Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực thi pháp luật và phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM

3.1.1. Khái quát thực trạng, nguyên nhân và tác động tiêu cực của lao động trẻ em ở Việt Nam

  • Khái quát thực trạng lao động trẻ em ở Việt Nam

Báo cáo “Điều tra quốc gia về Lao động trẻ em 2024 – Các kết quả chính” do Tổ chức Lao động quốc tế, Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO-IPEC), Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê Việt Nam – Hà Nội thực hiện. Đây là cuộc điều tra chính thức đầu tiên trên phạm vi quốc gia về lao động trẻ em tại Việt Nam.

Theo ước tính của cuộc điều tra, năm 2024, trong tổng số trên 18,3 triệu trẻ em Việt Nam, có khoảng 1/6 trong số này (2,83 triệu em) đang tham gia hoạt động kinh tế, trong đó 42,6% là trẻ em gái. Gần 86% trẻ em hoạt động kinh tế sinh sống ở nông thôn và gần 2/3 trong số này thuộc nhóm 15-17 tuổi.

Có 1,75 triệu trẻ em thuộc nhóm lao động trẻ em, chiếm 9,6% dân số trẻ em và khoảng 62% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế, trong đó 40,2% là trẻ em gái. Gần 85% số lao động trẻ em sinh sống ở khu vực nông thôn và 60% trong nhóm từ 15-17 tuổi. Tuổi bắt đầu làm việc của trẻ em khá sớm, phổ biến ở độ tuổi từ 12 tuổi trở lên. Khoảng 67% làm việc trong nông nghiệp, 15,7% trẻ em trong khu vực công nghiệp – xây dựng và 16,7% trẻ em làm việc trong khu vực dịch vụ; một bộ phận đáng kể trẻ em làm việc trong điều kiện lao động ngoài trời, đi lại nhiều dễ bị tai nạn, nguy hiểm, điều kiện lao động quá nóng, lạnh, môi trường có hóa chất gây hại, dễ bị tai nạn, thương tích, và các tổn thương khác đến sự phát triển thể chất của trẻ em.

Trẻ em lao động làm 97 công việc cụ thể, trong đó có 17 công việc (gồm 11 thuộc khu vực nông nghiệp; 3 thuộc khu vực công nghiệp – xây dựng và 3 thuộc khu vực dịch vụ) tập trung trên 80% trẻ em tham gia làm việc. Địa điểm làm việc phổ biến là cánh đồng, nông trại hoặc vườn cây, tại nhà và địa điểm làm việc không cố định. Một bộ phận lớn trẻ em lao động tham gia vào làm công việc nói trên chịu ảnh hưởng tiêu cực của công việc đến sức khỏe và sự phát triển thể chất của trẻ em.

Trong tổng số 1,75 triệu lao động trẻ em, có khoảng 1,315 triệu em, chiếm gần 75% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế và chiếm gần 7,2% trẻ em từ 5-17 tuổi có nguy cơ làm trong các nghề thuộc nhóm nghề bị cấm sử dụng lao động chưa thành niên hoặc điều kiện lao động có hại theo quy định của Thông tư số 10/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

  • Nguyên nhân của lao động trẻ em ở Việt Nam Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Xét tổng quát, tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam cũng bắt nguồn hoặc bị chi phối bởi những nguyên nhân phổ biến được nêu tại Chương I. Ví dụ, theo kết quả khảo sát về lao động trẻ em ở tám tỉnh do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và ILO tiến hành năm 2021, 35% trong tổng số trẻ em nghỉ học sớm với lý do để tham gia lao động giúp đỡ gia đình, và hơn 4% là do gia đình bắt buộc thôi học để làm việc. Dưới đây là một số tác nhân chính của tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam:

  • Tỷ lệ nghèo đói vẫn còn cao, đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi.
  • Về nhận thức, vẫn còn tồn tại khá phổ biến quan niệm cho rằng trẻ em cần phải làm việc sớm để rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho tương lai và đóng góp vào kinh tế gia đình.
  • Về văn hóa, thái độ phân biệt đối với phụ nữ và trẻ em gái còn nặng nề ở nhiều khu vực, đặc biệt trong vấn đề học tập.
  • Các giá trị gia đình giảm sút, khủng hoảng gia đình và tỷ lệ ly hôn tăng.
  • Xuất phát từ kinh tế: tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, thu nhập thấp, thiếu cơ hội nghề nghiệp còn khá phổ biến ở nhiều vùng cũng là nguyên nhân dẫn tới lao động trẻ em.
  • Chất lượng giáo dục nhìn chung còn thấp; cơ sở hạ tầng giáo dục ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế; một số nội dung giáo dục chưa thực sự phù hợp; chi phí đi học cao ngoài mức chi trả của nhiều gia đình.
  • Tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh đi liền với làn sóng di cư tự do từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị.
  • Thiên tai, dịch bệnh và đại dịch HIV/AIDS dẫn đến nhiều trẻ em mồ côi hoặc phải sống trong các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, buộc các em phải lao động trợ giúp gia đình, nuôi sống bản thân.
  • Hệ thống pháp luật và chính sách về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em còn nhiều điểm chưa phù hợp, tổ chức thực thi còn thiếu hiệu quả [37].

Tác động tiêu cực của lao động trẻ em tại Việt Nam Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Giống như ở các quốc gia khác, lao động trẻ em ở Việt Nam đã và đang dẫn đến nhiều hậu quả, cả trước mắt và lâu dài, không chỉ đối với chính các em mà còn với gia đình, cộng đồng và xã hội.

Theo Báo cáo điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2024, trong tổng số 1,75 triệu trẻ em lao động thì 45,2% hiện vẫn còn tiếp tục đi học, 52% hiện đã thôi học và 2,8% chưa bao giờ đi học. Thậm chí tại Đông Nam Bộ, chỉ có 17% trẻ em lao động còn tiếp tục đi học, gần 5% chưa bao giờ đi học. Số liệu này cho thấy tác động tiêu cực của lao động trẻ em đối với việc học tập của trẻ.

