cho nhau giữa vợ chồng khi thực hiện quyền và nghĩa vụ trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

Đối với các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình thì vợ chồng cần phải bàn bạc, thỏa thuận với nhau thì những giao dịch đó mới có giá trị pháp lý. Điều này được thể hiện qua việc ủy quyền phải được lập thành văn bản có chữ ký của cả vợ và chồng (khoản 3 Điều 219 Bộ luật dân sự  năm 2005 và khoản 1 Điều 24 Luật HN&GĐ năm 2000).

1.1.2. Căn cứ pháp lý xác định nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ chồng Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về quyền có tài sản riêng của vợ chồng như sau:

  • Vợ chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

  • Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung [20].

Từ quy định trên cho thấy, Luật HN&GĐ năm 2000 khẳng định vợ chồng có quyền có tài sản riêng, pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu riêng của vợ chồng đối với tài sản này.

Theo đó, pháp luật quy định rõ việc xác định tài sản riêng của vợ chồng căn cứ vào thời điểm có tài sản và nguồn gốc tái sản. Cụ thể, nhà ở và quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ hoặc chồng gồm:

  • Nhà ở và quyền sử dụng đất mà mỗi bên có trước khi kết hôn.

Trước khi kết hôn, hai bên nam nữ chưa phải là vợ chồng của nhau trước pháp luật. Theo tính chất nghề nghiệp, công việc của mỗi bên, tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất do mỗi bên tạo ra thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng. Với tư cách là công dân, vợ, chồng là chủ sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất mà mình có được trước khi kết hôn và được pháp luật thừa nhận và bảo hộ (Điều 58 Hiến pháp 1992). Xét về nguồn gốc, những tài sản này không phải do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, không chịu sự tác động bởi tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân và lợi ích chung của gia đình. Trong xã hội ta hiện nay, Đảng và Nhà nước bằng pháp luật với các chính sách, đường lối đổi mới và phát triển nền kinh tế – xã hội khuyến khích và bằng nhiều biện pháp tạo điều kiện cho công dân tạo ra thu nhập, tài sản làm giàu cho cá nhân, gia đình và xã hội nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người ngày càng cao và phong phú.

Nhà ở, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn có thể do chính công sức của mỗi bên tạo ra theo tính chất nghề nghiệp, công việc của mình; cũng có thể nhà ở, quyền sử dụng đó có được do người khác chuyển dịch quyền sở hữu của mình cho vợ, chồng thông qua các giao dịch dân sự như: Mua bán, thừa kế, tặng cho… Chính vì vậy, tài sản phát sinh trước thời kỳ hôn nhân là thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên.

  • Nhà ở và quyền sử dụng đất có trong thời kỳ hôn nhân do được tặng cho riêng, thừa kế riêng, được chia riêng cho vợ hoặc chồng. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ chồng còn được xác định trong trường hợp mặc dù tài sản đó phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhưng nguồn gốc của tài sản đó là do vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng. Luật HN&GĐ năm 2000 qui định những tài sản này thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của các chủ sở hữu tài sản, theo qui định của pháp luật dân sự, chuyển dịch tài sản của mình cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng. Bởi lẽ, ý chí của chủ sở hữu chỉ tặng cho riêng, hoặc để lại di chúc trước khi chết chỉ cho vợ, chồng được hưởng di sản của họ, chứ không phải cho chung cả hai vợ chồng. Nhà ở, quyền sử dụng đất này không phải do vợ, chồng “tạo ra” trong thời kỳ hôn nhân, theo công sức và thu nhập của vợ, chồng, nên không thể tính thuộc vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Trong thực tế, nhà ở, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thường do những người thân thuộc, bạn bè của vợ, chồng định đoạt theo ý chí của họ cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng giá trị tài sản đó. Có thể nhà ở, quyền sử dụng đất đó do cha, mẹ tặng cho riêng con trong ngày cưới; cha mẹ chồng (vợ) khi chết đã để lại di chúc, chỉ cho con mình là người chồng, vợ được hưởng khối di sản đó… Cần lưu ý, đối với trường hợp chủ sở hữu tuyên bố cho chung hai vợ chồng khối tài sản nào đó, tuy nhiên, trong khối tài sản đó họ lại xác định kỷ phần (tỷ lệ) giá trị tài sản cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng thì về nguyên tắc, phần tài sản đó thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng theo kỷ phần đã được xác định. Tài sản đó chỉ là tài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung hoặc có thỏa thuận tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng.

Ngoài ra, Luật HN&GĐ năm 2000 thừa nhận việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng, do đó tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm nhà ở, quyền sử dụng đất đã được chia trong thời kỳ hôn nhân (theo Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000). Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định rõ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000).

Quyền có tài sản riêng của vợ chồng được thể chế hóa trên tinh thần bảo hộ quyền sở hữu của công dân theo Điều 58 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) và ghi nhận tại Điều 15 Bộ luật dân sự  năm 2005.

Nhìn chung, quy định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng về quyền sử dụng đất trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã tôn trọng và bảo vệ lợi ích cá nhân của vợ chồng, trên cơ sở đó đảm bảo các lợi ích chung của gia đình, xã hội. Đây là yếu tố quan trọng để đảm bảo xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.

