Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam và một số giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở VIỆT NAM
3.1.1. Pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam
Xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng sâu rộng trên khắp thế giới. Việc hội nhập kinh tế quốc tế mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức cho các nhà sản xuất trong nước. Đó là phải cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, đặc biệt là khi xuất hiện hành vi bán phá giá hàng hóa. Để đáp ứng được những đòi hỏi trong thực tiễn hoạt động thương mại cũng như thể hiện được tính chủ động trong tiến trình hội nhập, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề chống bán phá giá như: Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 20/2018/PL-UBTVQH 11 ngày 29/4/2018 về việc chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số: 45/2019/QH11 ngày 14/6/2019, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 40/2016/PL-UBTVQH 10 ngày 10/5/2016 về giá…
Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là văn bản pháp lý hoàn chỉnh đầu tiên về chống bán phá giá, đưa ra những căn cứ pháp lý đầy đủ đầu tiên cho phép thực thi các biện pháp chống bán phá giá tại Việt Nam. Đây có thể được coi như một thành quả đánh dấu một tiến bộ lớn của hệ thống pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá. Nhìn chung, các quy định tại Pháp lệnh này tương thích với các quy định về chống bán phá giá của WTO và nhiều nước trên thế giới.
Do nội dung của Pháp lệnh rất rộng, nên trong khuôn khổ hạn chế của Luận văn này không thể đề cập đến mọi nội dung, mà chỉ giới hạn phân tích 4 điểm cơ bản sau đây:
- Xác định hàng hóa bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
- Điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá
- Các quy định về điều tra
- Quy định về giải quyết tranh chấp
3.1.1.1. Xác định hàng hóa bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Pháp luật chống bán phá giá của các nước xác định hàng hóa bị bán phá giá để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá là khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết quan điểm của các nước là dựa trên tinh thần “không tự trói mình”. Cho nên họ không quy định chi tiết, cụ thể việc xác định khối lượng hàng hóa tương tự được tiêu thụ trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu, phương pháp xác định giá trị hàng hóa… để dễ dàng, linh hoạt hơn khi vận dụng và xử lý đối với từng vụ việc cụ thể. Hơn nữa trong nhiều trường hợp, phải xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng về tương quan và lợi ích tổng thể trong quan hệ thương mại với các nước trước khi xác định hàng hóa đó có bị bán phá giá hay không. Trong bối cảnh, thế và lực của chúng ta trên trường quốc tế chưa đủ mạnh thì đây là một vấn đề cần chú ý. Vì lẽ đó, Pháp lệnh chống bán phá giá của Việt Nam đã xác định hàng hóa bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam tại Điều 3 như sau: Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
- Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam (sau đây gọi là hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam) nếu hàng hóa đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
- Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.
- Trong trường hợp không có hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hóa tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu nhưng với khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa không đáng kể thì giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được xác định theo một trong hai cách sau đây:
Giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu đang được bán trên thị trường một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường;
Giá thành hợp lý của hàng hóa cộng thêm các chi phí hợp lý khác và lợi nhuận ở mức hợp lý, xét theo từng công đoạn từ sản xuất đến lưu thông trên thị trường của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc nước thứ ba [24].
Để xác định được hàng hóa bị bán phá giá vào Việt Nam, vấn đề quan trọng nhất là phải so sánh được Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam với Giá xuất khẩu hàng hóa đó vào Việt Nam, trên cơ sở đó mới tính toán được biên độ bán phá giá. Pháp lệnh chống bán phá giá của Việt Nam không định nghĩa về giá xuất khẩu, trong khi ADA lại quy định vấn đề này khá chi tiết.
Khái niệm giá thông thường mà theo định nghĩa tại khoản 2 Điều 3 của Pháp lệnh là “giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường” [24]. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Đối với việc xác định biên độ bán phá giá: sau khi xác định được giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và giá thông thường của hàng hóa đó, sẽ phải tiến hành xác định biên độ bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Theo khoản 2 Điều 2 Pháp lệnh, biên độ bán phá giá là khoảng chênh lệch có thể tính được giữa giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam so với giá xuất khẩu hàng hóa đó vào Việt Nam. Việc xác định biên độ bán phá giá có ý nghĩa rất quan trọng đối với cơ quan điều tra để xem xét có ra quyết định áp dụng hay không áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Nếu biên độ bán phá giá là không đáng kể (không vượt quá 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam) thi cơ quan điều tra sẽ ra quyết định chấm dứt điều tra. Còn nếu biên độ bán phá giá là đáng kể thì cơ quan điều tra sẽ có quyền ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá.
- Nếu so sánh với định nghĩa về tồn tại phá giá tại Điều 2 của ADA của WTO có thể thấy sự khác biệt:
Một sản phẩm phải bị coi là đối tượng bán phá giá, tức là khi được đưa vào thị trường của một nước khác ở mức giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó, khi nó được xuất khẩu bởi một nước này vào một nước khác, ở mức thấp hơn giá có thể so sánh được đang được bán trong hoạt động thương mại thông thường của sản phẩm tương tự cho tiêu dùng tại nước xuất khẩu [13].
Như vậy, để xác định có việc bán phá giá hay không, WTO quy định căn cứ vào giá trị thông thường của sản phẩm để so sánh với giá xuất khẩu, trong khi Pháp lệnh chống bán phá giá của Việt Nam quy định căn cứ giá thông thường của hàng hóa đó để so sánh với giá xuất khẩu.
3.1.1.2. Điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá
Pháp lệnh quy định việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá tại Điều 6 như sau:
Biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng đối với hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam khi có hai điều kiện sau đây:
- Hàng hóa bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá phải được xác định cụ thể;
- Việc bán phá giá hàng hóa quy định tại khoản 1 Điều này là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Điều kiện thứ nhất, hàng hóa bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá được xác định cụ thể đã được phân tích ở trên.
Điều kiện thứ hai: theo khoản 7 và 8 Điều 2 Pháp lệnh thì thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước được hiểu là: là tình trạng suy giảm đáng kể hoặc kìm hãm tăng trưởng về sản lượng, mức giá, mức tiêu thụ hàng hóa, lợi nhuận, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm của người lao động, đầu tư và các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước hoặc là tình trạng dẫn đến khó khăn cho việc hình thành một ngành sản xuất trong nước.
Nếu so sánh với các điều kiện áp dụng biện pháp chóng bán phá giá của ADA thấy rằng ADA đưa ra ba điều kiện như sau: hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá; ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể; có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại.