Trong quá trình làm việc, lao động trẻ em phải đối mặt với các vấn đề sức khỏe và an toàn lao động. Mỗi trẻ em có thể gặp một hoặc nhiều nguy cơ. Theo Báo cáo Điều tra lao động trẻ em năm 2024, trong tổng số trẻ em lao động đã từng bị tai nạn trong quá trình làm việc có 27,5% trẻ em bị côn trùng đốt hoặc cắn, gần 19% bị các vết thương bề mặt, trên 13% bị mệt mỏi, trên 4% bị sai khớp hoặc gãy xương và khoảng 2% gặp phải các vấn đề liên quan đến hô hấp. Trong quá trình lao động còn có nhiều nguy cơ gây tổn thương khác đến sự phát triển thể chất của trẻ em, trong đó có 38% trẻ em phải chịu ảnh hưởng của khói, bụi và rác; trên 29% phải làm việc với các công cụ, dụng cụ có khả năng gây nguy hiểm cho trẻ em; gần 21% làm việc trong môi trường quá nóng hoặc quá lạnh; gần 10% làm việc trong môi trường có hóa chất gây hại. Môi trường làm việc như vậy có thể làm cho trẻ em kém phát triển hoặc không thể phát triển bình thường về thể chất. Ngoài ra, trong một số nghiên cứu khác, sự phát triển về tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ em cũng bị ảnh hưởng do phải chứng kiến những tiêu cực của xã hội từ khi còn chưa trưởng thành.

Nhìn chung, lao động trẻ em tại Việt Nam có tác động xấu với bản thân trẻ và cả sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Do đó, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là thực sự cấp thiết, đặc biệt khi nước ta được đánh giá là tuy có một nguồn lực lao động đông đảo nhưng còn thiếu kĩ năng và yếu về chất lượng, điều mà đang đặt Việt Nam vào vị trí kém cạnh tranh hơn so với nhiều nước đang phát triển khác.

3.1.2. Thực trạng thực thi pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ở Việt Nam Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

3.1.2.1. Về độ tuổi lao động và học nghề

Quy định 15 tuổi là độ tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc xuất phát từ thực tế ở Việt Nam, đây là độ tuổi trẻ em kết thúc việc học tại trường trung học cơ sở. Một số loại nghề nghiệp, công việc được nhận trẻ em dưới 15 tuổi học nghề và làm việc cũng được quy định rất cụ thể và chặt chẽ. Tuy nhiên, thực tế các cuộc điều tra khảo sát đã cho thấy rằng, có nhiều hiện tượng sử dụng trẻ em trong các công việc, ngành nghề không được pháp luật cho phép.

Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2024 cho thấy, trẻ em bắt đầu đi làm thuê rất sớm. Trong số trẻ em lao động ở Việt Nam, có 39,1% trẻ em bắt đầu làm việc ở độ tuổi thuộc nhóm 14-17 tuổi; 25,1% thuộc nhóm 12-13 tuổi; thậm chí có tới 11% bắt đầu làm việc trước 10 tuổi.

Tình trạng vi phạm độ tuổi trẻ em tham gia lao động, học nghề, tập nghề xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước tiên, do sự thiếu hiểu biết các quy định pháp luật ở cả phía người lao động và phía người sử dụng lao động. Đối với phía người sử dụng lao động không loại trừ hiện tượng lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em, người chưa thành niên. Ranh giới thực tế giữa học nghề và lao động là rất khó phân biệt. Hơn nữa giữa bên dạy nghề và người học nghề thường không ký hợp đồng nên càng khó phân biệt. Do đó, khi có đoàn kiểm tra đến, các cơ sở sản xuất, gia công có thể nói là các em học nghề theo hợp đồng miệng, trong khi thực ra lại là lao động sản xuất. Ngoài ra, do quản lý còn lỏng lẻo, có nhiều trường hợp các em khai tuổi tăng lên so với tuổi thực để được nhận vào làm việc.

Như vậy, mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về độ tuổi tối thiểu trẻ em có thể tham gia lao động, học nghề nhưng do nhiều nguyên nhân từ phía người sử dụng lao động, người lao động và cả cơ chế quản lý của cơ quan nhà nước mà vẫn có nhiều trường hợp vi phạm các quy định này. Những vi phạm này diễn ra chủ yếu ở các cơ sở sản xuất tư nhân, hộ kinh doanh gia đình vì vậy rất khó để quản lý, kiểm soát.

3.1.2.2. Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Bộ luật Lao động 2024 quy định với người lao động chưa thành niên thời gian làm việc tối đa là 8 giờ một ngày hoặc 40 giờ một tuần. Tuy nhiên, theo Báo cáo Điều tra về lao động trẻ em năm 2024, có tới 32,4% (hay 569 nghìn em) có thời gian làm việc nhiều hơn 42 giờ một tuần. Số lượng này chủ yếu tập trung ở nhóm 15-17 tuổi, cứ hai lao động trẻ em thuộc nhóm tuổi này thì có một em làm nhiều hơn 42 giờ một tuần. Vẫn còn 5000 em ở độ tuổi 5-11 và 51.162 em thuộc độ tuổi 12-14 có thời gian làm việc quá dài, trên 42 giờ một tuần. Đây là nhóm cần đặc biệt chú ý vì thời gian làm việc dài sẽ vắt kiệt sức lực, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tầm vóc và tâm lý của trẻ sau này.

Nhìn chung, thời giờ làm việc của các em hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu của chủ sử dụng lao động. Nhiều em làm thêm hoặc làm những công việc vào buổi tối để có thêm thu nhập. Nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ em phải làm việc quá số giờ quy định rất nhiều thậm chí là trong môi trường, điều kiện khắc nghiệt.

Có thể thấy việc vi phạm các quy định về thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi đối với lao động chưa thành niên là rất phổ biến. Để có thu nhập, các em chấp nhận làm việc nhiều giờ, làm thêm giờ. Điều này ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của trẻ và việc đảm bảo các quyền cơ bản của trẻ.

3.1.2.3. Về điều kiện làm việc

  • Về điều kiện sử dụng lao động chưa thành niên

Mặc dù Bộ luật Lao động đã có quy định nhưng trong thực tế, chủ sử dụng lao động thường không đăng ký với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương về việc sử dụng lao động trẻ em dưới 15 tuổi theo quy định tại Thông tư số 11/2025/TT-BLĐTBXH. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Theo Điều 164 Bộ luật Lao động, điều kiện bắt buộc đối với người sử dụng lao động trong trường hợp nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc là phải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu, và sự đồng ý này phải bằng văn bản mới có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, tình trạng phổ biến hiện nay là việc nhận và sử dụng lao động chưa thành niên hầu như không ký kết hợp đồng và không có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người đỡ đầu. Hầu hết các trường hợp này đều chỉ dưới hình thức thỏa thuận miệng với gia đình hoặc với chính người lao động.

Một cuộc điều tra về trẻ em làm thuê do Viện Khoa học và Lao động – Xã hội tiến hành với sự giúp đỡ của UNICEF Việt Nam xem xét tình hình lao động của 265 em độ tuổi từ 6-17 đang làm thuê trong các nghề nặng nhọc, độc hại ở 153 hộ, cơ sở, doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn 78 xã, phường của 13 tỉnh, thành phố thuộc 8 vùng, lãnh thổ cho thấy: 153 chủ sử dụng lao động có sử dụng trẻ em dưới 18 tuổi làm việc, thì có 102 người ký hợp đồng lao động khi thuê trẻ em làm việc (66,7%); 51 người (33,3%) không ký hợp đồng [38].