1.1.3. Căn cứ xác định quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng trong một số trường hợp đặc biệt Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

  • Xác định quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ, chồng trong trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một trường hợp đặc biệt mới được ghi nhận từ Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18) và tiếp tục được kế thừa tại Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP: “Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ và chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật” [2]. Tuy nhiên, đối với tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất thì văn bản thỏa thuận chia tài sản chung phải thực hiện tại phòng công chứng và được công chứng viên công chứng vì đây là tài sản bắt buộc phải công chứng, chứng thực (Điều 7 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP: “Trong trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực” [2]).

Song khác với Luật HN&GĐ năm 1986 chưa dự liệu về hậu quả pháp lý và quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với những tài sản, sau khi đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2000 đã qui định về vấn đề này: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng” [20]. Trên cơ sở đó, Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã ghi nhận: Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, những tài sản mà vợ, chồng đã được chia; hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng sau khi đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đều thuộc tài sản riêng của vợ, chồng. Sau khi chia tài sản chung là nhà ở, quyền sử dụng đất thì vợ hoặc chồng – bên được chia phần tài sản bằng hiện vật đã đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng mà có ghi tên vợ và chồng có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản (khoản 4 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP).

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định rất rõ về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung, hậu quả pháp lý và khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng. Đây là cơ sở để xác định tài sản đó thuộc tài sản chung hay là tài sản riêng của vợ chồng khi ly hôn.

  • Xác định công sức đóng góp của vợ chồng trên bất động sản mà vợ chồng được sử dụng hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Đối với các trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình hoặc trong các trường hợp vợ chồng sử dụng hợp pháp nhà ở, quyền sử dụng đất (như vợ chồng thuê nhà ở của nhà nước, vợ chồng được tặng cho nhà ở, quyền sử dụng đất nhưng chưa hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, vợ chồng nhận thế chấp nhà ở, quyền sử dụng đất) thì tài sản chung của họ được xác định dựa trên công sức đóng góp của họ. Tuy nhiên, vấn đề xác định công sức đóng góp không phải là đơn giản bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của hai vợ chồng mà còn ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, gia đình và bên thứ ba khác.

Điều 96 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình thì cần phải xác định công sức đóng góp của vợ chồng trong khối tài sản đó:

  1. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia [20].

Theo quy định trên, nếu vợ chồng sống chung với gia đình mà không thể xác định tài sản chung của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình thì vợ chồng vẫn được chia một phần trong khối tài sản chung đó nhưng phải chứng minh được công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Tuy nhiên, trên thực tế, để xác định được công sức đóng góp này vào một mức định lượng nhất định là rất khó và chỉ mang tính chất tương đối.

Ngoài ra, để đảm bảo duy trì mục đích sử dụng đất thì đối với đất nông nghiệp Điều 30 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định rất chi tiết: Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Trong trường hợp cả vợ và chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối, đất lâm nghiệp được giao chung với hộ gia đình sau khi kết hôn, thì khi ly hôn, phần quyền sử dụng đất của vợ hoặc chồng và của con không tiếp tục sống chung với hộ gia đình được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 97 của Luật Hôn nhân và gia đình [2].

  • Khoản 2 Điều 97 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 95 của Luật này.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này [20].

Đối với trường hợp vợ chồng thuê nhà ở của Nhà nước thì pháp luật cũng thừa nhận quyền thuê nhà ở là một quyền về tài sản và được chia theo quy định của pháp luật (Điều 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP):

Trong trường hợp vợ chồng đã trả tiền thuê đất hàng năm mà khi ly hôn, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đó, thì việc chia quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000; các bên phải ký lại hợp đồng thuê đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Trong trường hợp vợ chồng đã trả tiền thuê đất hàng năm mà khi ly hôn, nếu chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất, thì bên đó được tiếp tục sử dụng và phải ký lại hợp đồng thuê đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nếu hợp đồng thuê đất trước đây do bên kia hoặc cả hai người đứng tên; nếu các bên đã đầu tư vào tài sản có trên đất, thì phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị tài sản đã đầu tư trên đất mà người đó được hưởng vào thời điểm chia tài sản khi ly hôn, căn cứ vào tài sản và công sức đầu tư của bên kia, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp vợ, chồng đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê, thì khi ly hôn, các bên thỏa thuận về việc sử dụng đất đó và thanh toán cho nhau phần tiền thuê đất đã nộp trong thời gian thuê đất còn lại.

Trong trường hợp một bên được tiếp tục sử dụng toàn bộ diện tích đất, thì phải thanh toán cho bên kia một nửa số tiền thuê đất tương ứng với thời gian thuê đất còn lại, kể từ thời điểm chia tài sản khi ly hôn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nếu các bên đã đầu tư vào tài sản có trên đất, thì bên tiếp tục thuê đất phải thanh toán cho bên kia một phần giá trị tài sản đã đầu tư trên đất vào thời điểm chia tài sản khi ly hôn, căn cứ vào tài sản và công sức đầu tư của bên kia, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Trong trường hợp quyền sử dụng đất đó do vợ chồng nhận thế chấp thì sẽ được áp dụng theo Điều 26 Nghị định 70/2001/NĐ-CP và pháp luật thừa nhận quyền nhận thế chấp đất là quyền tài sản nên thuộc tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và được chia theo Điều 95 của Luật HN&GĐ năm 2000.

1.2 NGUYÊN TẮC CHUNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ NHÀ Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

1.2.1. Tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng đạt được trên cơ sở hòa giải

Khoản 1 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó” [20].

