Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những giải pháp, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về cảng biển Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Giải pháp, đề xuất xây dựng Chính sách, pháp luật trong nước
3.1.1. Nhóm giải pháp xây dựng và triển khai văn bản QPPL
Tiếp tục triển khai xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015. Sau mỗi 5 năm có tổng kết, đánh giá thực hiện Bộ luật Hàng hải Việt Nam nhằm kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý cao nhất của ngành Hàng hải. Các đề xuất sửa đổi, bổ sung phải tạo được động lực mạnh mẽ trong việc phát triển ngành Hàng hải nói chung và khai thác cảng biển nói riêng. Tạo tiền đề cho mọi chuyển biến và làm cơ sở để xây dựng các quy định trong đầu tư, kinh doanh, khai thác cảng biển.
Nghiên cứu, xây dựng Luật cảng biển của Việt Nam nếu được ban hành phải bảo đảm và dựa trên nguyên tắc như [20]:
Luật Cảng biển phải tạo một môi trường pháp lý bình đẳng giữa Nhà nước với doanh nghiệp cảng và giữa chính các doanh nghiệp cảng với nhau. Đây là một nguyên tắc cần thiết vì hiện nay cảng biển Việt Nam thuộc sự quản lý của các chủ thể, các thành phần kinh tế khác nhau. Nói một cách khác, việc áp dụng các cơ chế, chính sách cho cùng một hình thức cơ quan quản lý cảng phải bảo đảm áp dụng như nhau, chẳng hạn nếu chúng ta tính nguồn thu phí cần thiết đối với những Cảng vụ được đầu tư bằng nguồn vốn của nhà nước thì chúng ta phải áp dụng với tất cả những cảng này chứ không thể chỉ áp dụng một số cảng trọng điểm.
Luật cảng biển phải bao gồm các quy định phân biệt từ nhiệm vụ quản lý nhà nước và quản lý khai thác kinh doanh cảng. Ví dụ nhiệm vụ của Chính phủ, Bộ, ngành trong việc hoạch định chính sách cảng quốc gia, ban hành quy định pháp luật, chính sách tài chính phát triển cảng, thiết lập và quản lý hệ thống bảo đảm hàng hải (luồng lạch, phao tiêu, báo hiệu hàng hải, …), nhiệm vụ quản lý kinh doanh cảng (đầu tư phát triển, bảo trì cầu bến, kho bãi, trang thiết bị xếp dỡ…). Hiện nay, các quy định về quản lý nhà nước đối với cảng biển đó được quy định rải rác tại các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước nhưng chưa có một văn bản thống nhất. Hơn nữa, về kinh doanh cảng biển thì hầu như chưa được pháp luật quy định cụ thể. Do đó, cần phải có văn bản quy định từ về lĩnh vực quản lý cảng như hầu hết pháp luật về hàng hải của các nước đều quy định. Căn cứ quy định thống nhất của pháp luật về tổ chức, quản lý, kinh doanh,
khai thác cảng biển, tránh quy định tản mạn về cảng biển như hiện nay. Pháp luật Việt nam về cảng biển cũng quy định rải rác tại các văn bản pháp luật khác, đôi chỗ cũng mâu thuẫn; thủ tục thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước còn việc đầu tư, kinh doanh cảng biển lại theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, v.v…
Căn cứ các quy định thống nhất về phí, lệ phí, giá, cước, tránh mỗi cơ quan quy định một kiểu và một biểu phí khác nhau như thực tiễn hiện nay. Cần quy định thống nhất về biểu phí, lệ phí, giá, cước giữa tàu biển Việt Nam và nước ngoài, tránh sự phân biệt đối xử, đặc biệt trong giai đoạn chúng ta đang nỗ lực hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực Hàng hải. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015. Đây là đề xuất của Bộ Tư pháp nhằm hoàn thiện công cụ xây dựng Pháp luật Quốc gia, đảm bảo nâng cao công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với Hiến pháp và Pháp luật quốc tế. Lần sửa đổi này tập trung vào vấn đề đánh giá tác động của chính sách, học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến, đặc biệt là sự hỗ trợ của Nhật Bản nhằm sửa đổi hoàn thiện công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;
- Nghiên cứu, điều chỉnh Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp
Về chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án sau mà không phân biệt nguồn vốn: Đầu tư xây dựng mới cảng biển; đầu tư xây dựng mới bến cảng chính thuộc cảng biển loại đặc biệt theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt… Hiện nay, Luật Đầu tư mới chỉ giao thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư cho Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và UBND cấp tỉnh. Do các công trình hàng hải là các công trình đặc thù chuyên ngành và hiện nay, các Bộ quản lý chuyên ngành được nhà nước giao quản lý một số dự án liên quan đến lĩnh vực chuyên sâu về hàng không dân dụng, đường sắt, hàng hải do Bộ GTVT quản lý. Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2015 không quy định về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của các bộ, ngành, đề nghị nghiên cứu bổ sung thêm điều khoản về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của các bộ, ngành.
Về hình thức đầu tư: Trong Luật đầu tư có 05 hình thức đầu tư: (1) Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, quy định tại Điều 22; (2) Đầu tư của tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài, quy định tại Điều 23; (3) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế, quy định tại Điều 24; (4) Đầu tư theo hình thức đối tác công tư PPP, quy định tại Điều 27; (5) Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC. Tuy nhiên, Luật không nói rõ điều kiện, phạm vi và đối tượng áp dụng của từng hình thức nên khi áp dụng các cơ quan hiểu không thống nhất, gây vướng mắc trong quá trình thực hiện. Đề nghị bổ sung thêm điều khoản quy định về điều kiện, đối tượng và phạm vi áp dụng cho từng hình thức.
Luật Doanh nghiệp cũng không đề cập đến sự khác nhau trong quản trị, điều hành doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm từ hai thành viên trở lên để phân biệt với công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm từ hai thành viên trở lên không có cổ phần, vốn góp của Nhà nước chi phối, vì vậy, đề nghị nghiên cứu đưa khái niệm này trong dự thảo Luật cũng như việc bổ sung các quy định có liên quan đến việc quản trị, điều hành doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm từ hai thành viên trở lên cho phù hợp với mục tiêu quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp này. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Đối với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến Quy hoạch: Để đảm bảo hoạt động quản lý ngành, tính thống nhất, đồng bộ trong việc triển khai các quy hoạch ngành, Bộ GTVT đề nghị bổ sung 03 quy hoạch có tính chất kỹ thuật chuyên ngành: Đối với lĩnh vực hàng hải, đề xuất bổ sung quy hoạch phát triển cơ sở đóng mới, sửa chữa, phá dỡ tàu biển; Đối với lĩnh vực đường thủy nội địa, đề xuất lập quy hoạch luồng đường thủy nội địa, hệ thống cảng đường thủy nội địa; Đối với lĩnh vực đường sắt, đề xuất lập quy hoạch cơ sở công nghiệp đường sắt gắn liền với mạng lưới đường sắt.
Hiện nay, các quy hoạch ngành quốc gia mới đang được các Bộ triển khai lập, dự kiến để được phê duyệt, có hiệu lực cũng phải vào cuối năm 2020. Trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2020, để đáp ứng nhu cầu đầu tư, phát triển đất nước, phát triển ngành sẽ xuất hiện các yếu tố dẫn đến phải điều chỉnh cục bộ các quy hoạch hiện có, vì vậy, Bộ GTVT đề xuất cho phép tiếp tục điều chỉnh cục bộ các quy hoạch về kết cấu hạ tầng hiện nay đang có hiệu lực.
Do dự thảo Nghị định hướng dẫn chi tiết Luật Quy hoạch chuẩn bị ban hành, trong đó tại Điều 42 về hiệu lực thi hành sẽ bãi bỏ các Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 và số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội nên trường hợp điều chỉnh cục bộ các quy hoạch này đề nghị tiếp tục cho phép căn cứ vào Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 và số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ để thực hiện điều chỉnh hoặc bổ sung quy định: Trường hợp điều chỉnh cục bộ các quy hoạch cho phép áp dụng các trình tự thủ tục về lập, thẩm định, phê duyệt, công bố, đánh giá thực hiện quy hoạch theo quy định của Nghị định hướng dẫn chi tiết Luật Quy hoạch này phù hợp với phạm vi ranh giới quy hoạch;
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật điều kiện trong kinh doanh vận tải cảng biển, bảo vệ môi trường cảng biển
Hoàn thiện các quy định về điều kiện kinh doanh và cấp giấy phép kinh doanh cho các đơn vị kinh doanh vận tải; bổ sung các loại hình dịch vụ vận tải vào nhóm ngành nghề kinh doanh có điều kiện; bổ sung quy định về trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước trong thực thi quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh vận tải.
Hoàn thiện các quy định, quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị kinh doanh vận tải về bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện kinh doanh vận tải, trang thiết bị, máy móc làm dịch vụ hỗ trợ vận tải. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Hoàn thiện các quy định về điều kiện hành nghề của người điều khiển phương tiện kinh doanh vận tải, trách nhiệm của đơn vị kinh doanh vận tải, cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện các điều kiện hành nghề của người lao động trong lĩnh vực đường bộ, đường thuỷ nội địa;
Tiếp tục rà soát, điều chỉnh khung giá dịch vụ cảng biển đối với từng khu vực nhằm đưa ra khung giá sát nhất với thực tiễn hoạt động, đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp cảng biển, đồng thời có biện pháp phù hợp để các hãng tàu nước ngoài không thu các loại phí tùy tiện, bất hợp lý. Nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh các cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp vận tải biển phù hợp với thực tiễn nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của đội tàu quốc gia, đủ năng lực đảm nhận thị trường vận tải biển nội địa đồng thời tăng thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu;
Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện pháp điển hóa các đề mục ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải (cảng biển) mà Việt Nam đã gia nhập như: Quy định về kiểm tra an toàn công-ten-nơ được vận chuyển qua cảng biển Việt Nam (Công ước quốc tế về an toàn công-ten-nơ 1972); Hướng dẫn thực hiện việc cân xác nhận khối lượng toàn bộ công-ten-nơ vận tải biển quốc tế, quy định về an ninh tàu biển và cảng biển (SOLAS 1974); Quy định về thu gom và xử lý chất thải từ tàu thuyền trong vùng nước cảng biển (MARPOAR 1973)…vv.
Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tại cảng biển, đảm bảo phát triển bền vững; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính các lĩnh vực tại cảng, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ và ứng dụng thông tin điện tử trong quản lý điều hành, khai thác cảng biển…
3.1.2. Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới cơ chế, chính sách, mô hình quản lý cảng biển nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng quản lý khai thác KCHT hàng hải phù hợp với thực tiễn và thông lệ hàng hải quốc tế; rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế – kỹ thuật liên quan đến quản lý, khai thác cảng biển;
Đẩy mạnh việc cho thuê quản lý khai thác kết cấu hạ tầng cảng biển được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tham gia xã hội hóa quản lý khai thác KCHT cảng biển;
Xây dựng văn bản quy định quy chế phối hợp giữa các lực lượng và quy định trách nhiệm cụ thể của chính quyền địa phương các cấp, công an, biên phòng cửa khẩu, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và đơn vị trực tiếp quản lý vận hành KCHT hàng hải.
Xây dựng trình Nghị định về quản lý, bảo vệ KCHT hàng hải và bảo dưỡng, duy tu KCHT hàng hải và các Thông tư hướng dẫn: Thông tư hướng dẫn về bảo dưỡng, duy tu KCHT hàng hải; Thông tư nâng cao hiệu quả và chất lượng KCHT hàng hải; xây dựng tiêu chuẩn bảo dưỡng, duy tu KCHT hàng hải; xây dựng bổ sung định mức bảo dưỡng, duy tu KCHT hàng hải; xây dựng quy định chế độ trách nhiệm trong bảo dưỡng, duy tu KCHT hàng hải.
3.1.3. Xây dựng và triển khai các Quy hoạch, chiến lược, đề án
Triển khai lập Đề án quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2050; Đề án quy hoạch cảng biển Sóc Trăng và bến cảng Trần Đề; Quy hoạch chi tiết bến cảng Lạch Huyện thuộc cảng biển Hải Phòng và tổ chức thực hiện khi cấp có thẩm quyền phê duyệt; Hoàn thành đề án nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác cảng biển Hải Phòng, đề án khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải; Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Đề án Điều chỉnh Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Đông Nam Bộ, các quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ: Triển khai quy hoạch sau khi được Bộ trưởng phê duyệt;
Tổ chức triển khai Đề án Điều chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống cảng cạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Đề án quy hoạch chi tiết phát triển hệ thống cảng cạn Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030: Trên cơ sở quy hoạch tổng thể đã được Thủ tướng Phê duyệt, tiếp tục tiếp thu, hoàn thiện Quy hoạch và trình Bộ GTVT phê duyệt Quy hoạch;
- Lập đề án xây dựng trung tâm quản lý, lưu trữ dữ liệu quốc gia về quy hoạch các ngành kinh tế, các địa phương;
- Lập đề án xây dựng hệ thống thông tin tích hợp về CSHT và khai thác của toàn bộ hạ tầng cảng biển Việt Nam;
- Lập Đề án xây dựng và phát hành hải đồ vùng nước cảng biển và luồng hàng hải;
- Xây dựng, hình thành cổng thông tin một cửa quốc gia kết nối chung các ngành Hải quan, Hàng hải, Kiểm dịch;
- Lập Đề án nghiên cứu áp dụng khai báo thủ tục hành chính tại cảng biển bằng điện tử thay thế các loại hồ sơ giấy tờ.
- Triển khai các Đề án liên quan đến nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lý, khai thác cảng biển do Bộ GTVT trình làm cơ sở triển khai…vv.
3.1.4. Nhóm giải pháp sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định về hoạt động xuất nhập khẩu, hải quan, logistics, cải cách hành chính tại cảng biển
Với xu thế hội nhập quốc tế như đã phân tích ở trên, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của VN thông qua cảng biển ngày một tăng cao và ổn định, cùng với cơ sở dự báo nhu cầu hàng hóa nêu trên thì các vấn đề cải cách về thủ tục xuất nhập khẩu, hải quan, logistics, cải cách hành chính (gồm thủ tục điện tử, tự động hóa …vv) cần phải ngày càng chú trọng tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp.
Sửa đổi, bổ sung, ban hành quy định về hoạt động xuất nhập khẩu, hải quan, logistics, cải cách hành chính tại cảng biển đảm bảo và hướng tới các mục tiêu như sau: Giảm thời gian trong việc giao nhận hàng hoá; giảm giấy tờ phải nộp; giảm việc tiếp xúc của doanh nghiệp với cơ quan hải quan; cơ quan Hải quan cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin (dưới dạng điện tử) về dự kiến hàng đến kho, bãi, cảng; chủ động trong việc quản lý, thống kê, lưu giữ chứng từ, cung cấp thông tin, số liệu hàng hóa đưa vào lưu giữ, đưa ra khỏi khu vực cảng, kho, bãi; hỗ trợ hoạt động khai thác, kinh doanh, giảm chi phí, tăng công suất khai thác và khả năng cạnh tranh; đảm bảo lợi ích đối với hãng tàu; nhờ việc giải phóng hàng hóa nhanh chóng nên thời gian quay vòng sử dụng vỏ container, sử dụng tàu được rút ngắn, hỗ trợ doanh nghiệp tăng khả năng khai thác, nâng cao hiệu quả kinh doanh vận tải quốc tế; giúp cơ quan Hải quan theo dõi, quản lý chặt chẽ quá trình di chuyển, biến động, vị trí và tình trạng hàng hóa từ khi vào đến khi ra khỏi cảng, kho, bãi; giảm số lượng công chức thực hiện thủ tục thủ công; đảm bảo minh bạch, công khai khi được thực hiện thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu;
Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về nhập khẩu phế liệu, đảm bảo Việt Nam không là điểm đến của rác thải phế liệu, đồng thời các quy định không cho phép nhập khẩu ồ ạt các containers phế liệu và để hàng tồn đọng tại cảng biển như hiện nay;
3.1.5. Nghiên cứu mô hình cho thuê, chuyển nhượng quyền khai thác kinh doanh kết cấu hạ tầng cảng biển phù hợp với thực tế Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình cơ bản về đầu tư và quản lý khai thác KCHT cảng biển như đã nêu trên, hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2018/NĐ-CP Quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng hàng hải do Nhà nước đầu tư, quản lý, trong đó nêu 03 phương thức khai thác KCHT hàng hải, gồm: “1. Giao cho cơ quan được giao quản lý tài sản trực tiếp tổ chức khai thác tài sản; 2. Cho thuê quyền khai thác; 3. Chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản KCHT hàng hải”. Tuy nhiên, trên cơ sở xu hướng hội nhập quốc tế, quan điểm phát triển kinh tế tư nhân của Đảng, Nhà nước, các quy định này cần được nghiên cứu và từng bước điều chỉnh theo hướng cho thuê hoặc chuyển nhượng hoặc cổ phần hóa, thoái vốn để phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Như vậy về mặt chủ trương, chính sách cần thay đổi những quy định của pháp luật hiện hành như Bộ luật Hàng hải VN, các Nghị định của Chính phủ để nhằm định hướng, thực thi các mục tiêu trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam.
3.2. Giải pháp về Hợp tác quốc tế và triển khai các Ðiều ước quốc tế Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
3.2.1. Hợp tác quốc tế
Hoàn thiện và thực hiện nghiêm các cam kết về vận tải trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ASEAN, APEC cũng như trong các hiệp định thương mại đa phương và song phương;
Xây dựng và ký thoả thuận quan hệ đối tác chiến lược về GTVT giữa Việt Nam với các quốc gia có vai trò, vị trí quan trọng trong hoạt động vận tải quốc tế; chủ động đàm phán ký kết, triển khai các hiệp định song phương, đa phương nhằm mở cửa thị trường và tạo thuận lợi cho vận tải liên vận và vận tải quốc tế;
Có chính sách khuyến khích các hãng vận tải lớn trên thế giới đầu tư thành lập doanh nghiệp, chi nhánh và thiết lập các đầu mối vận tải trung chuyển quốc tế tại Việt Nam; có cơ chế ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp VN đầu tư cung ứng dịch vụ vận tải và thiết lập mạng lưới phân phối hàng hoá ở nước ngoài;
Triển khai sau ký kết các Hiệp định Vận tải biển song phương với Brazil; Thỏa thuận công nhận giấy chứng nhận khả năng chuyên môn của thuyền viên theo quy định I/10 của Công ước STCW với Chính quyền hàng hải Đan Mạch, Thái Lan, Croatia, Nauy, Panama; Thỏa thuận hợp tác với Bộ Đại dương và Nghề cá Hàn Quốc về an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường biển trong đó có nghiên cứu khả thi Thiết lập Hệ thống an toàn hàng hải.
Tiếp tục thương thảo với Đại sứ quán Vương quốc Bỉ về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho ngành hàng hải và Đại sứ quán Nhật Bản về các chính sách hàng hải; Tiếp tục đàm phán Thỏa thuận công nhận giấy chứng nhận theo quy định I/10 của Công ước STCW với Vương quốc Anh; Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Tiếp tục trao đổi với Anh, Adecbaigian, Pakistan và Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE) về nội dung dự thảo Thỏa thuận công nhận Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn của thuyền viên theo quy định I/10 của Công ước STCW để tiến tới ký kết trong thời gian sớm nhất; Tiếp tục trao đổi đàm phán Hiệp định vận tải biển/hàng hải song phương với Panama, Đan Mạch; Tiếp tục hỗ trợ Lào và Campuchia triển khai biên bản ghi nhớ về phối hợp, tiếp nhận xử lý dữ liệu báo động cấp cứu Cospas Sarsat; Tiếp tục nghiên cứu, xem xét, trao đổi với các cơ quan liên quan của Hàn Quốc, Bỉ, Lào, Nhật Bản, Hoa Kỳ… để thúc đẩy hoạt động hợp tác giữa các bên. Đặc biệt là tìm kiếm và kêu gọi hỗ trợ/viện trợ các tàu tìm kiếm cứu nạn và tàu huấn luyện đã qua sử dụng của các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ để bổ sung lực lượng cho các trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải và các trường.
Tích cực triển khai nội dung về hợp tác và hội nhập sâu rộng lĩnh vực hàng hải trong ASEAN thông qua Nhóm công tác giao thông hàng hải ASEAN, Hội nghị các quan chức cấp cao Giao thông vận tải ASEAN và Hội nghị Bộ trưởng Giao thông vận tải ASEAN;
Tham gia các diễn đàn hợp tác trong khu vực và quốc tế chuyên ngành Hàng hải, đồng thời tổ chức các đoàn trao đổi kinh nghiệm về đào tạo và cung ứng thuyền viên với Cơ quan hàng hải Phillippines, về cơ chế tham vấn Hiệp định Vận tải biển Việt Nam – Hoa Kỳ và triển khai Bộ luật ISPS với Cơ quan phòng vệ bờ biển Hoa Kỳ (USCG) và Cục Hàng hải Hoa Kỳ (US MARAD)…vv.
3.2.2. Tiếp tục triển khai gia nhập các văn kiện của IMO
- Mục đích, yêu cầu
Xác định nội dung các công việc phải thực hiện và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, đơn vị liên quan trong việc thực hiện các công ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải mà Việt Nam là thành viên và triển khai gia nhập các văn kiện của IMO nhằm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của quốc gia thành viên, quốc gia có cảng, quốc gia ven bờ và quốc gia có tàu mang cờ. Đồng thời, bảo đảm phù hợp theo quy định của hiến pháp, pháp luật và điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch phải đồng bộ, phù hợp với Chiến lược biển; chương trình xây dựng văn bản quy pháp pháp luật của các cấp có thẩm quyền; Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các Vụ, Cục và các cơ quan, đơn vị liên quan đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng, hiệu của công việc;
Việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện các văn kiện của IMO trong lĩnh vực hàng hải mà Việt Nam là thành viên phải được tiến hành thường xuyên, liên tục hàng năm.
- Về nội dung cần triển khai
Tiếp tục thực hiện, triển khai tuyên truyền, phổ biến các văn kiện của IMO trong lĩnh vực hàng hải mà Việt Nam là thành viên và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan nhằm thống nhất nhận thức và nâng cao trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chủ tàu, thuyền trưởng… trong quá trình thực hiện.
Rà soát để sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để triển khai thực hiện nội dung của các văn kiện của IMO.
Rà soát, cập nhật, sửa đổi, bổ sung các giáo trình, tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, đào tạo, huấn luyện thuyền viên theo đúng quy định.
Biên soạn, in, cấp phát tài liệu, tổ chức tập huấn chuyên sâu về các văn kiện của IMO trong lĩnh vực hàng hải mà Việt Nam là thành viên và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
Triển khai thực hiện các công việc cần thiết để gia nhập các văn kiện của IMO đến năm 2020. Thường xuyên giám sát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện Kế hoạch để có những điều chỉnh, hoàn thiện kịp thời
Ưu tiên nguồn lực tổ chức thực hiện đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả các văn kiện của IMO mà Việt Nam là thành viên
Tiếp tục nghiên cứu, gia nhập các Công ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải như Công ước Hiệp hội báo hiệu hàng hải và Hải đăng quốc tế (IALA), các Công ước khác của IMO…
Phụ lục 7. Đánh giá hiệu lực, hiệu quả các văn kiện và hoàn thiện quy trình đánh giá thực hiện Công ước của IMO.
3.3. Các giải pháp, đề xuất đối với cảng biển Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
3.3.1. Nâng cao chất lượng quản lý dầu tư
Đầu tư khai thác cảng biển đòi hỏi vốn lớn, vòng đời dự án lâu dài, khả năng hoàn vốn lâu và vì vậy cần một khung thể chế mạnh và sự phối hợp chặt chẽ giữa hệ thống quy định, đầu tư công và đầu tư tư nhân. Tình trạng quản lý, sở hữu và khai thác cảng biển ở Việt Nam hiện nay có thể được xem như trục trặc về thể chế. Trục trặc này không tạo ra được các cơ quan quản lý, điều tiết thị trường một cách độc lập mà không tham gia vào thị trường.
Nếu có một tổ chức thống nhất quản lý CSHT cảng biển (ví dụ kiểu chính quyền cảng) thì ngoài việc có một kế hoạch thống nhất đầu tư hạ tầng để cho thuê khai thác, chính quyền cảng sẽ lập kế hoạch đầu tư hệ thống bến cảng một cách phù hợp với nhu cầu của thị trường. Qua đó, các nguồn lực xã hội sẽ được tập trung ưu tiên đầu tư CSHT kết nối sau cảng, luồng vào cảng, để toàn hệ thống hoạt động một cách đồng bộ.
3.3.2. Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về khai thác cảng biển
Tiếp tục nghiên cứu cơ chế quản lý theo mô hình “tổ chức Chính quyền cảng”. Cho thí điểm áp dụng ở một vài cảng có điều kiện thuận lợi để hoàn thiện và từng bước thực hiện trên toàn bộ hệ thống cảng.
Áp dụng cơ chế cho thuê cơ sở hạ tầng đối với các bến cảng đã được đầu tư xây dựng mới bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Đề xuất nghiên cứu áp dụng phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành quản lý nguồn vốn thực hiện duy tu, bảo dưỡng KCHT và quản lý giám sát đối với KCHT thực hiện bằng hình thức xã hội hóa.
Giao cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành thống nhất quản lý thực hiện bảo dưỡng, duy tu các KCHT hàng hải thuộc Bộ GTVT quản lý.
3.3.3. Về Phát triển cảng biển Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
- Đối với khu vực phía Bắc
Tập trung hoàn thiện giai đoạn khởi động bến cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng và đầu tư các bến cảng theo quy hoạch được duyệt đến năm 2030;
Triển khai đầu tư khu dịch vụ logistics sau cảng Lạch Huyện;
Phát triển các cảng cạn hỗ trợ cảng biển tại các trung tâm sản xuất hàng hóa khu vực Hà Nội, Bắc Ninh…, các cảng container thuỷ nội địa theo các hành lang vận tải khu vực phía Bắc đưa hàng hoá đến, rời cảng bằng đường thuỷ nội địa, đường sắt. Nâng cao tĩnh không cầu Đuống để phát triển tuyến vận tải container từ Hải Phòng đi Việt Trì.
- Đối với khu vực Miền Trung
Thúc đẩy nghiên cứu đầu tư bến cảng cửa ngõ tại Liên Chiểu (Đà Nẵng), Cảng biển Chu Lai (Quảng Nam) và tuyến đường bộ, đường sắt kết nối khai thông tuyến hành lang kinh tế Đông Tây;
Đầu tư xây dựng các cảng cạn hỗ trợ vận tải đến các cảng biển khu vực Miền Trung, Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai…) và các cửa khẩu.
- Đối với khu vực Miền Nam
Tập trung phát triển cảng cửa ngõ quốc tế Cái Mép – Thị Vải, từng bước hình thành cảng trung chuyển quốc tế. Ưu tiên đầu tư nâng cấp hạ độ sâu tuyến luồng Cái Mép – Thị Vải từ các bến cảng khu vực Cái Mép đến phao “0”đến cao độ -15,5m bằng nguồn vốn ngân sách hoặc ODA, Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Tập trung đầu tư khu dịch vụ logistics Cái Mép Hạ, chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống cảng cạn tại TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh gắn với đường thuỷ nội địa để hỗ trợ cho các cảng biển TP.HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu;
Thúc đẩy đầu tư tuyến đường sắt Biên Hòa Vũng Tàu và tuyến đường bộ cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu kết nối bến cảng Cái Mép – Thị Vải; tập trung giải quyết tình trạng ùn ứ, ùn tắc giao thông ở khu vực Cát Lái, nghiên cứu giải pháp để thu hút tăng lượng hàng thông qua khu vực Cái Mép – Thị Vải.
Nâng cấp các cảng thuỷ nội địa tại ĐBSCL đảm bảo điều kiện tiếp nhận các sà lan vận tải container nhằm tạo điều kiện kết nối thuận lợi giữa cảng Cái Mép -Thị Vải và nguồn hàng hoá. Nâng cao tĩnh không cầu Đồng Nai cũ bằng với tĩnh không cầu Đồng Nai mới để có thể sử dụng sà lan vận chuyển container lên các ICD tại khu vực Bình Dương, Đồng Nai.
Nghiên cứu bổ sung cảng biển Trần Đề theo hướng mở cảng biển quốc tế, tập trung khai thác thế mạnh về xuất nhập khẩu hàng hóa nông thủy sản của các tỉnh miền Tây Nam bộ.
- Đẩy mạnh di dời và chuyển đổi công năng một số bến cảng
Cần xem xét để ban hành các quy định cụ thể về cơ chế chính sách nhằm hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp cảng thuộc diện phải di dời, theo đó:
Ngân sách nhà nước đảm bảo đầu tư xây dựng đồng bộ, kịp thời các hạng mục công trình hạ tầng ngoài cảng (tại vị trí di dời đến) bao gồm: hệ thống đường giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc đến chân hàng rào ngoài cảng.
Việc đầu tư cho thiết bị và xây dựng hạ tầng trong cảng (tại vị trí di dời) do doanh nghiệp cảng chủ động thực hiện từ nguồn vốn tự có, vốn vay, vốn được tạo thành từ chuyển quyền sử dụng đất tại vị trí phải di dời và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác.
Có quy chế tài chính hợp lý trong việc đánh giá giá trị đất phải chuyển quyền sử dụng và bán nhà xưởng, công trình hạ tầng khác hiện có trên khu đất phải di dời.
Các doanh nghiệp cảng phải di dời được miễn, giảm thuế, kinh phí thuê đất tại vị trí di dời đến. Được hưởng các ưu đãi khi vay vốn đầu tư và được ưu tiên trong việc giao, thực hiện các đề án đầu tư chuyển đổi công năng trên phần quỹ đất di dời phù hợp với quy hoạch chung của địa phương, khu vực.
3.3.4. Về phân loại cảng biển Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Nghiên cứu bổ sung chỉnh sửa quy định về phân loại cảng biển, phân định rõ theo chức năng, vai trò của các cảng trong hệ thống cảng biển quốc gia. Theo đó hệ thống cảng biển quốc gia bao gồm các cảng tổng hợp quốc gia và cảng chuyên dùng.
Cảng tổng hợp quốc gia: là các cảng chính trong hệ thống cảng biển Việt Nam, bao gồm:
- Cảng trung chuyển quốc tế và cửa ngõ quốc tế tại các vùng kinh tế trọng điểm (Loại IA), có quy mô lớn được đầu tư đồng bộ hiện đại đạt tiêu chuẩn tiên tiến quốc tế, khu vực; tiếp nhận được tàu trọng tải lớn và cực lớn (trọng tải 5 † 8 vạn DWT trở lên, tàu chở container 6000 Teu trở lên)
- Cảng đầu mối khu vực (Loại I), có phạm vi hấp dẫn rộng, quy mô lớn và tương đối lớn, tiếp nhận được tàu trọng tải tải 2 † 5 vạn DWT trở lên, tàu chở container đến 6.000 Teu.