Như vậy, nhìn chung, rất ít khi các em có hợp đồng chính thức, hầu hết đều là thỏa thuận miệng với người sử dụng lao động. Những thỏa thuận này không rõ ràng do đó các em rất dễ bị lạm dụng bóc lột. Đối với một số ít trường hợp có ký hợp đồng lao động thì nội dung cũng hết sức sơ sài, trong hợp đồng không mô tả công việc cụ thể của người lao động, nghĩa vụ của chủ sử dụng lao động không được đề cập rõ ràng. Trong khi đó, với pháp luật lao động, hợp đồng lao động là chế định cơ bản và quan trọng nhất, vì hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý từ đó làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động. Thêm nữa, nội dung của hợp đồng lao động, theo quy định tại điều 29 Bộ luật lao động, có liên quan đến hầu hết các chế định khác của Luật lao động như tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động… Hợp đồng cũng là cơ sở để giám sát, kiểm tra sự tuân thủ pháp luật về độ tuổi lao động. Sự vi phạm quy định pháp luật về giao kết hợp đồng trong thực tế ảnh hưởng rất lớn tới quyền lợi của lao động chưa thành niên.

  • Về danh mục công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên

Thông tư số 10/2025/TT-BLĐTBXH đã có nhiều điểm bổ sung mới: tăng lên nhiều công việc, nhóm công việc, điều kiện lao động so với Thông tư số 09/TT-LB về cả nội dung lẫn tính chất công việc. Thông tư số 10 đã tập trung nêu lên những danh mục công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên vào những ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp hoá chất và một số công việc thuộc ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, làng nghề truyền thống, sản xuất kinh doanh nhỏ, cá thể, hộ gia đình thuộc khu vực phi chính thức nơi mà tình trạng lao động trẻ em diễn ra phổ biến.

Tuy nhiên, một số ngành nghề nông nghiệp và ngư nghiệp cũng được cho là những ngành nguy hiểm do việc sử dụng máy móc thiếu những quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động, có yếu tố nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm còn chưa được xem xét bổ sung như nghề đánh bắt và chế biến thuỷ sản hoặc các nghề nông nghiệp khác như cày, bừa…

Một số nghề, công việc khác thuộc khu vực phi chính thức, còn diễn ra phổ biến tại những cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ, hộ gia đình như nghề may gia công, khâu giầy dép, bóc tách hạt điều… là những nghề đã chỉ ra là có sử dụng lao động trẻ em và có yếu tố độc hại, nặng nhọc nhưng chưa được nghiên cứu đưa vào danh mục nghề cấm sử dụng đối với nhóm đối tượng này.

3.1.2.4. Về thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực lao động chưa thành niên

Hiện tại, trong hệ thống ngành lao động – thương binh và xã hội chưa có riêng thanh tra chuyên ngành về lao động chưa thành niên. Vì vậy, cũng chưa có quy định riêng về công tác thanh tra, kiểm tra đối với lao động chưa thành niên trong các doanh nghiệp. Việc thanh tra, kiểm tra đối với lao động chưa thành niên chủ yếu được thực hiện chung với các nội dung thanh tra lao động khác trong doanh nghiệp. Trong khi theo báo cáo kết quả khảo sát về tình hình lao động trẻ em năm 2024 cho thấy lao động trẻ em thường diễn ra phổ biến ở các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp và khu vực sản xuất, kinh doanh nhỏ, nơi mà thanh tra lao động chưa với tới được. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Vì vậy, cần nghiên cứu các tiêu chuẩn và hướng dẫn của ILO để hình thành và xây dựng thanh tra lao động chưa thành niên đáp ứng những yêu cầu về thực thi pháp luật lao động trẻ em.

3.1.2.5. Về xử lý vi phạm pháp luật lao động chưa thành niên

Mặc dù pháp luật đã đưa ra những hình thức và mức xử phạt với các hành vi vi phạm lao động chưa thành niên nhưng trong thực tế, rất ít trường hợp vi phạm bị đưa ra xử lý. Nguyên nhân là do công tác kiểm tra, giám sát sai phạm pháp luật lao động chưa thành niên còn rất yếu. Điều này làm giảm tính răn đe của việc xử lý vi phạm pháp luật và hành vi vi phạm pháp luật lao động chưa thành niên vẫn tiếp tục gia tăng.

Bộ luật Hình sự đã có quy định các tội liên quan tới các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Tuy nhiên, thực tế áp dụng luật lại gặp nhiều khó khăn và không hiệu quả. Ví dụ, với hành vi sử dụng trẻ em đi ăn xin xảy ra rất nhiều trong thời gian vừa qua, có thể xử lý hình sự về tội hành hạ người khác theo Điều 110 Bộ luật Hình sự nếu xác định được đối tượng chăn dắt đối xử tàn ác với người lệ thuộc, mức phạt cho hành vi này là phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm. Nếu hành vi đối xử tàn ác này gây thương tích thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS). Cũng có thể xem xét về tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em theo Điều 228. Tuy nhiên, thực tế thì các hành vi này thường chỉ bị phạt hành chính, vì việc xác định loại tội này là rất khó. Để chứng minh được hành vi này đã cấu thành tội hành hạ người khác thì phải chứng minh những kẻ chăn dắt này có hành vi đối xử tàn ác như gây đau đớn về thể xác, đè nén, áp bức về tinh thần của người bị lệ thuộc, đồng thời phải chứng minh người già, người khuyết tật hay trẻ em phải là người lệ thuộc (có thể lệ thuộc về quan hệ gia đình như con cái, cha mẹ hay lệ thuộc về kinh tế…) với những kẻ chăn dắt; còn đối với Điều 228 Bộ luật Hình sự thì rõ ràng để xác định sử dụng trẻ em đi xin ăn, bán vé số… có phải là làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hay không là rất khó khăn. Do đó, cần bổ sung thêm cơ sở xác định hành vi liên quan tới lao động trẻ em áp dụng luật hình sự và nghiên cứu tăng mức xử phạt vi phạm hành chính với loại tội này nhằm nâng cao tính răn đe, tăng hiệu quả trong việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

3.1.2.6. Về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất

Như đã phân tích tại Chương II, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa nào về “những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” tuy nhiên tất cả các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất nêu ở Điều 3 Công ước 182 đều bị cấm và xử lý theo pháp luật Việt Nam. Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc ngăn chặn sử dụng lao động trẻ em trong những công việc nguy hiểm, độc hại, khai thác tình dục trẻ em, buôn bán trẻ em và mọi hình thức nô lệ khác. Mặc dù vậy, do những hạn chế trong khuôn khổ pháp luật, hoạt động thanh tra giám sát và nhiều nguyên nhân về xã hội khác mà việc thực thi pháp luật trong hoạt động xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất vẫn chưa thực sự hiệu quả.