Như vậy, Pháp lệnh không tách có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại là một điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá mà thực chất điều kiện có mối quan hệ nhân quả này đã nằm trong điều kiện thứ hai là việc bán phá giá đã được xác định ở điều kiện thứ nhất là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
Nguyên nhân ở đây chính là mối quan hệ nhân quả giữa hành động bán phá giá với thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
3.1.1.3. Các quy định về quá trình điều tra
- Thứ nhất, ra quyết định điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
Trường hợp căn cứ để tiến hành điều tra là dựa trên hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá của tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước thì theo Điều 10 Pháp lệnh, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, nếu xét thấy hồ sơ yêu cầu chưa đầy đủ nội dung theo quy định thì cơ quan điều tra phải thông báo cho tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ để bổ sung. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Theo quy định, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra là Bộ trưởng Bộ thương mại. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ có đầy đủ nội dung thì Bộ trưởng Bộ thương mại ra quyết định điều tra, trường hợp đặc biệt thời hạn ra quyết định điều tra có thể được gia hạn nhưng không được 30 ngày.
- Thứ hai, nội dung điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
Điều 12 Pháp lệnh quy định nội dung điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá bao gồm:
- Xác định hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá.
- Xác định thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước trên cơ sở xem xét các nội dung sau:
- Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam so với khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự được sản xuất hoặc tiêu thụ trong nước đã, đang hoặc sẽ tăng lên đáng kể một cách tuyệt đối hoặc tương đối;
- Tác động về giá của hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá đến việc phải hạ giá hoặc kìm hãm khả năng tăng giá hợp lý của hàng hóa tương tự trong nước;
- Tác động xấu đến ngành sản xuất trong nước hoặc đến sự hình thành ngành sản xuất trong nước.
- Quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hóa vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước [24].
Việc tiến hành điều tra ba nội dung trên có ý nghĩa rất quan trọng và là khâu quyết định để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
- Thứ ba, thời hạn điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá
Khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh quy định thời hạn điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá là không quá 12 tháng, kể từ ngày có quyết định điều tra. Thời hạn 12 tháng là đủ để cơ quan điều tra có thể xem xét các vấn đề thuộc về nội dung điều tra. Việc quy định thời hạn như trên là phù hợp với các quy định của ADA. Tuy nhiên cần nhắc đến khả năng thực tế của Việt Nam là một nước mới tham gia thương mại quốc tế, chưa có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này thì trong nhiều trường hợp cần một thời hạn điều tra dài hơn. Cho nên khoản 2 Điều 16 quy định trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Thương mại có thể quyết định gia hạn điều tra nhưng không quá sáu tháng. Như vậy, thời hạn điều tra trong trường hợp đặc biệt có thể lên đến mười tám tháng kể từ ngày có quyết định điều tra. Việc các nước thành viên WTO quy định cho mình một thời hạn điều tra khác với quy định của WTO là có thể xảy ra, miễn nước đó cho là phù hợp với điều kiện của mình, bất kể thời hạn đó dài hơn hay ngắn hơn quy định của WTO.
- Thứ tư, các kết luận trong quá trình điều tra.
Trong quá trình điều tra vụ việc chống bán phá giá, cơ quan điều tra phải đưa ra các kết luận, làm cơ sở cho Bộ trưởng Bộ thương mại ra các quyết định cần thiết như quyết định chấm dứt điều tra hay quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
3.1.1.4. Quy định về giải quyết tranh chấp
Theo quy định của ADA, Điều 13 về cơ chế khiếu kiện độc lập: Tất cả các thành viên WTO mà luật pháp quốc gia có quy định biện pháp chống bán phá giá phải đảm bảo một cơ chế hành chính, trọng tài hoặc tòa án độc lập với cơ quan điều tra nhằm rà soát lại các quyết định hành chính liên quan đến việc ra kết luận cuối cùng về việc có áp dụng thuế chống bán phá giá hay không và việc điều chỉnh thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá.
Có thể nói đây là một quy định chặt chẽ và hợp lý, thực hiện cơ chế xét xử hai cấp và đưa ra đảm bảo cho việc thực thi cơ chế đó bằng cách yêu cầu các nước thành viên phải có một cấp xét xử thứ hai độc lập với cơ quan điều tra về chống bán phá giá.
Nếu so sánh với Chương V Pháp lệnh có quy định: Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
- Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày Bộ trưởng Bộ Thương mại ra quyết định về áp dụng thuế chống bán phá giá, nếu các bên liên quan đến quá trình điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá không đồng ý với quyết định của Bộ trưởng Bộ Thương mại thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Thương mại.
- Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Thương mại có trách nhiệm giải quyết khiếu nại; trường hợp đặc biệt, thời hạn giải quyết khiếu nại được gia hạn nhưng không quá sáu mươi ngày và phải thông báo bằng phương thức thích hợp cho tổ chức, cá nhân có khiếu nại.
- Trường hợp quá thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà Bộ trưởng Bộ Thương mại chưa ra quyết định giải quyết khiếu nại hoặc tổ chức, cá nhân khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Thương mại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam [24].
Ở đây có quy định thủ tục khiếu nại trước khi thực hiện thủ tục khởi kiện với tính chất khiếu nại để được xem xét lại quyết định đã có về việc áp dụng thuế chống bán phá giá. Tuy nhiên, người ra quyết định ban đầu về áp dụng thuế chống bán phá giá là Bộ trưởng Bộ thương mại, đồng thời người xử lý khiếu nại về quyết định nói trên của Bộ trưởng Bộ thương mại cũng lại chính là Bộ trưởng Bộ thương mại. Về mặt lý luận, việc quy định hai cấp xét xử nhưng lại trao quyền xét xử cho một cơ quan thì thực tế không có xét xử hai cấp.
3.1.2. Thực trạng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Trước đà tăng trưởng mạnh mẽ của xuất nhập khẩu nước ta, Việt Nam đã và đang phải đối mặt với rất nhiều vụ kiện về chống bán phá giá hàng xuất khẩu. Tính từ năm 2008 đến tháng 12 năm 2025, chúng ta phải đối mặt với tổng cộng 42 vụ kiện chống bán phá giá từ các tổ chức nước ngoài.
Trái ngược với hàng loạt các vụ kiện chống bán phá giá và nguy cơ đối mặt với các vụ kiện chống bán phá giá kể trên thì Việt Nam chưa tiến hành một vụ kiện chống bán phá giá nào đối với hàng hóa xuất khẩu của nước ngoài. Trong nhiều năm trở lại đây, sự canh tranh trên thị trường Việt Nam đã và đang diễn ra rất gay gắt giữa các doanh nghiệp đến từ các nước có nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan… với nhau và giữa các doanh nghiệp đó với các doanh nghiệp Việt Nam. Doanh nghiệp nước ngoài đã tung ra các chiến dịch xúc tiến thương mại rầm rộ như khuyến mại, quảng cáo khiến doanh nghiệp Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để ganh đua với họ. Điều đáng lo là sau khi đã hạ được doanh nghiệp Việt Nam, chiếm lĩnh thị trường nội địa, các doanh nghiệp nước ngoài bắt đầu chiến dịch tăng giá để thu lợi nhuận độc quyền. Cùng với đó, tình trạng buôn lậu ở nước ta vẫn diễn biến phức tạp, nhất là khu vực biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc. Hàng hóa nhập lậu chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc, được vận chuyển vào Việt Nam qua đội ngũ cửu vạn, đang tràn ngập thị trường nước ta từ thành thị đến nông thôn. Các loại hàng này có giá rất rẻ, phần lớn là hàng hóa ế thừa, hàng kém chất lượng, hàng hết hạn sử dụng, hàng do địa phương sản xuất. Với tình trạng trên, thị trường Việt Nam khó có thể ổn định và lành mạnh được, ngành sản xuất trong nước gặp nhiều thiệt hại nặng nề.