Như vậy, tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng là nguyên tắc ưu tiên áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn. Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng tạo cơ sở pháp lý đảm bảo quyền bình đẳng, quyền tự định đoạt của vợ chồng về tài sản, tránh được những bất đồng sau ly hôn, tạo điều kiện cho công tác thi hành án dân sự cũng như sự ổn định cuộc sống cho các đương sự ngay sau khi ly hôn, góp phần phát huy sự đoàn kết trong nội bộ gia đình.

Tuy nhiên, căn cứ vào quy định tại Điều 11 Nghị định 70/2001/NĐ-CP, Điều 128, 129, 132 Bộ luật dân sự  năm 2005, Tòa án sẽ không công nhận các thỏa thuận phân chia tài sản nếu thuộc một trong các thỏa thuận sau:

  • Thỏa thuận đạt được do một bên bị cưỡng ép, bị lừa dối, hoặc xâm hại nghiêm trọng đến lợi ích chính đáng của người vợ và con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
  • Thỏa thuận có liên quan đến tài sản thuộc sở hữu của người khác và người này đã yêu cầu Tòa án không công nhận trường hợp đó;
  • Thỏa thuận liên quan đến tài sản có được do hành vi trái pháp luật mà có;
  • Thỏa thuận liên quan đến tài sản vợ chồng đang có tranh chấp hoặc chưa đủ căn cứ để xác lập quyền sở hữu;
  • Thỏa thuận nhằm mục đích trốn thuế, giảm tiền nộp án phí;
  • Thỏa thuận nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ về tài sản;
  • Thỏa thuận nếu trường hợp thực tế sẽ xâm hại đến quyền và lợi ích của những người khác và những người này yêu cầu không công nhận thỏa thuận của vợ chồng; Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Ví dụ: Thỏa thuận của vợ chồng về nhà và đất nếu thể hiện trên thực tế có thể gây thiệt hại cho người có bất động sản liền kề…

Thỏa thuận dựa trên mục đích ly hôn giả, vợ chồng yêu cầu được ly hôn không phải để chấm dứt hôn nhân nhanh mà để nhằm tẩu tán, phá tán tài sản, gây thiệt hại đến quyền lợi của người có quyền (chủ nợ).

Đối với những thỏa thuận này, ngoài việc tuyên bố không công nhận yêu cầu ly hôn mà Tòa án còn căn cứ vào tính chất, mục đích của hành vi vi phạm mà có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

1.2.2. Nguyên tắc chia đôi tài sản chung là nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng, bảo đảm quyền có chỗ ở cho các đương sự sau khi ly hôn

Khi ly hôn, nếu vợ chồng không thể tự thỏa thuận được vấn đề phân chia tài sản thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên tắc chia tài sản đầu tiên mà Tòa án áp dụng khi các bên đương sự có yêu cầu giải quyết việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất là chia đôi tài sản chung. Theo điểm a Khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000:

Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập [20].

Nguyên tắc của việc chia tài sản chung của vợ chồng là chia đôi vì sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. Bởi lẽ, khi hai bên nam nữ tiến tới kết hôn là cùng một mục đích xây dựng gia đình riêng của hai người và đòi hỏi phải có một khối tài sản nhằm bảo đảm nhu cầu đời sống của gia đình. Thỏa mãn nhu cầu về tinh thần, vật chất của vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng; nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Chính vì vậy, tài sản mà vợ chồng cùng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung. Do đó, khi hai bên có yêu cầu ly hôn thì tài sản đó phải được chia đôi. Cũng cần nói thêm rằng không phải lao động nào cũng được trả bằng một khoản tiền hoặc vật hiện hữu mà có thể định giá được như lao động của vợ, chồng trong gia đình. Tuy nhiên nhân gian có câu “đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” nên lao động trong gia đình cũng là nhằm mục đích xây dựng gia đình ấm no, chăm sóc con cái để người chồng hoặc người vợ có thời gian làm việc kiếm tiền nuôi sống gia đình. Bởi lẽ, gia đình được duy trì bởi hai yếu tố song hành là tình cảm và vật chất, trong đó vấn đề tình cảm là yếu tố quan trọng, vật chất là yếu tổ cần có của gia đình. Do đó, để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các bên, pháp luật quy định lao động trong gia đình là lao động có thu nhập, khi ly hôn họ được chia tài sản chung.

Song, để đền bù, tính công bằng, sự phù hợp với nguyên tắc phân phối theo pháp luật, không phải mọi trường hợp khi giải quyết Tòa án đều chia đôi tài sản chung của vợ chồng cho mỗi bên, mà vẫn cần cân nhắc và xem xét đến “công sức” đóng góp hoàn cảnh cụ thể của mỗi bên cho thấu tình đạt lý. Tòa án chỉ quyết định chia đôi tài sản chung của vợ chồng cho mỗi bên khi xét thấy công sức tạo lập, tăng tài sản chung của vợ chồng là ngang nhau.

Ngoài ra, dù đã ly hôn, mỗi người đều có quyền có chỗ ở, vì vậy trong quá trình giải quyết chia nhà ở, quyền sử dụng đất nhằm tạo điều kiện chỗ ở cho mỗi bên, ổn định cuộc sống. Bất kỳ trong trường hợp nào cũng không được để vợ con ra khỏi nhà khi họ thực sự chưa có chỗ ở một cách thỏa đáng. Nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong trường hợp chưa có biện pháp giải quyết riêng mỗi người một nơi thì pháp luật quy định các bên đương sự có quyền lưu cư, tức là vẫn phải để ở chung một nhà, sau đó qua một thời gian thực tế (thời hạn tối đa là 6 tháng) hai bên sẽ tự bố trí sắp xếp ổn định hợp lý.