Theo Báo cáo Điều tra kết quả lao động trẻ em năm 2024, có 1315 nghìn trẻ em, chiếm 75% tổng số lao động trẻ em đang làm các công việc mà công việc này có những công đoạn điều kiện làm việc thuộc danh mục cấm sử dụng lao động trẻ em hoặc môi trường làm việc có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ. Trong đó, có 61% thuộc nhóm tuổi 15-17, 29,3% thuộc nhóm 12-14 tuổi và 9,7% thuộc nhóm 5-11 tuổi. Tỷ lệ này còn quá cao đặc biệt với nhóm tuổi 5-11, là độ tuổi trẻ dễ bị tổn thương về tâm lý, sức khỏe và dễ bị lạm dụng nhất.

Theo điều tra thông tin ban đầu tại 5 tỉnh, thành phố tham gia Chương trình Quốc tế về xóa bỏ Lao động trẻ em do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế ILO tại Việt Nam cho thấy: Trẻ em làm những công việc nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm tại các làng nghề thủ công (làm mộc, điêu khắc đá, dệt chiếu, chế biến thực phẩm), bị ảnh hưởng bởi môi trường làm việc độc hại, bởi công việc nặng nhọc và nguy hiểm. Bên cạnh đó, cũng có trẻ em làm những công việc có nguy cơ bị xâm hại tình dục, bị buôn bán hoặc bóc lột sức lao động như trong lĩnh vực hướng dẫn du lịch, chèo đò, bán hàng rong, phục vụ nhà hàng, khách sạn và trẻ em làm những công việc về bản chất có mang tính bóc lột sức lao động như đào vàng, thu nhặt lâm sản, đánh cá… [52].

Qua khảo sát cho thấy trẻ em lao động ở thành phố Hồ Chí Minh phải làm các công việc trong ngành dệt may, giày da, chế biến thực phẩm hay khai thác khoáng sản, làm gạch ngói… Các em phải làm việc trong điều kiện gò bó, chật chội, thiếu ánh sáng, tiếng ồn, ô nhiễm không khí, hoá chất. Nhiều em phải đương đầu với tai nạn lao động và các bệnh nghề nghiệp ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, trí tuệ và tinh thần của các em.

Mặc dù Khoản 2 Điều 165 Bộ luật Lao động và Thông tư số 10/2025/TT-BLĐTBXH đã đưa ra danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên, Bộ luật Hình sự cũng đã đưa ra hình phạt với loại tội phạm sử dụng trẻ em trong các công việc này tuy nhiên tình hình vẫn rất phức tạp. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Những tồn tại trên có một phần lớn nguyên nhân là do Chính phủ Việt Nam chưa tuân thủ đầy đủ những tiêu chuẩn tối thiểu và việc thực thi pháp luật chưa thực sự hiệu quả. Cụ thể, về tội danh mua bán, đánh tráo và chiếm đoạt trẻ em, mặc dù đã có quy định khung hình phạt tại Bộ luật Hình sự, Luật phòng chống nạn mua bán người năm 2024, nhưng từ đó đến nay chưa có vụ án nào được khởi tố theo luật năm 2024. Nhiều cán bộ nhà nước còn chưa hiểu rõ thế nào là buôn người, đặc biệt là buôn bán lao động cưỡng ép, do đó họ không nhận diện được các nạn nhân hoặc không thực hiện điều tra hình sự một cách hiệu quả trong các vụ đã khởi tố.

Nhìn chung, việc thực hiện các quy định về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em còn chưa nghiêm và thiếu đồng bộ. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý của Nhà nước bị buông lỏng, công tác thanh tra, giám sát chưa được quan tâm và thực hiện hiệu quả, khi có sai phạm xảy ra thì biện pháp xử phạt chưa nghiêm khắc đến mức cần thiết, thậm chí còn chưa được xử lý kịp thời. Pháp luật cũng chưa có những quy định cụ thể về cách thức thanh tra, kiểm tra tình trạng lao động trẻ em tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh.

3.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

Tuy Việt Nam mới chỉ phê chuẩn một số trong rất nhiều công ước của Tổ chức Lao động quốc tế ILO nhưng đó đều là những công ước quan trọng, nhất là Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiểu và Công ước số 182 về cấm và hành động ngay để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Hệ thống pháp luật lao động chưa thành niên, lao động trẻ em, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em đã được hình thành tương đối phù hợp với các tiêu chuẩn theo các công ước quốc tế nhưng vẫn chưa đầy đủ và đồng bộ, thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, chúng ta vẫn chưa thống nhất được các khái niệm “lao động trẻ em” và “lao động chưa thành niên”, cũng như chưa xác định rõ các khái niệm “lạm dụng sức lao động”, “lao động cưỡng bức”… Điều này gây không ít khó khăn cho việc soạn thảo văn bản pháp lý cũng như áp dụng văn bản, ngay cả trong việc nghiên cứu và tuyên truyền về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Thứ hai, hệ thống pháp luật Việt Nam còn chưa có một văn bản có hiệu lực pháp lý cao dành để điều chỉnh riêng vấn đề lao động trẻ em. Hiện nay mới chỉ có 5 điều nằm trong Bộ luật Lao động quy định về lao động chưa thành niên. Các quy định này còn khá chung chung, chủ yếu là đặt ra các nguyên tắc, mang tính quy ước chứ chưa thể hiện rõ tính bắt buộc phải tuân thủ. Còn lại một số quy định nằm rải rác ở Nghị định hướng dẫn và một số Thông tư. Luật pháp cũng mới chỉ quy định trong phạm vi trẻ em tham gia quan hệ lao động trên cơ sở giao kết hợp đồng. Trong khi đó, trường hợp trẻ em lao động không có giao kết hợp đồng lại là chủ yếu và khó kiểm soát, đây cũng chính là đối tượng dễ bị lạm dụng, bóc lột nhất. Chính vì thế, cần có một văn bản tập hợp và quy định chặt chẽ, rõ ràng về lao động trẻ em, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Đây phải là một văn bản có giá trị pháp lý cao, là cơ sở để điều chỉnh hiệu quả vấn đề này.