Trước sự dồn ép của hàng ngoại, thị phần của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng bị thu hẹp, thậm chí các doanh nghiệp làm ăn khấm khá một thời trong các lĩnh vực như xe đạp, điện tử, quạt điện, may mặc, nước giải khát … cũng điêu đứng. Rõ ràng, ở Việt Nam đã có hiện tượng xảy ra một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có hiện tượng bán phá giá hàng hóa. Bán phá giá có thể xảy ra trong những ngành như cơ khí, máy nông nghiệp, thép, xi măng, điện tử dân dụng, giấy, dệt may, rượu bia nước giải khát, thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm. Nhìn chung, các hiện tượng chống bán phá giá ở Việt Nam thường nhằm một số mục đích chủ yếu sau: Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Thứ nhất, bán phá giá để loại bỏ đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần của mình. Đây là một hành vi được các nhà sản xuất nước ngoài sử dụng khá phổ biến ở thị trường Việt Nam khi mà ta chưa có một hệ thống pháp luật chống bán phá giá đầy đủ và cơ quan thực thi pháp luật tốt. Các công ty đa quốc gia (MNC) đã thực hiện chiến lược bán phá giá và sử dụng các hình thức quảng cáo, khuyến mãi rầm rộ để giành thị trường nhằm thôn tính các doanh nghiệp nội địa theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”. Họ làm được điều này là do khả năng tài chính hùng mạnh từ công ty mẹ mà các công ty nhỏ tại nước chủ nhà sẽ không đủ lực về tài chính để lao vào các cuộc cạnh tranh hoàn toàn bất lợi cho mình. Doanh nghiệp nước ngoài đã bù lỗ hoặc dùng hàng tồn kho ở thị trường khác đem chào bán vào thị trường Việt Nam với giá gần 75% giá bình thường như “các hãng mỹ phẩm P&G (Protec & Gamble), hãng Colgate – Pamolive nhập khẩu kem đánh răng chỉ khai bán giá thấp hơn kem đánh răng Dạ Lan nội địa” [7, tr. 58]. Các hãng bia, rượu ngoại như Tiger, Heineken, Remy Martin, Henessy đã chiếm lĩnh hơn 80% thị trường rượu tại Việt Nam, khiến cho hai doanh nghiệp sản xuất rượu lớn nhất tại Việt Nam là nhà máy rượu Bình Tây bị đóng cửa và nhà máy bia rượu Hà Nội bị giảm sản lượng tiêu thụ một cách đáng kể.
Trong cuộc đấu tranh giành thị trường của các công ty nước giải khát tại Thành phố Hồ Chí Minh đã từng tồn tại cuộc đối đầu giữa hai công ty liên doanh khổng lồ về nước giải khát là công ty Coca Cola và công ty Pepsi Cola.
Các công ty nước giải khát nội địa như Festi, Hòa Bình, Chương Dương,… không đủ sức trong cuộc cạnh tranh và đành phải bỏ cuộc.
Riêng công ty nước giải khát Tribeco nhờ có sự thay đổi chiến lược kinh doanh nên vẫn còn tồn tại nhưng trong thế yếu (công ty đã giảm khoảng 50% công suất nước ngọt để sản xuất sữa đậu nành để không làm ảnh hưởng đến sản xuất, đến đời sống công nhân, cố gắng kìm giữ thị phần nước ngọt sao cho đừng xuống quá thấp, đồng thời dùng lãi từ các năm trước cộng với lãi từ sữa đậu nành chuyển qua để hạn chế thua lỗ. Mục tiêu hiện nay của công ty Tribeco là bảo toàn được đồng vốn trước các đòn cạnh tranh không cân sức của hai người khổng lồ là Coca Cola và Pepsi Cola) [7, tr. 58-59].
Bằng những cách thức như vậy, các công ty đa quốc gia lộ rõ tham vọng thao túng toàn bộ thị trường nội địa, loại khỏi “sân chơi” các công ty cùng ngành bản xứ để chiếm thị phần lớn hơn và lợi dụng điều này để làm bàn đạp hỗ trợ cho các thị trường khác trong khu vực nhưng thị phần còn nhỏ.
Theo các thống kê cho thấy một số doanh nghiệp FDI tiến hành các chiến dịch tranh giành thị phần bằng con đường bán phá giá, lượng bán phá giá đạt đến mức kỷ lục là 25-30% trên doanh thu, góp phần gây lỗ trầm trọng hơn cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam nhưng lại có lợi cho thương hiệu của công ty mẹ ở nước ngoài. Thực vậy, việc kê khai giảm giá đầu ra của các doanh nghiệp FDI, không những thực hiện được những hành vi chuyển giá trong nội bộ của công ty đa quốc gia mà còn thao túng thị trường nội địa của nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc bán phá giá. Hiện tượng này thể hiện rõ nét nhất thông qua tình hình hoạt động kinh doanh của công ty Coca Cola Chương Dương. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Thực tế, phản ánh rõ ràng hơn đối với sản phẩm Coca Cola ở chỗ: một lon Coca Cola ở thị trường Mỹ là 75 cents (tương đương khoảng 10500 đồng) trong khi một lon Coca Cola bán tại thị trường Việt Nam bình quân một lon giá 5.000 đồng – 7.000 đồng (tương đương khoảng 40 – 50 cents) thấp hơn giá bình quân trên thị trường Mỹ là 25 cents (tỷ giá tạm tính 14.000 VND/USD). Đây phải chăng là hiện tượng bán phá giá của Công ty Coca Cola Chương Dương được điều phối từ công ty mẹ thông qua chiến lược bán hàng và chính sách mua nguyên liệu từ công ty con ở Việt Nam. Nghiên cứu cũng chỉ ra Công ty Coca Cola Chương Dương đã xâm chiếm thị phần của các đối thủ bằng con đường bán phá giá (đặc biệt trong hai tháng 3 và tháng 4/2012 Coca Cola đã bán phá giá kỷ lục là 30%) trong khi liên doanh này không hề có sự chuyển biến rõ rệt về công nghệ, về năng suất lao động và hiệu suất trong các khâu khác. “Đợt tổ chức khuyến mãi Cúp bóng đá thế giới 2012, công ty đã chi một số tiền 1,8 tỷ đồng bất chấp sự không đồng ý của phía đối tác Việt Nam, làm cho Công ty đã lỗ càng lỗ nặng. Trong chiến dịch khuyến mãi vào tháng 3 – 4/2012 Công ty đã lỗ đến 20 tỷ đồng” [1].
