Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lao động trong ngành thủy sản Cà Mau dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Phương hướng hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thủy sản Cà Mau
Phương hướng phát triển kinh tế thuỷ sản ở Cà Mau trong thời gian tới là tập trung phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 vùng mặn, lợ, ngọt, tận dụng tối đa điều kiện sinh thái đặc thù về cả nuôi trồng, khai thác và chế biến. Phát triển thuỷ sản phải gắn với phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh trên biển. Đẩy mạnh chuyển giao khoa học và công nghệ nuôi trồng thuỷ sản cho nhân dân, góp phần tăng năng suất, hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản. Đi đôi với đẩy mạnh khai thác thuỷ sản, từng bước đưa ngành nuôi trồng thuỷ sản trở thành ngành sản xuất chính. Theo phương hướng đó, trong thời gian tới, trong ngành thuỷ sản sẽ phát huy năng lực trong tất cả các lĩnh vực không hạn chế về số lượng và quy mô. Phát triển mạnh ngành thuỷ sản khắp các địa phương trong tỉnh và các lĩnh vực hoạt động thuỷ sản. Phát triển trong ngành thuỷ sản phải gắn với quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá chuyển từ quy mô nuôi nhỏ sang quy mô nuôi công nghiệp phù hợp với ngành nghề và điều kiện tự nhiên.
Tiếp tục nâng cao hoạt động trong ngành thuỷ sản, đồng thời cần nhân rộng các hộ cá thể, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có chất lượng cao, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với hiệu quả về mặt xã hội, hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thủy sản Cà Mau, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân, khẳng định vai trò và vị trí của các thành phần kinh tế hoạt động trong ngành thuỷ sản. Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn và phát triển kinh tế trang trại trên các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng và chế biến các mặt hàng thuỷ sản.
Thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Cà Mau trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh, trong đó nghề nuôi trồng thuỷ sản có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là nuôi tôm, khai thác biển. Thực hiện cơ cấu ngành thuỷ sản theo cơ cấu kinh tế nuôi – chế biến xuất khẩu – khai thác – hậu cần phục vụ. Vì vậy, trong thời gian tới phát triển trong ngành thuỷ sản trên các lĩnh vực theo hướng sau: Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Trong nuôi trồng thuỷ sản: Các hộ nuôi thuỷ sản cần phải chủ động với nguồn giống nhất là giống tôm sú, tôm thẻ chân trắng và các loài cá có giá trị cao. Phát triển nuôi thuỷ sản phải gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Phát triển nuôi thuỷ sản phải gắn với phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, góp phần tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống của người lao động. Khuyến khích kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nuôi thuỷ sản để nâng cao năng suất nuôi trồng, tạo ra nhiều nguồn cung cấp nguyên liệu lớn, ổn định cho chế biến thuỷ sản.
Trong khai thác thuỷ sản: Xuất phát từ thực trang khai thác thuỷ sản trong những năm gần đây, trong thời gian tới phải đảm bảo theo hướng sau:
- Khai thác thuỷ sản phải gắn với bảo vệ và tái tạo nguồn lợi, sinh thái biển.
- Khai thác thuỷ sản phải gắn liền với chế biến. Hải sản khai thác phải được sơ chế và tinh chế ngay trên tàu.
- Các chủ tàu khi tham gia khai thác thuỷ sản phải gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ vùng biển, an ninh của tổ quốc, đồng thời phải đảm bảo an toàn cho ngư dân trước thiên tai và nạn cướp biển.
- Chuyển dần hoặc kết hợp từng bước mở rộng một cách hợp lư giữa khai thác xa bờ với gần bờ, v́ vậy, phải hiện đại hoá máy móc, công nghệ nhằm nâng cao công suất của các tàu khai thác.
- Khuyến khích người dân đầu tư tàu đánh bắt xa bờ công suất lớn với trang thiết bị hiện đại nhằm tăng nhanh sản lượng.
Trong chế biến thuỷ sản: Các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản hiện đại hoá công nghệ chế biến và phải lấy tiêu chuẩn chất lượng và an toàn thực phẩm là yếu tố hàng đầu, bảo đảm an toàn vệ sinh trong mọi khâu từ làm ra nguyện liệu, bảo quản và chế biến sản phẩm. Bởi vì thu nhập càng cao, người tiêu dùng càng đòi hỏi chất lượng và mức độ an toàn khi sử dụng bất cứ một mặt hàng thực phẩm nào. Trong khi đó, hơn bất cứ một sản phẩm nào khác, thuỷ sản là mặt hàng rất dễ bị tác động của các yếu tố bên ngoài làm giảm chất lượng sản phẩm.
Mặt khác, các doanh nghiệp cần mở rộng thị trường và đa dạng hoá các mặt hàng chế biến cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Lấy sự đa dạng của mặt hàng chế biến để kích thích sự đa dạng của nguồn nguyên liệu từ khai thác và nuôi trồng. Đồng thời, tận dụng sản phẩm của khai thác để tạo ra hàng hoá có nuôi giá trị gia tăng, lấy chế biến làm cơ sở cho việc nâng cao giá trị các sản phẩm thuỷ sản.
Trong dịch vụ hậu cần: Khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở đóng tàu sửa chữa quy mô nhỏ cơ sở sản xuất tôm giống, cá giống các loại. Thức ăn… các hộ gia đình mở rộng và phát triển theo hướng hiện đại hoá. Phát triển kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân tham gia vào lĩnh vực dịch vụ hậu cần, nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thuỷ sản.