Thứ ba, pháp luật Việt Nam thiếu các quy định cụ thể về cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý những hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động chưa thành niên, lao động trẻ em. Chưa có một văn bản cụ thể quy định chi tiết về thanh tra đối với lao động đặc thù này. Việc xử lý vi phạm cũng chưa kịp thời hoặc quá nhẹ nhàng. “Rất ít các vụ được đưa ra xét xử về “tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em”. Phần lớn các vụ vi phạm, thậm chí hậu quả nghiêm trọng tới mức chết người, tàn tật… nhưng chỉ dừng lại ở mức phạt hành chính hoặc hòa giải dân sự” [37]. Nguyên nhân của việc này là do trẻ em là đối tượng dễ sai bảo, yếu ớt, không dám đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình, không có tổ chức công đoàn và không dám khiếu nại. Thêm nữa, trẻ em tham gia lao động thường do hoàn cảnh bắt buộc do đó các em rơi vào vị trí bất lợi hơn hẳn so với các đối tượng lao động khác.

Thứ tư, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật lao động trẻ em, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em chưa được quan tâm đúng mức, kể cả với người lao động và người sử dụng lao động. Vì vậy, cần có cơ chế tạo điều kiện cho công tác này được đẩy mạnh và mở rộng phạm vi. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Thứ năm, do nhu cầu hội nhập quốc tế, Việt Nam sẽ tiếp tục nghiên cứu và phê chuẩn những công ước khác phù hợp với điều kiện và trình độ của nước ta. Điều này khiến chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật lao động nói chung và pháp luật dành cho lao động chưa thành niên, lao động trẻ em, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em phù hợp với các công ước mà chúng ta đã ký kết, gia nhập và tạo điều kiện để tiếp tục ký kết các công ước khác.

Nước ta là một nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu do con người, vì con người, vì vậy việc hoàn thiện pháp luật về lao động chưa thành niên, lao động trẻ em và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi cơ bản và sự phát triển toàn diện thế hệ tương lai của đất nước.

3.2.2. Quan điểm về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

  • Bổ sung, cụ thể hóa các quy định pháp luật lao động nói chung và ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng

Hiện nay, pháp luật về lao động trẻ em nói chung và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng vẫn còn chưa đủ, một số quy định chưa hợp lý và chưa được cụ thể hóa hoặc chưa được tuân thủ trên thực tế. Vấn đề ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em chưa thực sự nhận được sự quan tâm từ xã hội. Quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này hầu như chưa có sự khảo sát, đánh giá thực tế, nhiều quy định chỉ mang tính phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật lao động quốc tế chứ chưa có sự khảo sát, đánh giá thực tế nhằm phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Các quy định còn quá ít và chung chung, nằm rải rác ở luật và cả một số văn bản dưới luật do đó tính thực thi chưa được đảm bảo. Do vậy, trước tiên chúng ta cần hoàn thiện, bổ sung các quy định pháp luật ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, tập hợp trong một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhằm nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng và thực thi pháp luật về vấn đề này.

  • Bảo đảm phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam

Cần phải xác định được rằng, với điều kiện kinh tế, xã hội như Việt Nam hiện nay, việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ngay lập tức là điều không thể. Vấn đề này còn liên quan tới rất nhiều yếu tố khác: tình trạng đói nghèo, giáo dục, văn hóa, nhận thức… Đây là những yếu tố không thể cải thiện trong một sớm một chiều. Vì vậy, chúng ta cần xác định những ưu tiên trong quá trình xây dựng luật pháp tiến tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đó là loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và các biện pháp ngăn ngừa và bảo vệ trẻ em lao động. Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế và nhu cầu của xã hội, chưa thể loại bỏ những công việc nhẹ nhàng, phù hợp với lao động trẻ em, tuy nhiên cần quy định chặt chẽ và rõ ràng về các công việc này, các điều kiện được sử dụng lao động trẻ em, các điều kiện đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động…

  • Bảo đảm phù hợp với các tiêu chuẩn của pháp luật lao động quốc tế Trong quá trình hoàn thiện pháp luật về ngăn ngừa, xóa bỏ lao động

trẻ em cần coi trọng yêu cầu bảo đảm phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế về lao động trẻ em, đặc biệt là Công ước số 138 và Công ước số 182 là hai Công ước cơ bản về lao động trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn. Bên cạnh đó, pháp luật cũng cần hướng tới việc tiếp cận các tiêu chuẩn, quy định cụ thể phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam được thể hiện trong các công ước mà Việt Nam chưa phê chuẩn nhưng có liên quan đến ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Ngoài ra, chúng ta cũng nên tham khảo những quy định tiến bộ về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em của các quốc gia khác.

3.2.3. Những giải pháp cụ thể về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

  • Thứ nhất, cần thống nhất cách dùng các thuật ngữ “trẻ em”, “người chưa thành niên”, “lao động trẻ em”, “lao động chưa thành niên” và quy định rõ khái niệm “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em”.

Pháp luật Việt Nam vẫn sử dụng đồng thời cả hai thuật ngữ “trẻ em” và “lao động chưa thành niên” mà không hề có phân biệt, quy ước rõ ràng dẫn tới việc gây khó khăn, nhầm lẫn cho việc áp dụng và nghiên cứu pháp luật về lĩnh vực này. Pháp luật cũng chưa có định nghĩa nào về lao động trẻ em, mặc dù thuật ngữ này đã được đề cập đến trong một số văn bản pháp luật, ví dụ: Khoản 7 điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2016 quy định các điều nghiêm cấm, trong đó có hành vi lạm dụng lao động trẻ em, trong khi đó, Bộ luật Lao động lại mới chỉ đề cập tới khái niệm “lao động chưa thành niên”. Các khái niệm này cũng chưa hoàn toàn phù hợp với các khái niệm trong pháp luật quốc tế về lao động trẻ em. Do đó, việc thống nhất các khái niệm này là vô cùng quan trọng vì đây là nền tảng trong lĩnh vực lao động trẻ em.

Bên cạnh đó, từ thực tế trên thế giới và cả Việt Nam cho thấy tính cấp thiết của ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, Việt Nam đã và đang xây dựng, thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về vấn đề này nhưng hệ thống pháp luật Việt Nam lại chưa hề đề cập đến khái niệm “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em”. Việc quy định khái niệm này trong văn bản pháp luật là điều đầu tiên chúng ta cần phải làm nhằm đạt được cam kết theo đuổi một chính sách quốc gia bảo đảm việc xóa bỏ một cách hiệu quả tình trạng lao động trẻ em như yêu cầu tại Điều 1 Công ước số 138 của ILO.

  • Thứ hai, cần bổ sung thêm điều kiện khi sử dụng lao động chưa thành niên.

Bộ luật Lao động mới chỉ có quy định người sử dụng lao động nếu sử dụng lao động từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người đại diện theo pháp luật và phải được sự đồng ý của người lao động. Tuy nhiên, pháp luật nên bổ sung thêm quy định về người đại diện tham gia ký kết hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động ở độ tuổi 15 đến 18 tuổi. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động chưa thành niên, giảm nguy cơ đối tượng này bị bóc lột, lạm dụng bởi người sử dụng lao động. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Thêm nữa, cần quy định cụ thể về tiêu chuẩn sức khỏe người lao động chưa thành niên. Luật mới chỉ quy định rất chung chung:

Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động [29, Điều 162].