Về vụ việc thép cuộn Trung Quốc: năm 2020, hàng vạn tấn thép giá rẻ từ Trung Quốc tràn vào Việt Nam. Một số loại thép được chào bán ngang bằng với giá phôi, trong khi đó, chi phí giá công từ phôi sang thép thành phẩm tại bất kì một nhà máy thép nào của Việt Nam và trong khu vực đều ở mức 35 – 60 USD/tấn. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, giá bán thép cuộn nói trên chưa bao gồm VAT của các nhà sản xuất trong nước dao động trong khoảng 7,2 – 7,5 triệu đồng/tấn. Tại khu vực phía Nam, giá thép cuộn có giá cao hơn: 7,8 triệu đồng/tấn.
Theo đó, giá phôi thép chào bán tại các cảng Việt Nam khoảng 400 USD/tấn thì giá thép cuộn ở mức 405 USD/tấn. Giống như ngành thép trong khu vực và các nhà máy thép trên thế giới, chi phí gia công từ phôi sang thép thành phẩm tại các nhà máy Việt Nam dao động từ 35 – 60 USD/tấn. Nhưng đối với loại thép từ Trung Quốc sang Việt Nam, mức chi phí gia công từ phôi sang thép thành phẩm gần như bằng 0. Do giá bán rẻ hơn nên hàng loạt nhà máy thép Việt Nam đứng trước nguy cơ phải dừng sản xuất dòng sản phẩm thép này. Trước khi xuất hiện loạt sản phẩm thép giá rẻ này từ Trung Quốc, “mức tiêu thụ thép cuộn hàng tháng của nhà máy gang thép Thái Nguyên là khoảng 5 – 6 nghìn tấn 1 tháng. Nhưng kể từ lúc xuất hiện thép giá rẻ từ Trung Quốc, doanh số bán ra bị giảm gần 50%” [6]. Tình trạng này cũng xảy ra với doanh nghiệp thép Hòa Phát, VPS.
Trước tình hình như trên, có ý kiến cho rằng cần phải liên minh các nhà sản xuất thép trong nước với nhau để bán với giá thấp hơn nhưng bị phản đối. Lý do là nếu tính tổng mức tiêu thụ thép cuộn miền Bắc khoảng 2,5 – 3 vạn tấn/tháng và mỗi tấn phải chấp nhận lỗ khoảng 500 nghìn đồng thì thiệt hại mỗi tháng sẽ là 15 tỷ đồng, chưa kể công ăn việc làm của người lao động bị đe dọa. Ảnh hưởng của thép Trung Quốc giá rẻ đã khiến 23 doanh nghiệp thép Việt Nam phải giảm sản lượng thép cuộn và nhiều đơn vị phải tạm ngưng sản xuất mặt hàng này. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
- Thứ hai, bán phá giá để tiêu thụ sản phẩm ế thừa, có chất lượng thấp.
Hiện tượng này đang xảy ra rất phổ biến ở thị trường Việt Nam và đang gây ra không ít khó khăn cho các nhà sản xuất trong nước. Hàng hóa được bán phá giá nhằm mục đích này chủ yếu là hàng hóa xuất xứ từ các nước đang phát triển như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan…Hiện nay, ở Trung Quốc có nhiều nhà sản xuất thủ công ở các địa phương, họ sản xuất ra nhiều hàng hóa nhưng rất khó tiêu thụ trong nước, hoặc tiêu thụ chậm. Do vậy họ thường tìm cách tiêu thụ sản phẩm đó ở thị trường nước ngoài. Việt Nam là một thị trường lớn được hàng hóa Trung Quốc hướng tới, thậm chí cả hàng hóa cao cấp do nhà máy ở trung ương sản xuất. Tuy nhiên, hầu hết hàng Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu được nhập lậu qua biên giới, trốn thuế nên giá càng rẻ.
Một ngành công nghiệp của Việt Nam đang bị ảnh hưởng nặng nề của hàng nhập lậu giá rẻ là ngành sản xuất xe đạp, xe máy.
Theo ước tính mỗi năm có khoảng 600 – 700 nghìn xe đạp ngoại nhập lậu vào Việt Nam. Con số này gấp hơn hai lần số xe đạp mà ngành sản xuất xe đạp Việt Nam sản xuất và tiêu thụ được. Trong tổng số xe đạp nhập khẩu vào Việt Nam, chủ yếu là xe đạp Trung Quốc. Giá xe đạp Trung Quốc nhập khẩu rất rẻ, ban đầu chỉ khoảng 400 – 500 nghìn đồng/xe [7, tr. 59].
Khi chính phủ yêu cầu dán tem nhập khẩu vào mặt hàng xe đạp thì giá xe đạp nhập khẩu (hầu hết là hàng lậu), lẽ ra phải cao hơn do chịu thuế, lại giảm xuống chỉ khoảng từ 300 – 400 nghìn đồng/ xe. Với mức giá này thì xe đạp trong nước không thể cạnh tranh với xe nhập khẩu, rất nhiều doanh nghiệp sản xuất xe đạp đứng trên bờ vực phá sản, đóng cửa hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, xe máy Trung Quốc giá rẻ đang tràn ngập thị trường Việt Nam. Chỉ khoảng 5 – 6 triệu đồng có thể mua được một chiếc xe máy Trung Quốc có kiểu dáng của xe Dream, Wave, Viva và khoảng 20 triệu đồng để mua một chiếc xe kiểu dáng Spacy, SH, Dylan…
Ngành sản xuất đường của Việt Nam cũng chịu tình cảnh tương tự, khi mà giá đường nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan vào Việt Nam rẻ hơn rất nhiều so với giá đường nội địa. Thông thường giá đường nhập khẩu thấp hơn giá thành đường trong nước từ 400 – 1.000 đồng/kg. Điều này khiến cho ngành đường trong nước bị trì trệ, các công ty sản xuất đường trong nước mặc dù có công suất lớn nhưng do giá thành đã không thể cạnh tranh được với đường nhập lậu.
Theo khảo sát của các nhà kinh tế, khoảng 40 – 45% số lượng hàng may mặc trên thị trường nội địa hiện nay là nhập khẩu, không rõ nguồn gốc. Trong đó chủ yếu là hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Ước tính tổng kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may Trung Quốc vào nước ta phải lên đến 2 tỷ USD mỗi năm và có xu hướng ngày càng tăng. Hàng dệt may Trung Quốc giá rẻ đi vào Việt Nam thông qua đường chính ngạch lẫn tiểu ngạch và thường làm từ những nguyên liệu tồn kho và dư thừa trong quá trình sản xuất. Giá thành của những sản phẩm này đã được tính vào thành phẩm xuất khẩu sang các thị trường cao cấp như Mỹ, EU, nên hàng dệt may Trung Quốc mới có giá rẻ ở thị trường Việt Nam.