Cảng địa phương (Loại II), chủ yếu phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy mô và phạm vi hấp dẫn hạn chế, gồm các bến hàng tổng hợp và bến chuyên dùng vệ tinh.
Cảng chuyên dùng (Loại III): Hàng qua cảng có tính đặc thù chuyên biệt (dầu thô và sản phẩm dầu, than quặng, xi măng clinke, hành khách v.v…) chủ yếu phục vụ cho một lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoặc cơ sở công nghiệp tập chung, có tính đặc thù riêng về kỹ thuật công nghệ và quản lý khai thác. Quy mô, vị trí địa điểm tùy thuộc đối tượng mà nó phục vụ.
Mỗi cảng có nhiều khu bến, mỗi khu bến có nhiều cầu bến với công năng và quy mô khác nhau, bổ trợ nhau về mặt tổng thể. Cảng tổng hợp có thể có bến làm hàng chuyên dùng song chức năng chính là làm hàng tổng hợp, trong cảng chuyên dùng có thể có bến làm hàng tổng hợp song chức năng chính là chuyên dùng.
Việc phân định xếp loại để công bố theo hướng nói trên vừa thuận tiện cho việc giao dịch trên thị trường hàng hải quốc tế, vừa tránh hiểu lầm Việt Nam có quá nhiều cảng biển và đều ở tình trạng manh múm, quy mô nhỏ.
3.3.5. Quan hệ giữa cảng biển và khu kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm
Ngoài việc tuân thủ quy hoạch phân khu chức năng như hiện nay, cần có biện pháp hạn chế đầu tư các bến nhỏ lẻ chuyên dùng dành riêng cho từng nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp. Cần chú trọng đến việc xây dựng các khu bến để sử dụng chung, tránh lãng phí tài nguyên (đường bờ làm cảng) và tăng mức độ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư vào khu công nghiệp sau cảng. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Cần phối hợp để quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch phân khu chức năng theo hướng chú trọng dành quỹ đất để xây dựng các đầu mối Logistics sau cảng, bởi đây là yếu tố rất quan trọng để nâng cao năng lực thông qua và chất lượng phục vụ không chỉ với cảng mà cả hệ thống GTVT khu vực.
3.3.6. Nâng cao chất lượng công tác bảo trì, sửa chữa, cải tạo cơ sở hạ tầng cảng biển
Hiện nay, Chính phủ quy định về quy chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó có đầu tư CSHT ngành hàng hải mà chưa có chính sách đầu tư hợp lý đối với CSHT cảng biển. Chỉ xét riêng đầu tư để nâng cấp, cải tạo và mở rộng CSHT cảng biển như: cầu tầu, bến bãi, kho hàng, luồng lạch,… là một nhu cầu rất lớn không thể thiếu được của ngành hàng hải Việt Nam. Để giải quyết vấn đề trên, hằng năm Nhà nước phải bỏ ra dưới dạng cấp phát hàng trăm tỷ đồng từ vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho các doanh nghiệp cảng biển. Trong khi đó, các loại phí mà doanh nghiệp cảng thu được (trọng tải phí, phí cầu bến, phí buộc cởi dây, phí vùng neo,…) lại đưa vào doanh thu của cảng mà Nhà nước chưa thu hồi được phần vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra.
3.3.7. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khai thác cảng biển
Để nâng cao chất lượng khai thác, sử dụng hệ thống cảng biển, trước hết cần nâng cao chất lượng, trình độ cán bộ lãnh đạo quản lý, nâng cao trình độ cán bộ kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ và trình độ của công nhân kỹ thuật. Có thể thực hiện bằng nhiều giải pháp khác nhau, cụ thể như sau:
Cần có kế hoạch đào tạo với tầm nhìn dài hạn cho các cán bộ và chuyên viên của Bộ GTVT và Cục HHVN nhằm nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ, cụ thể là cần xúc tiến các chương trình cử cán bộ đi đào tạo theo mô hình các nước có ngành hàng hải phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Nhật Bản và quốc gia có mô hình gần tương tự như Việt Nam là Đài Loan. Kế hoạch đào tạo này phải mang tính dài hơi và liên tục, và nếu được triển khai sẽ là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý và khai thác KCHT cảng biển;
Tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn trong nước, các hội thảo, hội nghị để nâng cao năng lực, tiếp cận khoa học kỹ thuật, công nghệ mới; Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Đào tạo nâng cao trình độ cho các công nhân kỹ thuật, tổ chức huấn luyện về các lĩnh vực quản lý, vận hành, sửa chữa, chế tạo thiết bị xếp dỡ,…
Giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp kinh doanh khai thác cảng trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho khai thác cảng…vv.
Chú trọng phát triển nâng cao năng lực cho các cơ sở đào tạo nghiệp vụ chuyên ngành về lĩnh vực vận tải, đặc biệt là các chương trình nghiệp vụ cho đội ngũ công chức, viên chức trong cơ quan quản lý nhà nhà nước; đội ngũ cán bộ quản lý trung cấp, cao cấp, các vị trí phụ trách điều hành, điều độ vận tải trong đơn vị kinh doanh vận tải; đội ngũ lao động chuyên ngành đặc thù như sĩ quan, thuyền viên, lực lượng an ninh chuyên ngành vận tải, kỹ thuật viên không lưu, hoa tiêu hàng hải.
Tăng cường công tác phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị kinh doanh vận tải với các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân ngoài ngành giao thông vận tải trong công tác đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo, thực hành, thực tập, nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ đào tạo các ngành nghề liên quan đến lĩnh vực vận tải biển.
Có chính sách thu hút nhân sự có trình độ cao về làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước; có cơ chế trọng dụng đội ngũ các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước trong công tác nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển vận tải biển.
3.3.8. Tăng cường kết nối các phương thức vận tải, phát triển vận tải da phương thức và dịch vụ logistics Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Ưu tiên phát triển năng lực vận tải đa phương thức trên các hành lang kết nối với các cảng biển trọng điểm nhằm giảm chi phí vận tải biển, giảm chi phí logistics đối với hàng hoá xuất nhập khẩu; Đẩy mạnh kết nối vận tải đa phương thức giữa các cảng biển khu vực Cái Mép – Thị Vải với thị trường Cam-pu-chia, các cảng khu vực Hải Phòng với Tây Nam trung Quốc, các cảng khu vực miền Trung với Lào, Thái Lan và Mi-an-ma.
Phát triển hệ thống cảng cạn theo quy hoạch được duyệt làm đầu mối kết nối các phương thức vận tải kết hợp cung cấp các dịch vụ logistics. Ưu tiên đầu tư các cảng cạn kết nối với đường thủy nội địa ở khu vực phía Nam; các cảng cạn kết nối với đường thủy nội địa, đường sắt ở khu vực phía Bắc.
Hình thành các doanh nghiệp vận tải có quy mô lớn, có khả năng thực hiện các chuỗi vận tải nội địa – quốc tế với giá thành hợp lý, chất lượng cao.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các sàn giao dịch vận tải để tạo điều kiện kết nối giữa đơn vị vận tải và chủ hàng, tăng tính minh bạch của thị trường vận tải, nâng cao hiệu quả khai thác. Khuyến khích các doanh nghiệp vận tải và chủ hàng sử dụng sàn giao dịch vận tải.
Đẩy mạnh phát triển vận tải sông pha biển thành phương thức vận tải có chất lượng dịch vụ tốt, thuận tiện, giá thành hợp lý để nâng cao tính cạnh tranh, đảm nhận thị phần vận tải ngày càng cao trong vận tải nội địa trên hành lang Bắc – Nam.