Lao động chưa thành niên vẫn còn ở độ tuổi đang phát triển về tâm lý, sức khỏe, đạo đức và sự phát triển này là không đồng đều ở tất cả các em. Vì vậy, tiêu chuẩn sức khỏe cần là một căn cứ để giao kết hợp đồng với lao động chưa thành niên, đảm bảo công việc là phù hợp với bản thân các em. Đây cũng là một biện pháp ngăn ngừa trẻ em phải lao động sớm, phải làm những công việc ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.

Bên cạnh đó, luật cần bổ sung căn cứ để xác định độ tuổi của người lao động chưa thành niên với các quy định chặt chẽ về thời điểm xác định tuổi, giấy tờ chứng minh kèm theo trong hợp đồng lao động…

Thứ ba, cần có quy định riêng áp dụng cho đối tượng lao động chưa thành niên về an toàn và vệ sinh lao động để đảm bảo lao động chưa thành niên được bảo vệ và hỗ trợ trong làm việc ở những nơi có yếu tố nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm.

Thứ tư, cần rà soát, bổ sung danh mục các ngành nghề, công việc cấm sử dụng lao động trẻ em.

Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và Công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu của ILO đã đưa ra các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Bộ luật Lao động và Thông tư số 10/2025/TT-BLĐTBXH quy định và ban hành danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên cũng phù hợp với nội dung các công ước trên. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần tiếp tục rà soát, nghiên cứu để bổ sung danh mục này vì như đã phân tích ở trên, một số nghề, công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc những nghề, công việc khác thuộc khu vực phi chính thức còn diễn ra phổ biến nhưng chưa được nghiên cứu đưa vào danh mục nghề cấm sử dụng đối với nhóm đối tượng này.

Bên cạnh đó, thực tế là vẫn còn nhiều công việc mang tính chất nguy hại và do sự vận động phức tạp của xã hội, những công việc này rất khó nhận diện trong khi chúng để lại những hậu quả nặng nề cho sự phát triển của người chưa thành niên. Ví dụ, cần bổ sung thêm vào danh mục này các nơi làm việc diễn ra các hoạt động biểu diễn khiêu dâm cũng như sử dụng các em trong hoạt động biểu diễn khiêu dâm. Đây là những nơi rất khó để phát hiện vi phạm, cần có sự theo dõi sát sao, thanh kiểm tra thường xuyên nhằm ngăn ngừa và loại bỏ kịp thời vi phạm pháp luật về sử dụng lao động trẻ em.

Thứ năm, cần có quy định về chính sách chăm sóc sức khoẻ riêng cho người lao động chưa thành niên, đồng thời có quy định cụ thể, chi tiết và chặt chẽ riêng về thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động chưa thành niên. Như phân tích ở trên, Bộ luật Lao động mới chỉ có các quy định chính sách chăm sóc sức khỏe và thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi chung cho lao động mọi lứa tuổi.

Độ tuổi học nghề bắt đầu từ 14 là hợp lý. Tuy nhiên cũng cần có những quy định cụ thể về thời gian học nghề đối với độ tuổi này, đảm bảo phù hợp với sự phát triển về thể chất. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cần thúc đẩy việc ban hành danh mục những nghề, công việc cho phép lao động chưa thành niên được làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm (theo quy định của Bộ luật Lao động).

Thứ sáu, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật về lao động trẻ em.

Do lao động trẻ em là vấn đề phức tạp và thường diễn ra ở những khu vực, phạm vi khó kiểm soát, công tác thanh tra, kiểm tra cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm phát hiện vi phạm kịp thời. Trước tiên, cần ban hành quy trình thanh tra, kiểm tra riêng về vấn đề lao động trẻ em. Bên cạnh đó, phải thường xuyên cập nhật, nâng cao nghiệp vụ cho thanh tra, có quy định về cơ chế phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan, nhất là cơ quan công an trong việc nắm bắt thông tin, phát hiện và tiến hành điều tra, đặc biệt là tại các địa điểm như nhà hàng, vũ trường, phòng hát karaoke, cơ sở sản xuất tư nhân…

Bên cạnh công tác thanh tra, kiểm tra tình trạng lao động trẻ em, cần tăng cường giám sát sự tuân thủ pháp luật về lao động trẻ em.

“Giám sát sự tuân thủ pháp luật về lao động trẻ em phải được tiến hành thường xuyên và toàn diện với các doanh nghiệp và các gia đình” [37]. Việc này thể hiện ở những hành động như xác định trẻ em tại nơi làm việc, ghi nhận điều kiện làm việc và những nguy cơ mà các em phải đối mặt… Vì vậy, khái niệm này rộng hơn khái niệm thanh tra lao động, ở góc độ nhất định, thanh tra lao động có thể coi là một trong những cách thức giám sát lao động trẻ em. Vì lao động trẻ em thường xảy ra ở khu vực kinh tế phi chính thức nơi mà thanh tra lao động thường thiếu khả năng kiểm soát nên cần có thêm những chủ thể khác có điều kiện tiếp cận khu vực này để kịp thời phát hiện trẻ em lao động và trẻ em có nguy cơ bị bóc lột.

“Giám sát việc sử dụng lao động trẻ em cần do nhiều chủ thể tiến hành và phải có sự kết hợp giữa các chủ thể đó” [37]. Ví dụ, trong khi các tổ chức phi chính phủ có thể giám sát việc sử dụng trẻ em ở các xưởng sản xuất nhỏ ở khu vực kinh tế phi chính thức thì các cơ quan tư pháp có thể tập trung vào việc kiểm soát việc đưa trẻ em qua biên giới hoặc sử dụng trẻ em trong các hoạt động tội phạm. Các cán bộ khuyến nông có thể kết hợp giám sát việc sử dụng trẻ em trong các nông trại, còn các giáo viên và nhân viên y tế thì có thể giám sát qua việc quan sát và thông tin về tình hình đến trường của trẻ, hoặc tình trạng mệt mỏi của những học sinh vừa phải học vừa phải làm việc… Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Để hoạt động giám sát việc sử dụng lao động trẻ em thành công, cần vận động để nhà nước ban hành một khuôn khổ pháp luật phù hợp, cho phép nhiều chủ thể thực hiện các hoạt động giám sát về lao động trẻ em một cách thực chất và hiệu quả.

Thứ bảy, cần bổ sung các mức xử lý vi phạm pháp luật và tăng mức hình phạt đối với việc vi phạm pháp luật về lao động trẻ em.