1.2.3. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Phụ nữ, trẻ em đặc biệt là trẻ em chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động luôn là đối tượng được Nhà nước và xã hội bảo vệ. Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, chính vì vậy, khi một mái ấm bị đổ vỡ thì Nhà nước và xã hội ưu tiên bảo vệ những đối tượng trên. Điều này được thể chế hóa tại các quy định của pháp luật, cụ thể là trong Luật HN&GĐ năm 2000:

Điểm b Khoản 2 Điều 95 quy định: “b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” [20].

Nguyên tắc này nhằm xóa bỏ triệt để quan niệm của chế độ HN&GĐ phong kiến trước đây về coi rẻ quyền lợi của người phụ nữ, sự phân biệt con trai con gái. Khi xã hội không còn chế độ phong kiến nữa, địa vị của người phụ nữ trong xã hội được nâng cao và được pháp luật bảo vệ. Trong đó quyền lợi của người phụ nữ và con cái khi ly hôn được bảo đảm hơn. Điều này thể hiện rõ qua Chỉ thị số 69/TAND do Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 24/12/1979 về việc giải quyết vấn đề nhà, đảm bảo chỗ ở cho các đương sự sau khi ly hôn. Tuy nhiên văn bản này chưa được áp dụng hiệu quả trên thực tiễn bởi hoàn cảnh xã hội và những quy định của pháp luật liên quan còn chưa đồng bộ. Song điều đó cũng đã cho thấy vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ em được nhà nước xem trọng. Tuy nhiên, Chỉ thị cũng đã nêu lên một số trường hợp cần phải điều chỉnh để đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ như sau:

Có những trường hợp người vợ đã lớn tuổi suốt cả thời gian dài đã góp nhiều công sức vào việc xây dựng, duy trì sửa chữa nhà cửa, nhưng đến khi ly hôn chỉ được nhận một số tiền đền bù công sức không đủ tạo lập được chỗ ở mới. Do đó, có số chị em đông con nhỏ phải ra ở nhờ nhà kho của hợp tác xã và trường học, thậm chí có chị bồng con ở quán chợ… Cũng có trường hợp bên cha mẹ chồng giúp cho con làm nhà ở riêng, lúc bình thường không có vấn đề gì nhưng khi con ly hôn, cha mẹ chồng lại coi là nhà của mình để đòi lại, người con dâu phải ra ở chỗ khác. Có trường hợp hai vợ chồng có nhà riêng nhưng người chồng thoát ly công tác, người vợ làm nông nghiệp ở địa phương và nuôi con chung nhưng không được chia nhà với lý do nhà đó làm trên đất nhà chồng; xung quanh là họ hàng nhà chồng. Ở các tỉnh miền Nam (trừ các tỉnh Tây Nguyên), hầu hết các vụ ly hôn, người phụ nữ đều trở về nhà cha mẹ đẻ, hoặc tìm chỗ khác nên cũng có một số chị em thực tế có khó khăn về chỗ ở, nhất là khi chị em phải nuôi con chung [28]. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em, Luật HN&GĐ năm 2000 đã thể chế hóa thành một trong những nguyên tắc bắt buộc mà Tòa án phải tuân thủ trong quá trình giải quyết tranh chấp nhà ở, quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn. Ngoài ra, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định rõ ràng về đối tượng được bảo vệ gồm: Vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Tuy nhiên, cần hiểu rằng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phải dựa trên cơ sở pháp lý, tránh tùy tiện. Tòa án có thể kết hợp trong việc chia tài sản cụ thể.

Ví dụ: Vợ chồng có 01 căn nhà và đất ở khu đô thị và 01 căn nhà cấp 4 cũ ở khu nông thôn. Khi hai vợ chồng ly hôn và yêu cầu Tòa án phân chia nhà đất thì khi xem xét, Tòa án xét thấy cả hai bên vợ chồng đều có yêu cầu cấp bách về chỗ ở bởi cả hai cùng đang sinh sống và làm việc ở khu đô thị. Tuy nhiên, trong quá trình ly hôn người vợ khai nhận vợ chồng có 1 người con đã thành viên nhưng bị tàn tật và người vợ nhận được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Trong trường hợp này, để đảm bảo quyền lợi của người con thì tòa án phân chia căn nhà và đất ở khu đô thị cho người vợ, còn căn nhà cấp 4 cũ ở khu nông thôn cho người chồng và người vợ có trách nhiệm trả cho người chồng phần chênh lệch giá trị (nếu có). Nhưng trong trường hợp trên, nếu không có cơ sở pháp lý về việc người con đang bị tàn tật thì Tòa án sẽ không xem xét việc ưu tiên người vợ trong việc chia nhà mà Tòa án sẽ chia đôi tài sản chung của vợ chồng theo quy định.

1.2.4. Nguyên tắc bảo đảm tính năng công dụng của nhà ở và quyền sử dụng đất; bảo đảm lợi ích chính đáng của sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp

Điểm c Khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” [20].

