Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm từ thực tiễn ngành thủy sản tỉnh Cà Mau dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của nước ta cùng với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính sách, pháp luật về lao động cũng được đổi mới, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Việc tạo ra hành lang pháp lý đã tạo điều kiện quan trọng cho việc hình thành và phát triển thị trường lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động, nhất là chuyển đổi lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp – nơi có năng suất lao động thấp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ có năng suất lao động cao hơn. Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên đáp ứng nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp; tiêu chuẩn lao động cơ bản được bảo đảm, quan hệ lao động hình thành và hướng đến sự hài hòa ổn định; vấn đề an sinh xã hội, nhất là việc bảo đảm ổn định cuộc sống cho các đối tượng yếu thế, bị tác động trong quá trình công nghiệp hóa, của nền kinh tế thị trường được đặt ra và có sự quan tâm nhất định. Hệ thống chính sách, pháp luật lao động đã góp phần quan trọng trong việc sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả để phát triển và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tận dụng tốt hơn cơ hội của thời kỳ dân số vàng cho sự nghiệp phát triển đất nước.
Hiện nay quy định của pháp luật lao động về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp bao gồm: đào tạo nghề cho người lao động trước khi sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp. Những nội dung này chủ yếu được quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012, Luật Dạy nghề năm 2016; Nghị định 119/2014/NĐ-CP hướng dẫn bộ luật lao động, luật dạy nghề, luật người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về khiếu nại, tố cáo; Nghị định số 03/2014/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về việc làm; Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
Nhìn chung các quy định của pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động hiện nay là phù hợp, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng lao động, từ đó nâng cao chất lượng quản trị nhân sự trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng còn một vài nội dung quy định gây khó khăn, vướng mắc hoặc lúng túng cho các doanh nghiệp trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn quản trị nhân sự, nhất là trong việc ràng buộc trách nhiệm của người lao động và trách nhiệm bồi thường chi phí đào tạo của người lao động cho doanh nghiệp khi vi phạm cam kết làm việc cho doanh nghiệp.
Cà Mau là tỉnh trọng điểm về khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy, hải sản. Sản phẩm thủy, hải sản của tỉnh được xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế tỉnh thì hoạt động nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau đóng vai tṛ rất quan trọng. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, Đảng bộ tỉnh Cà Mau ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011 – 2015. Nguồn nhân lực của tỉnh đã được nâng lên một bước cả về số lượng và chất lượng. Lao động qua đào tạo tăng nhanh, đạt 40%, riêng đào tạo nghề chiếm 26,6% tổng số lao động, có 150 sinh viên trên 01 vạn dân. Chất lượng và hiệu quả lao động sau đào tạo tăng dần. Cơ cấu ngành, nghề đào tạo từng bước được điều chỉnh phù hợp với cơ cấu kinh tế, cơ bản đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động. Số lượng cán bộ, công chức, giáo viên, giảng viên có trình độ đại học và sau đại học tăng lên. Tỉnh đã đạt và duy trì chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở và thí điểm phổ cập giáo dục trung học phổ thông ở các thị trấn, thị xã, thành phố.
Tuy nhiên, lao động của Cà Mau trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, yếu kém. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng nhưng phần lớn là dạy nghề ngắn hạn; trình độ trung cấp và cao đẳng nghề còn thấp, kỹ năng nghề nghiệp chỉ đáp ứng cho các ngành, nghề có nhu cầu lao động đơn giản. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là Nhà nước chưa quản lý được lao động xã hội, chưa nắm bắt được nhu cầu xã hội dẫn đến không dự báo được hoặc dự báo chưa chính xác cung – cầu lao động. Đầu tư cho lĩnh vực dạy nghề chưa tương xứng với yêu cầu; cơ cấu, chất lượng đào tạo một số ngành, nghề chưa phù hợp yêu cầu xã hội; cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề còn thiếu, một số đã lạc hậu hoặc chưa phù hợp theo nhu cầu đào tạo bậc cao. Đặc biệt, trong ngành thủy sản, chất lượng nguồn nhân lực vừa yếu, vừa thiếu lại không ổn định.