Khi đã có khung pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em thì việc quan trọng tiếp theo là tổ chức thực thi có hiệu quả các quy định của nó. Thực thi pháp luật về cơ bản bao gồm việc giám sát và xử lý những vi phạm.

Về nguyên tắc, xử lý vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm pháp luật về lao động trẻ em nói riêng phải kịp thời, khách quan và nghiêm minh. Điều này sẽ giúp xóa bỏ được tình trạng lao động trẻ em trong hiện tại, đồng thời ngăn chặn những vi phạm xảy ra trong tương lai [37].

Trong việc xử lý vi phạm, ngoài các yếu tố kịp thời và khách quan, tính nghiêm minh của chế tài pháp lý rất cần được coi trọng. Những kẻ vi phạm có thể sẽ lại tiếp tục việc bóc lột sức lao động trẻ em nếu hình phạt áp dụng với chúng là không đáng kể, trong khi lợi nhuận mà chúng thu được từ việc này thường rất lớn. Vì vậy, ngoài việc trừng phạt, cần thiết phải có những chế tài bổ sung như tịch thu tài sản, bồi thường cho các nạn nhân trẻ em và gia đình các em, rút giấy phép kinh doanh… để tăng cường tính răn đe của pháp luật.

Xử lý vi phạm pháp luật về lao động trẻ em liên quan đến các ngành luật hành chính, lao động, hình sự và dân sự. Bên cạnh đó, cần khuyến khích áp dụng chế tài kỷ luật (của các cơ quan, tổ chức…) để tăng cường tính răn đe.

Hệ thống các cơ quan tư pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện và trừng phạt những vi phạm lao động trẻ em. Bởi vậy, các thẩm phán, công tố viên, cán bộ điều tra, và rộng hơn là cả các luật sư cần được tập huấn hoặc tuyên truyền, phổ biến những quy định pháp luật quốc tế và quốc gia về vấn đề này để áp dụng trong hoạt động chuyên môn.

Bên cạnh đó, còn có hạn chế nữa là ngành lao động – thương binh và xã hội được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý, chăm sóc, bảo vệ trẻ em nhưng chỉ có chức năng xác minh, kiến nghị xử lý và báo cáo, chứ không có thẩm quyền xử lý khẩn cấp. Một số nước trên thế giới, cơ quan quản lý có thẩm quyền đầy đủ để có thể xử lý nhanh những trường hợp khẩn cấp như trẻ lao động sớm bị bạo hành, ngược đãi. Đây là quy định tăng hiệu quả xử lý vi phạm lao động trẻ em mà pháp luật Việt Nam nên tham khảo và áp dụng. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Thứ tám, tăng cường bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân trẻ em sau khi trẻ được giải thoát khỏi tình trạng bị bóc lột sức lao động.

Để tránh làm cho trẻ tiếp tục bị tổn thương, luật pháp, quy trình, thủ tục về bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân trẻ em cần được xây dựng dựa trên nguyên tắc nền tảng là “trẻ em lao động là nạn nhân chứ không phải là những kẻ tội phạm hay những đối tượng hư hỏng” [37], và cần xác định những hình thức bảo vệ, hỗ trợ phù hợp với nhu cầu của các em.

Theo ILO-IPEC, để tránh tiếp tục làm tổn thương nạn nhân trẻ em, việc bảo vệ và hỗ trợ các em cần tuân thủ những yêu cầu cơ bản đó là: (a) Luôn ghi nhớ nguyên tắc bao quát là lợi ích tốt nhất giành cho trẻ em; (b) Đưa ra cách tiếp cận cụ thể trên cơ sở nhu cầu riêng của trẻ thông qua tìm hiểu tâm lý, quan điểm của trẻ; (c) Bảo đảm an toàn và bảo vệ trẻ em bất cứ lúc nào; (d) Không bao giờ đặt trẻ em lao động trẻ em vào tình trạng bị giam cầm, thậm chí chỉ trong một thời gian ngắn (vì các em không phải là tội phạm); (e) Bằng mọi giá phải tránh lặp lại sự đối xử tàn nhẫn với trẻ – không để trẻ bị đối xử thô bạo thêm một lần nào nữa; (g) Cung cấp nơi ở tạm thời hoặc lâu dài cho trẻ khi cần thiết; (h) Dành thời gian và nỗ lực xây dựng lại niềm tin của trẻ để giúp trẻ vượt qua sự khủng hoảng tâm lý; (i) Tôn trọng quyền riêng tư và bí mật của trẻ; (k) Giúp trẻ em, tại thời điểm thích hợp, tiếp cận với giáo dục kỹ năng sống và giáo dục hoặc đào tạo nghề, tùy theo nhu cầu cá nhân của trẻ; (l) Thúc đẩy quá trình tái hòa nhập cộng đồng của trẻ bằng cách làm việc với trẻ em và cộng đồng nơi trẻ sẽ sống; (m) Bảo đảm chắc chắn những người chăm sóc trẻ là những người được đào tạo, có kinh nghiệm và các kỹ năng, hiểu biết của họ được cập nhật thường xuyên.

3.2.4. Một số biện pháp hỗ trợ khác Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, cần tiến hành đồng thời các biện pháp hỗ trợ khác nhằm nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật. Một số biện pháp hữu hiệu có thể kể đến như sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về quyền trẻ em, lao động chưa thành niên, lao động trẻ em và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em. Đặc biệt cần chú trọng tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em vì đây là lĩnh vực khá mới. Công tác này cần hướng tới các đối tượng:

Trước hết là trẻ em, những đối tượng được pháp luật bảo vệ. Ngoài việc cung cấp cho các em nội dung về các quyền trẻ em, cần chú ý đến các quy định về độ tuổi lao động tối thiểu, các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, các điều kiện và nội dung của hợp đồng lao động, các cơ quan có thể đại diện bảo vệ quyền lợi của các em… Đây là cơ sở để các em tự bảo vệ mình hoặc nhờ tới sự giúp đỡ từ các cơ quan có thẩm quyền.

Cho người sử dụng lao động, là các tổ chức và cá nhân trong mọi loại hình kinh tế, mọi khu vực với quy mô, ngành nghề đa dạng. Ngoài các nội dung nêu trên như đối với các em, cần tuyên truyền, phổ biến về điều kiện sử dụng lao động trẻ em, đặc biệt là các quy định về lập sổ, đăng ký, khai báo…; các quy định về an toàn và vệ sinh lao động; các quy định về xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hình sự trong vấn đề lao động trẻ em..

Cho các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội khác và cả gia đình. Do sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức này là rất cần thiết cho công cuộc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, gia đình là chỗ dựa và bảo trợ của trẻ em lao động cả về vật chất lẫn tinh thần.