Một trong những nguyên tắc quan trọng mà tòa án cần phải tuân thủ khi xem xét để phân chia tài sản chung của vợ chồng đó là nguyên tắc bảo đảm tính năng công dụng của tài sản. Bởi lẽ, việc đảm bảo tính năng công dụng của tài sản không chỉ đảm bảo lợi ích chính đáng của sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp của mỗi bên mà còn đảm bảo đúng mục đích sử dụng theo quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng đất.

Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng và không có nghĩa là chấm dứt các mối quan hệ xã hội khác của vợ chồng đặc biệt là quan hệ về lao động việc làm. Do đó, khi phân chia tài sản, Tòa án cần phải xem xét đến nghề nghiệp các bên để có sự phân chia hợp lý nhằm đảm bảo sự ổn định trong phát triển nghề nghiệp của các bên đặc biệt trong trường hợp tài sản đó có liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp của người đó.

Ví dụ: Hai vợ chồng có 01 căn nhà cấp 4 và 01 cửa hàng sản xuất đồ mộc. Người chồng làm thợ mộc và hiện đang sản xuất kinh doanh tại của hàng. Người vợ làm giáo viên. Khi ly hôn, Tòa án sẽ xem xét đến nghề nghiệp của các bên và phân chia căn nhà cấp 4 cho người vợ và cửa hàng sản xuất đồ mộc cho người chồng nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của người chồng. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Mặt khác, có những trường hợp mặc dù pháp luật không quy định nhưng trong cuộc sống vẫn tồn tại trình trạng ly thân giữa hai vợ chồng. Đối với những cặp vợ chồng có nhiều nhà đất mà trước khi ly hôn họ có thời gian ly thân thì thông thường mỗi người đã ở một địa điểm mà họ cho là hợp lý. Ví dụ: Người chồng làm dược sĩ và mở cửa hàng kinh doanh thuốc, người vợ làm giáo viên. Tuy nhiên trong quá trình sống họ có mâu thuẫn nên hai bên tạm thời ly thân. Trong thời gian ly thân, người chồng vẫn sống ở ngôi nhà cũ để kinh doanh và người vợ thì sống tại căn nhà khác của hai vợ chồng. Sau một thời gian ly thân hai vợ chồng quyết định ly hôn, thì lúc này để đảm bảo cho việc kinh doanh của người chồng và phù hợp với thời gian mà hai vợ chồng ly thân thì tòa án sẽ phân chia người chồng được ở căn nhà có cửa hàng thuốc còn người vợ vẫn ở ngôi nhà đang ở.

Thực tế có những vụ án Tòa án đã chia nhà đất không hợp lý, dẫn đến khó khăn cho việc sử dụng, làm ăn, buôn bán… của vợ, chồng. Ví dụ như trường hợp vợ ở trong nước kinh doanh quán ăn tại nhà, đã kinh doanh ổn định rất nhiều năm, trong khi người chồng đang làm ăn sinh sống tại nước ngoài nhưng khi vợ chồng ly hôn, Tòa án cấp sơ thẩm lại chia cho người chồng ngôi nhà có quán ăn, còn vợ ở ngôi nhà khác.

Do đó, khi chia tài sản chung của vợ chồng thì trước tiền Tòa án sẽ áp dụng nguyên tắc chia đôi, nhưng để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích cho các bên pháp luật quy định Tòa án cũng phải xem xét đến nguyên tắc bảo đảm tính năng công dụng của nhà ở và quyền sử dụng đất; bảo đảm lợi ích chính đáng của sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp.

1.2.5. Nguyên tắc chia tài sản bằng hiện vật hoặc theo giá trị Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Nhà ở và quyền sử dụng đất là tài sản hữu hình và có thể phân chia bằng hiện vật, tuy nhiên vì tài sản này mang tính chất đồng bộ, thống nhất nên không thể “xẻ” nhỏ cho mỗi người mà đôi khi việc phân chia này được tính theo giá trị. Do đó, việc phân chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị cũng dựa trên cơ sở của các nguyên tắc chia đôi, nhưng cần phải xem xét nhu cầu thực tế của các bên, xem ai là người có nhu cầu sử dụng nhất theo Điểm c Khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000: “Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch” [20].

Ví dụ, đối với nhà diện tích quá nhỏ cũng cần phải xét xem hai người có thực sự ở nhà đó từ trước khi ly hôn hay vợ, chồng đã có nơi ở khác (ở nhà tập thể cơ quan, quân đội…), hoặc đi công tác ở địa phương khác. Cách hay nhất là nên chia cho người đang thực sự ở nhà đất đó, còn cho người kia nhận giá trị. Đối với nhà đất có thể chia được mà cả hai bên đều yêu cầu chia, thì tùy tình hình cụ thể của nhà đất mà phân chia để đảm bảo giá trị sử dụng của nhà, chứ không máy móc phải chia thành hai phần bằng nhau cho cả hai bên đương sự. Ví dụ: Hai vợ chồng có 02 căn nhà gồm: 01 căn nhà rộng 100m2 trong ngõ và một căn nhà rộng 40m2 mặt phố thì tùy theo nhu cầu sử dụng mà chia mỗi bên sử dụng một căn nhà và bên nào được nhận nhà có giá trị hơn thì phải có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch cho bên kia.

Song, không phải bất cứ vụ án ly hôn nào cũng có thể chia hiện vật cho cả hai bên đương sự. Việc định giá nhà đất không đúng và chỉ phân chia hiện vật cho một bên là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài. Cá biệt, có một số vụ án giá nhà đất vẫn được định theo khung giá của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh nơi có đất tranh chấp; việc định giá không có đủ các đương sự; thành phần Hội đồng định giá không đúng theo quy định của pháp luật.

Để hướng dẫn việc định giá, Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn về thành phần Hội đồng định giá tại điểm 7 mục IV Công văn số 16/1999/KHXX ngày 1-2-1999 và trong Công văn số 92/2000/KHXX ngày 21-7-2000 hướng dẫn việc xác định giá quyền sử dụng đất thì Tòa án chấp nhận giá do các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận được với nhau, nếu không thỏa thuận được thì giá quyền sử dụng đất được xác định theo giá thực tế chuyển nhượng tại địa phương nơi có đất tranh chấp đối với từng loại đất vào thời điểm xét xử sơ thẩm [15].

Theo đó, giá quyền sử dụng đất trước hết phụ thuộc vào chính sự thỏa thuận của các đương sự trên cơ sở pháp luật (giá đó phải dựa trên cơ sở giá thị trường hoặc khung giá do Ủy ban nhân dân tỉnh nơi có đất tranh chấp ban hành). Trong trường hợp các bên tranh chấp không thỏa thuận được giá quyền sử dụng đất, thì Tòa án thành lập Hội đồng định giá có thành phần: Đại diện cơ quan tài chính và các cơ quan có liên quan… Tòa án, Viện kiểm sát chỉ giám sát việc định giá chứ không phải là thành viên của Hội đồng định giá. Giá quyền sử dụng đất do Hội đồng định giá quyết định căn cứ vào giá thực tế chuyển nhượng sử dụng đất cùng loại, có vị trí tương đương tại địa phương, có tham khảo đất do hai bên đương sự đưa ra. Thực tế, có những vụ án đương sự đưa ra các giá khác nhau và Hội đồng định giá đã dung hòa giá do các đương sự đưa ra, dẫn đến việc nếu giao hiện vật cho một bên thì bên kia sẽ khiếu nại. Vì vậy, khi định giá, nếu một bên đưa ra giá cao và xin nhận hiện vật thực sự có nhu cầu về nhà ở thì nên giao nhà đất cho bên đó.

1.3 CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ NHÀ Ở, QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI LY HÔN Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

1.3.1. Cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sở

Trên tinh thần tôn trọng thỏa thuận của các bên đương sự trong Bộ luật dân sự năm 2005 và quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì có thể giải quyết tranh chấp về nhà ở, quyền sử dụng đất khi ly hôn bằng hai cách: Giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa giải và trong trường hợp các bên không tự hòa giải được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong đó, hòa giải gồm các bên tự hòa giải với nhau hoặc thông qua tổ hòa giải được gọi là hòa giải ở cơ sở. Theo Điều 2 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải quy định: “Hòa giải ở cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động của tổ hoà giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân” [38].

Như vậy, hoạt động hòa giải ở cơ sở không phải do cơ quan nhà nước hay tổ chức chuyên môn nghề nghiệp thực hiện mà do Tổ hòa giải hoặc các tổ chức thích hợp khác của nhân dân (như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân Việt Nam), ở thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố, cụm dân cư thực hiện. Trong đó, tổ hòa giải ở cơ sở là tổ chức tự quản của nhân dân, do nhân dân bầu ra theo từng tổ dân phố, cụm dân cư. Công tác hòa giải ở cơ sở chủ yếu là “hướng dẫn, thuyết phục, dàn xếp, giúp đỡ” chứ không phải bằng phán xét, bằng quyết định, bằng quyền lực của các cơ quan nhà nước, không do cơ quan nhà nước thực hiện. Bản chất của công tác hòa giải là một hình thức tự quản của nhân dân” [38].

Tổ hòa giải là một tổ chức quần chúng của nhân dân, do dân bầu ra và được thành lập ở cơ sở thôn, xóm, bản ấp, tổ dân phố hoặc cụm dân cư theo Điều 7 Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở. Về bản chất tổ hòa giải là tổ chức quần chúng, không phải là tổ chức chính quyền, được thành lập để hòa giải tại chỗ, thường xuyên, kịp thời các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, góp phần tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân cơ sở, nhằm chủ động ngăn ngừa vi phạm pháp luật, hạn chế các vụ việc phải đưa ra Tòa án giải quyết.

Tại Điều 86 Luật HN&GĐ năm 2000 có quy định: “Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở” [20].

Như vậy khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn, nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở. Bởi lẽ, trong việc giải quyết yêu cầu ly hôn thì vấn đề trọng tâm là quan hệ nhân thân. Nếu vợ chồng hàn gắn được quan hệ nhân thân, không còn yêu cầu ly hôn nữa thì quan hệ về tài sản sẽ không phải giải quyết. Trừ trường hợp quan hệ nhân thân không giải quyết được, hai bên vẫn mong muốn ly hôn thì khi này mới xem xét đến vấn đề có tranh chấp tài sản hay không. Đây chính là điểm khác biệt của vụ án ly hôn với các vụ án dân sự khác. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Nếu vợ chồng không hòa giải được và vẫn có yêu cầu ly hôn, trong đó có tranh chấp tài sản thì theo khoản 1 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết” [20].