- Thứ ba, ở Việt Nam còn xảy ra hiện tượng bán hàng hóa với giá thấp để bị thua lỗ.
Hiện tượng này thường xảy ra ở các công ty liên doanh giữa một bên là phía Việt Nam, một bên là đối tác nước ngoài có khả năng dồi dào về tài chính, nhằm mục đích đẩy phía Việt Nam ra khỏi liên doanh, biến liên doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài. Đối tác nước ngoài quyết định bản sản phẩm với giá thấp, khiến cho công ty bị thua lỗ trong một thời gian, phía Việt Nam do tiềm lực kinh tế không lớn, năng lực cán bộ tham gia liên doanh không ngang tầm quản lý đã phải nhường lại phần vốn của mình cho họ. Ví dụ như liên doanh Coca – Cola Ngọc Hồi. Việc bán phá giá như thế này chỉ có phía Việt Nam chịu thiệt hại, còn phía nước ngoài thì vẫn có lãi, thông qua việc cung cấp nguyên liệu, công nghệ, thiết bị giá cao.
Tất cả hiện tượng bán phá giá nói trên đều mới chỉ là những nhận định ban đầu vì chúng ta chưa tổ chức một cuộc điều tra chống bán phá giá nào chính thức. Tuy nhiên, với những hiện tượng đã đề cập có thể khẳng định tình trạng bán phá giá hàng hóa vào thị trường Việt Nam ngày càng phổ biến.
3.1.3. Những vấn đề đặt ra trong công tác chống bán phá giá của Việt Nam Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Thứ nhất, pháp luật chống bán phá giá Việt Nam còn nhiều hạn chế. Hiện nay, chúng ta đã có những văn bản quan trọng nhất về lĩnh vực này như: Luật Thuế xuất khẩu nhập khẩu năm 2019, Pháp lệnh về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2018, Pháp lệnh về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2018 và một số Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, các quy định trong các văn bản trên mới chỉ hoặc là những quy định mang tính nguyên tắc, chung chung, sơ sài, chưa có được một hệ thống quy định đầy đủ, rõ ràng và thống nhất. Ví dụ: quy định “gây khó khăn cho sự phát triển của ngành sản xuất hàng hóa tương tự của Việt Nam” rất chung chung. Theo ADA, để có thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá thì phải xác định được thiệt hại vật chất do hàng nhập khẩu gây ra cho ngành sản xuất trong nước, do vậy với quy định trên, việc xác định hành vi bán phá giá mang nặng tính chủ quan, không có cơ sở. Điều này cũng tạo ra một cơ chế không minh bạch, thiên về bảo hộ sản xuất trong nước. Hoặc là nhiệm vụ, quyền hạn cơ quan điều tra, Hội đồng xử lý vụ việc, quyền và nghĩa vụ các bên liên quan, đặc biệt là quy trình điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá vẫn chưa được quy định chi tiết… Do đó, việc thực thi pháp luật chống bán phá giá chắc cũng chỉ dừng lại ở mức xem xét từng vụ việc cụ thể để đưa ra quyết định có tác dụng hạn chế ảnh hưởng của hành vi bán phá giá hay không. Điều này khiến chúng ta có thể gặp khó khăn trong việc đối phó với các thủ đoạn bán phá giá tinh vi của doanh nghiệp lớn của nước ngoài.
Thứ hai, việc tổ chức thực thi pháp luật chống bán phá giá còn yếu. Vấn đề tổ chức thực hiện hiệu quả, thuận lợi hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tổ chức bộ máy thực thi, năng lực cán bộ điều tra, sự am hiểu pháp luật của các tổ chức cá nhân có liên quan. Có thể nói rằng điều tra chống bán phá giá là một vấn đề khó khăn và phức tạp. Nước ta đang ở trong quá trình hội nhập kinh tế nên lĩnh vực này còn khá mới mẻ, điều kiện nền tảng cho việc thực thi pháp luật chống bán phá giá mới chỉ đang ở giai đoạn bắt đầu hình thành. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết và không có kinh nghiệm trong việc chống bán phá giá. Việt Nam có khoảng hơn 500 ngàn doanh nghiệp hoạt động ở mọi lĩnh vực, ngành nghề với rất nhiều hiệp hội như Hiệp hội Cà phê Ca cao, Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản, Hiệp hội Da giầy, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản,… Thực tế cho thấy hầu hết các doanh nghiệp chỉ tập trung cho lợi ích riêng lẻ, kiểu “mạnh ai người ấy làm” hoặc “làm tất ăn cả”, chỉ quan tâm đến thương hiệu riêng, sản phẩm riêng của mình. Hơn nữa, các hiệp hội do nguồn lực có hạn, chưa phát huy hết vai trò và năng lực trong quản lý, định hướng, nhất là hiệp hội ở các địa phương còn yếu kém, chưa tạo dựng được một sức mạnh đại diện cho tập thể đủ lực để cạnh tranh. Hoạt động của Hiệp hội còn có nhiều mặt hạn chế. Một số Hiệp hội chưa thực sự đồng lòng trong mọi việc, mọi thời cơ nên chưa mạnh, cá biệt giữa các hội viên còn để xảy ra tình trạng tranh mua tranh bán trên cùng một thị trường, với một khách hàng, gây nhiều bất ổn, tổn hại đến lợi ích chung… Tìm hiểu kỹ có thể thấy nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên là chưa có đồng bộ văn bản pháp quy để điều chỉnh hoạt động của Hiệp hội phù hợp với bối cảnh mới. Các văn bản trước đây vừa thiếu vừa chồng chéo, không nêu rõ chức phận của Hiệp hội cùng vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước hữu quan đối với từng loại hình Hiệp hội, nhất là các Hiệp hội ngành hàng có tham gia vào xuất khẩu. Đa phần các Hiệp hội hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, không có trụ sở riêng; nhân sự thường không chuyên trách và trình độ nghiệp vụ-ngoại ngữ chưa chuyên sâu; kinh phí tuy nhiều nguồn từ ngân sách, hội phí, cung cấp dịch vụ và các khoản tài trợ nhưng chưa đủ và không ổn định. Một thực tế là kiến thức về pháp luật của Hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế.
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam
- Thứ nhất, hoàn thiện chế định pháp luật về chống bán phá giá
Hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại nói chung và pháp luật chống bán phá giá nói riêng là một nhu cầu tất yếu và khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO.
Về vấn đề chống bán phá giá, chống trợ cấp của Việt Nam đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu, các cam kết và nghĩa vụ liên quan của Việt Nam trong WTO tập trung trong các nhóm quy định sau:
- Nhóm 1: Cam kết gia nhập của Việt Nam về vấn đề liên quan: bao gồm các Đoạn 251, 252, 253, 254 và 255 Báo cáo của Ban Công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam;
- Nhóm 2: Hiệp định về chống bán phá giá của WTO; và
- Nhóm 3: Hiệp định về trợ cấp và biện pháp đối kháng của
Theo đúng nguyên tắc áp dụng giữa các nhóm quy định trong WTO (chủ yếu là giữa các Hiệp định chung của tổ chức này với các cam kết gia nhập cụ thể), các quy định thuộc nhóm 1 được ưu tiên áp dụng so với các tiêu chí nhóm 2 và 3.