Thứ hai, “tăng cường phối hợp trong hành động về lao động trẻ em” [37].

Lao động trẻ em là vấn đề rộng lớn, phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống và nhiều chủ thể khác nhau. Do đó, nhiệm vụ này phải do nhiều chủ thể cùng phối hợp tiến hành, trong đó nòng cốt là các chính phủ, các tổ chức của người sử dụng lao động và các tổ chức chính trị, xã hội… Mỗi chủ thể đều có những thế mạnh và hạn chế nhất định nên việc phối hợp hành động là rất cần thiết để phát huy tối đa sức mạnh và các nguồn lực, đồng thời để hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo trong các hoạt động. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Thứ ba, thúc đẩy giáo dục cho trẻ em.

ILO coi ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em và giáo dục cho tất cả trẻ em là hai vấn đề có liên quan mật thiết với nhau. Cả hai Công ước số 138 và 182 đều quy định các hoạt động, đặc biệt là các chương trình hành động quốc gia về xóa bỏ lao động trẻ em cần quan tâm đến tầm quan trọng của giáo dục, và dữ liệu quốc gia về lao động trẻ em cần bao gồm những thông tin về tình hình học tập của trẻ em. Các công ước này cũng nhấn mạnh đến quyền của trẻ em được tiếp cận giáo dục cơ bản miễn phí và đào tạo nghề.

Để giáo dục phát huy tác dụng ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, cấp giáo dục tiểu học (giáo dục cơ bản) phải thật sự miễn phí. Các chính phủ có trách nhiệm xác định rõ và có biện pháp giảm thiểu, xóa bỏ những chi phí phụ trong giáo dục. Thêm vào đó, cần quan tâm đặc biệt đến giáo dục cho trẻ em gái, trẻ em bỏ học và trẻ em lao động để giúp các em có thể trở lại trường hoặc theo học các chương trình giáo dục thay thế. Ở những nơi hệ thống trường học chính quy không đáp ứng được nhu cầu học tập, cần tổ chức những chương trình giáo dục không chính quy và dạy nghề cho trẻ em.

Thứ tư, cần nghiên cứu, hình thành và cập nhật một hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan đến lao động trẻ em, làm cơ sở để xây dựng những chính sách, chương trình hiệu quả nhằm xóa bỏ lao động trẻ em và thiết lập những quy định để xử lý những vi phạm liên quan đến việc sử dụng lao động trẻ em trái pháp luật.

Kết luận Chương 3

Thực trạng ở Việt Nam cho thấy lao động trẻ em vẫn gia tăng. Pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em về cơ bản đã phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế tuy nhiên vẫn chưa được hệ thống và vẫn còn khá chung chung. Nhiều quy định cần được bổ sung như điều kiện việc làm, thanh tra, xử lý vi phạm lao động trẻ em… Thực tế cũng cho thấy việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực lao động trẻ em còn yếu. Chúng ta cần phải hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về vấn đề lao động trẻ em nói chung và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng cũng như tiến hành đảm bảo thực thi pháp luật một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, cần xây dựng và thực hiện tốt các chính sách quốc gia về thúc đẩy giáo dục cho trẻ em, bảo vệ, chăm sóc trẻ em và cả các biện pháp xóa đói giảm nghèo. Đây là những biện pháp hỗ trợ nhằm ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

Lao động trẻ em hiện nay là vấn đề toàn cầu, không chỉ của riêng một quốc gia hay cộng đồng. Tại Việt Nam, tình trạng lao động trẻ em ngày càng gia tăng, kéo theo là những tác động tiêu cực không chỉ tới sự phát triển toàn diện của trẻ, mà còn tới cả cộng đồng, xã hội và quốc gia. Do đó, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là một hành động cần thiết. Tuy nhiên, cần nhận thức một cách rõ ràng rằng, xóa bỏ lao động trẻ em không thể tiến hành ngay lập tức, vì đây là vấn đề phức tạp, bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân về kinh tế, xã hội, văn hóa… Vì vậy, cần xác định những ưu tiên hành động trong quá trình tiến tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đó là loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, phòng ngừa trẻ em lao động sớm và tiến hành các biện pháp bảo vệ trẻ em lao động.

Để ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, cần thực hiện các chính sách về giáo dục, chính sách giảm nghèo và việc làm… và quan trọng nhất là phải xây dựng được một khuôn khổ pháp luật lao động trẻ em và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em hoàn thiện và đầy đủ, là cơ sở để thực hiện các chương trình và chính sách về vấn đề này.

Việt Nam đã rất nỗ lực trong việc tiến tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, thể hiện ở việc tích cực tham gia ký kết các điều ước quốc tế, đặc biệt là hai điều ước quan trọng của Tổ chức Lao động quốc tế ILO về vấn đề lao động trẻ em: Công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu và Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức nhằm xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất. Pháp luật Việt Nam về lao động trẻ em cũng đã xây dựng được những quy định là nền tảng cho việc bảo vệ lao động trẻ em, ngăn ngừa trẻ em lao động sớm. Nhìn chung, các quy định này đều phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế tại các điều ước mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về lao động trẻ em và ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em vẫn còn chưa hoàn chỉnh, nhiều quy định cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn và điều chỉnh một cách đầy đủ, toàn diện hơn. Tính thực thi pháp luật cũng chưa cao, việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động trẻ em còn kém hiệu quả. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về vấn đề này là nhu cầu cấp thiết và phải đảm bảo các yêu cầu: phù hợp với thực tiễn Việt Nam và phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Bên cạnh đó, cũng cần phải hoàn thiện cơ chế áp dụng hữu hiệu pháp luật trong thực tiễn.

Lao động trẻ em là vấn đề rộng lớn, phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống và nhiều chủ thể khác nhau. Do đó, nhiệm vụ này phải do nhiều chủ thể cùng phối hợp tiến hành, trong đó nòng cốt là các chính phủ, các tổ chức của người sử dụng lao động và các tổ chức chính trị, xã hội… Mỗi chủ thể đều có những thế mạnh và hạn chế nhất định nên việc phối hợp hành động là rất cần thiết để phát huy tối đa sức mạnh và các nguồn lực, đồng thời để hạn chế sự trùng lặp, chồng chéo trong các hoạt động.

Việt Nam là một nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu xây dựng xã hội giàu mạnh, đảm bảo quyền con người, trong đó có trẻ em – thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước. Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là một nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo điều kiện cho thế hệ tương lai này được phát triển một cách toàn diện. Cùng với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về lao động trẻ em và các chính sách về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, hy vọng rằng loại bỏ lao động trẻ em sẽ không còn là mục tiêu quá xa vời với Việt Nam. Luận văn: Giải pháp PL về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464