Riêng đối với tranh chấp tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất thì tại Khoản 1, Điều 147 Luật Nhà ở năm 2005 có quy định: “Nhà nước khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp về nhà ở thông qua hòa giải” [26] và tại Điều 135 LĐĐ năm 2003 quy định: “1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở” [23].

Như vậy, theo quy định này thì Nhà nước khuyến khích giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở chứ không xem hòa giải cơ sở là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện ra Tòa án. Thế nhưng, theo quy định tại Khoản 1 Điều 136 LĐĐ năm 2003 thì tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí sẽ được giải quyết như sau: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết” [23]. Quy định này dẫn tới cách hiểu trong thực tiễn tố tụng tại Tòa án là mọi tranh chấp đất đai đều bắt buộc phải thông qua con đường hòa giải cơ sở.

Công văn số 116 của Tòa án nhân dân tối cao ngày 22/7/2004 quy định: Theo tinh thần quy định tại Điều 135 và Điều 136 LĐĐ năm 2003 thì tranh chấp đất đai nhất thiết phải qua hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp… Do vậy, kể từ ngày 01/07/2004 trở đi, Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí và khởi kiện đến Tòa án.

Quan niệm này lại được khẳng định một lần nữa trong bản tham luận của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao ngày 3/01/2005. Theo đó, quyền sử dụng đất bao gồm hai loại nhóm quyền: Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

  • Nhóm quyền chung của người sử dụng đất theo Điều 105 LĐĐ năm 2003: Quyền khai thác công dụng và hiệu quả của đất, được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; được bảo hộ quyền sử dụng đất khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình.
  • Nhóm quyền thứ hai theo Điều 106 của Luật này: Được thực hiện các hành vi dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình đó là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao cho rằng, khi có tranh chấp về những quyền này thì đó là tranh chấp về quyền sử dụng đất và tất cả các loại tranh chấp về quyền sử dụng đất nói trên đều phải qua hòa giải cơ sở tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Quan điểm này dựa trên lập luận rằng, việc tranh chấp quyền sử dụng đất xuất phát từ nội bộ nhân dân, nội bộ gia đình, họ hàng, làng xóm. Mặt khác, loại tranh chấp này ngày một nhiều và rất phức tạp. Do vậy, hòa giải ở cơ sở có kết quả vừa tăng cường đoàn kết trong nội bộ nhân dân, vừa giảm nhẹ một phần công việc của Tòa án. Hòa giải cơ sở còn là một cơ hội để đương sự chuẩn bị chứng cứ chứng minh ra Tòa án nếu hòa giải không thành.

Như vậy, tranh chấp đất đai khi ly hôn cũng được xem là tranh chấp đất đai và bắt buộc phải thông qua hòa giải ở cấp cơ sở thì Tòa án mới thụ lý.

Song theo quan điểm của cá nhân, cần lưu ý rằng đặc điểm của việc giải quyết các tranh chấp về tài sản khi ly hôn khác với giải quyết các tranh chấp về tài sản, bất động sản trong các vụ án dân sự khác. Bởi khi giải quyết ly hôn thì cần giải quyết hai quan hệ gồm quan hệ về nhân thân và quan hệ tài sản. Trong đó, quan hệ nhân thân là quan hệ chính, quan hệ tài sản trong ly hôn chỉ là hệ quả của việc giải quyết chấm dứt quan hệ nhân thân trong hôn nhân. Với lý do đó, không nên đánh đồng tranh chấp nhà ở, quyền sử dụng đất của vợ chồng trong các vụ án ly hôn với các vụ án dân sự có tranh chấp đất đai khác.

Ngoài ra hòa giải ở cơ sở là một truyền thống, một đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Mục đích chính của công tác hòa giải ở cơ sở nhằm giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết tương thân, tương ái trong cộng đồng, tập thể, hàn gắn, vun đắp sự hòa thuận, hạnh phúc cho từng gia đình. Hòa giải có khả năng hàn gắn quan hệ vợ chồng, góp phần giữ gìn trật tự an toàn xã hội, nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Do đó trong vấn đề giải quyết ly hôn thì nhà nước cần ban hành quy định rõ ràng quy trình giải quyết trong đó nhấn mạnh các bên phải thông qua hòa giải ở cơ sở nhằm hàn gắn lại tình cảm, bỏ qua lỗi lầm cho nhau. Thực tiễn cuộc sống cho thấy rất nhiều gia đình đã đoàn tụ sau khi tiền hành hòa giải ở cơ sở. Như vậy, tất cả các vụ án ly hôn đều phải thông qua hòa giải ở cơ sở, chứ không phải chỉ có những vụ án có tranh chấp đất đai khi ly hôn mới phải hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về đất đai.

Tuy nhiên, nếu trong trường hợp các bên mâu thuẫn quá sâu sắc và không thể hòa giải được thì có thể yêu cầu Tòa án nhân dân (TAND) giải quyết theo luật định.

1.3.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp về nhà ở và quyền sử dụng đất khi ly hôn thông qua Tòa án Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Khi vợ, chồng không thể hòa giải với nhau thì theo Điều 85 Luật HN&GĐ năm 2000 và Điều 42 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Như vậy, ly hôn có thể được thực hiện theo yêu cầu của cả hai vợ chồng (thuận tình ly hôn) hoặc chỉ có một bên vợ hoặc bên chồng xin ly hôn. Song, để đảm bảo quyền lợi của trẻ em và phụ nữ – là những người yếu thế trong xã hội – tại Khoản 2 Điều 85 Luật HN&GĐ năm 2000 có quy định về hạn chế quyền ly hôn của người chồng, trong trường hợp người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn.

Theo quy định tại Điều 87 Luật HN&GĐ năm 2000: “Tòa án thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự” [20] và Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình, gồm: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Tranh chấp về cấp dưỡng; Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân…” [24].

Cụ thể, trong trường hợp các bên thuận tình ly hôn thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm việc ly hôn là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi một trong các bên ly hôn cư trú, làm việc theo quy định tại Điều 33 và điểm h khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự  năm 2004. Trường hợp có đơn yêu cầu ly hôn của một bên thì Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự  năm 2004. Đối với những trường hợp có yếu tố nước ngoài thì thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh.

Trong vụ án ly hôn có ba quan hệ cần giải quyết là: quan hệ nhân thân giữa vợ chồng, quan hệ tài sản và quan hệ về con cái.

Theo đó, quan hệ về nhân thân là quan hệ cốt lõi phải giải quyết trong các vụ án ly hôn, còn quan hệ tái sản và quan hệ về con cái tòa án chỉ xem xét giải quyết khi các bên có yêu cầu.

Thời hạn giải quyết vụ án về ly hôn theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự  năm 2004 là bốn tháng kể từ ngày được thụ lý. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án (Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự  năm 2004). Qua đó, các vấn đề mà đương sự yêu cầu sẽ được hòa giải tại phiên hòa giải. Tại phiên hòa giải, những vấn đề mà vợ chồng thỏa thuận được và những vấn đề không thỏa thuận được giữa các bên sẽ được thư ký tòa án ghi nhận trong biên bản hòa giải. Trong trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án tòa án lập biên bản hòa giải thành và sau 7 ngày làm việc tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự theo Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự  năm 2004.

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án nếu các bên tự thỏa thuận được và không yêu cầu tòa án tiếp tục giải quyết vụ án thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án theo điểm đ Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự  năm 2004.

Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn, yếu tố cốt lõi là vấn đề tình cảm giữa vợ chồng, nếu hai bên thỏa thuận được và không yêu cầu ly hôn nữa thì các yêu cầu về con cái và tài sản không đặt ra. Nhưng nếu vợ chồng không hàn gắn được với nhau về tình cảm thì vụ án được đưa ra xét xử và các yêu cầu về con cái và tài sản mới được xem xét (nếu có tranh chấp). Trong trường hợp các bên có tranh chấp về tài sản khi ly hôn, thì theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự  năm 2004 thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về các bên đương sự. Do đó, để chứng minh nhà ở, quyền sử dụng đất đó là tài sản chung hay tài sản riêng thì vợ chồng phải kê khai tài sản và xuất trình các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình. Căn cứ vào chứng cứ các bên cung cấp, áp dụng quy định của pháp luật, Tòa án sẽ có phán quyết phân chia tài sản cho mỗi bên vợ và chồng trong bản án ly hôn.

1.4 Ý NGHĨA CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT GIỮA VỢ VÀ CHỒNG KHI LY HÔN Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

Việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất giữa vợ và chồng khi ly hôn có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự mà còn đảm bảo hoạt động quản lý Nhà nước đối với đất đai và là những biện pháp để pháp luật phát huy được vai trò trong đời sống xã hội, giải quyết những mâu thuẫn về tranh chấp nhà ở, đất đai. Cụ thể, việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất giữa vợ chồng khi ly hôn có ý nghĩa như sau:

  • Thông qua việc giải quyết tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất đất đai mà các quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của người sử dụng đất.
  • Giáo dục ý thức pháp luật cho công dân để họ tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật khác có thể xảy ra.
  • Tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ gia đình nói chung và của những người liên quan nói riêng. Trên cơ sở đó đảm bảo các quyền lợi hợp pháp đặc biệt là lợi ích về tài sản cho bên bị xâm hại đồng thời buộc bên vi phạm phải gánh chịu mọi hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra.
  • Mặt khác, nhà ở và quyền sử dụng đất là loại tài sản có giá trị lớn, liên quan và chi phối nhiều đến quyền lợi ích về tài sản của vợ chồng. Chính vì vậy tranh chấp mang tính chất quyết liệt, việc giải quyết đúng, hợp tình, hợp lý làm cho các tranh chấp đất đai không kéo dài sẽ đỡ tốn kém tiền của, công sức của nhà nước và của các bên đương sự.
  • Đảm bảo quyền có chỗ ở của vợ chồng, quyền và khả năng lao động của mỗi bên vợ chồng đối với đất đai.
  • Giải quyết tranh chấp về bất động sản một cách chính xác, đúng đắn sẽ đảm bảo hiệu quả về kinh tế, trong việc thực hiện quyền sử dụng khai thác bất động sản một cách hiệu quả, tránh tình trạng bỏ hoang đất đai do tranh chấp kéo dài không được giải quyết.
  • Tăng cường pháp chế trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.

Thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp đất đai khi ly hôn phát hiện các thiếu sót khi áp dụng thực tiễn, từ đó có thể kịp thời có những giải pháp cũng như biện pháp giải quyết có hiệu quả các tranh chấp nhà ở, đất đai để sửa đổi, bổ sung pháp luật nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp sau ly hôn

One thought on “Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp sau khi ly hôn

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về giải quyết tranh chấp sau ly hôn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464