Theo dự báo, nhóm ngành nghề nông nghiệp và ngư nghiệp đang có nhu cầu lao động cao, điều này ảnh hưởng đến yêu cầu tăng năng suất lao động và việc làm bền vững. Tuy nhiên, làm thế nào để lao động ở Cà Mau đáp ứng được về chất lượng và yêu cầu của xã hội lại rất cần sự vào cuộc của các cơ quan chắc năng. Dưới góc nhìn của pháp luật Lao động; Luật Việc làm và các quy định khác của pháp luật về việc làm nhằm tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế – xã hội ở địa phương. Chính vì thế, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về giải quyết việc làm từ thực tiễn ngành thủy sản tỉnh Cà Mau” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và áp dụng pháp luật đối với lao động trong ngành chế biến thủy sản ở Cà Mau. Thông qua đó đề xuất một số định hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật để hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau
2.2. Mục tiêu cụ thế
- Hệ thống hoá chọn lọc một số kiến thức lý luận về phát triển nâng cao chất lượng lao động.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau trong những năm qua.
- Thực trạng quy định của pháp luật và áp dụng pháp luật đối với lao động trong ngành chế biến thủy sản ở Cà Mau
- Đề xuất định hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật để hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan đến quy định của pháp luật nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn quy định của pháp luật nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh sử dụng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau
- Về thời gian: Các số liệu phục vụ đánh giá thực trạng chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau từ năm 2014 – 2016. Từ đó có các định hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau; tầm nhìn đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, lý thuyết lao động và việc làm hiện đại. Nhằm đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau, đề tài đã sử dụng kết hợp những phương pháp bao gồm Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, so sánh. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn nhằm cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực trạng chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau trong những năm qua. Bên cạnh đó nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật và áp dụng pháp luật đối với lao động trong ngành chế biến thủy sản ở Cà Mau. Từ đó góp phần có những định hướng thiết thực nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau
Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành của tỉnh đặc biệt là ngành thuỷ sản có thể tham khảo để thực hiện tốt và ban hành các chính sách và quy định pháp luật nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thuỷ sản Cà Mau
6. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Với đề tài trên, tôi đặt các câu hỏi nghiên cứu chính sau đây:
- Tỉnh Cà Mau áp dụng các quy định của pháp luật để đào tạo và hỗ trợ để nâng cao chất lượng lao động trong ngành chế biến Thủy sản hiện nay như thế nào?
- Thực trạng về chính sách tạo việc làm trong ngành thuỷ sản tỉnh Cà Mau trong thời gian qua ra sao? Giải pháp hoàn thiện như thế nào?
6.2. Giả thuyết nghiên cứu
Một số chính sách pháp luật nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành Thủy sản Cà Mau hiện nay còn nhiều hạn chế và bất cập. Đặc biệt các chính sách về hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực còn bao quát và chưa phù hợp với thực tiễn tại các doanh nghiệp thủy sản Cà Mau. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
Để hoàn thiện chính sách pháp luật nhằm hỗ trợ và nâng cao chất lượng lao động trong ngành thủy sản Cà Mau cần đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lượng lao động trong ngành thủy Sản Cà Mau
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 2 chương với nội dung cơ bản như sau:
- Chương 1: Tổng quan pháp luật về giải quyết việc làm
- Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản tỉnh Cà Mau và kiến nghị hoàn thiện.
Chương 1: Tổng quan pháp luật về giải quyết việc làm
1.1. Việc làm và những nhân tố ảnh hưởng tới việc làm trong ngành thủy sản
1.1.1. Quan niệm về việc làm
1.1.1.1 Dưới góc độ kinh tế xã hội
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trong nhất của thế giới nói chung và con người nói riêng. Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm.
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia công việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình.
Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã hội.. Sở dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân người lao động (NLĐ) cũng quyết định được. Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm. Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm.
Tóm lại, xét về phương diện kinh tế – xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho NLĐ được xã hội thừa nhận. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
1.1.1.2. Dưới góc độ pháp lí:
- Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế người có việc làm là người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật.
Các công ước của ILO về mặt pháp lý có tính chất khuyến nghị về các chính sách việc làm, thất nghiệp, cũng như điều kiện lao động cho các quốc gia tham gia công ước. Ngoài ra, nó còn có tính chất định hướng cho các quốc gia trong việc xây dựng các quy định của pháp luật lao động về vấn đề việc làm và lựa chọn việc làm.