Trong cam kết nhóm 1 Việt Nam khẳng định sẽ không áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá và chống trợ cấp cho đến khi các văn bản (pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp) phù hợp với các điều khoản của các Hiệp định đã được công khai và đã có hiệu lực của WTO và cam kết “đảm bảo các văn bản (về chống bán phá giá và chống trợ cấp) phù hợp hoàn toàn với các quy định liên quan của WTO” (Đoạn 253 Báo cáo của Ban công tác). Nói cách khác cam kết nhóm 1 thực chất dẫn chiếu về các nghĩa vụ nhóm 2 và 3 [21, tr. 1-2]. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Các quy định về chống bán phá giá của Việt Nam hiện hành đều tuân thủ đúng các quy định tại ADA. Vì vậy, về mặt nguyên tắc, Việt Nam không có bất kỳ nghĩa vụ nào trong việc điều chỉnh, sửa đổi các văn bản hiện hành về chống bán phá giá để tuân thủ cam kết WTO.
Tuy nhiên, do các chế định hiện tại khá sơ sài nên có thể sẽ có vấn đề nảy sinh trong quá trình thực thi trên thực tế (trong khuôn khổ một vụ việc cụ thể) có thể dẫn tới việc vi phạm các nguyên tắc liên quan của WTO. Vấn đề đó có thể là:
Thiếu các quy chuẩn cụ thể khiến các chủ thể (đặc biệt là cơ quan điều tra) có hành động tùy nghi và kết quả là gây ra tác động hoặc làm phương hại đến việc thực hiện các quy định có liên quan của WTO.
Ví dụ: Nếu không có quy định cụ thể về bảng câu hỏi, về quy trình phân tích đánh giá các yếu tố liên quan, việc điều tra có thể bị kéo dài và do đó vi phạm quy định về thời hạn của WTO.
Thiếu các quy định cụ thể đảm bảo tính khả đoán và ổn định của quá trình điều tra có thể là một nguy cơ dẫn tới thiếu minh bạch, từ đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan, và do đó vi phạm nguyên tắc liên quan của WTO. Ví dụ: Nếu không có quy định về cách thức tiếp cận thông tin thì quyền lợi của các bên liên quan sẽ bị ảnh hưởng (do tiếp cận thông tin chậm, không đầy đủ nên khó chuẩn bị lập luận và chứng cứ để tự bảo vệ mình chẳng hạn).
Vì vậy, để hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam cần thực hiện các công việc sau:
- Tiếp tục soạn thảo và thông qua các văn bản pháp lý để hướng dẫn chi tiết (cả về thủ tục và nội dung) việc thực hiện các hoạt động trong khuôn khổ các vụ điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam. Việc soạn thảo cần đi theo hướng: Ghi nhận và nội luật hóa các quy định chi tiết có liên quan trong ADA;
- Nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan của các nước thành viên WTO và chuyển hóa một cách hợp lý vào điều kiện của Việt Nam.
- Xây dựng các Bảng câu hỏi điều tra mẫu, các Bản hướng dẫn về thủ tục hành chính cụ thể áp dụng cho cơ quan có thẩm quyền điều tra và các chủ thể liên quan. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Các Bảng câu hỏi hay Bản hướng dẫn như thế này có thể không ở dưới dạng một văn bản quy phạm pháp luật cụ thể mà chỉ là hướng dẫn thực tiễn nhưng sẽ có ý nghĩa với việc triển khai các vụ điều tra trên thực tế.
Trong quá trình ban hành các văn bản hướng dẫn, chúng ta cần tham khảo kinh nghiệm về luật pháp cũng như thực tiễn về chống bán phá giá của các nước trên thế giới, nhất là các nước có điều kiện, hoàn cảnh gần giống Việt Nam. Qua kinh nghiệm của một số nước đang phát triển như Ấn Độ, Braxin, Trung Quốc và nhiều nước ASEAN thấy rằng các nước này khi xây dựng hệ thống pháp luật và cách thức thực thi pháp luật về chống bán phá giá của mình, họ chỉ cần nêu ra những quy định chung còn những quy định cụ thể khác có thể tham chiếu tới một số quy định của WTO.
- Thứ hai, tổ chức bộ máy thực thi pháp luật chống bán phá giá
Điều tra phá giá rất phức tạp và tốn kém nguồn lực. Các cán bộ tham gia điều tra bán phá giá cần có kiến thức sâu về kinh tế vi mô, kinh tế ngành, kế toán và ngoại ngữ. Đồng thời cần phải hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng tương tự trong nước trong quá trình điều tra.
Điều tra thiệt hại: xét về lợi ích của những ngành sử dụng hàng nhập khẩu hay người tiêu dùng thì hàng nhập khẩu bị bán phá giá làm tăng lợi ích của họ. Như vậy chỉ nên áp dụng hình thức chống bán phá giá khi hàng nhập khẩu đó gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các nhà sản xuất nội địa.
Tuy nhiên, việc đánh giá thiệt hại vừa khó về mặt kỹ thuật lại vừa phức tạp về mặt xã hội. Điều này có thể dẫn đến việc các nhà sản xuất sẽ tìm mọi cách vận động để cơ quan điều tra thiệt hại thổi phồng về thiệt hại do hàng nhập khẩu bán phá giá gây ra cho họ. Trong thực tế ở Việt Nam nạn tham nhũng còn khá phổ biến thì việc điều tra thiệt hại lại càng phức tạp.
Nếu tách cơ quan điều tra thiệt hại độc lập với cơ quan điều tra bán phá giá thì sẽ đảm bảo khách quan hơn nhưng bộ máy tổ chức lại cồng kềnh. Như vậy Việt Nam nên tiếp cận theo hường chỉ có một cơ quan chung, đồng thời cần có những quy định chặt chẽ và tuyển chọn cán bộ có đạo đức tốt để đảm nhận công việc điều tra thiệt hại.
Cơ quan thực thi: Việt Nam nên học tập kinh nghiệm của Thái Lan liên quan đến cơ quan thực thi Pháp lệnh về thuế chống bán phá giá. Cơ quan này có thể là một ủy ban do Bộ trưởng Bộ Công thương đứng đầu, các thành viên là các thứ trưởng Bộ Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải và một số chuyên gia về luật thương mại quốc tế, kế toán, kinh tế.