3.2. Một số giải pháp nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thủy sản Cà Mau Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
3.2.1. Giải pháp về nguồn nhân lực
Ngành thủy sản sử dụng rất nhiều lao động, do vậy chất lượng của nguồn lực lao động là nhân tố mang tính sống còn cho ngành. Việc nâng cao chất lượng lao động, đặc biệt quản lý cấp trung và công nhân sẽ góp phần hết sức quan trọng trong việc nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện mức thu nhập cho người lao động. Bởi đa số công nhân thu nhập dựa vào năng suất lao động. Ngoài ra, việc nâng cao chất lượng nguồn lao động còn giúp cho ngành đối phó với tình trạng thiếu hụt lao động, góp phần thoát khỏi tình trạng thâm dụng lao động chỉ dựa vào nguồn lao động giá rẻ. Thực hiện giải pháp này trước hết cần:
3.2.1.1. Nâng cao nghiệp vụ và năng lực làm việc của lao động ngành thủy sản:
Đối với lao động trong ngành thủy sản cần đặc biệt quan tâm đến chất lượng nguồn nhân lực, năng lực và trình độ nghiệp vụ của các loại lao động trong các DN, cụ thể như sau:
Đối với cán bộ quản lý các cấp: Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng và sát hạch nghiệp vụ. Có các tiêu chuẩn về chức năng quản lý và nghiệp vụ rõ ràng. Những người không đảm bảo yêu cầu, cần phải đưa ra khỏi vị trí quản lý. Các DN cần thường xuyên tổ chức tham quan, học hỏi các DN điển hình trong ngành, các mô hình quản lý tốt của các liên doanh, kể cả mô hình quản lý tốt ở nước ngoài.
Đối với lực lượng nghiên cứu khoa học: Cần tạo môi trường cho họ có điều kiện nghiên cứu và áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế. Muốn vậy cần trang bị tốt các loại máy móc và phương tiện thí nghiệm hiện đại, đủ khả năng thiết kế các sản phẩm mới và giải quyết các vấn đề về kỹ thuật, công nghệ cho ngành. Cần nhanh chống chuyển công tác nghiên cứu khoa học từ hình thức nghiên cứu theo đề tài và kinh phí của nhà nước sang hình thức nghiên cứu theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Đó là điều kiện tiên quyết để khoa học- công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển của ngành thủy sản và là mảnh đất tốt để tài năng khoa học sáng tạo và hưởng thụ theo sự cống hiến của mình.
Thực hiện các giải pháp chuyên môn hóa nông dân: đăng ký nông dân có trình độ tay nghề chuyên môn thành hội viên Hội nông dân và được hưởng các quyền lợi Nhà nước ưu tiên cho nông dân (sử dụng đất nông nghiệp, tích tụ đất nông nghiệp, bảo hiểm nông nghiệp, vay vốn phát triển sản xuất,…). Nông dân không đáp ứng yêu cầu được hỗ trợ chuyển sang lao động trong các lĩnh vực khác. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Tăng cường đào tạo nghề, truyền nghề, tập huấn kỹ thuật sản xuất cho ngư, nông dân.Thực hiện giải pháp đào tạo nông dân trên cơ sở Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009.
Đối với công nhân: là lực lượng lao động trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư của sản xuất, cần được quan tâm để không ngừng nâng cao tay nghề, đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường cả trong và ngoài nước. Các điển hình về công nhân giỏi, bàn tay vàng của ngành cần được nhân rộng. Thông qua các cuộc thi công nhân giỏi trong từng DN và nhân rộng trong ngành, tay nghề của công nhân sẽ được nâng cao
3.2.1.2. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của hầu hết các DN trong ngành thủy sản còn hạn chế về chuyên môn, kỹ thuật và quản lý. Nhiều DN không đủ kinh phí để đào tạo, hoặc có đào tạo được người giỏi nhưng sau đó không giữ được ( chảy máu chất xám), gây thiệt hại cho DN. Do đó nhà nước cần có những biện pháp khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở đào tạo thuộc ngành và địa phương, các DN đào tạo nguồn nhân lực bằng các hình thức thích hợp, các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thủy sản.
Nâng cao chất lượng lao động thông qua việc tiếp tục đào tạo đội ngũ cán bộ, quản lý có hướng cầu tiến, phát triển nghề nghiệp và tâm huyết với ngành. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Củng cố các trường đào tạo, trung tâm đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo (kể cả việc thuê các chuyên gia đào tạo nước ngoài) để đáp ứng nhu cầu tăng vọt về cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật trong thời gian tới.
3.2.1.3. Hoàn thiện hệ thống chính sách và chế độ khuyến khích động viên người lao động trong ngành thủy sản thỏa đáng
Điều kiện làm việc cho người lao động cũng phải được cải thiện, để cùng với kỹ năng tạo điều kiện tăng nâng suất lao động, có như vậy sẽ đảm bảo được sự tăng trưởng bền vững.
Lao động trong ngành thủy sản là loại lao động nặng nhọc, đối vớ công nhân trong xí nghiệp sản xuất thì môi trường lao động tanh hôi, bị ô nhiễm, ồn ào, còn đối với công nhân đánh bắt và nuôi trồng thì phải làm việc ngoài trời, có khi làm việc suốt cả ngày trong môi trường khắc nghiệt….trong xí nghiệp CBXK TS thì đa phần là phụ nữ. Ngành cần có chế độ đãi ngộ cho thích hợp về tiền lương, bồi dưỡng độc hại, ca 3, thai sản, hưu trí…
Tóm lại, việc đầu tư cho con người phải được tiến hành đồng bộ ở tất cả các khâu mới tạo được sức mạnh tổng lực cho sự tăng trưởng nhanh và chất lượng tăng trưởng cao.
3.2.1.4. Chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực
Lao động là một trong những yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như hiệu quả sản xuất. Để đáp ứng những đòi hỏi khắc khe của thị trường trong điều kiện hội nhập, nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm thủy sản của KTTN, Nhà nước và chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực cho bộ phận kinh tế này. Trước mắt, cần tập trung thực hiện tốt các vấn đề sau:
Mở rộng, phát triển hệ thống các trường dạy nghề và hướng nghiệp ở trong tỉnh để có chương trình đào tạo thích hợp với yêu cầu phát triển của ngành thủy sản. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Hiện nay, toàn tỉnh có một số trung tâm dạy nghề như: trung tâm dạy nghề của sở lao động thương binh – xã hội, trung tâm giáo dục thường xuyên và một số trung tâm dạy nghề ở các huyện. Các cơ sở dạy nghề trên trong thời gian qua đã mở các lớp đào tạo công nhân kỹ thuật nuôi và chế biến thủy sản… Tuy nhiên, các cơ sở đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng nhu cầu học nghề của lao động, trong đó có lao động ngành thủy sản của tỉnh Cà Mau.
Tỉnh cần hỗ trợ một phần kinh phí để trợ giúp đào tạo, nâng cao trình độ hiểu biết về chủ trương của Đảng và chính sách, pháp lật của Nhà nước, trình độ quản trị kinh doanh cho giới chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động trong ngành thủy sản.
Tỉnh cần củng cố và đầu tư để nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề hiện có của Tỉnh. Đồng thời, cần kết hợp giữa hình thức đào tạo thường xuyên với đào tạo theo đơn đặt hàng của tư nhân. Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế thành lập các cơ sở dạy nghề để đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thủy sản.
Nên tăng cường đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu và ứng dụng khoa học nhất là công nghệ sinh học. Nhà nước cần có cơ chế để nâng cao tinh thần trách nhiệm, khuyến khích lợi ích thoả đáng, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ, quyền công bố, trao đổi, chuyển nhượng kết quả nghiên cứu của cán bộ khoa học theo quy định theo pháp luật.
Thành lập các trung tâm tư vấn về quản lý, về đầu tư, pháp luật bằng nguồn ngân sách nhà nước và đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân, các hộ gia đình hình thành các câu lạc bộ của những chủ trang trại, các hộ cá thể trong ngành thủy sản nhằm nâng cao sự hiểu biết về kinh tế thị trường, am hiểu pháp luật cũng như học tập kinh nghiệm lẫn nhau.
3.2.1.5. Chính sách về lao động- tiền lương Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Chính sách lao động- tiền lương phản ánh mối quan hệ phân phối giữa người sử dụng lao động và người lao động, có vị trí quan trọng tạo động lực phát triển trong các doanh nghiệp tư nhân ngành thủy sản.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, khoảng cách giàu nghèo trong cộng đồng dân cư ngày càng tăng lên, vì vậy cần phải quan tâm đến quyền lợi của người lao động trong ngành thủy sản.
Để khắc phục một số hạn chế về điều kiện làm việc và thu nhập của người lao động, ngành thủy sản phải thực hiện đúng quy định của Bộ luật Lao động về việc ký kết hợp đồng lao động, tiền lương, tiền công, thời gian làm việc, bảo đảm các điều kiện vệ sinh và an toàn lao động…đồng thời có chế tài cần thiết để xử lý vi phạm. Các cơ sở kinh doanh thủy sản phải thực hiện chế độ, chính sách tiền lương, tiền công, tiền thưởng theo nguyên tắc thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, phù hợp với quan hệ tiền công trên thị trường và các quy định của nhà nước. Bên cạnh đó, Nhà nước cần ban hành đồng bộ các quy định về bảo hiểm xã hội để người lao động làm việc trong hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân đều được tham gia.
Hình thành đa dạng các mô hình tổ chức thực hiện chính sách xã hội phù hợp với từng đối tượng, có thu nhập khác nhau với nhiều mức đóng, mức hưởng khác nhau để người lao động tự lựa chọn khi tham gia bảo hiểm xã hội.
Bổ sung chế tài bắt buộc người sử dụng lao động phải thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hiểm xã hội và an toàn lao động đối với người lao động, nhất là các lao động làm việc trong lĩnh vực khai thác thủy sản.
Hiện nay, có hàng trăm tàu thuyền của tư nhân tham gia khai thác thủy sản xa bờ. Trong khi đó, thời tiết, khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp thường xảy ra áp thấp nhiệt đới, gió bão đe doạ đến tính mạng và tài sản của ngư dân tham gia khai thác thủy sản, do vậy cần phải đảm bảo an toàn cho người lao động. Để hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do bão gây ra, cần phải bắt buộc các chủ tàu trang bị đầy đủ phao và phương tiện cứu sinh cho người lao động trên tàu. Mặt khác, Nhà nước cần trang bị kỹ thuật hiện đại trong khâu dự báo thời tiết và mạng lưới thông tin liên lạc để các ngư dân nắm được những diễn biến khi thời tiết xấu xảy ra. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Tỉnh cần phải hướng dẫn và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các văn bản pháp luật về vệ sinh an toàn lao động, về ký kết hợp đồng lao động, về điều kiện làm việc của người lao động… như vậy sẽ đảm bảo được các quyền lợi chính đáng của người lao động ngành thủy sản ở Cà Mau.
3.2.1.6. Có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng những nhu cầu kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế
Những năm gần đây do chuyển từ nuôi quảng canh sang bán thâm canh, thâm canh và nuôi theo mô hình công nghiệp đã đặt ra nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ hộ nuôi thủy sản về kiến thức kinh tế thị trường đặc biệt là kiến thức về khoa học và công nghệ trong nuôi thủy sản.
Đối với đánh bắt thủy sản nhất là đánh bắt xa bờ cũng đang đứng trước thực trạng: trình độ của các ngư dân không đáp ứng với trình độ của các phương tiện và những hiểu biết về ngư trường và phương pháp đánh bắt mới.
Phương hướng mở rộng phạm vi khai thác, trong đó tiếp tục đầu tư cho đánh bắt xa bờ cũng làm cho nhu cầu đào tạo cho ngư dân các kiến thức về sử dụng phương tiện kỹ thuật mới, về ngư trường và về phương thức đánh bắt theo ngư trường và phương tiện mới. Vì vậy, cần phải đào tạo những kiến thức cơ bản về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, phương tiện khai thác hiện đại, phương pháp khai thác mới và ngư trường mới cho những hộ nuôi trồng và ngư dân khai thác thủy sản. Đối với hộ nuôi thủy sản có thể đào tạo tại chổ thông qua mô hình trình diễn và tự học hỏi lẫn nhau. Đối với các hộ khai thác thủy sản, tiến hành đào tạo tập trung cho các chức danh trên thuyền như như thuyền trưởng, thợ máy…đối với thuyền viên có thể tiến hành đào tạo tại chổ thông qua kèm cặp, truyền nghề cho nhau.