Trong thời gian vừa qua, ILO đã thể hiện được các tác động tích cực trong việc kêu gọi các nước thành viên khi giải quyết việc làm phải hướng tới các cấp độ hiệu quả khác nhau như Công ước số 122, năm 1964 về chính sách việc làm, ILO kêu gọi các quốc gia thành viên khi giải quyết việc làm thì phải bài bản đầy đủ hướng tới các cấp độ hiệu quả khác nhau ILO còn đưa ra khái niệm “việc làm nhân văn” được xuất phát từ việc đấu tranh cho sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới về vấn đề việc làm, nhằm tạo sự bình đẳng về việc làm và mang lại chất lượng việc làm cao hơn. Khái niệm “việc làm nhân văn” là khá mới mẻ và là khái niệm chứa đựng nhiều giá trị tốt đẹp cho việc ra các quyết định, chính sách về việc làm của ILO và các quốc gia trong những năm gần đây, là một bước tiến lớn và đánh dấu sự thay đổi to lớn về nhận thức của loài người về vấn đề việc làm. Các đại biểu ở cuộc họp khu vực châu Á lần thứ 13 của ILO tổ chức tại Bangkok năm 2001 đã công nhận tầm quan trọng của việc làm nhân văn trong cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động trong khu vực và hỗ trợ phát triển kinh tế của các nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hội nghị đã khuyến nghị các nước thành viên xây dựng chương trình hành động quốc gia về Việc làm nhân văn thông qua cơ chế ba bên với 4 yếu tố cấu thành là quyền tại nơi làm việc, cơ hội có việc làm chất lượng, bảo đảm xã hội và đối thoại xã hội. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
ILO cũng đã thông qua nhiều Công ước và khuyến nghị nhằm giải quyết tốt hơn việc làm cho người lao động. Điển hình là Công ước số 88 và Khuyến nghị số 83 đã quy định về những tiêu chuẩn, chức năng và việc tổ chức các trung tâm dịch vụ việc làm ở các quốc gia. Về chính sách việc làm đã có Công ước số 122, về hoạt động xúc tiến việc làm và bảo vệ thất nghiệp có Công ước số 163 v.v
Như vậy, cho đến thời điểm này, quốc tế và từng quốc gia đã xác định được vấn đề việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề cơ bản trong đời sống kinh tế – xã hội, mục tiêu giải quyết việc làm cho người lao động là mục tiêu cơ bản và hướng tới của các quốc gia.
- Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm theo pháp luật Việt Nam
Điều 57 Hiến Pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.
Từ quan niệm nay đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm. Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” (Điều 13 Bộ luật lao động).
Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản. Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề. Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu.
Tóm lại, dưới góc độ pháp lý, việc làm được hiểu là hoạt động hợp pháp, tạo ra thu nhập chính đáng nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân, quan niệm việc làm cũng bao hàm cả việc làm của những người nội trợ gia đình, tuy họ không tạo ra nguồn thu nhập trực tiếp nhưng cũng được pháp luật thừa nhận là việc làm vì nó đã gián tiếp tạo ra nguồn thu nhập góp phần vào việc ổn định gia đình và xã hội. Người lao động có quyền tự do lựa chọn việc làm phù hợp với nguyện vọng và sở trường của mình, họ cũng có quyền tự do giao kết hợp đồng lao động và làm nhiều công việc khác nhau miễn là không ảnh hưởng đến nhau và không vi phạm các điều cấm của pháp luật. Ngược lại, người sử dụng lao động cũng có quyền tự do tuyển dụng lao động và chấm dứt hợp đồng lao động với bất cứ ai trong phạm vi và giới hạn pháp luật không cấm. Họ cũng có quyền trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức giới thiệu việc làm để tuyển chọn lao động vào làm việc, quan điểm này đã đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường, các quy luật của thị trường lao động và có tác động tích cực đối với nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề việc làm và lao động đã được luật hóa và việc giải quyết việc làm dưới góc độ pháp lý chính là việc Nhà nước ban hành các chính sách để thực thi pháp luật lao động về việc làm bằng các cơ chế pháp luật góp phần tạo ra việc làm cho người lao động, đảm bảo đời sống cho họ cũng như góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự xã hội, đưa đất nước ta ngày càng giàu đẹp, nhân dân ấm no, hạnh phúc
1.1.2. Vai trò và ý nghĩa của việc làm: Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
1.1.2.1 Trên bình diện kinh tế -xã hội:
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,..), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp…). Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
Đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động.
Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ… Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người. Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Ngoài ra khi không có việc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình chính trị.
Vai trò của việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi Nhà nước phải có những chiến lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này.
1.1.2.2 Trên bình diện chính trị – pháp lí:
Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới kinh tế- xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh vã sự ổn định của mỗi quốc gia.. Chính vě vậy ở bất kể quốc gia, việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gay cấn nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gian đình đồng thời cũng là vấn đề xã hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không được giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị.
Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động. Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
1.1.2.3 Trên bình diện quốc gia – quốc tế:
Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung. Chính sách xã hội của nhà nước ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực như thị trường lao động, bảo đàm việc làm, bhxh… Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội.
Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu sắc. Vấn đề hợp tác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng được đặt ra đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nước khác đến làm việc tại nước mình. Điều này giúp cân bằng lao động. Lao động từ nước kém phát triển sang làm việc ở nước phát triển, từ nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động. Trong thị trường đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những NLĐ mà còn trở thành vấn đề giữa các quốc gia. Từ đó vấn đề lao động việc làm còn được điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hưởng chi phối của các công ước quốc tế về lao động. Các nước dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận với những “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy mô hơn.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
1.1.3.1. Nhân tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên trong ngành thủy sản bao gồm: đất đai và những tài nguyên thiên nhiên khác. Nếu nơi nào tài nguyên thiên nhiên càng phong phú và đa dạng thì càng dễ cho người lao động có những cơ sở điều kiện tự tạo việc làm cho các cá nhân, gia đình họ. Nếu ngược lại nơi nào có tài nguyên thiên nhiên ít và kém đa dạng thì sẽ khó khăn cho lao động tìm việc làm cũng như tạo việc làm cho họ như: ở những vùng có rừng có biển, những vùng gần sông, rạch thuỷ triều ổn định thì người lao động có thể tự tạo việc làm bằng nghề khai thác (đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản…) cùng với đó, ở những nơi tài nguyên thiên nhiên càng phong phú, đa dạng thì cơ cấu ngành nghề ở nơi đó cũng rất đa dạng thì khi đó càng thuận tiện cho người lao động trong việc tìm kiếm việc làm cũng như tạo việc làm cho chính bản thân mình.
Đồng thời tài nguyên thiên nhiên còn là lợi thế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Những nước có điều kiện thiên nhiên và vị trí địa lý thuận lợi sẽ có lợi thế để thu hút các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài tham gia bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh, chuyển giao công nghệ. Từ đó thuận lợi cho việc giải quyết việc làm cho người lao động.
1.1.3.2. Tư liệu lao động và các phương tiện vật chất phục vụ cho quá trình sản xuất
Tư liệu lao động là các loại công cụ lao động từ thủ công, nửa cơ khí, cơ khí hiện đại mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đối tượng lao động theo mục đích của con người. Tư liệu lao động bao gồm các công cụ lao động trực tiếp tác động vào đối tượng lao động và bộ phận phục vụ trực tiếp hay gián tiếp cho quá trình sản xuất như: nhà xưởng, cầu cảng, phương tiện vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc… đây là những phương tiện phục vụ cho quá trình sản xuất.
Như vậy tư liệu lao động và các phương tiện vật chất nói trên là yếu tố cơ bản để kết hợp sức lao động của con người với đối tượng lao động để tạo nên quá trình sản xuất, tức là tạo ra việc làm cho người lao động. Nếu không có phương tiện lao động và các phương tiện vật chất đó thì sức lao động và đối tượng lao động chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng, các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên không biến thành của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu con người và cho xã hội. Chính vì vậy muốn tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là tạo việc làm cho người lao động trong ngành thuỷ sản thì trước hết phải có các loại tư liệu lao động cần thiết, phù hợp với trình độ của người lao động với tính chất và đặc điểm của từng loại hình để thu hút lao động, nhằm giải quyết việc làm cho người lao động. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
1.1.3.3. Nguồn lực lao động và chất lượng lao động
Nguồn nhân lực trước hết được hiểu là lực lượng lao động, nó bao gồm toàn bộ những người lao động, đang phục vụ cho xã hội, từ những người lao động trực tiếp, đến các nhà quản lý, nhà khoa học, từ những người công tác văn phòng, đến lực lượng lao động dự trữ…đều thuộc nguồn nhân lực.
Mà hiện nay nguồn nhân lực đang trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải là những người lao động có trí tuệ, có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức, so với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực có ưu thế nổi bật đó là không bị khai thác cạn kiệt trong quá trình khai thác và sử dụng còn có khả năng tái sinh, nếu chúng ta có chính sách bồi dưỡng và sử dụng đúng đắn. Đây là yếu tố làm cho con người trở thành nguồn lực cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, do đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển.
Vấn đề có việc làm là đòi hỏi bản thân của người lao động, là con đường để người lao động tồn tại, phát triển và tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình. Tạo được nhiều việc làm tức là đã thu hút đông đảo nguồn lực quý giá của xã hội. Và quá trình sản xuất đã tạo ra nhiều của cải cho xã hội, là phát huy động lực cơ bản cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, điều kiện và quy mô tạo việc làm lại tuỳ thuộc vào số lượng và chất lượng của nguồn lực lao động. Nếu lao động ít, tài nguyên thiên nhiên nhiều thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất, để lãng phí tài nguyên. Nếu tài nguyên nhiều, trình độ lao động thấp thì năng suất, chất lượng và hiệu quá sản xuất, kinh doanh thấp, đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn; nếu lao động nhiều tài nguyên thiên nhiên ít, nếu biết cách bố trí, sử dụng nguồn nhân lực phù hợp phù hợp với từng đặc điểm của từng loại hình sản xuất, kinh doanh sẽ tạo ra được nhiều chỗ làm việc cho người lao động. Từ đó vấn để giải quyết việc làm cho người lao động đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực chất lượng cao.
1.1.3.4. Thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
Chúng ta biết rằng thị trường là lĩnh vực trao đổi, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng, với sự tham gia của hàng triệu người mua, bán hàng hoá dịch vụ. Nếu không có thị trường thì sẽ không có nền kinh tế hàng hoá.
Xét dưới góc độ việc làm và nhân tố trực tiếp tác động tới việc làm, thị trường bao gồm: thị trường đầu vào, thị trường đầu ra.
Thị trường đầu vào gồm: thị trường nguyên vật liệu, thị trường vốn, thị trường khoa học – công nghệ…
Thị trường đầu ra gồm: thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá. Qua đó chúng ta thấy rằng, nếu không có thị trường đầu vào để cung cấp sức lao động, nguyên vật liệu và các điều kiện cần thiết thì quá trình sản xuất sẽ không thể thực hiện được. Ngược lại nếu không có thị trường đầu ra thì sản xuất bị ngừng trệ, người lao động không có việc làm.
Chính vì vậy việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường là hết sức cần thiết và cấp bách cho sản xuất cũng như cho tiêu dùng và đặc biệt là cho việc làm của người lao động.
Trong thực tế cho chúng ta thấy rằng người lao động không tạo được việc làm hoặc không tìm được việc làm do thị trường đầu vào của sản xuất khó khăn, ách tắc trong việc cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất. Việc làm không ổn định hoặc không tổ chức được việc làm do thị trường đầu ra, tức thị trường tiêu thụ sản phẩm. Như vậy để giải quyết việc làm cho người lao động phải kết hợp đồng bộ thị trường đầu vào và đầu ra; đồng thời còn coi trọng công tác tiếp thị và tổ chức thị trường, phát triển kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận thị trường, ký kết hợp đồng, tự chủ và tự chịu trách nhiệm kinh doanh của mình, phát triển thị trường vốn và tiền tệ, hoàn thiện khung pháp luật và chính sách nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội học tập trong lĩnh vực kinh doanh của ngành mình tức là trong sản xuất, nuôi trồng, khai thác, chế, biến và dịch vụ hậu cần cho ngành thuỷ sản.
1.1.3.5. Cơ chế chính sách của Nhà nước
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã khẳng định: Giải quyết việc làm là một chính sách xã hội cơ bản bằng nhiều giải pháp việc làm mới tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng nhất là ở nông thôn. Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động, chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Khẩn trương hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội. Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp.
Như vậy, giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng là Nhà nước phải tạo ra các điều kiện và môi trường hành lang pháp lý thuận lợi để cho người lao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thông qua những chính sách cụ thể. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
1.1.4. Đặc điểm việc làm trong ngành thủy sản
Lao động ngành thủy sản là một bộ phận cấu thành lao động xã hội. Nó hình thành và phát triển trên cơ sở của sự phân công lao động xã hội nên nó mang mọi đặc điểm chung của lao động xã hội.
Tuy nhiên, ngành thủy sản là một lĩnh vực có nhiều nét đặc thù nên lao động trong ngành thủy sản cũng có những đặc trưng riêng. Lao động trong ngành thủy sản có các đặc điểm sau đây:
- Lao động trong ngành thủy sản bao gồm lao động trong lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy hải sản.
- Lao động trong ngành thủy sản có tính chuyên môn hoá cao. Mỗi bộ phận lao động thực hiện từng khâu, công đoạn tròng chu trình sản xuất và khải thác thủy sản. Kết quả hoạt động của một bộ phận nào đó đều có ảnh hưởng dây chuyền đến các bộ phận khác trong toàn bộ hệ thống. Vì vậy, các nhóm lao động trong ngành thủy sản có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau.
- Thời gian làm việc của ngành thủy sản phụ thuộc vào thời gian, đặc điểm nhu cầu của mùa vụ và thị trường.
- Tỷ lệ lao động trẻ, lao động nam, lao động thời vụ trong ngành du lịch cao hơn các ngành công nghiệp, nông nghiệp.
- Lao động trong ngành thủy sản cần nhiều lao động có kỹ năng cao về các nghiệp vụ khác nhau, đồng thời tỷ lệ lao động không có kỹ năng cũng chiếm tỷ lệ đáng kể.
1.2. Những hình thức tạo việc làm trong ngành thủy sản Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
Nhận thức thuỷ sản là thế mạnh của địa phương. Trong thời gian qua các ngành, các cấp trong tỉnh đã tập trung nguồn lực để sớm khôi phục và phát triển các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. Nhờ đó mà nhiều năm qua hải sản khai thác tăng, diện tích nuôi trồng được mở rộng đã cung cấp khối lượng nguyên liệu lớn. Từ đó hàng loạt cơ sở sản xuất dịch vụ và chế biến đầu tư xây dựng mới, mở rộng qui mô sản xuất. Có thể nói Cà Mau là một trong những địa phương có sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu với khối lượng lớn và tăng nhanh nhất cả nước và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Với thế mạnh đó, đã giải quyết một lượng lao động lớn có việc làm thể hiện trên các lĩnh vực. Những hình thức tạo việc làm trong ngành thủy sản tại Cà Mau thường bao gồm:
1.2.1. Nuôi trồng
Nuôi trồng thuỷ sản ở Cà Mau trở thành ngành kinh tế có thu nhập cao nó cung cấp nguồn nguyên liệu, thực phẩm thường xuyên và đáng kể cho nhu cầu trong tỉnh và cung cấp một phần lớn nguyên liệu cho nghành công nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ sản tăng nhanh cả về diện tích và sản lượng. Nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh phân bố ở tất cả các địa phương. Nuôi trồng thuỷ sản ở Cà Mau đa dạng về địa bàn nuôi: nuôi trong ao, đầm, kênh, rạch, đất ngập mặn, nuôi xen trong rừng ngập mặn, ngập úng, nuôi trong lồng, loại hình nuôi cũng phong phú, gồm các loại như: sú, tôm thiên nhiên và các loại cá như: chép, mè, lóc, rô, trê, sặc bổi, cá chình, thác lát… các loại thuỷ sản khác như: lươn, cua, ếch, sò, nghêu…
Cà Mau là tỉnh có tiềm năng lớn về nuôi thuỷ sản nhất là nuôi tôm nước mặn, nước lợ. Các điều kiện về diện tích mặt nước, đất đai, điều kiện nguồn nước mặn, thời tiết khí hậu tương đối thuận lợi cho nuôi thuỷ sản. Những năm 2001 đến năm 2017 nuôi thuỷ sản phát triển ngày càng ổn định từ đó đã giải quyết việc làm cho trên 50% lao động trong tỉnh.
Tôm nuôi của tỉnh Cà Mau hiện nay phần lớn là nuôi quảng canh cải tiến với nhiều mô hình như: nuôi chuyên canh, nuôi luân canh 1 vụ lúa, 1 vụ tôm, lúa – tôm kết hợp, nuôi kết hợp trồng rừng, nuôi dưới mương, ao vườn… một số hộ đang chuyển sang nuôi quảng canh cải tiến bậc cao với sự hỗ trợ của công tác khuyến ngư.
Trong các mô hình nuôi tôm hiện nay, mô hình nuôi tôm quản canh cải tiến bậc cao và nuôi tôm sinh thái được đánh giá bền vững về môi trường và có hiệu quả kinh tế cao. Công tác khuyến ngư, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật được chú trọng, các dịch vụ nuôi trồng thuỷ sản phát triển nhanh, nhất là đầu tư sản xuất, cung ứng con giống
1.2.2. Khai thác Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
Việc làm trong lĩnh vực khai thác biển như nghề lưới vây kết hợp với ánh sáng, câu mực, cào tầng, te… những năm gần đây ngành khai thác đã được trang bị mới về hạ tầng và phương tiện, thiết bị. Hình thức đánh bắt phong phú, phương tiện đánh bắt đa dạng.
Khai thác thuỷ sản nước ngọt thường sử dụng phương tiện lú, đó, đăng, vó, lưới chụp, cào, chài; khai thác nước mặn thường sử dụng phương tiện lưới đèn, câu, lưới, cào… Nguồn khai thác nước ngọt là cá lóc, rô, trê, sặc, lươn, ếch… nguồn khai thác này có thể khai thác quanh năm, nhưng đầu mùa khô có sản lượng khai thác nhiều hơn. Còn sản lượng khai thác nước mặn quanh năm những loại hải sản khai thác như tôm, mực, cá đuối, cá nục, cá ngừ, cá nhám, cá khoai…
Vùng biển Cà Mau là một trong những ngư trường lớn của cả nước, điều kiện thời tiết cơ bản thuận lợi, đảm bảo cho khai thác quanh năm. Lĩnh vực khai thác hàng năm giải quyết việc làm, nâng cao mức sống và thu nhập cho hàng chục ngàn lao động.
1.2.3. Chế biến thuỷ hải sản Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
Là tỉnh có thế mạnh tuyệt đối về nuôi trồng và khai thác nên hoạt động chủ yếu công nghiệp Cà Mau là chế biến thuỷ sản xuất khẩu. Trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản xuất khẩu những năm gần đây đã có bước chuyển đổi cơ cấu theo hướng đa dạng hoá và nâng cao chất lượng để phù hợp với nhu cầu những thị trường nhập khẩu khó tính. Sản phẩm của chế biến là tôm, cá đông lạnh và các sản phẩm khác chế biến theo nhu cầu thị trường. Từ đó đã giải quyết một lượng lớn lao động làm việc đặc biệt là lao động nữ.
Chế biến tôm xuất khẩu chiếm phần lớn giá trị sản lượng ngành công nghiệp của tỉnh. Số cơ sở công nghiệp chế biến thuỷ sản đã tăng lên cả về số lượng và quy mô, năng lực công nghiệp chế biến thuỷ sản đã được đầu tư cả chiều rộng và chiều sâu. Các doanh nghiệp đã tập trung đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cấp trang thiết bị, đa dạng hoá mặt hàng, từng bước nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ. Công nghiệp chế biến thuỷ sản hàng năm chiếm trên 90% giá trị sản lượng toàn ngành.
Nói tóm lại trong 64 tỉnh, thành phố, Cà Mau có lợi thế phát triển thuỷ sản vào hàng lớn nhất nước thể hiện ở cả 3 nhóm nghề như khai thác (đánh bắt), nuôi trồng và chế biến. Với chiều dài bờ biển 254 km, bao bọc ba mặt từ Tây sang Đông, tỉnh Cà Mau có mặt nước trải rộng từ các bãi bồi ven biển đến các khu rừng ngập nước, là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước, ngư trường Cà Mau có trữ lượng lớn và đa dạng các nguồn hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm, cua, mực, ghẹ, cá hồng, cá liệt, cá chai với khoảng 660 loài.
- Kết luận chương 1
Chương 1 trình bày những vấn đề lý luận chung về việc làm trong ngành thuỷ sản. Bên cạnh đó nghiên cứu kinh nghiệm chính sách việc làm trong ngành thủy sản ở một số tỉnh. Qua đó tạo tiền đề cho nghiên cứu thực trạng tạo việc làm trong ngành thuỷ sản tỉnh Cà Mau ở chương tiếp theo. Luận văn: Pháp luật về giải quyết việc làm ngành thủy sản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng về giải quyết việc làm trong ngành thuỷ sản

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp chất lượng lao động trong ngành thủy sản