3.3.9. Một số giải pháp khác
Ngoài việc tập trung trong công tác đầu tư bến cảng tại 03 khu vực (miền Bắc, tập trung đầu tư tại khu vực Hải Phòng; miền Trung tại Đà Nẵng và miền Nam tập trung đầu tư cảng cho tàu biển lớn ngoài cửa sông Hậu), tiếp tục nghiên cứu khả năng xây dựng một cảng cho tàu biển trọng tải lớn (vượt ngoài khả năng nâng cấp cải tạo luồng cửa sông) để làm hàng xuất nhập khẩu trực tiếp cho Đồng bằng Sông Cửu Long hạn chế tiếp chuyển qua các cảng thuộc nhóm 5. Vị trí dự kiến ở ngoài khơi vùng biển Sóc Trăng để thuận tiện cho việc đưa rút hàng của các địa phương vùng bán đảo Cà Mau. Cảng cho tàu biển lớn này nếu hình thành sẽ kết hợp đảm nhận vai trò đầu mối tiếp chuyển than nhập ngoại cho các nhà máy nhiệt điện ở phía Đông đồng bằng sông cửu long. Đây sẽ là cảng tiềm năng phát triển trong hệ thống cảng biển Việt Nam;
Tập trung đầu tư các luồng, tuyến theo các khu vực tập trung đầu tư cảng nêu trên. Cải tạo, nâng cấp và kịp thời nạo vét duy tu để đảm bảo chuẩn tắc luồng vào cảng phù hợp với quy mô yêu cầu của cầu bến và chức năng vai trò của từng cảng, cụm cảng (có tính đến khả năng lợi dụng thủy triều) là định hướng phát triển chung đối với hệ thống luồng vào cảng.
Các luồng trọng điểm phải tập trung cải tạo nâng cấp và duy tu trong giai đoạn quy hoạch là:
Luồng vào cụm cảng Hải Phòng: Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
- Xây dựng đê chắn sóng, ngăn sa bồi và nạo vét luồng vào khu bến tổng hợp container cho tàu trọng tải đến 8 vạn DWT, tàu chở container 4.000†6.000DWT với chuẩn tắc phù hợp với yêu cầu của cảng cửa ngõ quốc tế;
- Nâng cấp đoạn luồng vào khu bến Đình Vũ (kể cả kênh Hà Nam) cho tàu tổng hợp container trọng tải đến 3 vạn DWT vơi mớn ra vào thường xuyên có lợi dụng triều;
- Duy trì đoạn luồng vào khu bến Sông Cấm (Chùa Vẽ, Hoàng Diệu) cho tàu tổng hợp đến 1 vạn DWT ra vào thường xuyên có lợi dụng triều;
Luồng vào cụm cảng Cái Mép Thị Vải, Vũng Tàu:
- Nạo vét, nâng cấp đoạn luồng từ ngoài biển đến khu Bến Đình – Sao Mai cho tàu 10 vạn DWT, container 8.000 TEU; vào khu bến Cái Mép cho tàu trọng tải 8 vạn DWT, tàu chở container đến 6.000 TEU với chuẩn tắc phù hợp với yêu cầu của cảng cửa ngõ quốc tế. Trước mắt độ sâu đáy luồng đến -14,0m (CD) sau đó là -16,0m (CD);
- Nâng cấp đoạn luồng sông Thị Vải đến khu bến Phước An – Đồng Nai cho tàu trọng tải 6 vạn DWT, tàu container 4.000 TEU; khu bến Gò Dầu cho tàu 3 vạn DWT ra vào thường xuyên ít phải lợi dụng triều. Trước mắt độ sâu đáy luồng đến -12,0m (CD);
Luồng vào cụm cảng TP. Hồ Chí Minh:
- Nạo vét, nâng cấp luồng Soài Rạp, từ biển đến Bình Khánh cho tàu 5 vạn DWT và 4.000 TEU ra vào ít phải lợi dụng triều. Trước mắt cao độ đáy luồng đến -12,0m (CD);
- Cải tạo một số đoạn cong gấp, duy trì độ sâu luồng Lòng Tàu cho tàu trọng tải 3 vạn DWT ra vào thường xuyên (cả ngày, đêm) ít lợi dụng triều.
Luồng vào cụm cảng Cần Thơ và ĐBSCL:
- Trước mắt tập trung giải quyết luồng vào theo sông Hậu, sau đó là Sông Tiền qua cửa Tiểu và sông Cửa Lớn qua cửa Bồ Đề. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
- Xây dựng luồng vòng tránh cửa Định An theo kênh Quan Chánh Bố và kênh Tắt cho tàu 1 vạn DWT đầy tải, 2 vạn DWT vơi mớn ra vào lợi dụng triều.
- Nạo vét duy tu luồng qua cửa Định An cho tàu đến 000 DWT ra vào thường xuyên (trong năm) có lợi dụng triều cao trong ngày. Sau khi luồng tránh
Quan Chánh Bố đi vào vận hành, duy trì luồng cho tàu đến 3.000 DWT ra vào thường xuyên.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến theo hướng nâng cao chất lượng, bền vững, thân thiện với môi trường, giảm chỉ tiêu sử dụng nhiên liệu năng lượng và có chi phí hợp lý đối với công tác duy tu, bảo dưỡng KCHT hàng hải; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong từng ngành vận tải;
Sớm hình thành các trung tâm dịch vụ hậu cần logistics trên phạm vi cả nước nhằm hỗ trợ và thúc đẩy việc đầu tư các công trình cảng biển;
Đẩy mạnh phát triển dịch vụ vận tải đa phương thức quốc tế và kết nối đa phương thức trong vận tải nội địa; nhanh chóng hoàn thành quy hoạch mạng lưới trung tâm phân phối nhiều cấp (cảng cạn, kho, bãi hàng hoá) và các tuyến vận tải thu, gom hàng hoá trong các đô thị tại các vùng kinh tế trọng điểm;
Phụ lục 8. Tổng hợp, đánh giá một số tồn tại, bất cập và giải pháp đối với cảng biển Việt Nam
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
1. Kết luận
Với hơn 3.200km đường bờ biển và một vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, biển có vai trò, vị trí rất quan trọng, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của nước ta. Trong suốt những năm qua, tiềm lực kinh tế biển của đất nước ta đã không ngừng lớn mạnh, phát triển với tốc độ khá nhanh và đã có những đóng góp quan trọng vào nhịp độ tăng trưởng KT-XH của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chiến lược biển Việt Nam xác định mục tiêu tổng quát phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu mạnh. Mục tiêu cụ thể là xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, KHCN, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh;
Quốc gia muốn hướng ra biển phải phát triển hệ thống cảng biển tận dụng tối đa lợi thế về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, đột phá đi thẳng vào hiện đại, nhanh chóng hội nhập với các nước tiên tiến trong khu vực về lĩnh vực cảng biển nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của Chiến lược Biển Việt Nam, từng bước đưa kinh tế hàng hải trở thành mũi nhọn hàng đầu trong 5 lĩnh vực kinh tế biển; phát triển đồng bộ giữa cảng biển với mạng CSHT sau cảng và hạ tầng công cộng kết nối với cảng biển; chú trọng phát triển các cảng nước sâu ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam tạo những cửa mở lớn vươn ra biển xa có sức hấp dẫn ảnh hưởng tới địa bàn các nước lân cận trong khu vực; bảo đảm thông qua toàn bộ lượng hàng xuất khẩu bằng đường biển.
Với định hướng như trên, trong thời gian qua hệ thống cảng biển và hạ tầng hàng hải Việt Nam đã có nhiều phát triển và được chú trọng đầu tư. Nhiều bến cảng biển lớn, quy mô và trang thiết bị hiện đại đã được hình thành. Nhiều nhà khai thác cảng và các hãng tàu hàng đầu thế giới đã có mặt, hoạt động hoặc tham gia đầu tư khai thác KCHT cảng biển Việt Nam. Khối lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển luôn tăng qua các năm. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của ngành hàng hải cũng bộc lộ một số bất cập cần đổi mới.
Luận văn đã tập trung nghiên cứu chính sách, pháp luật đối với hệ thống KCHT cảng biển trên phạm vi cả nước, đánh giá những thành quả cũng như phân tích các tồn tại, bất cập trong tất cả quá trình quy hoạch, đầu tư, quản lý khai thác và cả những chính sách liên quan. Từ những tồn tại bất cập, để nâng cao hiệu quả và chất lượng quản lý, khai thác KCHT cảng biển. Đề tài cũng đưa ra hàng loạt các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để nhằm phát triển cảng biển đúng định hướng quy hoạch, phù hợp với hệ thống cảng biển khu vực và thế giới. 03 Nhóm giải pháp lớn, bao gồm:
- Các giải pháp, đề xuất xây dựng chính sách, pháp luật trong nước
Xây dựng và tổ chức triển khai văn bản quy phạm pháp luật mới; sửa đổi, bổ sung các Luật, Nghị định, Thông tư … liên quan đến hệ thống cảng biển; Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách đầu tư, phát triển cảng biển;
Hoàn thiện các quy định liên quan đến điều kiện kinh doanh, khung giá dịch vụ, bảo vệ môi trường; xây dựng và triển khai đề án, đề tài, tiêu chuẩn, quy chuẩn về cảng biển…
Giải pháp về Hợp tác quốc tế và triển khai các Ðiều ước quốc tế Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong quản lý, khai thác hạ tầng cảng biển; Tiếp tục triển khai gia nhập các văn kiện của Tổ chức HHQT (IMO); Đánh giá hiệu lực, hiệu quả các văn kiện quốc tế mà Việt Nam ký kết.
Các giải pháp và đề xuất đối với cảng biển
- Nâng cao chất lượng quản lý đầu tư;
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khai thác cảng biển; Về Phát triển cảng biển;
- Về phân loại cảng biển;
- Về quan hệ giữa cảng biển và khu kinh tế, công nghiệp;
- Đẩy mạnh công tác di dời và chuyển đổi công năng một số khu bến, cảng; Nâng cao chất lượng công tác bảo trì, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp;
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khai thác cảng biển;
- Tăng cường kết nối các phương thức vận tải, phát triển vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics …;
Để thực hiện các nội dung cụ thể với cảng biển như nêu ở trên, đòi hỏi các cơ quan quản lý Nhà nước đối với từng nội dung cụ thể sẽ có những quyết định về việc điều chỉnh chính sách, văn bản quy phạm mang tính quản lý nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể.
2. Kiến nghị Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Công cuộc đổi mới, hội nhập của đất nước đang bước sang giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng thể chế, pháp luật, trước hết là các đạo luật. Thể chế, pháp luật cần thể hiện sâu sắc tinh thần đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, xử lý kịp thời, hiệu quả, có tính bền vững cao đối với các vấn đề thực tiễn phát triển của đất nước.
Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành cần trực tiếp chỉ đạo, tập trung các nguồn lực, nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, cũng như các văn bản quy định chi tiết thi hành. Chất lượng thẩm định các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần được nâng cao hơn nữa.
Việc rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực được phân công là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên; kịp thời phát hiện và xử lý các quy định trái pháp luật, không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội. Cần tăng cường việc kiểm tra đối với các thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương; kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các quy định trái pháp luật.
Trong mỗi giải pháp phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đều mang trong bản thân nó là chính sách, cơ chế phát triển và các quy phạm pháp luật đang điều chỉnh. Vì vậy, kiến nghị Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện:
2.1. Đề xuất dối với Chính phủ
Chỉ đạo các Bộ, ngành và các địa phương phối hợp trong việc lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch phát triển kinh tế, trong đó quy định rõ thời gian lập và hoàn thành các quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch đối với hệ thống cảng biển Việt Nam tầm nhìn đến 2045.
Chỉ đạo các Bộ, ngành rà soát các quy định về quản lý đầu tư, xây dựng, nguồn vốn; chỉ đạo việc nghiên cứu ký kết các Điều ước quốc tế và triển khai có hiệu quả các cam kết của Việt Nam;
Chỉ đạo lập đề án xây dựng trung tâm quản lý, lưu trữ dữ liệu quốc gia về quy hoạch các ngành kinh tế, các địa phương.
Chỉ đạo khẩn trương hình thành cổng thông tin một cửa quốc gia kết nối chung các ngành Hải quan, Hàng hải, Kiểm dịch…
2.2. Bộ Giao thông vận tải Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Trình Chính phủ ban hành lại Danh mục cảng biển.
Rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2045 trình Chính phủ phê duyệt. Trong quy hoạch điều chỉnh cần chú trọng phát triển cảng biển cho tàu trọng tải lớn tại những khu vực trọng tâm (nhóm 1, 3 và 5) với các bến cảng biển cần ưu tiên đến năm 2030.
Bộ GTVT chủ trì làm việc cụ thể với các địa phương có cảng biển nhằm đánh giá nhu cầu đầu tư cảng biển, tiến độ đầu tư các bến cảng biển, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch các hành lang liên quan đến KCHT hàng hải.
Bộ GTVT chỉ đạo Cục HHVN lập và trình đề án Đề án Nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý khai thác cảng biển, áp dụng thí điểm tại cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng. Sau khi áp dụng thí điểm, cần nghiên cứu mở rộng cho toàn bộ các nhóm cảng biển Việt Nam.
Trình Chính phủ phê duyệt và triển khai thực hiện các đề án Đề án xây dựng cơ chế đặc thù trong hoạt động nạo vét duy tu các tuyến luồng hàng hải.
Chỉ đạo Cục HHVN triển khai Đề án phân cấp, xã hội hóa, xã hội hóa công tác bảo dưỡng, duy tu kết cấu hạ tầng hàng hải đã được phê duyệt.
Thực hiện thí điểm đấu thầu khoán gọn kinh phí thực hiện việc nạo vét duy tu một số tuyến luồng theo hình thức tận thu để bù kinh phí hoặc đấu thầu thực hiện theo chuẩn tắc thiết kế tùy theo luồng hàng hải hoặc đê biển.
- Ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn về duy tu bảo dưỡng KCHT hàng hải.
- Xây dựng Đề án xây dựng và phát hành hải đồ vùng nước cảng biển và luồng hàng hải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
- Xây dựng Đề án lập sổ tay hướng dẫn thông tin cho hoạt động hành hải tại khu vực cảng biển.
- Triển khai thực hiện Đề án Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác nhóm cảng biển số 5 và các bến cảng Cái Mép – Thị Vải.
- Làm việc với các địa phương về đền bù và giải tỏa dứt điểm hoạt động đánh bắt cá vi phạm hành lang an toàn luồng hàng hải. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Chỉ đạo các Cục chuyên ngành xây dựng quy định Quản lý hoạt động vận tải của các phương tiện nhỏ (gồm cả các quy định cụ thể về trang bị, thiết bị nhận dạng GPS và chế tài xử lý đối với tàu thuyền nhỏ).
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết thí điểm thực hiện bình ổn giá dịch vụ bốc, dỡ container tại khu vực cảng biển nước sâu Cái Mép – Thị Vải, Bộ GTVT chỉ đạo Cục HHVN tham mưu cho Bộ ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện.
Bộ GTVT giao Cục HHVN tiếp tục tổ chức họp, thảo luận với các hãng tàu nhằm đánh giá tính khả thi của việc giảm phí và mức giảm phí đối với thu hút tàu vào khu vực Cái Mép – Thị Vải; về các cơ chế chính sách ưu đãi để hãng tàu sử dụng cảng cửa ngõ của Việt Nam như một điểm trung chuyển.
Chỉ đạo Cục HHVN lập Đề án tăng cường năng lực, phát triển đội tàu trong nước để vận chuyển hàng hóa trung chuyển của Việt Nam về các bến cảng cửa ngõ thực hiện trung chuyển.
Bộ GTVT chỉ đạo triển khai và hoàn thiện các dự án hạ tầng giao thông phục vụ cho hệ thống cảng biển. Trước mắt tập trung vào hệ thống hạ tầng kết nối tại các nhóm cảng biển trọng điểm là số 1 và số 5. Làm việc với các địa phương về các dự án đường kết nối do các địa phương chủ trì thực hiện đầu tư.
Bộ GTVT giao Cục HHVN chủ trì xây dựng quy hoạch phát triển tổng thể ngành dịch vụ logistics liên quan đến hoạt động cảng biển, quy hoạch phát triển ngành dịch vụ logistics cho mỗi nhóm cảng biển; chỉ đạo trường Đại học GTVT Tp.HCM phối hợp với các địa phương tổ chức đào tạo, nhằm có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dịch vụ cảng biển và logistics.
Triển khai thực hiện hiệu quả các Công ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải, trong đó sớm chỉ đạo tham gia góp ý Công ước Hiệp hội báo hiệu hàng hải và Hải đăng quốc teea (IALA) và nghiên cứu các Công ước khác của IMO.
2.3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tham mưu cho Chính phủ các chính sách phát triển kinh tế, đẩy mạnh ngoại thương nhằm tạo nguồn hàng cho cảng biển hoạt động hiệu quả. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Tham mưu cho Chính phủ các chính sách đề cao vai trò khu vực tư nhân, thúc đẩy mạnh mẽ lộ trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành khai thác cảng biển.
Xem xét khả năng cấp vốn từ nguồn ngân sách đầu tư CSHT kết nối cảng biển, đặc biệt những dự án ưu tiên cần triển khai giai đoạn đến 2030; hằng năm bố trí đủ vốn duy tu bảo dưỡng KCHT hàng hải.
Có chính sách khuyến khích thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics dưới hình thức liên doanh giữa doanh nghiệp mạnh trong nước với các đối tác nước ngoài có năng lực để tạo sức bật và sớm tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu;
Triển khai nội dung thuộc thẩm quyền trong hiện Đề án Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác nhóm cảng biển số 5 và các bến cảng Cái Mép – Thị Vải.
2.4. Bộ Tài chính
- Phối hợp với Bộ KHĐT và Bộ GTVT bố trí đủ vốn hằng năm cho công tác duy tu bảo dưỡng KCHT hàng hải.
- Phối hợp với Bộ GTVT thực hiện thí điểm đấu thầu khoán gọn kinh phí thực hiện việc nạo vét duy tu luồng theo hình thức tận thu để bù kinh phí hoặc đấu thầu thực hiện theo chuẩn tắc thiết kế tùy theo luồng hàng hải hoặc đê biển.
- Phối hợp với Bộ KHĐT xem xét bố trí nguồn vốn đầu tư CSHT kết nối với cảng biển trọng tâm.
- Chủ trì sửa đổi, bổ sung các quy định về Hải quan, XNK, thuế, phí…
2.5. Bộ Công thương
- Phối hợp với Bộ GTVT xây dựng Đề án phát triển dịch vụ logistics tại các nhóm cảng biển.
- Triển khai một số nội dung thuộc thẩm quyền trong hiện Đề án Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác nhóm cảng biển số 5 và bến cảng Cái Mép – Thị Vải.
2.6. Cục Hàng hải Việt Nam
Tiếp tục triển khai, hoàn thành và trình phê duyệt các đề án liên quan đến hoạt động hàng hải và khai thác cảng biển.
Cục HHVN hoàn tất dự án nghiên cứu tổng thể toàn diện tuyến luồng tàu biển Cái Mép – Thị Vải và báo cáo Bộ GTVT cho việc chuẩn bị phương án đầu tư, nguồn vốn đầu tư,.. nhằm nhanh chóng thu hút các hãng tàu vào sử dụng khu vực Cái Mép – Thị Vải với chức năng một cảng cửa ngõ quốc tế; triển khai nhanh chóng hệ thống VTS trên vùng nước cảng biển nhóm 5, vùng nước cảng Hải Phòng nhằm quản lý, hỗ trợ tàu hành hải an toàn. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
Trực tiếp làm việc với các tỉnh, thành phố có cảng biển nhằm đánh giá nhu cầu đầu tư cảng biển, tiến độ đầu tư các bến cảng biển, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch các hành lang liên quan đến KCHT hàng hải; trao đổi cụ thể với các địa phương về việc hạn chế, không cấp phép xây dựng các bến mới, nhưng cũng cần có biện pháp giữ quỹ đất đã quy hoạch nhằm phát triển lâu dài hệ thống cảng biển; giải quyết dứt điểm đền bù và giải tỏa dứt điểm hoạt động đánh bắt cá vi phạm hành lang an toàn luồng hàng hải.
Nhanh chóng hoàn thiện các đề án của ngành như: Đề án xây dựng và phát hành hải đồ vùng nước cảng biển và luồng hàng hải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; Đề án lập Sổ tay hướng dẫn thông tin cho hoạt động hành hải tại khu vực cảng biển…; triển khai các đề án trong ngành hàng hải đã được duyệt;
2.7. Tổng cục Hải quan
Kết nối cổng thông tin Hải quan vào cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia, trong đó bao gồm Cục HHVN, Biên phòng,…
Thực hiện giảm thủ tục hải quan, giảm thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa, giảm thời gian thông quan (áp dụng dữ liệu và chứng từ thương mại tiêu chuẩn hóa bằng việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như mô hình dữ liệu của tổ chức Hải quan thế giới; khuyến khích ngành hải quan làm việc 24 tiếng/7 ngày để đẩy nhanh việc thông quan hàng hóa.
Đẩy mạnh áp dụng hải quan điện tử. Phấn đấu phải có tối thiểu 70% tờ khai được thực hiện theo phương thức điện tử với 70% doanh nghiệp tham gia khai báo hải quan điện tử.
Khuyến khích áp dụng dữ liệu và chứng từ thương mại tiêu chuẩn hóa nhằm tạo thuận lợi cho thương mại bằng việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như mô hình dữ liệu của tổ chức hải quan thế giới.
Sớm triển khai đầu tư, hình thành các khu, bãi thông quan nhằm kiểm tra tập trung hải quan, đặc biệt tại các khu cảng trong nhóm cảng biển số 1 và số 5.
2.8. Các Ban, ngành khác
Phối hợp chặt chẽ các đơn vị: Cảng vụ, Hải quan, Biên phòng cửa khẩu, Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế, Chi cục Kiểm dịch thực vật, Kiểm dịch động vật để tạo thuận lợi cho các tàu quốc tế ra vào cảng biển Việt Nam.
Cần phát huy vai trò của các Hiệp hội (Hiệp hội cảng biển, chủ tàu, chủ hàng, logistics) trong việc hỗ trợ các hoạt động khai thác cảng biển.
2.9. Các địa phương có cảng biển
UBND các tỉnh, thành phố có cảng biển phối hợp với Bộ GTVT và các Bộ ngành liên quan để thực hiện công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, đầu tư, khai thác và duy tu KCHT cảng biển.
Tổ chức rà soát lại quỹ đất và hành lang quy hoạch xây dựng cảng biển theo quy hoạch chi tiết các nhóm cảng biển. Trước mắt, xem xét lại việc cấp phép xây dựng các bến mới theo tiêu chí hạn chế phát triển bến cảng một cách rải rác ở nhiều địa điểm khác nhau (ngoại trừ các bến cảng chuyên dụng) nhằm hạn chế phân tán nguồn lực đầu tư CSHT kết nối. Tuy nhiên, cũng cần có biện pháp giữ quỹ đất đã quy hoạch nhằm phát triển lâu dài hệ thống cảng biển.
Phối hợp với Bộ GTVT và Cục HHVN nghiên cứu mô hình Cơ quan quản lý cảng biển để tăng cường và nâng cao năng lực quản lý, đầu tư và khai thác kết cấu hạ tầng hàng hải./. Luận văn: Hoàn thiện chính sách pháp luật về cảng biển Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Chính sách pháp luật về cảng biển của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