Trong lĩnh vực chế biến thủy sản: cần phải tổ chức đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho nhân viên, công nhân về HACCP…; đào tạo nhân viên kinh doanh thủy sản am hiểu về thị trường, năng động nhạy bén trong việc tìm kiếm khách hàng và nhanh chóng nắm bắt nhu cầu thị trường.
Ngoài ra, Tỉnh cần quan tâm bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý, khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, hiểu biết luật pháp quốc tế cũng như chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước.
3.2.2. Giải pháp sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật tạo điều kiện phát triển trong ngành thuỷ sản là giải pháp tạo môi trường thể chế cho các thành phần kinh tế. Đồng thời cần ban hành một hệ thống giải pháp đồng bộ trên các mặt: chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách tài chính tín dụng, chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, chính sách về khoa học công nghệ…
3.2.2.1. Chính sách đất đai:
Đất đai là một trong những nguồn lực rất quan trọng để phát triển kinh tế tư nhân trong ngành thuỷ sản. Đất đai có ổn định lâu dài thì người sản xuất mới an tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương, chính sách pháp luật. Trong đó nêu rõ những vấn đề cơ bản về đất đai như: vấn đề sỡ hữu ruộng đất, chế độ sỡ hữu từng loại đất, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý đất đai của Nhà nước; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, của hộ, tổ chức được giao sử dụng đất…
Tuy vậy, việc quy hoạch sử dụng đất còn nhiều khó khăn, bất cập. Chưa có tiêu chí cụ thể, rõ ràng cho phân loại đất đai; chưa điều tra nghiên cứu cụ thể để xác định rõ việc sử dụng đất trong nuôi thuỷ sản trên địa bàn tỉnh cho phù hợp với vị trí địa lý của từng huyện; việc giao đất đai chưa khẳng định rõ người chủ đích thực, nên cá nhân, các doanh nghiệp vẫn chưa thật sự an tâm đầu tư canh tác gắn bó chặt chẽ với đất đai
- Để khắc phục tình trạng trên cần:
Hoàn chỉnh công tác quy hoạch, sử dụng đất trên cơ sở nghiên cứu cặn kẽ, chính xác, khoa học để đưa vào sản xuất đạt hiệu quả. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Sớm cụ thể hoá và thực hiện chủ trương Nghị quyết trung ương 7 khoá IX: Khuyến khích tích tụ ruộng đất, sớm khắc phục tình trạng nuôi tôm không tập trung của các hộ dân. Giao đất không hạn chế quy mô để hình thành các trang trại sản xuất giống và nuôi thuỷ sản đối với những hộ có khả năng, có nguyện vọng kinh doanh các lĩnh vực của ngành thuỷ sản ở các vùng trên địa bàn tỉnh.
Đối với các cơ sở chế biến thuỷ sản của các thành phần kinh tế có nhu cầu về đất đai là rất cần thiết để mở rộng sản xuất kinh doanh. Do đó, Uỷ ban nhân dân tỉnh cần có quy định cụ thể trình tự thủ tục đăng ký, thuê đất đơn giản và gọn hơn nữa tiến tới thực hiện “một cửa, một dấu” trong thủ tục thuê đất, tránh thủ tục phiền hà gây khó khăn cho các doanh nghiệp tư nhân khi đăng ký mở rộng qui mô sản xuất.
Ban hành các quy định về nghĩa vụ của người sử dụng đất, các chế tài xử lý hoặc thu hồi đất đối với các doanh nghiệp tư nhân không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng thuê đất và thực hiện không đúng theo hợp đồng.
Nâng cao năng lực đối với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai.
3.2.2.2. Chính sách thuế:
Chính sách thuế luôn có tác động nhạy cảm và là vấn đế mang tính thời sự đối với cơ sở sản xuất kinh doanh trong ngành thuỷ sản. Thuế là một trong những chính sách quan trọng, tác động đến hoạt động của ngành thuỷ sản nói riêng, nó là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước và là công cụ điều tiết có hiệu quả nhất. Hiện nay việc thay thế thuế doanh thu bằng thuế giá trị gia tăng đã khắc phục được nhiều tiêu cực đánh thuế chồng lên thuế, thuế thiếu ổn định gây tâm lý thiếu an tâm đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, chính sách thuế hiện hành vẫn chưa thật sự khuyến khích việc đầu tư vốn, mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh. Để các cơ quan, các cấp chính quyền tỉnh quản lý tốt hơn đối tượng này, đồng thời giúp họ thực hiện tốt nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước cần có những giải pháp sau: Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Củng cố, mở rộng áp dụng chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ đối với các cơ sở chế biến thuỷ sản và dịch vụ hậu cần của tư nhân. Tăng cường hướng dẫn các thủ tục kê khai, tính thuế, lập hồ sơ miễn giảm thuế để các đối tượng nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của Nhà nước.
Mở rộng diện nộp thuế theo hình thức kê khai, thu hẹp dần phương pháp nộp thuế khoán. Đối với các đối tượng phải thực hiện nộp thuế theo hình thức khoán, cần phải xác định mức khoán đảm bảo công bằng giữa các hộ được khoán. Đặc biệt trong lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và các dịch vụ hậu cần trong ngành thuỷ sản.
Cải tiến chế độ kê khai và nộp thuế phù hợp với đặc điểm của các hộ kinh doanh cá thể, nhằm hạn chế phiền hà cho người kinh doanh và chống thất thu thuế.
Phát triển các dịch vụ tư vấn thuế, kế toán thuế, cung cấp các dịch vụ về thuế, về hạch toán để giúp các cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp hiểu rõ chính sách thuế, làm tốt công tác kế toán.
Khuyến khích các đối tượng nộp thuế tự kê khai và tự nộp thuế, đồng thời tăng cường trách nhiệm quyền hạn của tổ chức quản lý thu thuế và cơ quan Nhà nước trong việc kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi nộp thuế.
3.2.2.3. Chính sách tài chính, tín dụng:
Hiện nay phần lớn các hộ nuôi thuỷ sản, khai thác và chế biến thuỷ sản đều thiếu vốn trầm trọng, nhất là vốn trung hạn và dài hạn. Điều này một mặt là do một bộ phận các hộ, doanh nghiệp tư nhân chưa đáp ứng được những thủ tục cần thiết; mặt khác, các ngân hàng còn có tâm lý ngần ngại, sợ phức tạp, lo khó thu hồi vốn…nên không muốn cho họ vay. Do thiếu vốn, nên ảnh hưởng trong ngành thuỷ sản chưa thể khai thác hết năng lực, mở mang và phát triển sản xuất kinh doanh của mình. Để giúp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trong ngành thuỷ sản ở Cà Mau tiếp cận các nguồn vốn, cần quan tâm giải quyết các vấn đề sau:
Thực hiện sự bình đẳng về chính sách tài chính, tín dụng giữa các thành phần kinh tế. Các trang trại, các hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân cũng được dùng giá trị quyền sử dụng đất vào việc thế chấp để vay vốn của các tổ chức, tín dụng hoặc góp cổ phần liên doanh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước có như vậy để nhằm mở rộng qui mô sản xuất tạo điều kiện cho ngành thuỷ sản phát triển. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Nên tổ chức các hiệp hội của các lĩnh vực trong ngành thuỷ sản để giúp và bảo lãnh các hộ, các doanh nghiệp tư nhân vay vốn không phải thế chấp tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng.
Các tổ chức tín dụng, ngân hàng cần đẩy mạnh phát triển các dịch vụ của ngành, đặc biệt là dịch vụ thanh toán nhanh, chính xác, an toàn, thủ tục thuận tiện để thu hút khách hàng thuộc các thành phần kinh tế ngày càng nhiều.
Cần nâng cao chất lượng tư vấn, cung cấp thông tin để khách hàng hiểu rõ về quy chế cho vay, lập dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thực hiện thủ tục vay vốn. Ngoài ra, các ngân hàng cần phải đơn giản hoá các thủ tục vay vốn và nâng cao trình độ thẩm định các dự án xin vay vốn. Sớm cải cách hành chính theo hướng đơn giản hoá các thủ tục vay vốn để các cơ sở kinh doanh có thể vay vốn một cách nhanh chóng, kịp thời triển khai các phương án sản xuất kinh doanh của họ.
Cần có chính sách đào tạo cán bộ ngân hàng nhằm nâng cao kiến thức, trình độ cho cán bộ, nhân viên ngân hàng nhất là trình độ thẩm định tín dụng trong việc cho vay, đồng thời thường xuyên kiểm tra, giám sát quản lý tốt nguồn vay đảm bảo sử dụng đúng mục đích.
3.2.2.4. Chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực:
Lao động là một trong những yếu tố hàng đầu vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như hiệu quả sản xuất.
Để đáp ứng những đồi hỏi khắc khe của thị trường trong điều kiện hội nhập, nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm thuỷ sản của Nhà nước và chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ về đào tạo nguồn nhân lực cho bộ phận kinh tế này. Trước mắt, cần tập trung thực hiện tốt các vấn đề sau: Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Mở rộng, phát triển hệ thống các trường dạy nghề và hướng nghiệp ở trong tỉnh để có chương trình đào tạo thích hợp với yêu cầu phát triển của ngành thuỷ sản. Hiện nay, toàn tỉnh có một số trung tâm dạy nghề như: Trường Trung cấp nghề thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Trung tâm giới thiệu việc làm và dạy nghề thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Trung tâm Giới thiệu việc làm và dạy nghề thuộc Liên đoàn lao động tỉnh và một số trung tâm dạy nghề ở các huyện. Các cơ sở dạy nghề trên trong thời gian qua đã mở các lớp đào tạo công nhân kỹ thuật nuôi và chế biến thuỷ sản…Tuy nhiên, các cơ sở đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng nhu cầu học nghề của lao động, trong đó có lao động ngành thuỷ sản của tỉnh.
Tỉnh cần hỗ trợ một phần kinh phí để trợ giúp đào tạo, nâng cao trình độ hiểu biết về chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, trình độ quản trị kinh doanh cho giới chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động trong lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến và các dịch vụ hậu cần cho ngành thuỷ sản.
Tỉnh cần củng cố và đầu tư để nâng cao chất lượng các cơ sở dạy nghề hiện của tỉnh. Đồng thời, cần kết hợp giữa hình thức đào tạo thường xuyên với đào tạo theo đơn đặt hàng của tư nhân. Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế thành lập các cơ sở dạy nghề để đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thuỷ sản nhằm phục vụ tốt cho nghề nuôi trồng, khai thác và chế biến.
Nên tăng cường đầu tư đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu và ứng dụng khoa học nhất là công nghệ sinh học. Nhà nước cần có cơ chế để nâng cao tinh thần trách nhiệm, khuyến khích lợi ích thoả đáng, bảo đảm quyền sỡ hữu trí tuệ, quyền công bố, trao đổi, chuyển nhượng kết quả nghiên cứu của cán bộ khoa học theo quy định của pháp luật.
Thành lập các trung tâm tư vấn về quản lý, về đầu tư, pháp luật bằng nguồn ngân sách Nhà nước và đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân, các hộ gia đình hình thành các câu lạc bộ của những chủ trang trại, các hộ cá thể trong ngành thuỷ sản nhằm nâng cao sự hiểu biết về kinh tế thị trường, am hiểu pháp luật cũng như học tập kinh nghiệm lẫn nhau trong nội bộ ngành.
3.2.2.5. Chính sách hỗ trợ về khoa học – công nghệ: Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Chính sách hỗ trợ về khoa học – công nghệ có vị trí quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh của các cơ sở, doanh nghiệp trong ngành thuỷ sản thích ứng với yêu cầu của cơ chế thị trường và điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Để có được các chủ doanh nghiệp giỏi cùng với đội ngũ những người lao động am hiểu chuyên môn, có tay nghề cao nhưng các đơn vị sản xuất kinh doanh không thể tự làm được. Vì vậy, Nhà nước có sự giúp đỡ theo hướng trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết đường lối, chủ trưởng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho chủ doanh nghiệp và người lao động. Nhà nước cần có những chính sách, giải pháp thiết thực để đưa nhanh các tiến bộ, phát minh khoa học – công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh ngành thuỷ sản của các hộ nông dân, các doanh nghiệp tư nhân. cụ thể như:
Nhà nước cần hỗ trợ mở các lớp ngắn hạn miễn phí bồi dưỡng kiến thức khoa học – công nghệ cho hộ gia đình và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành thuỷ sản.
Mở rộng và nâng cao hệ thống dịch vụ tư vấn khoa học – công nghệ cho các hộ kinh doanh và các doanh nghiệp sản xuất; xây dựng, phát triển rộng khắp mạng lưới thú y, kiểm dịch nguồn giống; thường xuyên tổ chức các mô hình, các điểm trình diễn nuôi thuỷ sản với kỹ thuật mới, năng suất cao, chất lượng tốt; khen thưởng, biểu dương các cá nhân và doanh nghiệp áp dụng hiệu quả công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm.
Hỗ trợ cho các hộ, doanh nghiệp trong ngành thuỷ sản về vốn, về cán bộ khoa học – công nghệ. Xây dựng quỹ đầu tư phát triển khoa học – công nghệ cho sản xuất ngành thuỷ sản, trong đó có sự tham gia tích cực của các cơ sở chế biến thuỷ sản, các hộ, chủ trang trại nuôi thuỷ sản. Có như vậy để đảm bảo chất lượng sản xuất kinh doanh trong nội bộ ngành.
Khuyến khích ứng dụng công nghệ sinh học (công nghệ gien, công nghệ tế bào, công nghệ phôi, công nghệ vi sinh) trong chọn, tạo và nhân giống; thực hiện công nghệ chế biến, bảo quản các mặt hàng thuỷ sản.
Uỷ ban nhân dân tỉnh cần xây dựng cơ chế chính sách tạo điều kiện ban đầu cho thị trường khoa học công nghệ. Xác lập các yếu tố hình thành quan hệ cung cầu về thị trường khoa học, công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Tỉnh cần có chính sách hỗ trợ một phần kinh phí cho các thành phần kinh tế tham gia sản xuất xây dựng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế đối với các mặt hàng thuỷ sản để tăng năng lực cạnh tranh. Đảm bảo chất lượng trong sản xuất phục vụ cho nội địa và xuất khẩu.
3.2.3. Giải pháp hoàn thiện chính sách về lao động- tiền lương Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Chính sách lao động – tiền lương phản ánh mối quan hệ phân phối giữa người sử dụng lao động và người lao động, có vị trí quan trọng tạo động lực phát triển trong các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành thuỷ sản.
Trong điều kiện phát triển nên kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, khoảng cách giàu nghèo trong cộng đồng dân cư ngày càng tăng lên, vì vậy cần phải quan tâm đến quyền lợi của người lao động trong các lĩnh vực sản xuất, khắc phục một số hạn chế về điều kiện làm việc và thu nhập của người lao động trong khu vực này, các thành phần kinh tế hoạt động trong ngành thuỷ sản phải thực hiện đúng quy định của Bộ luật Lao động về việc ký kết hợp đồng lao động, tiền lương, tiền công, thời gian làm việc, bảo đảm các điều kiện vệ sinh và an toàn lao động…đồng thời có chế tài cần thiết để xử lý vi phạm. Các cơ sở kinh doanh, các đơn vị doanh nghiệp phải thực hiện chế độ, chính sách tiền lương, tiền công, tiền thưởng theo nguyên tắc thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, phù hợp với quan hệ tiền công trên thị trường và các quy định của Nhà nước. Bên cạnh đó, Nhà nước cần ban hành đồng bộ các quy định về bảo hiểm xã hội để người lao động làm việc trong hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân đều được tham gia.
Hình thành đa dạng các mô hình tổ chức thực hiện chính sách xã hội phù hợp với từng đối tượng, có thu nhập khác nhau với nhiều mức đóng, mức hưởng khác nhau để người lao động tự lựa chọn khi tham gia bảo hiểm xã hội. Bổ sung chế tài bắt buộc người sử dụng lao động phải thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hiểm xã hội và an toàn lao động đối với người lao động, nhất là các lao động làm việc trong lĩnh vực khai thác thuỷ sản, chế biến thuỷ sản ở các doanh nghiệp.
Hiện nay, có hàng ngàn tàu thuyền của ngư dân tham gia khai thác thuỷ sản xa bờ. Trong khi đó, thời tiết, khí hậu diễn biến ngày càng phức tạp thường xảy ra ấp thấp nhiệt đới, gió bão đe doạ đến tính mạng và tài sản của ngư dân tham gia khai thác thuỷ sản, do vậy cần phải đảm bảo an toàn cho người lao động. Để hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do bão gây ra, cần phải bắt buộc các chủ tàu trang bị đầy đủ phao và phương tiện cứu sinh cho người lao động trên tàu. Mặt khác, Nhà nước cần trang bị kỹ thuật hiện đại trong khâu dự báo thời tiết và mạng lưới thông tin liên lạc để ngư dân nắm được những diễn biến khi thời tiết xấu xảy ra. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Tỉnh cần phải hướng dẫn và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện văn bản pháp luật về vệ sinh an toàn lao động, về ký kết hợp đồng lao động, về điều kiện làm việc của người lao động… như vậy sẽ đảm bảo được các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động trong ngành thuỷ sản
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và các hiệp hội doanh nghiệp đối với việc phát triển các thành phần kinh tế trong ngành thuỷ sản ở Tỉnh Cà Mau.
Tiếp tục tuyên truyền, giáo dục làm cho các chủ cơ sở hoạt động trong ngành thuỷ sản nhận thức sâu sắc và đầy đủ vai trò của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh việc phát triển đoàn viên, hội viên và thành lập các tổ chức đoàn thể tại cơ sở doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: công đoàn, đoàn thanh niên … ngay từ khi cơ sở bắt đầu đi vào hoạt động. Đổi mới phương thức lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng và hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong cơ sở, doanh nghiệp, tập trung việc nâng cao nhận thức chính trị, ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động và người lao động vì mục tiêu chung là: phát triển cơ sở, tăng thu nhập, nâng cao đời sống của người lao động, đem lại sự thịnh vượng cho xã hội, làm giàu chính đáng cho các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh trong ngành thuỷ sản.
Đối với hiệp hội hành nghề, tỉnh cần tạo điều kiện cho các tổ chức này quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chiến lược phát triển cơ sở sản xuất kinh doanh ngành thuỷ sản của tỉnh để phát huy vai trò hổ trợ tích cực cho các thành phần kinh tế phát triển, cũng như phản ánh, đề xuất và bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của cơ sở doanh nghiệp và người lao động.
3.2.4. Giải pháp về huy động vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng
Tăng cường huy động vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước cho xây dựng cơ sở hạ tầng, trạm trại kỹ thuật, hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, đào tạo nguồn nhân lực, các hoạt động chuyển giao và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật,… thông qua các chương trình lồng ghép của Trung ương và tỉnh. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Huy động vốn trong dân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thông như: thủy lợi nội đồng, giao thông nội bộ thôn xã, xây dựng đồng ruộng theo yêu cầu chuyển đổi sản xuất.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển các dịch vụ như: sản xuất giống, chế biến nông-thủy sản, sản xuất phân bón và thức ăn gia súc, đồng thời tích cực hỗ trợ vốn sản xuất cho người sản xuất thông qua các hình thức kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm có ứng trước để tạo sự gắn bó, tin tưởng giữa doanh nghiệp và người sản xuất.
Xúc tiến các chương trình hợp tác và tranh thủ các nguồn đầu tư nước ngoài từ các nguồn ODA, FDI,… vào xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, phát triển các cơ sở chế biến, trồng rừng phòng hộ,…
Huy động nguồn vốn tín dụng, đầu tư phát triển của nhà nước để bảo đảm đủ vốn cho các dự án sản xuất chế biến hàng xuất khẩu, dự án phát triển nông lâm nghiệp.
Ngân hàng thương mại bảo đảm cho người sản xuất vay vốn theo quy định, đồng thời sớm ban hành quỹ bão lãnh tín dụng để giúp người không có điều kiện về tài sản thế chấp được vay vốn của ngân hàng. Khuyến khích mở rộng các hình thức dịch vụ về vốn dưới hình thức ứng vốn trước và thu hồi bằng sản phẩm.
Đối với các hộ sản xuất các loại giống mới, có giá trị kinh tế sẽ được ưu tiên hỗ trợ các nguồn vốn vay tín chấp.
Nâng cao mức vốn vay tín chấp đối với các hộ tham gia NTTS, đề xuất giai đoạn 2011- 2015 vay để nuôi tôm là 50triệu đồng/hộ, nuôi cá 30 triệu đồng/hộ, nuôi thủy đặc sản và tôm càng xanh 50 triệu đồng/hộ. Đối với sản xuất giống tôm 50 triệu đồng/cơ sở, sản xuất giống cá 30 triệu đồng/cơ sở và sản xuất giống các thủy đặc sản khác 50triệu đồng/cơ sở.
Các khu vực sản xuất thủy sản nằm trong quy hoạch được ưu tiên vay vốn tín chấp.
Ngành nông nghiệp cần chủ động xây dựng các dự án có tính khả thi cao cho từng lĩnh vực cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư tại tỉnh.
3.2.5. Giải pháp đầu tư nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
- Tăng cường công tác nghiên cứu, chuyển giao khoa học – công nghệ để nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất của công nghiệp chế biến
Tiếp tục đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thiết bị, cơ giới hoá và tự động hoá dây chuyền chế biến, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh. Tăng cường tiếp cận nền công nghiệp chế biến hiện đại của thế giới. Áp dụng hệ thống quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo HACCP, GMP và SSOP.
Thay đổi phương thức giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ về CBTS. Giành phần kinh phí thoả đáng cho giải quyết một số nhiệm vụ mà thực tế đang đòi hỏi như: nghiên cứu công nghệ chế biến khô cá béo, chuyển giao công nghệ chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng cho các DNCBTS, đầu tư kinh phí phát triển sản phẩm theo đặt hàng của các doanh nghiệp, khách hàng tiềm năng; nghiên cứu sản xuất các phụ gia dùng trong CBTS, nghiên cứu chế tạo các thiết bị chế biến phù hợp; nghiên cứu đánh giá nguy cơ cho các sản phẩm thủy sản Việt Nam.
Dành kinh phí thỏa đáng cho các đề tài nghiên cứu thị trường, nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng, điều tra toàn diện các lĩnh vực nghề cá,tôm trong đó chú ý đến các DN, hộ gia đình CBTS quy mô nhỏ chế biến các sản phẩm thủy sản tiêu dùng nội địa, nghiên cứu xây dựng các chính sách cụ thể để phát triển hệ thống chế biến tiêu thụ nội địa.