3.2.2. Tăng cường quản lý thị trường, đấu tranh ngăn chặn tệ nạn buôn lậu, chống gian lận thương mại Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Theo đánh giá của Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan và các cơ quan chức năng khác, tình hình buôn lậu ở nước ta trong các năm qua không giảm, mà có chiều hướng gia tăng trên một số lĩnh vực, diễn biến ngày càng phức tạp. Buôn lậu đang làm cho thuế xuất nhập khẩu thất thu lớn, tạo cơ hội cho hàng thừa ế, hàng kém phẩm chất, hàng hết thời hạn sử dụng ở nước ngoài tràn vào bán phá giá ở thị trường Việt Nam, gây tổn thất lớn cho các nhà sản xuất ở trong nước vì cuộc cạnh tranh trên thị trường bất bình đẳng.
Tình trạng buôn lậu đã và đang gây ra những hậu quả nguy hại về nhiều mặt kinh tế và xã hội, cản trở quá trình phát triển lành mạnh của nền kinh tế nước ta. Do đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho các cấp chính quyền và các ngành trong cả nước phải tập trung lực lượng để chống lại các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, nhất là các hoạt động buôn lậu có tổ chức, coi đó là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên và lâu dài. Tổng cục Hải quan, Bộ Nội vụ, Bộ Công thương và Bộ Tài chính đang phối hợp triển khai đồng bộ nhiều biện pháp để cùng với các địa phương và các ngành hữu quan khác trong cả nước đồng thời cùng thực hiện các phương án đấu tranh chống buôn lậu có hiệu quả, xử lý nghiêm các vụ buôn lậu, gian lận thương mại để răn đe và giáo dục chung.
- Để làm tốt hơn nữa công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại, kiến nghị một số biện pháp chính sau:
Thứ nhất, các cơ quan nhà nước cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ hàng nhập khẩu, đặc biệt là đối với hàng nhập lậu. Những hàng tiêu dùng sản xuất trong nước có khả năng đáp ứng về chất lượng và số lượng thì cần có biện pháp thích hợp để hạn chế số lượng nhập nhằm bảo hộ sản xuất trong nước.
Thứ hai, ban hành quy chế buôn bán biên giới, xác định rõ đối tượng mặt hàng được phép buôn bán ở biên giới.
Thứ ba, thực hiện kiên quyết quy định về chế độ hóa đơn chứng từ và sổ sách kế toán. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng ngoại nhập (trước hết là rượu, xe đạp, hàng điện máy, thuốc tây) nếu không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp sẽ bị tịch thu. Tất cả các loại hàng hóa mua bán qua biên giới phải theo quy định của Hải quan. Nghiêm cấm các ngành, địa phương tổ chức thu thuế các hàng hóa không làm thủ tục thu thuế tại Hải quan để hợp thức hóa hàng lậu.
Thứ tư, việc thanh toán đối với hàng hóa buôn bán phải thông qua các ngân hàng thương mại được ngân hàng Nhà nước giao trách nhiệm phụ trách việc buôn bán qua biên giới. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
3.2.3. Phát huy vai trò của các Hiệp hội ngành hàng trong các cuộc điều tra chống bán phá giá
Trong các cuộc điều tra chống phá giá, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng còn chính phủ chỉ đóng vai trò trọng tài và quyết định theo những chứng cứ, thông tin được trình bày trong các quy định của WTO (đối với các thành viên WTO) hoặc theo các Hiệp định song phương (đối với trường hợp ít nhất một bên trong vụ kiện chưa là thành viên của WTO). Doanh nghiệp sẽ chính là người trình đơn kiện bán phá giá lên cơ quan chuyên trách của Nhà nước khi phát hiện ra việc bán phá giá của hàng nhập khẩu vào trong nước mình. Cũng theo quy định của WTO thì để đơn kiện được chấp nhận thì các nhà sản xuất ủng hộ việc đánh thuế chống bán phá giá phải chiếm trên 50% sản lượng của các nhà sản xuất bày tỏ ý kiến ủng hộ hoặc chống lại kiến nghị và phải chiếm ít nhất 25% sản lượng của ngành sản xuất. Như vậy, để một doanh nghiệp đứng ra kiện bán phá giá thì khó lòng có thể được chấp nhận nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam vừa yếu lại vừa nhỏ. Cho nên thường thì các Hiệp hội ngành hàng sẽ đứng ra thay mặt doanh nghiệp khiếu kiện bán phá giá bởi vì các Hiệp hội này hội đủ số doanh nghiệp cần thiết để đủ quyền tham gia khiếu kiện và chính các Hiệp hội mới có nhiều điều kiện để cung cấp và thẩm định nhiều thông tin liên quan tới việc nhà xuất khẩu bán phá giá, giá bán trong nước, chi phí sản xuất tại nước xuất khẩu,… Do đó, chúng ta cần có giải pháp phát huy vai trò này của các Hiệp hội trong các cuộc điều tra chống phá giá.
Ở Việt Nam đến này đã có trên 30 Hiệp hội ngành hàng trong đó có 12 Hiệp hội bao quát các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Trong quá trình hoạt động của mình, các Hiệp hội đã chứng minh vị thế không thể thiếu vắng của mình trong sự sôi động của nền kinh tế thị trường. Hiệp hội đã trở thành mái nhà chung của các nhà sản xuất, xuất khẩu lớn. Hiệp hội Dệt may đã có 451 hội viên, con số đó của Hiệp hội Cà phê ca cao là 110 và Lương thực là 71, Hiệp hội Gỗ là 200. Một số Hiệp hội còn mở chi nhánh, lập câu lạc bộ để trải rộng tầm hoạt động. Các Hiệp hội đã thể hiện được khả năng là cầu nối giữa doanh nghiệp với Nhà nước, hội tụ tiếng nói của các hội viên về cơ chế, chuyển tải tới cơ quan nhà nước các cấp. Hiệp hội cũng tham gia bảo vệ quyền lợi cho hội viên, như Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam hăng hái trong việc giải quyết vụ kiện cá basa, Hiệp hội Da giày cũng có vai trò tương tự khi xảy ra vụ kiện giày và đế giày không thấm nước…
Trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, để Hiệp hội có thể phát huy tích cực và hiệu quả vai trò của mình trong các cuộc điều tra chống bán phá giá thì đòi hỏi Hiệp hội phải hoạt động một cách có tổ chức và chuyên nghiệp hơn. Thực tế trong vụ Hiệp hội các chủ trại cá nheo Hoa Kỳ kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá cá tra cá basa vào thị trường Mỹ cho thấy dù Hiệp hội các chủ trại cá nheo Hoa Kỳ không phải là một Hiệp hội ngành hàng lớn ở Mỹ nhưng họ hoạt động rất chặt chẽ và rất có tổ chức và cuối cùng đã thắng trong vụ kiện này. Muốn các Hiệp hội hoạt động có tổ chức, Nhà nước cần sớm ban hành các quy định pháp luật mới đối với hoạt động của Hiệp hội, theo đó nên quy định nhiệm vụ của các Hiệp hội về đối nội là trung tâm để đề xuất định hướng, quy hoạch, chính sách phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế quốc gia và đối với riêng ngành hàng. Trên cơ sở đó hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển xuất khẩu và mở rộng thị trường và khách hàng tới từng hội viên; cổ vũ các doanh nghiệp áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh; đầu mối tổ chức liên kết giữa các thành viên trên cơ sở tự nguyện. Mặt khác, Hiệp hội cũng cần tích cực khuyến cáo doanh nghiệp đề cao văn hóa trong kinh doanh, coi trọng chữ tín mà trước hết là tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật. Ra quốc tế, Hiệp hội cần tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của các hội viên trên thương trường, thay mặt các hội viên tranh tụng; hợp tác với các Hiệp hội tương ứng nước ngoài. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Sức mạnh của Hiệp hội phụ thuộc rất nhiều vào các hội viên do đó Hiệp hội cần phải thu hút nhiều hội viên mới là những doanh nghiệp hoạt động nổi trội. Hiệp hội cũng cần phải có bộ máy đủ mạnh với những người cầm trịch uy tín cùng đội ngũ tác nghiệp giỏi. Đi đôi với chế tài, Hiệp hội cũng cần tổ chức tuyên truyền cho các doanh nghiệp thành viên và có những hiểu biết nhất định về quyền của họ đối với việc tiến hành điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá, nghĩa vụ tham gia của họ trong tiến trình điều tra. Có như vậy mới bảo đảm các hội viên có thể tự giác cùng tiếng nói, chung hành động trước các đối tác, đoàn kết nhất trí vì lợi ích chung không vì lợi ích trước mắt của đơn vị mình mà đi ngược lại, ảnh hưởng xấu đến toàn cục và mới đảm bảo theo kiện đến cùng.
Quá trình theo kiện là một thời gian dài với không ít khó khăn cho nên Hiệp hội cũng cần phải chủ động tích cực tìm kiếm bằng chứng xác minh hành vi bán phá giá, xác minh thiệt hại, phối hợp với cơ quan nhà nước chứ không nên trông chờ ỷ lại vào cơ quan điều tra của Nhà nước, tích cực tham gia vào các cuộc tham vấn, tranh luận với bên bị đơn như vậy mới đảm bảo kết thúc vụ kiện được nhanh chóng bởi vì chính doanh nghiệp là đối tượng trực tiếp bị thiệt hại do hành vi bán phá giá của hàng hóa nước ngoài gây ra. Sau khi đã áp dụng thuế chống bán phá giá thì cũng chính Hiệp hội, các doanh nghiệp cần phải không ngừng điều tra, giám sát chặt chẽ để xem xét liệu có còn hành vi bán phá giá hàng hóa vào nước mình hay không để lại tiếp tục thuế chống bán phá giá.
Nói tóm lại, trong bối cảnh kinh tế như Việt Nam hiện nay thì các Hiệp hội đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong các cuộc điều tra chống bán phá giá và là nhân tố quyết định thành công của các cuộc điều tra.
3.2.4. Nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
Các biện pháp chống bán phá giá chỉ là những biện pháp khắc phục thương mại chứ không thể thay thế được thực lực, khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Nó không thể bảo vệ được những doanh nghiệp làm ăn yếu kém, ỷ lại, có giá thành sản xuất quá cao hơn so với mức trung bình của thế giới. Do đó, vấn đề quan trọng nhất là các doanh nghiệp phải tự vươn lên bằng chính khả năng cạnh tranh, chất lượng sản phẩm của mình.
Nếu nhìn vào thực trạng kinh tế, có thể thấy rằng giá cả hàng loạt hàng hóa trên thị trường nước ta từ lâu nay vẫn cao hơn rất nhiều so với hàng hóa của các nước trong khu vực và trên thế giới. Hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng như nạn buôn lậu, gian lận thương mại là những minh chứng rõ nhất. Rõ ràng, nếu chi phí sản xuất của các nhà sản xuất trong nước cao, chất lượng thấp thì không thể kết tội cho các nhà xuất khẩu nước ngoài là bán phá giá hàng hóa được, mặc dù giá sản phẩm của họ trên thị trường Việt Nam rất thấp (nhưng vẫn cao hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó). Như vậy trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay, một biện pháp hữu hiệu nhất để các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển là phải hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây là điều kiện tiên quyết trước khi có thể nghĩ tới việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Các doanh nghiệp cần phát triển bằng chính thực lực của mình.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
Trong quá trình lịch sử của thương mại quốc tế, bán phá giá là một hiện tượng kinh tế bình thường. Tuy nhiên, cùng với việc thương mại toàn cầu ngày càng tự do hóa, các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng ngày càng tăng. Một xu hướng mới trong nhiều năm gần đây đó chính là sự hoán đổi về chủ thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Nếu như trong những năm 2004, các nước đang phát triển chỉ chiếm 20% số chủ thể khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, thì hiện nay con số này hiện đã tăng lên 60%. Xu hướng này cũng được thể hiện ở tỷ lệ các biện pháp chống bán phá giá do các nước đang phát triển áp dụng trong tổng số các biện pháp trên toàn thế giới. Trong những năm đầu thập kỷ 90, số biện pháp được áp dụng bởi các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng 4%, tuy nhiên đến năm 2024, tỷ lệ này đã lên tới 50 – 60%. Rõ ràng, các quốc gia đang phát triển ngày càng sử dụng triệt để các công cụ chống bán phá giá. Các quốc gia này đã xây dựng hệ thống pháp luật chống bán phá giá của mình trên cơ sở, nền tảng là Hiệp định chống bán giá của WTO. Tuy nhiên, pháp luật chống bán phá giá mỗi nước cũng có những nét đặc trưng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội của họ.
Việt Nam là một quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển và là thành viên chính thức của WTO. Nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chống bán phá giá. Từ việc đúc rút kinh nghiệm của một số quốc gia khác, chúng ta sẽ hoàn chỉnh, phát triển pháp luật chống bán phá giá góp phần duy trì một nền thương mại công bằng, bình đẳng, bảo vệ ngành sản xuất nội địa và người tiêu dùng. Việc ban hành, chi tiết hóa các văn bản pháp quy liên quan đến chống bán phá giá hàng hóa; sự am hiểu của các doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề bán phá giá; việc hình thành một cơ quan chuyên trách theo dõi, thực thi vấn đề này cùng với việc tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại; đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO… là những giải pháp hữu hiệu cho chống bán phá giá hiện nay ở Việt Nam cần được nhanh chóng thực thi.
Tóm lại, qua việc nghiên cứu đề tài này, luận văn mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá, từ đó trên cơ sở phân tích những quy định chung của WTO về chống bán phá giá, nét đặc trưng của pháp luật chống bán phá giá của một số nước đang phát triển là thành viên WTO và Việt Nam và giải pháp hoàn thiện pháp luật lĩnh vực này tại Việt Nam. Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật các nước đang phát triển chống bán phá giá

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá