Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng các quy định pháp luật của một số nước đang phát triển về chống bán phá giá dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Kể từ khi WTO được thành lập năm 2009 đến nay, công cụ chống bán phá giá ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trước năm 2009, biện pháp chống bán phá giá chịu sự điều chỉnh của Bộ luật chống bán phá giá của GATT với chỉ 30 quốc gia thành viên. Tuy nhiên, sau khi WTO ra đời, tất cả các thành viên WTO đều tham gia các cam kết của vòng đàm phán Urugoay, trong đó có Hiệp định về chống bán phá giá. Điều này đã khiến cho Hiệp định này trở thành quy định quốc tế đối với việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Hiện nay ngày càng có nhiều các quốc gia đang phát triển tăng cường áp dụng các biện phá chống bán phá giá. Xu hướng này là hệ quả của việc mở rộng thị trường và giảm mạnh các hàng rào thuế quan trong thập niên 90. Ngoài ra, đối với một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, nhập khẩu tăng mạnh cũng dẫn đến nhu cầu áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Trả đũa thương mại cũng là một trong những nguyên nhân của xu hướng này khi các nước đang phát triển thường xuyên bị điều tra chống bán phá giá. Chương 2 nghiên cứu pháp luật chống bán phá giá của một số quốc gia đang phát triển nổi bật: Braxin, Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước ASEAN. Đây là các nền kinh tế thành viên WTO, là những đối tượng thường xuyên của điều tra bán phá giá nhưng cũng đồng thời áp dụng khá phổ biến biện pháp này đối với các quốc gia khác.

Pháp luật chống bán phá giá của các nước này cơ bản đều tuân thủ theo những quy định của WTO, chỉ khác nhau những vấn đề mà WTO chưa quy định, không quy định rõ hoặc cho phép các Chính phủ được quyền quyết định. Có thể khẳng định rằng, những quy định về chống bán phá giá của WTO là cốt lõi, nền tảng để các quốc gia ban hành, sửa đổi cũng như áp dụng các quy định về chống bán phá giá của mình. Chương 2 tập trung nghiên cứu những điểm đặc trưng của pháp luật chống bán phá giá các nước đang phát triển.

2.1 PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA BRAXIN

Việc mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại trong những năm đầu thập kỷ 90 đã làm biến đổi sâu sắc nền kinh tế Braxin. Các cam kết quốc tế tại WTO và các hiệp định thương mại khu vực, các hàng rào thuế quan vốn nổi tiếng khắt khe của quốc gia này được cắt giảm đã khiến cho hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Braxin tăng lên đáng kể. Dòng hàng hóa nhập khẩu còn được khuyến khích hơn nữa nhờ đồng nội tệ được định giá cao so với đôla Mỹ. Điều này đã ảnh hưởng đến quyền lợi của các ngành công nghiệp trong nước của Braxin, buộc họ phải vận động hành lang bằng con đường chính trị để được áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại. Dưới sức ép của những ngành công nghiệp trong nước, Chính phủ Braxin đã thành lập một Ủy ban liên bang nhằm điều tra các hàng hóa nhập khẩu được trợ giá và bán phá giá vào thị trường Braxin.

Trong hệ thống luật pháp của Braxin, các cam kết của WTO đã được đưa vào nội dung của hệ thống pháp luật dưới hình thức các Nghị định của tổng thống,có giá trị pháp lý tương đương với luật pháp liên bang (chỉ đứng sau Hiến pháp liên bang). Các văn bản này cũng đã được Quốc hội thông qua nên có tính pháp lý cao hơn so với các văn bản dưới luật ban hành sau này. Ngoài ra các luật liên bang khác cũng đã thừa nhận và tuân thủ các Hiệp định của WTO trong hệ thống pháp luật của Braxin. Ví dụ, Đạo luật liên bang số 9019, ngày 30/5/2009 quy định các thủ tục hành chính của việc điều tra chống bán phá giá cũng như xác định cơ quan sẽ tiến hành điều tra về bán phá giá và trợ cấp.

Trước khi thực hiện Hiệp định chống bán phá giá của Vòng đàm phán Urugoay, Braxin cũng đã ký Quy tắc vòng đàm phán Tokyo và đưa các cam kết này vào hệ thống các văn bản pháp luật của mình. Mặc dù vậy, Braxin vẫn áp dụng biện pháp chống bán phá giá lần đầu tiên vào năm 1988. Kể từ đó đến nay, chống bán phá giá đã trở thành công cụ tự vệ thương mại chủ yếu để bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước.

2.1.1. Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

2.1.1.1. Cơ quan điều tra

Thư ký của Ủy ban Ngoại thương (Người đứng đầu SECEX) sẽ là người quyết định có tiến hành điều tra bán phá giá hay không. Quyết định này dựa trên kết quả điều tra của Ban tự vệ thương mại (DECOM), do đó hoàn toàn không mang tính chính trị. Tương tự như vậy, Thư ký Ủy ban ngoại thương cũng là người ra quyết định tiến hành rà soát thuế chống bán phá giá. DECOM, trực thuộc SECEX là cơ quan có thẩm quyển điều tra chống bán phá giá, hoạt động theo nghị định 1602 trên cơ sở Hiệp định chống bán phá giá của WTO.

Sau khi kết thúc quá trình điều tra, DECOM sẽ khuyến nghị lãnh đạo SECEX chấm dứt điều tra mà không cần áp dụng biện pháp nào, hay sẽ khuyến nghị Hội đồng thương mại (CAMEX) áp dụng các biện pháp chống bán phá giá. Trước khi kết luận một vụ điều tra, DECOM cũng có thể đưa ra phán quyết sơ bộ về việc có tồn tại hay không hành vi bán phá giá, gây thiệt hại và các hậu quả có liên quan khác và đề xuất lên CAMEX (chứ không phải giám đốc của SECEX) để đưa ra các biện pháp tạm thời. Quyết định cuối cùng về việc có áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hoặc đối kháng sẽ do CAMEX đưa ra [18, tr. 15].

Thời hạn điều tra chống bán phá giá ở Braxin cụ thể như sau:

  • Kiểm tra sơ bộ đơn kiện: 20 ngày kể từ ngày nộp đơn kiện
  • Khởi xướng điều tra: Trong vòng 30 ngày từ ngày thông báo cho bên gửi đơn về kết quả kiểm tra sơ bộ
  • Kết luận sơ bộ: Tối thiểu 60 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra
  • Kết luận cuối cùng: Trong vòng 1 năm kể từ ngày khởi xướng điều tra Tất cả các hành động có liên quan đến việc kết luận, cho dù là kết luận sơ bộ hay kết luận cuối cùng có liên quan đến quá trình điều tra đều được thông báo công khai trên tạp chí Diario Oficial (Công báo) ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định.

2.1.1.2. Xác định thiệt hại Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Về vấn đề xác định các nhân tố gây thiệt hại, quy định trong hệ thống luật pháp của Braxin cũng tương tự như Hiệp định chống bán phá giá của WTO. Đối với một số trường hợp, ngoài các nhân tố gây thiệt hại liệt kê trong Hiệp định chống bán phá giá, DECOM còn xem xét về mức độ giảm sút thị trường hoặc tụt hậu về kỹ thuật của ngành bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, DECOM cũng tính toán các yếu tố về biên độ thuế, giám sút thị trường tiêu dùng, việc xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới, nhập khẩu từ các nguồn khác… Một phương pháp thứ ba để xác định thiệt hại là dựa trên lượng hàng tồn kho của các mặt hàng bán phá giá và so sánh với mức độ giảm sút thị phần.

2.1.1.3. Phương pháp xác định biên độ phá giá

Theo thông lệ của Braxin, phương pháp tính giá giao dịch để xác định biên độ phá giá không được áp dụng. Tương tự như vậy, theo các điều tra đã tiến hành, Braxin cũng không áp dụng theo phương thức so sánh giá trị thông thường trung bình với từng giá xuất khẩu cụ thể.

Giá trị thông thường của hàng hóa được xác định bằng giá bán mặt hàng đó tại thị trường nội địa với số lượng ít nhất bằng 5% số lượng sản phẩm bán ở Braxin. Cơ quan điều tra sẽ tiến hành xem xét tất cả các giao dịch trong giai đoạn điều tra, và so sánh giá trong các giao dịch này với giá xuất khẩu. Giá xuất khẩu trung bình được tính toán có tính đến giá bán mặt hàng đó trên thị trường Braxin (mặc dù có thể có điều chỉnh giá trước khi tính trung bình).

2.1.1.4. Quy chế nền kinh tế phi thị trường Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Cho đến tận tháng 11/2018, Trung Quốc (cùng với 20 quốc gia khác) mới được Braxin xác nhận là nền kinh tế thị trường. Trước đó, Trung Quốc được xem là nền kinh tế phi thị trường và do đó giá trị thông thường của hàng hóa nước này sẽ được xác định thông qua nước thứ ba. Trong các điều tra đối với hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc, DECOM đã áp dụng giá trị thông thường như sau: giá xuất khẩu từ Mỹ sang Canada; giá xuất khẩu từ Mỹ sang Nhật Bản hoặc giá tính toán của lốp xe đạp ở Đài Loan. Tuy nhiên trong các trường hợp khác DECOM đã: lấy giá trung bình của mặt hàng tỏi, so sánh giữa giá xuất khẩu của Achentina với chi phí sản xuất trong nước; sử dụng chi phí sản xuất mặt hàng khóa móc của một công ty Mexico sử dụng danh mục giá từ một nhà sản xuất quạt điện của Colombia. Hiện nay, Braxin chưa công nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường.

2.1.1.5. Điều khoản về lợi ích cộng đồng

Trong những trường hợp đặc biệt hay để đảm bảo lợi ích của quốc gia, CAMEX có thể đình chỉ việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá hoặc (nếu đã đàm phán cam kết giá trước đó) từ chối việc cam kết giá đã đàm phán, khi có bằng chứng về việc bán phá giá và thiệt hại liên quan. CAMEX có thể quyết định “áp dụng các biện pháp ở mức khác với mức đã được khuyến nghị”, điều này cũng có nghĩa là cho phép CAMEX được quyết định mức độ của các biện pháp có thể bằng “0”. Trường hợp này đã xảy ra ở vụ soda ash, theo đó biện pháp chống bán phá giá đã không được áp dụng ngay cả khi DECOM đã có khuyến nghị áp dụng trước đó. Hiện nay, điều khoản về lợi ích cộng đồng đã được áp dụng 2 lần để hoãn thi hành các biện pháp thương mại, đó là:

Cuộc điều tra hàng nhập khẩu soda ash (barrilha) từ Bungari, Ba Lan và Rumani. Trong trường hợp này, điều khoản về lợi ích cộng đồng đã được áp dụng, với lý do việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá có thể gây ảnh hưởng đến ngành công nghiệp thủy tinh và sản xuất chất tẩy rửa.

Cuộc điều tra mặt hàng lốp xe đạp nhập khẩu từ Trung Quốc và Ấn Độ. Trong trường hợp này, điều khoản lợi ích cộng đồng đã được áp dụng với lý do các biện pháp thương mại sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa Braxin với Trung Quốc và Ấn Độ [18, tr. 16]. Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

2.1.2. Thực trạng chống bán phá giá của Braxin

2.1.2.1. Tình hình điều tra chống bán phá giá của Braxin

Braxin là nước đứng thứ 5 trên thế giới về các vụ điều tra chống bán phá giá. Trong vòng 15 năm, Braxin đã khởi xướng 216 vụ điều tra và 106 lần áp dụng biện pháp chống bán phá giá được thể hiện tại Bảng 2.1. Các sản phẩm và ngành sản xuất nước ngoài chịu ảnh hưởng chủ yếu từ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá của nước này: kim loại thường (20,8%), hóa chất (17%), sản phẩm từ nhựa và cao su (17%), sản phẩm dệt may (14,2).

Trung Quốc và Mỹ là các quốc gia chịu tác động lớn nhất từ việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá của chính phủ Braxin. Ngoài ra Ấn Độ và Achentina cũng chịu ảnh hưởng nặng nề từ biện pháp này.

  • Bảng 2.1. Tình hình điều tra chống bán phá giá của Braxin

2.1.2.2. Tình hình điều tra chống bán phá giá hàng hóa xuất khẩu của Braxin

Trong thời gian từ 01/01/2009 đến 31/12/2024 Braxin bị điều tra 111 vụ và áp dụng biện pháp chống bán phá giá 80 lần, các nước áp dụng nhiều nhất là: Achentina 35 lần, Canada 3 lần, Ấn Độ 8 lần, Mexico 9 lần, Nam Phi 8 lần, Mỹ 9 lần.

Các sản phẩm bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhiều là: Kim loại thường và sản phẩm của chúng 36 lần (chiếm 45% tổng số lần áp dụng); Máy móc thiết bị, đồ điện tử 11 lần (13,8%); Nhựa và các sản phẩm từ nhựa, cao su và các sản phẩm từ cao su 10 lần (12,5%); Hóa chất và ngành phụ trợ 6 lần (7,5%). Sản phẩm kim loại thường, đặc biệt là thép xuất khẩu là đối tượng bị điều tra thường xuyên nhất.

2.2 PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA ẤN ĐỘ Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

2.2.1. Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá

Các quy định về chống bán phá giá của Ấn Độ được ban hành năm 1985 khi Luật về thuế hải quan được hoàn thiện (xác định, đánh giá và thu thuế chống bán phá giá đối với các mặt hàng được bán phá giá và xác định mức độ thiệt hại). Luật này được sửa đổi bổ sung năm 2009 và là cơ sở pháp lý cho điều tra và áp thuế chống bán phá giá, phù hợp với Hiệp định về chống bán phá giá và chống trợ cấp/ đối kháng của WTO. Kể từ năm 2009 đến nay, luật này đã được sửa đổi bổ sung thêm 3 lần nữa.

2.2.1.1. Cơ quan có thẩm quyền

Các vụ việc chống bán phá giá ở Ấn Độ được thực hiện với sự tham gia của các cơ quan khác nhau với các chức năng được xác định khá rõ ràng:

  • Bộ Thương mại Ấn Độ (Ban về Chống bán phá giá và các Biện pháp tương tự – DGAD; một cán bộ có thẩm quyền sẽ được chỉ định phụ trách độc lập một vụ việc – Designated Authority): tiến hành điều tra, ra các kết luận sơ bộ và cuối cùng, đưa Khuyến nghị về mức thuế chống bán phá giá
  • Bộ Tài chính Ấn Độ (Cục Hải quan): Ra Thông cáo về mức thuế và trực tiếp thực hiện việc thu thuế;
  • Tòa Kháng án về Hải quan và các vấn đề Thuế (CESTAT): Xét xử các khiếu kiện của các bên liên quan đối với các quyết định điều tra và điều tra lại
  • Các Tòa Phúc thẩm: xét xử các vụ việc trong phạm vi thẩm quyền
  • Tòa Tối cao: Xét xử chung thẩm các kháng nghị liên

2.2.1.2. Vấn đề thông tin về đề xuất của cơ quan có thẩm quyền

Cơ quan có thẩm quyền sẽ thông báo các đề xuất của mình liên quan đến: khởi xướng điều tra/ kết luận sơ bộ/ kết luận cuối cùng trên Công báo của Chính phủ Ấn Độ. Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Cục thông tin báo chí, Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ cũng sẽ ban hành thông cáo báo chí có liên quan đến chủ đề này.

Bộ thương mại và công nghiệp Ấn Độ NIC sẽ thông tin chi tiết về đề xuất của cơ quan có thẩm quyền trên trang web http://commin.nic.

Khi nhận được đề xuất của cơ quan có thẩm quyền, các Vụ chức năng thuộc Chính phủ sẽ thông báo về quyết định áp thuế chống bán phá giá trên Công báo của Chính phủ Ấn Độ.

2.2.1.3. Thủ tục và thời hạn điều tra

  • Khởi xướng điều tra: 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện
  • Kết luận sơ bộ: 60-70 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra
  • Áp thuế tạm thời: Áp thuế trong vòng từ 4-6 tuần kể từ ngày ban hành kết luận sợ bộ, không kéo dài quá 6 tháng
  • Kết luận cuối cùng: Trong vòng 1 năm, có thể gia hạn thêm nhưng không vượt quá 6 tháng kể từ ngày khởi xướng vụ kiện
  • Áp thuế chính thức: Trong vòng 3 tháng kể từ ngày công bố kết luận cuối cùng

Cơ quan có thẩm quyền có thể dỡ bỏ thuế (nếu kết luận cuối cùng không đòi hỏi cần áp thuế chống bán phá giá) trong vòng 40 ngày kể từ ngày công bố kết luận cuối cùng.

2.2.1.4. Việc xác định giá thông thường

Ấn Độ không phải là bạn hàng lớn với hầu hết các quốc gia, do đó việc thu thập các thông tin về giá cả và chi phí của các nhà xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn hoặc không chính xác, phù hợp. Ngoài ra, rất nhiều nhà xuất khẩu cũng đã không hợp tác trong quá tìm hiểu thông tin với lý do các chi phí nói trên cần được đảm bảo bí mật. Với những lý do trên, trong hầu hết các trường hợp, các cơ quan điều tra tiến hành xây dựng giá trị thông thường dựa trên các thông tin sẵn có tốt nhất. Bảng 2.2 trình bày các cách thức tính toán giá trị thông thường trong 59 vụ điều tra với tổng số 176 nhà xuất khẩu. Việc sử dụng giá xuất khẩu tới một nước thứ ba khác rất hạn chế áp dụng.

  • Bảng 2.2: Tính toán giá trị thông thường trong các vụ kiện bán phá giá do Ấn Độ tiến hành (2011-2017)

2.2.1.5. Về biên độ thiệt hại Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Theo quy định của WTO, mức thuế chống bán phá giá không được cao hơn biên độ phá giá. Vận dụng quy tắc này, nhiều nước đã có quy định cho phép tính mức thuế thấp hơn biên độ phá giá (ví dụ: Thái Lan, EU) để tính đến lợi ích cộng đồng hoặc lợi ích người tiêu dùng.

Về vấn đề này, pháp luật Ấn Độ có sự vận dụng linh hoạt theo hướng quy định mức thuế chống bán phá giá không được cao hơn biên độ phá giá hoặc biên độ thiệt hại tùy theo biên độ nào thấp hơn. Cách quy định này cho phép cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ có thể xác định một mức thuế thấp hơn biên độ phá giá không phải để bảo vệ người tiêu dùng hay cộng đồng (mục tiêu này không được nhắc đến trong pháp luật Ấn Độ) mà là để đảm bảo tính chất của biện pháp chống bán phá giá theo pháp luật Ấn Độ là khắc phục những thiệt hại do việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá gây ra đối với ngành sản xuất trong nước và thông qua đó đảm bảo một môi trường cạnh tranh công bằng cho ngành sản xuất trong nước.

Biên độ thiệt hại được tính bằng chênh lệch giữa Giá không bị thiệt hại (non-injury price – NIP) và Giá trị của hàng hóa liên quan tại thời điểm nhập khẩu (landed value). NIP là giá bán hợp lý của hàng hóa tương tự mà ngành sản xuất trong nước của Ấn Độ có thể bán được trong điều kiện thương mại công bằng (được tính bằng tổng số của Giá sản xuất; Chi phí hành chính, bán hàng, chung; và Lợi nhuận hợp lý). Landed value được xác định trên cơ sở giá CIF nhập khẩu của hàng hóa bị điều tra (có thực hiện một số điều chỉnh liên quan đến các chi phí phải trả cho việc nhập khẩu và cộng thêm Thuế quan cơ sở đánh vào hàng hóa đó khi nhập khẩu) [27].

Quy định này khiến cho cơ quan có thẩm quyền điều tra của Ấn Độ mất thêm công sức, thời gian và nhân lực để xác định thêm Biên độ thiệt hại bên cạnh Biên độ phá giá. Tuy nhiên, với cách tính toán này, việc xác định một mức thuế chống bán phá giá thấp hơn hay bằng biên độ phá giá không phụ thuộc vào quyết định chủ quan của cơ quan có thẩm quyền mà dựa trên cơ sở biên độ thiệt hại được tính toán chi tiết và có căn cứ pháp lý cụ thể.

Phương pháp này cho phép xác định được một mức thuế phù hợp đủ để khắc phục thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước mà vẫn đảm bảo có thể thấp hơn biên độ phá giá trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là không tính đến các lợi ích cộng đồng hay lợi ích của người tiêu dùng khi xác định mức thuế chống bán phá giá (trong khi yếu tố này lại rất được chú trọng trong pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam).

2.2.1.6. Về trường hợp nước xuất khẩu là nước có nền kinh tế phi thị trường

WTO cho phép nước nhập khẩu được tùy ý lựa chọn một phương thức tính Giá thông thường phù hợp trong trường hợp nước xuất khẩu liên quan được xác định là không có nền kinh tế thị trường. Ấn Độ đã vận dụng quy định này theo cách mà nhiều nước cũng đang áp dụng. Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Cụ thể, Ấn Độ quy định nước có nền kinh tế phi thị trường là nước mà cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ xác định là không hoạt động theo các nguyên tắc thị trường về giá hoặc cấu trúc giá và do đó giá bán của hàng hóa tại nước đó không phản ánh giá trị công bằng của hàng hóa. Quy định này không mới so với WTO. Tuy nhiên, luật Ấn Độ còn có quy định thêm về các trường hợp được suy đoán là nền kinh tế phi thị trường, bao gồm các nước đã từng bị cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ về chống bán phá giá xác định là nước có nền kinh tế phi thị trường hoặc bị cơ quan có thẩm quyền trong vụ việc chống bán phá giá của bất kỳ nước thành viên nào của WTO xác định là có nền kinh tế phi thị trường trong vòng 3 năm liền trước vụ điều tra liên quan. Tuy nhiên, Ấn Độ cũng xem xét một số ngoại lệ nếu nước bị coi là có nền kinh tế phi thị trường liên quan hoặc doanh nghiệp của nước đó chứng minh được rằng mình hoạt động theo các nguyên tắc thị trường.

Đối với các trường hợp bị xem là nước có nền kinh tế phi thị trường, cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ sẽ xác định Giá thông thường của hàng hóa liên quan theo nguyên tắc.

Xác định theo Giá tính toán (constructed value) của hàng hóa tại thị trường một nước thứ ba hoặc Giá của hàng hóa được xuất từ nước thứ ba đó sang một nước khác. Cơ quan có thẩm quyền của Ấn Độ có trách nhiệm lựa chọn một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường có điều kiện phát triển kinh tế và điều kiện sản xuất tương tự nước xuất khẩu liên quan. Các bên liên quan được dành thời gian và cơ hội để trình bày lập luận của mình về lựa chọn này của cơ quan có thẩm quyền [27].

Trường hợp không xác định được Giá thông thường theo cách trên thì áp dụng một phương thức hợp lý bất kỳ (bao gồm cả cách xác định theo giá bán thực tế hoặc giá bán có thể chấp nhận được trên lãnh thổ Ấn Độ của hàng hóa tương tự có điều chỉnh).

2.2.1.7. Điều khoản lợi ích cộng đồng

Việc xem xét đến lợi ích cộng đồng không phải là một yêu cầu bắt buộc ở Ấn Độ. Tuy nhiên trong thực tế đã có một số trường hợp DGAD đã đề xuất áp thuế chống bán phá giá nhưng Bộ Tài chính không phê duyệt do xem xét đến lợi ích chung của cộng đồng. Có thể kể ra một số trường hợp như “vụ giấy in của Mỹ, Canada, Nga, vụ P. Tert Butyl Catechol của Pháp, vụ PSF của Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan và Indonesia và vụ Trimethoprim của Trung Quốc” [18, tr.34].

2.2.2. Thực trạng chống bán phá giá của Ấn Độ Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Trước năm 2005, Ấn Độ theo đuổi một chính sách thương mại hạn chế. Với mục tiêu duy trì sự tự chủ của nền kinh tế, các ngành sản xuất trong nước luôn được bảo hộ hết sức nghiêm ngặt bởi hệ thống kiểm soát nhập khẩu và thuế suất nhập khẩu cao. Sau năm 2005, Ấn Độ bắt đầu mở cửa nền kinh tế và mới bắt đầu áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại. Trường hợp điều tra bán phá giá đầu tiên do Ấn Độ tiến hành vào năm 2006 và số lần áp dụng các biện pháp này tăng đều qua các năm. Đặc biệt trong giai đoạn 2012 – nay, Ấn Độ gia tăng mạnh mẽ áp dụng các biện pháp chống bán phá giá và hiện nay đã trở thành quốc gia áp dụng công cụ này hết sức phổ biến và đã được đánh giá là quốc gia áp dụng nhiều nhất các biện pháp này. Tuy nhiên Chính phủ Ấn Độ lại không áp dụng các biện pháp thuế đối kháng.

2.2.2.1. Tình hình điều tra chống bán phá giá của Ấn Độ

Số lần điều tra chống bán phá giá tăng lên đáng kể trong nửa cuối thập niên 90, thời điểm Ấn Độ cắt giảm mạnh thuế quan và dỡ bỏ biện pháp hạn chế định lượng.

Với 637 vụ khởi xướng điều tra, Ấn Độ trở thành quốc gia điều tra chống bán phá giá nhiều nhất thế giới hiện nay, thay thế vị trí của các quốc gia truyền thống trước đây như Mỹ, EU được thể hiện tại Bảng 2.3.

  • Bảng 2.3: Các vụ điều tra chống bán phá giá do Ấn Độ tiến hành giai đoạn 2009-2024
  • Bảng 2.4: Các vụ điều tra bán phá giá do Ấn Độ tiến hành (phân theo mặt hàng) giai đoạn 2009-2024

Nhìn chung, các vụ khởi xướng điều tra chống bán phá giá do Ấn Độ tiến hành tập trung chủ yếu vào các nhóm mặt hàng hóa chất, nhựa, cao su, kim loại thường, máy móc thiết bị đồ điện tử và vải sợi, chiếm đến 91,2% tổng các vụ điều tra. Trong đó, các sản phẩm hóa chất nhập khẩu bị điều tra nhiều nhất với 260 vụ, chiếm 40,8%.

Các quốc gia thường xuyên bị kiện chống bán phá giá tại Ấn Độ được thể hiện tại Bảng 2.5.

  • Bảng 2.5: 10 quốc gia là đối tượng kiện chống bán phá giá thường xuyên nhất của Ấn Độ giai đoạn 2009-2024

Trung Quốc dẫn đầu bị kiện chống bán phá giá tại Ấn Độ, tiếp sau là Hàn Quốc, EU, Đài Loan, Mỹ… Điều này cũng thể hiện đây cũng chính là các nước có lượng hàng xuất khẩu vào Ấn Độ lớn.

2.2.2.2. Tình hình điều tra chống bán phá giá hàng hóa xuất khẩu của Ấn Độ

Các nhà xuất khẩu Ấn Độ cũng là đối tượng của rất nhiều vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoài được thể hiện tại Bảng 2.6:

  • Bảng 2.6: Các vụ kiện chống bán phá giá hàng hóa Ấn Độ

2.3 PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

2.3.1. Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá

Nguồn luật chính điều chỉnh các mối quan hệ trong ngoại thương của Trung Quốc là Luật Ngoại Thương của Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa. Luật này có 11 chương bao gồm các điều khoản chung, thương nhân ngoại thương, xuất nhập khẩu hàng hóa và công nghệ, thương mại quốc tế trong dịch vụ, bảo hộ các lĩnh vực khác liên quan đến thương mại như quyền sở hữu trí tuệ, trật tự trong ngoại thương, các cuộc điều tra ngoại thương, biện pháp ngoại thương, xúc tiến ngoại thương, trách nhiệm pháp lý và các điều khoản thi hành. Các quy định về chống bán phá giá thuộc chương về các biện pháp khắc phục ngoại thương.

Năm 2011 Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã ban hành các quy định và thủ tục kiện chống bán phá giá và đối kháng thực thi Điều 30 của Luật Ngoại thương, gọi là các quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (thường được gọi là Quy định cũ). Bên cạnh đó, trước khi Trung Quốc gia nhập WTO, nước này cũng đã ban hành một số quy định và luật lệ mới để phù hợp với Hiệp định chống bán phá giá của WTO. Sau khi đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, Trung Quốc lại tiếp tục cho ban hành nhiều quy định mới thay thế các chính sách và quy định đã lỗi thời (vào 12/2015 và 3/2018) và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Quy định mới về chống bán phá giá được đưa ra một cách toàn diện và cụ thể với 59 điều khoản trong 6 chương. Các quy định này được chi tiết hóa bởi rất nhiều các quy định tạm thời do Bộ Hợp tác Kinh tế và Ngoại thương và Hội đồng nhà nước về Thương mại và Kinh tế ban hành.

Theo nghị quyết của Quốc hội về Cải cách thể chế của Ủy ban nhà nước và thông báo của Ủy ban Nhà nước về cơ cấu tổ chức thì Chính phủ Trung Quốc phải xem xét kỹ lưỡng việc cơ cấu lại then chốt vào tháng 03/2017. Do vậy Bộ Thương mại được thành lập để đảm nhận trách nhiệm của Bộ Hợp tác Kinh tế và Ngoại thương và Hội đồng nhà nước về Thương mại và Kinh tế, trong đó có vai trò điều chỉnh bán phá giá và trợ cấp. Về thay đổi cơ cấu tổ chức, Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp đã được sửa đổi vào tháng 3/2018 và có hiệu lực từ 01/06/2018. Quy định về chống bán phá giá năm 2018 bao gồm nhiều vấn đề từ xác định việc bán phá giá, tính toán biên độ, xác định thiệt hại, quy trình điều tra, thuế chống bán phá giá, cam kết về giá, rà soát cuối kỳ và thông báo. Vào tháng 10/2017, Trung Quốc đã ban hành “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống bán phá giá” và “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống trợ cấp”.

2.3.1.1. Cơ quan có thẩm quyền Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, ba cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc điều tra chống bán phá giá là Bộ thương mại, Ủy ban Thuế Quan thuộc Hội đồng nhà nước và Tổng cục Hải Quan. Về phía Bộ thương mại, hai cơ quan có chức năng điều tra chống bán phá giá là Ban thương mại công bằng chịu trách nhiệm xác định biên độ phá giá và Ủy ban điều tra thiệt hại chịu trách nhiệm xác định thiệt hại do bán phá giá gây ra đối với các ngành sản xuất trong nước. Hai cơ quan nói trên đều có thẩm quyền xác định nguyên nhân, tuy nhiên Ban thương mại công bằng sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm khởi xướng điều tra. Bộ Thương mại Trung Quốc cũng là cơ quan có quyền quyết định chấm dứt điều tra, áp mức thuế tạm thời hoặc chấp nhận cam kết giá về giá.

Ủy ban Thuế quan Hội đồng Nhà nước là cơ quan quyết định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá (tạm thời và chính thức) trên cơ sở các kết luận điều tra của Bộ Thương mại. Cơ quan Hải quan có trách nhiệm thu các khoản thuế này.

2.3.1.2. Thời hạn điều tra

  • Khởi xướng điều tra: Trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận đơn kiện
  • Kết thúc điều tra: Trong vòng 1 năm kể từ ngày khởi xướng điều tra, có thể gia hạn thêm không quá 6 tháng
  • Trả lời bảng hỏi: Trong vòng 37 ngày kể từ ngày gửi bảng hỏi, gia hạn thêm không quá 14 ngày
  • Biện pháp tạm thời: Không sớm hơn 60 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra và không kéo dài quá 4 tháng (có thể gia hạn đến 9 tháng). Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

2.3.1.3. Xác định biên độ phá giá

Theo Các quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc, Bộ Thương mại có thể lựa chọn hai phương pháp so sánh sau:

Cách thứ nhất là so sánh giá thông thường bình quân trọng số với giá trung bình trong tất cả các giao dịch xuất khẩu có thể so sánh được (gọi là so sánh “A-to-A”); cách thứ hai là so sánh giá thông thường với giá xuất khẩu dựa trên cơ sở các giao dịch (gọi là so sánh “T-to-T”). Do các mức giá xuất khẩu chênh lệch đáng kể giữa những người mua khác nhau, các khu vực và khoảng thời gian khác nhau nên rất khó để so sánh bằng những phương pháp này, khi đó có thể so sánh giữa giá thông thường bình quân và giá trong những giao dịch xuất khẩu đơn lẻ (gọi là so sánh “A-to-T”). Các điều khoản này có được là do nỗ lực chi tiết hóa và cải thiện các điều khoản trong quy định cũ mà trong đó chỉ đơn giản là so sánh giá xuất khẩu với giá thông thường một cách hợp lý và công bằng [5, tr. 6-7].

Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, trong các trường hợp ngoại lệ các cơ quan điều tra có thể áp dụng phương pháp so sánh “A-to-T”. Nếu sử dụng phương pháp này thì cơ quan điều tra phải giải thích nguyên nhân tại sao không áp dụng các phương pháp thông thường như “A-to-A” hoặc “T-to-T”. Điều này có nghĩa là cơ quan điều tra có trách nhiệm phải chỉ ra một trường hợp ngoại lệ.

Theo Quy định của Trung Quốc thì các cơ quan điều tra có thể chấp nhận phương pháp “A-to-T” trong các trường hợp ngoại lệ nhưng không có trách nhiệm trong việc đưa ra nguyên nhân. Do vậy trong rất nhiều cuộc điều tra cơ quan điều tra đã đẩy trách nhiệm chỉ ra các trường hợp ngoại lệ sang các nhà xuất khẩu hoặc các nhà sản xuất liên quan tới cuộc điều tra.

2.3.1.4. Biện pháp trả đũa

Điều 56 Luật bán phá giá Trung Quốc quy định như sau: Trong trường hợp một quốc gia (khu vực) cố tình phân biệt đối xử bằng cách áp dụng biện pháp chống bán phá giá với Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc có quyền, trên cơ sở phân tích tình hình cụ thể áp dụng biện pháp tương tự đối với quốc gia (khu vực) nói trên.

Ngày 22/04/2024, Bộ Thương mại của Trung Quốc tuyên bố áp dụng mức thuế tạm thời 17% – 18% đối với tinh bột khoai tây xuất khẩu từ hai nhà sản xuất Châu Âu trong thời gian tiến hành cuộc điều tra chống bán phá giá kéo dài một năm.Tinh bột khoai tây được dùng để sản xuất giấy tráng phấn, cũng như các ứng dụng khác trong ngành công nghiệp và đồ ăn. Bộ Thương mại cũng tuyên bố xuất khẩu tinh bột khoai tây của EU sẽ bị điều tra giá và một cuộc khảo sát sẽ được thực hiện để quyết định xem có thiệt hại gì đối với thị trường Trung Quốc hay không. Việc này diễn ra ngay sau quyết định của EC ngày 19/04/2024 về việc điều tra những cáo buộc cho rằng Trung Quốc trợ cấp đối với giấy cao cấp tráng phấn xuất khẩu sang EU, sau khi Hiệp hội các nhà sản xuất giấy cao cấp Châu Âu có đơn khiếu kiện vào ngày 03/03/2024. Trung Quốc thường không đối đầu trong các vụ tranh chấp thương mại và không tuyên bố một cách rõ ràng mối liên kết giữa việc điều tra về tinh bột khoai tây với điều tra chống trợ cấp giấy tráng phấn của EU. Tuy nhiên, thời gian đưa ra tuyên bố của Bộ Thương mại đã cho thấy đây là một biện pháp trả đũa.

2.3.2. Thực trạng chống bán phá giá của Trung Quốc Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

2.3.2.1. Tình hình điều tra chống bán phá giá của Trung Quốc

Trung Quốc áp dụng biện pháp chống bán phá giá lần đầu tiên đối với mặt hàng giấy in báo từ Mỹ, Canada, Hàn Quốc vào năm 2011. Đến nay, số vụ chống bán phá giá và các biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng đã tăng lên đáng kể. Số liệu các vụ điều tra chống bán phá giá của Trung Quốc được thể hiện tại Bảng 2.7 và Bảng 2.8.

  • Bảng 2.7: Các vụ điều tra chống bán phá giá do Trung Quốc tiến hành giai đoạn 2009-2024

Trung Quốc còn áp dụng biên độ thuế suất tương đối lớn với mức thuế suất trần rất cao tương đối cao so với các nước khác (lên tới 144%).

  • Bảng 2.8: Các vụ điều tra bán phá giá do Trung Quốc tiến hành (phân theo mặt hàng), 2009-2024

Hầu hết các vụ điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá đều được nhắm tới các nhà xuất khẩu mặt hàng hóa chất của nước ngoài (chiếm 56,5%), sau đó là các nhà xuất khẩu vật liệu nhựa, cao su, giấy, kim loại thường. Trước đây, hiếm khi các doanh nghiệp Trung Quốc phản ứng lại các cuộc điều tra chống bán phá giá của các nước nhập khẩu. Nhưng đến năm 2016, tỷ lệ các doanh nghiệp Trung Quốc phản kháng lại các vụ kiện lên tới 70%, và 100% đối với các vụ kiện của Mỹ và EU. Các doanh nghiệp Trung Quốc giành thắng lợi 4 trong 5 vụ kiện mà Mỹ khởi xướng (Xie Yuandong, 2016). Điều đó cho thấy Trung Quốc đã thực sự sẵn sàng và đầy nỗ lực khi sử dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm bảo vệ ngành công nghiệp và doanh nghiệp nước mình.

2.3.2.2. Tình hình hàng hóa Trung Quốc bị kiện bán phá giá

Trung Quốc là tâm điểm của các vụ kiện chống bán phá giá và đang phải gánh chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề từ các hành động chống bán phá giá. Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia bị kiện bán phá giá nhiều nhất trên thế giới, chiếm 20,87% tổng số vụ điều tra và 23,63% tổng số lần áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Trong khoảng 15 năm, Trung Quốc bị khởi xướng điều tra bán phá giá 804 lần, bình quân là trên 50 vụ/ năm với tổng số 590 lần bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Một điểm đáng chú ý là các nước kiện Trung Quốc bán phá giá không chỉ là những nước truyền thống như Mỹ, EU, Canada mà những năm 90 trở lại đây trong số 33 nước đang phát triển mới gia nhập hàng ngũ chống bán phá giá quốc tế thì có 26 nước đang phát triển tiến hành chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Thậm chí tỷ lệ các nước này kiện Trung Quốc còn ở mức cao: Ấn Độ 142 lần, Achentina 83 lần, Thổ Nhĩ Kỳ 58 lần, Braxin 44 lần.

Chủng loại sản phẩm bị kiện cũng ngày một mở rộng hơn, chủ yếu là những sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của Trung Quốc và có ưu thế cạnh tranh trên thị trường. Số lượng mặt hàng bị kiện đã lên tới con số hàng chục nghìn, ban đầu chỉ là những sản phẩm thô sơ chế như khoáng sản, hóa chất, nhanh chóng được mở rộng ra các sản phẩm dệt may, cơ điện, dược phẩm, các sản phẩm kỹ thuật cao như máy tính, ti vi, phần mềm, máy ảnh,… Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Bên cạnh đó, giá trị sản phẩm bị kiện bán phá giá ngày càng lớn hơn. Trong những năm 80 thế kỷ XX, đa số vụ kiện sản phẩm xuất khẩu Trung Quốc bán phá giá có giá trị vài nghìn USD, những vụ kiện lớn hơn giá trị cũng vài triệu USD, số vụ kiện có giá trị lên con số chục triệu USD vô cùng ít (chỉ có 3 vụ). Tuy nhiên sang những năm 90, dành để nói giá trị của những vụ kiện nhỏ, những vụ kiện lớn có giá trị đến hàng trăm triệu, hàng tỷ USD.

Có nhiều nguyên nhân hàng hóa Trung Quốc thường xuyên bị kiện bán phá giá. Một mặt do các nước lo ngại hàng Trung Quốc sẽ chiếm lĩnh thị trường, từ khi cải cách mở cửa đến nay, quy mô xuất nhập khẩu của Trung Quốc cũng có những biến đổi lớn, tốc độ tăng trưởng ngoại thương của Trung Quốc đạt mức bình quân trên 10%/năm. Hai là nguyên nhân chủ quan: cơ cấu xuất khẩu còn tồn tại nhiều vấn đề bất hợp lý, doanh nghiệp Trung Quốc chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh quốc tế toàn diện.

2.4 PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ASEAN

Hiện nay có 6 nước ASEAN đã ban hành luật chống bán phá giá của mình: Indonesia, Malaysia, Philippin, Thái Lan, Singapore và Việt Nam, các nước này đều là thành viên của WTO. Trong đó, Thái Lan và Việt Nam đã ban hành Luật chống bán phá giá của mình sau khi Hiệp định thành lập WTO có hiệu lực (Quốc hội Thái Lan thông qua đạo luật về thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá vào năm 2013), còn các nước khác ban hành luật chống bán phá giá trước khi Hiệp định thành lập WTO có hiệu lực nhưng các nước này đã điều chỉnh luật chống bán phá giá của mình cho phù hợp với Hiệp định chống bán phá giá của WTO.

2.4.1. Pháp luật chống bán phá giá của Indonesia

2.4.1.1. Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá

Pháp luật chống bán phá giá của Indonesia về cơ bản được xây dựng dựa trên các quy định về chống bán phá giá của WTO (trong Hiệp định về chống bán phá giá của WTO). Bên cạnh đó, có một số nét đặc trưng riêng trong pháp luật chống bán phá giá của Indonesia.

Cơ quan có thẩm quyền:

  • Ủy ban Chống bán phá giá Indonesia – Bộ Thương mại và Công nghiệp (bao gồm đại diện của Bộ Thương mại Công nghiệp, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp; Nhóm Điều tra Chống bán phá giá chịu trách nhiệm hỗ trợ Ủy ban này) là cơ quan ra quyết định khởi xướng điều tra, trực tiếp thực hiện việc điều tra, đề xuất giải pháp xử lý;
  • Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp có thẩm quyền quyết định biện pháp chống bán phá giá (tạm thời và cuối cùng), cam kết về giá trên cơ sở đề xuất của Ủy ban; Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.
  • Bộ trưởng Tài chính quyết định mức thuế chống bán phá giá thực thu trên cơ sở quyết định của Bộ trưởng Thương mại Công nghiệp.

Các thời hạn điều tra:

  • Khởi xướng điều tra: 30 ngày kể từ ngày nhận đơn kiện
  • Trả lời bảng hỏi: 30 ngày
  • Biện pháp tạm thời: Không sớm hơn 60 ngày và không kéo dài quá 4 tháng – 6 tháng nếu gia hạn (6-9 tháng nếu mức thuế tạm thời thấp hơn biên độ phá giá)
  • Kết thúc điều tra: 12 tháng kể từ ngày khởi xướng điều tra (gia hạn đến 18 tháng)

Những vấn đề cần lưu ý để vận dụng:

  • Luật chống bán phá giá Indonesia cho phép hiệp hội người tiêu dùng và các ngành sản xuất được cung cấp thông tin
  • Lựa chọn bị đơn: mẫu ngẫu nhiên hoặc bị đơn có lượng nhập khẩu nhiều nhất
  • Thông tin sẵn có: Nếu các bên liên quan từ chối cung cấp thông tin hoặc không nỗ lực tìm kiếm thông tin hoặc cản trở điều tra thì cơ quan có thẩm quyền sẽ ra kết luận cuối cùng trên cơ sở thông tin sẵn có
  • Thời điểm bắt đầu áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức: Thời điểm Bộ trưởng Tài chính ra quyết định về mức thuế chống bán phá giá
  • Rà soát lại: Rà soát do thay đổi hoàn cảnh

Về thông tin:

  • Các bên liên quan được tạo cơ hội xem xét tất cả các thông tin liên quan (không phải là thông tin mật) trong vụ điều tra
  • Các bên có thể được cơ quan điều tra thông báo về các chứng cứ và thực tế được sử dụng để ra kết luận cuối cùng
  • Khi xác định có chứng cứ sơ bộ về bán phá giá gây thiệt hại (trước khi ra kết luận sơ bộ), cơ quan điều tra thông báo với các bên về việc này và các bên có 30 ngày kể từ ngày được thông báo để cung cấp thông tin hoặc phản hồi.

2.4.1.2. Thực trạng chống bán phá giá của Indonesia

Trong các nước khu vực Đông Nam Á, Indonesia là quốc gia tiến hành nhiều vụ điều tra bán phá giá và áp dụng các biện pháp chống bán phá nhất. Trong thời kỳ từ 2009 – 2024, nước này đã khởi xướng điều tra 83 vụ bán phá giá và áp dụng 40 lần biện pháp chống bán phá giá, các số liệu được thể hiện tại Bảng 2.9.

  • Bảng 2.9: Các vụ điều tra bán phá giá do Indonesia thực hiện giai đoạn 2009 – 2024

Các mặt hàng nhập khẩu chịu nhiều cuộc điều tra bán phá giá tập trung vào: kim loại thường (chiếm 38,6% tổng số vụ điều tra), hóa chất (19,3%), sản phẩm có nguồn gốc thực vật (13,3%), dệt may (12%).

Bên cạnh đó, Indonesia cũng thường xuyên bị các quốc gia khác điều tra chống bán phá giá với 160 lần trong giai đoạn 2009 – 2024, 97 lần bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.

2.4.2. Pháp luật chống bán phá giá của Thái Lan Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

2.4.2.1. Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá

  • Cơ quan có thẩm quyền:

Ủy ban về Bán phá giá và Trợ cấp (Bộ Thương mại): thụ lý chính thức đơn kiện, quyết định khởi xướng điều tra, ra các quyết định trên cơ sở kết luận điều tra của Vụ Ngoại thương.

Vụ Ngoại thương tiếp nhận đơn kiện, xem xét yêu cầu nguyên đơn hoàn thiện (nếu có) và chuyển đơn kiện đến Ủy ban; tiến hành điều tra phá giá và thiệt hại; chấp nhận cam kết giá (sau đó phải được Ủy ban phê chuẩn).

Các thời hạn điều tra: Kết thúc điều tra 1 năm (gia hạn đến 18 tháng) kể từ ngày khởi xướng điều tra

Những vấn đề cần lưu ý để vận dụng.

  • Lợi ích cộng đồng: Việc xác định áp thuế phải tính đến lợi ích của ngành sản xuất nội địa, của người tiêu dùng và các lợi ích công cộng;
  • Phí: Đơn kiện, các yêu cầu rà soát, cung cấp thông tin, cam kết về giá đều phải nộp một khoản phí do Bộ Thương mại ấn định tương ứng với chi phí bỏ ra để thực hiện;
  • Rút lại đơn kiện: Nguyên đơn có thể rút lại đơn kiện nhưng nếu việc rút đơn thực hiện sau khi đã khởi xướng vụ kiện thì Ủy ban có quyền quyết định chấm dứt hoặc tiếp tục vụ kiện;
  • Nền kinh tế phi thị trường: Giá thông thường sẽ được tính toán trên cơ sở giá tại một nước thứ ba có nền kinh tế thị trường hoặc, trong trường hợp cách thức đó không thực hiện được, trên cơ sở bất kỳ một mức giá hợp lý nào khác, bao gồm cả giá tại Thái Lan nếu thích hợp;
  • Thông tin sẵn có hoặc bất lợi: được sử dụng để ra các quyết định trong trường hợp một bên liên quan từ chối không cho tiếp cận hoặc không cung cấp các thông tin cần thiết trong thời hạn quy định hoặc cản trở đáng kể việc điều tra
  • Cam kết về giá: Có thể bị từ chối vì bất kỳ lý do nào (bao gồm cả lý do về chính sách chung)
  • Có quy định về Điều tra chống bán phá giá cho một nước thứ ba (Thái Lan là nước nhập khẩu) hoặc tại một nước thứ ba (ngành sản xuất của Thái Lan bị thiệt hại) Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.
  • Rà soát: Rà soát do có sự thay đổi hoàn cảnh, rà soát hoàng hôn, rà soát cho nhà xuất khẩu mới (nhà xuất khẩu mới không phải nộp thuế trong khi đang rà soát), rà soát hoàn trả thuế.
  • Khiếu kiện: Các bên liên quan có thể khiếu kiện quyết định cuối cùng và các quyết định rà soát ra Tòa án về Sở hữu trí tuệ và Ngoại thương trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định

Về chế độ thông tin:

  • Quyết định khởi xướng vụ kiện được đăng trên Công báo và báo địa phương của Thái Lan bằng tiếng Thái và tiếng Anh (nếu thích hợp); Vụ Ngoại thương sẽ thông báo trực tiếp bằng văn bản cho các bên liên quan hoặc đại diện của họ (được biết đến tại thời điểm khởi xướng điều tra)
  • Nguyên đơn, các nhà xuất khẩu nước ngoài và nhà nhập khẩu có quyền yêu cầu cung cấp các thông tin đã được sử dụng để ra các quyết định áp đặt biện pháp tạm thời và chính thức (yêu cầu phải được trình không muộn hơn 1 tháng kể từ ngày ban hành quyết định);

Trước khi ra quyết định cuối cùng, Bộ Ngoại thương sẽ thông báo cho các bên liên quan về các thông tin thực tiễn được sử dụng để ra quyết định (trước một khoảng thời gian đủ để các bên bảo vệ lợi ích của mình)

2.4.2.2. Thực trạng chống bán phá giá của Thái Lan

Trong thời kỳ từ 2009 – 2024, Thái Lan đã khởi xướng điều tra 43 vụ bán phá giá và áp dụng 31 lần biện pháp chống bán phá giá.

Kim loại thường là mặt hàng nhập khẩu chịu nhiều cuộc điều tra bán phá giá nhất, chiếm 69,8% tổng số vụ điều tra. Mới đây nhất, Bộ Thương mại Thái Lan đã quyết định áp thuế chống bán phá giá đối với một số loại thép cuộn cán nóng, thép cuộn mạ kẽm cán nóng và tấm thép cán nóng từ Trung Quốc và Malaysia. Mức thuế đối với các sản phẩm từ Trung Quốc là 30,91% và từ Malaysia là 42,51%, ngoại trừ các sản phẩm từ nhà sản xuất tấm thép của Malaysia Sdn Megasteel Bhd (Megasteel) sẽ phải chịu thuế 23,57%. Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Tuy nhiên, Thái Lan cũng thường xuyên bị các quốc gia khác điều tra chống bán phá giá với 155 lần trong giai đoạn 2009 – 2024, 101 lần bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.

2.4.3. Pháp luật chống bán phá giá của Philippin

2.4.3.1. Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá

Pháp luật chống bán phá giá của Philippin về cơ bản được xây dựng dựa trên các quy định về chống bán phá giá của WTO nhưng cũng có khá nhiều điểm khác biệt so với ADA.

Cơ quan có thẩm quyền:

  • Bộ trưởng Tài chính hoặc Thương mại là cơ quan tiếp nhận đơn; ra quyết định sơ khởi (khởi xướng vụ kiện), quyết định áp dụng biện pháp tạm thời
  • Ủy ban Thuế quan là cơ quan điều tra
  • Ủy ban Đặc biệt về Chống bán phá giá (bao gồm 3 thành viên là Bộ trưởng Tài chính làm chủ tịch, Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp, và hoặc là Bộ trưởng Nông nghiệp, hoặc là Bộ trưởng Lao động) là cơ quan quyết định áp dụng biện pháp chính thức

Các thời hạn điều tra:

  • Quyết định sơ khởi (prima facie case determination): 20 ngày kể từ ngày nhận đơn
  • Kết thúc điều tra: Trong vòng 90 ngày kể từ ngày nhận thông báo về quyết định sơ khởi, Ủy ban Thuế quan phải hoàn thành điều tra, trình kết quả điều tra lên Ủy ban đặc biệt về Chống bán phá giá trong thời hạn 60 ngày kể từ khi kết thúc điều tra
  • Quyết định cuối cùng: 15 ngày kể từ ngày Ủy ban đặc biệt nhận được kết quả điều tra do Ủy ban Thuế quan gửi (nếu Ủy ban đặc biệt không ra quyết định trong thời hạn này thì Đề xuất trong báo cáo của Ủy ban Thuế quan được xem như chấp thuận và có hiệu lực áp dụng) Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

Những vấn đề cần lưu ý để vận dụng:

  • Quyết định sơ khởi:

Phải dựa trên các thông tin đáng tin cậy (các nhà nhập khẩu có 10 ngày để cung cấp thông tin về giá thông thường, nếu không có thông tin này thì phải dựa trên các cơ sở dữ liệu đáng tin cậy)

Khi chưa có quyết định sơ khởi, Bộ trưởng có thể yêu cầu, theo yêu cầu của nguyên đơn, cơ quan Hải quan ngừng thông quan hàng liên quan (hoặc cho thông quan với điều kiện phải có đặt cọc bằng biên phá giá dự tính) – biện pháp này chấm dứt khi có quyết định sơ khởi

  • Sau khi có quyết định sơ khởi:

Bộ trưởng thông báo cho Ủy ban Thuế quan để điều tra

Bộ trưởng lệnh cho nhân viên thuế quan thu tiền đặt cọc (mức bằng biên phá giá nêu trong đơn kiện cộng với mức thuế thông thường để đảm bảo khả năng nộp thuế chống bán phá giá nếu có kết luận khẳng định sau này; nếu kết luận phủ định thì các khoản này sẽ được trả lại trong vòng 10 ngày)

Tính giá thông thường: Nếu không tính được theo cách tính chuẩn thì giá thông thường sẽ là mức cao nhất trong các loại giá tính theo các phương pháp sau: Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

  • Giá bán của sản phẩm tương tự tại nước láng giềng có ngành sản xuất ở điều kiện phát triển tương tự;
  • Chi phí sản xuất;
  • Lượng nhập khẩu không đáng kể: Tính theo phần trăm lượng nhập khẩu trung bình tháng
  • Ủy ban đặc biệt ngay khi có quyết định chính thức sẽ lệnh cho Ủy ban Thuế quan thu thuế chống bán phá giá

Khiếu nại:

  • Khiếu nại hành chính lên Ủy ban đặc biệt: 30 ngày
  • Khiếu nại tư pháp ra Tòa án Phúc thẩm về thuế (chỉ khiếu nại về mức thuế): theo thủ tục khiếu nại chung đối với các quyết định của Ủy ban Thuế quan

Xem xét lại mức thuế: Ủy ban Thuế quan tiến hành xem xét lại mức thuế hàng quý (có phiên điều trần), nếu cần điều chỉnh thì đệ trình lên Ủy ban đặc biệt quyết định; Quy định tương tự đối với việc rút lại, thay đổi biện pháp thuế (nhưng trường hợp này rà soát được tiến hành theo sáng kiến của Ủy ban hoặc có yêu cầu của bên liên quan).

  • Về chế độ thông tin:

Ủy ban phải thông báo cho các bên về kết quả điều tra được trình lên Ủy ban Đặc biệt về Chống bán phá giá; Các bên liên quan phải thực hiện tham vấn với Ủy ban Thuế quan và Bộ trưởng và tận dụng tất cả các thông tin kỹ thuật cần thiết để tự biện hộ. Mọi quyết định của Ủy ban đặc biệt được đăng trên Công báo.

2.4.3.2. Thực trạng chống bán phá giá của Philippin

Theo báo cáo của WTO, trong thời kỳ từ 2009 – 2024, Philippin đã khởi xướng điều tra 18 vụ bán phá giá và 11 lần áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Kim loại thường là mặt hàng nhập khẩu chịu nhiều cuộc điều tra bán phá giá nhất, chiếm 44,4% tổng số vụ điều tra, tiếp theo là mặt hàng từ đá, thạch cao, xi măng hoặc vật liệu tương tự, các sản phẩm gốm sứ, thủy tinh và hóa chất. Bên cạnh đó, Philippin cũng có 6 lần bị các quốc gia khác điều tra chống bán phá giá trong giai đoạn 2009 – 2024.

Tóm lại, qua việc tìm hiểu pháp luật chống bán phá giá của một số nước nêu trên, nhận thấy pháp luật chống bán phá giá của các nước đều tuân thủ theo những quy định của WTO và cũng mang những đặc trưng riêng phù hợp với nền kinh tế xã hội của mỗi nước. Quá trình cụ thể hóa bằng pháp luật và thực thi trên thực tiễn của mỗi nước về vấn đề này có nhiều bài học hay mà Việt Nam có thể học tập nhằm hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá ở nước ta cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho thực tiễn áp dụng. Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam

One thought on “Luận văn: Thực trạng các nước đang phát triển chống bán phá giá

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật các nước đang phát triển chống bán phá giá

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464