Hỗ trợ doanh nghiệp chế biến tăng cường năng lực kiểm soát và phát hiện dư lượng kháng sinh, hoá chất trong nguyên liệu, áp dụng các hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Tăng cường năng lực cho hệ thống nghiên cứu khoa học về CBTS của các Viện hiện có như trang thiết bị, nguồn nhân lực có trình độ và đảm bảo nguồn lực cần thiết cho phát triển.
Xây dựng và tuân thủ hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm bảo VSATTP cho tất cả các khâu trong chuỗi sản xuất, kinh doanh thủy sản, tiêu chuẩn chất lượng cho sản phẩm của cả xuất khẩu và nội địa.
Khuyến ngư cần xây dựng chương trình riêng chuyển giao công nghệ về xử lý, bảo quản thủy sản cho các đối tượng là chủ tàu, ngư dân trực tiếp khai thác trên biển, các cơ sở thu mua, sơ chế nguyên liệu; công nghệ cải tiến cho chế biến các sản phẩm thủy sản truyền thống, các sản phẩm thủy sản khác cho các hộ chế biến quy mô nhỏ ở các địa phương. Đa dạng hoá các hình thức chuyển tải thông tin, tuyên truyền và phổ biến kiến thức về công nghệ chế biến thuỷ sản, thực hiện các biện pháp đảm bảo VSATTP đến tận những người sản xuất, dịch vụ, chế biến cũng như những người quản lý trong toàn ngành và các ngành liên quan.
Đẩy mạnh công tác khuyến ngư để phổ biến các tiến bộ khoa học công nghệ vào thực tế, nhằm phát triển sản xuất, giúp dân làm giàu và xóa đói giảm nghèo. Khuyến ngư phải được tổ chức được các mô hình đồng bộ gắn kết 3 nhà: nhà khoa học, nhà chế biến và người phân phối/tiêu thụ (gắn với thị trường) sản phẩm thủy sản.
Xây dựng các trung tâm nghiên cứu phát triển sản phẩm của vùng dưới dạng doanh nghiệp khoa học công nghệ ở các địa phương có nhiều DN và hộ CBTS quy mô nhỏ. Trung tâm này sẽ được nhà nước đầu tư trang thiết bị chế biến các sản phẩm các loại dạng pilot, nhưng là những thiết bị hiện đại cùng thời như thiết bị xay, nghiền, sấy, nướng, hấp, rán, phi lê cá, phân loại tôm, phân cỡ và cân tự động, cấp đông…; tuyển chọn các kỹ thuật viên, kỹ sư, các cán bộ khoa học có trình độ nghiên cứu phát triển sản phẩm để làm nòng cốt trong nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản phẩm, hướng dẫn chuyển giao công nghệ cho các DN, đặc biệt là các DN và hộ gia đình quy mô nhỏ, không có điều kiện để thực hiện nghiên cứu tại cơ sở.
Đây phải là nơi được ưu tiên đầu tư những thiết bị có trình độ tiên tiến đương đại. Các DN bán thiết bị chế biến cũng sẽ được đưa các thiết bị mới của họ vào trung tâm để quảng bá, giới thiệu cho các DN, hộ CBTS thử nghiệm trước khi mua về sản xuất.
- Chính sách hỗ trợ của nhà nước trong phát triển KHCN, bảo vệ môi trường và khuyến ngư
Tăng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu, chuyển giao khoa học-công nghệ với cơ chế linh hoạt hơn, coi chất lượng kết quả nghiên cứu, chuyển giao là nhân tố quan trọng nhất để quyết định đầu tư ngân sách.
Tập trung đầu tư nghiên cứu chế tạo các thiết bị dây chuyền quy mô nhỏ và vừa chế biến thuỷ sản, đáp ứng yêu cầu công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến, phù hợp, suất đầu tư thấp. Đối với các máy móc, thiết bị sản xuất thủy sản trong nước chưa chế tạo được hoặc chưa đáp ứng đủ nhu cầu được hưởng mức thuế suất nhập khẩu là 0%. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
Đầu tư thiết bị, công nghệ, tăng tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu, tăng giá trị sản phẩm thuỷ sản phục vụ xuất khẩu. Các Dự án chế tạo trong nước các loại máy móc, thiết bị, xe tải lạnh chuyên dùng, kho tàng phục vụ cho thu hoạch, khai thác, bảo quản, chế biến, dự trữ lưu thông thủy sản, giảm tổn thất sau thu hoạch, được xếp vào lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư thuộc Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.
Tổ chức, cá nhân thực hiện những dự án ứng dụng khoa học công nghệ về chế biến, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch thủy sản được hỗ trợ 50% chi phí chuyển giao công nghệ từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia. Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí cho các tổ chức, cá nhân mua bằng sáng chế các loại máy móc, thiết bị có khả năng ứng dụng rộng rãi trong nước nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch thủy sản được Bộ NN&PTNT hoặc Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt.
Đổi mới các chính sách khuyến ngư, nâng mức hỗ trợ cho các hoạt động, xây dựng các mô hình. Tăng kinh phí khuyến ngư hàng năm cao gấp 2 lần bình quân 5 năm trước đây, trong đó đặt chỉ tiêu dành 30% kinh phí khuyến ngư hàng năm cho lĩnh vực chế biến, bảo quản giảm tổn thất sau thu hoạch để cải thiện tình hình bảo quản, dự trữ trong các hộ ngư dân.
Cần đầu tư nghiên cứu hoặc nhập các công nghệ xử lý chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn) để bảo vệ môi trường trong điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh thủy sản với sản lượng tăng gấp 1,2 lần (năm 2015) và 1,5 lần (năm 2020) so với hiện tại, chưa kể các cơ sở CBTS hiện nay cũng chưa được đầu tư xử lý các vấn đề môi trường một cách đúng mức.
Có chính sách hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi cho các DNCBTS xây dựng và áp dụng công nghệ xử lý nước thải, khí thải (cho các cơ sở chế biến bột cá.- Các cơ quan quản lý xây dựng các tiêu chuẩn thải phù hợp với CBTS và tiến hành kiểm tra, xử lý nghiêm minh các cơ sở không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường. Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản